TRIẾT HỌC ,VẤN ĐỀ CƠ BẢN, CỦA TRIẾT HỌC TRIẾT HỌC ,VẤN ĐỀ CƠ BẢN, CỦA TRIẾT HỌC TRIẾT HỌC ,VẤN ĐỀ CƠ BẢN, CỦA TRIẾT HỌC VPowerPoint Presentation 2 Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức Nội dung Khái quát về ý thức Nguồn gốc của ý thức Nguồn gốc tự nhiên của ý thức Nguồn gốc xã hội của ý thức Bản chất của ý thứ.
Trang 12 Nguồn gốc, bản chất và kết cấu
của ý thức
Trang 2Nội dung
* Khái quát về ý thức
* Nguồn gốc của ý thức
Nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Nguồn gốc xã hội của ý thức
* Bản chất của ý thức
* Kết cấu của ý thức
Trang 3- Điểm đặc biệt của tính tích cực đó là sự phản ánh hiện thực khách quan
trong dạng hình ảnh do cảm giác mang lại và đến lượt mình, ý thức định
hướng hoạt động thực tiễn của con người
- Triết học của chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định, ý thức là một phạm trù triết học dùng để chỉ toàn bộ hoạt động tinh thần phản ánh thế giới vật chất diễn
ra trong não người, hình thành trong quá trình lao động và được diễn đạt
nhờ ngôn ngữ
Trang 4a Nguồn gốc của ý thức
Trang 5Quan điểm duy tâm về nguồn gốc của ý thức
- Ý thức là nguyên thể đầu tiên, là nguyên nhân sinh ra thế giới vật chất
+ CNDTKQ (tiêu biểu Platon, G Hê ghen):
• tuyệt đối hóa vai trò của lý tính, của ý niệm
• Ý thức con người chỉ là sự hồi tưởng về ý niệm
+ CNDTCQ (tiêu biểu G Beccơli, E Ma khơ):
• Tuyệt đối hóa vai trò của cảm giác
• Ý thức con người là do cảm giác sinh ra
Trang 6Quan điểm duy vật siêu hình về
nguồn gốc của ý thức
- Phủ nhận tính siêu tự nhiên của ý thức
- Xuất phát từ thế giới hiện thực để giải thích nguồn gốc của ý thức
- Đồng nhất ý thức với 1 dạng đặc biệt của vật chất
Minh họa:
Đêmôcrít cho rằng ý thức do nguyên tử hình cầu, linh động tạo nên
Phoogtow, Môletsốt cho ý thức do não tiết ra như gan tiết ra mật
Trang 7Quan điểm DVBC về nguồn gốc của ý thức
- Phê phán quan điểm sai lầm của CNDT và CNDV siêu hình
- Dựa vào thành tựu của khoa học tự nhiên
- Khẳng định: ý thức xuất hiện từ 2 nguồn gốc: tự nhiên và xã hội
+ Nguồn gốc tự nhiên của ý thức:
• Gồm: bộ não người và sự tác động của TGKQ tới não người
• Tác dụng: tạo ra khả năng hình thành ý thức
+ Nguồn gốc xã hội của ý thức:
• Gồm: các hoạt động xã hội, lao động, ngôn ngữ
• Tác dụng: biến khả năng thành hiện thực ý thức
Trang 8Nguồn gốc tự nhiên của ý thức Não người – khí quan sinh học của ý thức
- Sản phẩm quá trình tiến hoá lâu dài của thế giới vật chất, từ vô cơ tới hữu
cơ, chất sống (thực vật và động vật) rồi đến con người - sinh vật - xã hội
- Cấu trúc tinh vi; khoảng 370g gồm 14- 15 tỷ tế bào thần kinh
- Hoạt động ý thức của con người diễn ra trên cơ sở hoạt động của thần
kinh não bộ; bộ não càng hoàn thiện hoạt động thần kinh càng hiệu quả, ý thức của con người càng phong phú và sâu sắc
- Quá trình tiến hóa của loài người cũng là quá trình phát triển năng lực của nhận thức, của tư duy và đời sống tinh thần bị rối loạn khi não bị tổn
thương.
