1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN HAY NHẤT) chuyên đề đặc sắc nghệ thuật và cá tính sáng tạo của thơ xuân diệu trước cách mạng tháng tám 1945

32 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề (SKKN HAY NHẤT) Chuyên đề đặc sắc nghệ thuật và cá tính sáng tạo của thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám 1945
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Nghệ Thuật Và Văn Học
Thể loại Bài Nghiên Cứu Khoa Học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 354,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà phê bình, các nhà thơ, bạn đọc trong và ngoàinước đã không tiếc lời ngợi ca thơ ông, Với Thế Lữ thì Xuân Diệu là “một tâm hồnđằm thắm và rất dễ cảm xúc”, là “nhà thi sĩ của tuổi

Trang 1

ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT VÀ CÁ TÍNH SÁNG TẠO CỦA THƠ XUÂN DIỆU TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

 

I Xuân Diệu – Cây đời mãi xanh tươi:

      “Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong”, Xuân Diệu đã từng sống ở cả ba miềnđất nước. Từ khi còn là một học sinh trung học hay là một viên chức, Xuân Diệuluôn lao động sáng tạo say mê, bền bỉ. Với hơn nửa thế kỉ cầm bút, ông đã để lạimột khối lượng tác phẩm đồ sộ: khoảng 50 tác phẩm thuộc nhiều thể loại: thơ, văn,phê bình, nghiên cứu phê bình văn học và dịch thuật  Ở lĩnh vực nào tài năngXuân Diệu cũng được ghi nhận, nhưng thơ vẫn là bộ phận sáng tác có giá trị nhấtcủa   ông   Xuân   Diệu   là   một   trong   những   nhà   thơ   lớn   của   nền   văn   họcViệt Nam hiện đại

      Cả cuộc đời sáng tạo nghệ thuật, Xuân Diệu đã nêu một tấm gương cho cácthế hệ cầm bút về sự cần cù, say mê, không mệt mỏi, đã để lại sự ngưỡng mộ,khâm phục với bao thế hệ độc giả

      Khi Thơ mới bắt đầu thắng thế, nếu Thế Lữ được coi là ngôi sao sáng nhấtcủa bầu trời Thơ mới buổi đầu, thì chỉ vài