Trang 9Nguồn gốc tự nhiên của ý thức: sự tác động của TGKQ tới bộ não - Lý luận phản ánh
- Mọi hình thức vật chất đều có thuộc tính phản ánh và phản ánh phát
triển từ hình thức thấp lên hình thức cao- tùy thuộc vào kết cấu của tổ chức vật chất
- Phản ánh là sự tái tạo lại những đặc điểm, tính chất của dạng vật chất này (dưới dạng đã thay đổi) trong một dạng vật chất khác
- Quá trình phản ánh bao hàm quá trình thông tin, vật nhận tác động
(cái phản ánh là cái chứa đựng thông tin về những sự vật, hiện tượng) mang thông tin của vật tác động (cái được phản ánh là những sự vật, hiện tượng cụ thể của vật chất)
Trang 10(4) Phản ánh tâm lý ở động vật có thần kinh trung ương
(5) Ý thức - hình thức phản ánh cao nhất (phản ánh năng động, sáng tạo) là của con người, đặc trưng cho một dạng vật chất có tổ chức cao là não người Tóm lại, sự phát triển của các hình thức phản ánh gắn liền với các trình độ
tổ chức vật chất khác nhau và ý thức nảy sinh từ các hình thức phản ánh đó
Trang 11Nguồn gốc xã hội của ý thức
- Vai trò của lao động
Qua lao động nhằm cải tạo thế giới khách quan, con người có thể phản ánh được thế giới khách quan, có ý thức về thế giới
Lao động tác động vào các đối tượng hiện thực, làm bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của mình thành những hiện tượng nhất định và các hiện tượng này tác động vào bộ óc người
Con người có ý thức chính vì con người chủ động tác động vào thế giới
thông qua hoạt động thực tiễn để cải tạo thế giới Qua đó, con người khám phá ra những bí mật của thế giới, ngày càng làm phong phú và sâu sắc ý thức của mình về thế giới
Tìm ra lửa thực hiện ăn chín làm bộ não phát triển
Trang 12Nguồn gốc xã hội trực tiếp của ý thức
- Vai trò của ngôn ngữ
Trong lao động, cần trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng ngôn ngữ xuất hiện
• Ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức
• là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng, không có ngôn ngữ, con người không thể có ý thức
• Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp đồng thời là công cụ của tư duy.
• Nhờ ngôn ngữ, khái quát hóa, trừu tượng hoá, mới có thể suy nghĩ, tách khỏi sự vật cảm tính
• Ngôn ngữ làm kinh nghiệm, hiểu biết của người này được truyền cho người kia, thế hệ này cho thế hệ khác
• Ý thức không phải là hiện tượng thuần tuý cá nhân mà là một hiện tượng có tính chất xã hội, do đó không có phương tiện trao đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình
Trang 13b Bản chất của ý thức
Trang 14Quan điểm phi Mác – xít về bản chất của ý thức
1 Quan điểm của CNDT:
- Cường điệu vai trò ý thức,
- biến ý thức thành thực thể tồn tại độc lập, thực tại duy nhất và nguồn gốc sinh
ra thế giới vật chất, chứ không phải là sự phản ánh của vật chất
2 Quan điểm của CNDV siêu hình: tầm thường hóa vai trò ý thức,
- Coi ý thức là 1 dạng vật chất
- Là sự phản ánh giản đơn, thụ động mà không thấy được tính năng động sáng tạo của ý thức, tính biện chứng của quá trình phản ánh
Trang 15Quan điểm CNDVBC về bản chất ý thức
b1 Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới khách quan vào trong bộ
óc con người b2 Ý thức là sự phản ánh khách quan một cách chủ động và tích cực b3 Ý thức mang bản chất xã hội
Trang 16b1 Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới
khách quan vào trong bộ óc con người
Điểm xuất phát: thừa nhận ý thức là sự phản ánh, là ảnh chứ không phải là bản thân vật;
Ý thức không phải là vật chất nhưng lại có nguồn gốc từ vật chất và thuộc về thế giới vật chất Tính sáng tạo:
Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế
Tiên đoán, dự báo tương lai (phản ánh vượt trước),
Tạo ra những ảo tưởng, những huyền thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng và khái quát cao, tiên tri, thôi miên, ngoại cảm, thấu thị, v.v…
Trang 17b2 Ý thức là sự phản ánh khách quan
một cách chủ động và tích cực
Ý thức là sự phản ánh theo quy luật,
Trong quá trình phản ánh con người chủ động tác động vào sự vật, hiện tượng, bắt sự vật hiện tượng bộc lộ đặc tính của
mình, để qua đó con người khái quát, nhận thức được tính quy luật của sự vật hiện tượng
Con người phản ánh sự vật một cách chủ động và vận dụng tri thức về sự vật, chỉ đạo hoạt động thực tiễn để cải tạo hiện thực khách quan.
Trang 18b3 Ý thức là một hiện tượng xã hội và
mang bản chất xã hội
▪ Sự ra đời và tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn; ▪ Ý
thức chịu sự chi phối không chỉ của các quy luật sinh học, mà chủ yếu còn của các quy luật xã hội; do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của xã hội quy định
▪ Với tính năng động của mình, ý thức sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của bản thân và thực tiễn xã hội
▪ Ở các thời đại khác nhau, thậm chí ở cùng một thời đại, sự phản ánh (ý thức) về cùng một sự vật, hiện tượng có sự khác nhau- theo các điều
kiện vật chất và tinh thần mà chủ thể nhận thức phụ thuộc
Trang 19Các giai đoạn của quá trình ý thức
Ý thức: phản ánh đặc biệt hiện thực khách quan vào bộ óc người, trong quá trình con người cải tạo thế giới
Quá trình ý thức là một quá trình thống nhất của:
GĐ 1 Trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh, sự trao đổi này mang tính chất hai chiều, có định hướng và chọn lọc các thông tin cần thiết
GĐ 2 Mô hình hoá đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần
GĐ 3 Chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức là quá trình hiện thực hoá tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm thành cái thực tại, biến cái ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện thực Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất của ý thức Ý thức - trong bất cứ
trường hợp nào - cũng là sự phản ánh và chính thực tiễn xã hội của con người tạo ra
sự phản ánh phức tạp, năng động sáng tạo của bộ óc
Trang 20c Kết cấu của ý thức
Trang 21Kết cấu của ý thức
Ý thức có kết cấu phức tạp, bao gồm nhiều thành tố có quan hệ với
nhau Có thể phân chia kết cấu đó theo nhiều “lát cắt” khác nhau tuỳ
theo cách tiếp cận Ở đây, có thể chia cấu trúc đó theo hai chiều sau đây:
a Theo chiều ngang
b Theo chiều dọc
Trang 22c1 Kết cấu ý thức theo chiều ngang
Bao gồm các yếu tố cấu thành như tri thức, tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí…
Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh tồn tại, nó phản ánh quan hệ giữa người với người và quan hệ giữa người với thế giới khách quan Tình cảm tham gia vào mọi hoạt động của con người và trở thành một trong những động lực quan trọng của hoạt động con người Tri thức có biến thành tình cảm mãnh liệt mới sâu sắc và phải thông qua tình cảm thì tri thức mới biến thành hành động thực tế, mới phát huy được sức mạnh của mình.
Trang 23c2 Kết cấu ý thức theo chiều dọc
* Tự ý thức: đó là quá trình con người tự nhận thức bản thân mình Như vậy, tự ý thức cũng là
ý thức, là một thành tố quan trọng của ý thức, song đây là ý thức về bản thân mình trong mối quan hệ với ý thức về thế giới bên ngoài
* Tiềm thức là những hoạt động tâm lý (chủ yếu là hoạt động nhận thức ở cả hai trình độ cảm tính và tư duy) tự động diễn ra bên ngoài sự kiểm soát của chủ thể, song lại có liên quan trực tiếp đến các hoạt động tâm lý đang diễn ra dưới sư kiểm soát của chủ thể ấy
Vai trò:
- Trong tư duy khoa học, tiềm thức chủ yếu gắn với các loại hình tư duy chính xác,
- Trong tư duy thường lặp đi lặp lại nhiều lần góp phần giảm sự quá tải của đầu óc trong việc
xử lý khối lượng lớn các tài liệu, dữ kiện, tin tức diễn ra một cách lặp đi lặp lại mà vẫn đảm bảo được độ chính xác và chặt chẽ cần thiết của tư duy khoa học
* Vô thức là những hiện tượng tâm lý không phải do lý trí điều khiển Lĩnh vực vô thức là lĩnh vực các hiện tượng tâm lý nằm ngoài phạm vi của lý trí mà ý thức không kiểm soát được trong một lúc nào đó Chúng liên quan đến những hoạt động xảy ra bên ngoài phạm vi của lý trí hoặc
Trang 24Trí tuệ nhân tạo
• AI: Artificial Intelligence là một ngành của khoa học máy tính liên quan đến việc tự
động hóa các hành vi thông minh AI là một bộ phận của khoa học máy tính và do đó
nó phải được đặt trên những nguyên lý lý thuyết vững chắc, có khả năng ứng dụng được của lĩnh vực này.
• Hiện tại, AI dùng để nói đến các MÁY TÍNH có mục đích không nhất định và ngành khoa học nghiên cứu về các lý thuyết và ứng dụng của trí tuệ nhân tạo Mỗi loại trí tuệ nhân tạo hiện nay đang dừng lại ở mức độ những máy tính hoặc siêu máy tính dùng để xử lý một loại công việc nào đó như điều khiển một ngôi nhà, nghiên cứu nhận diện hình ảnh,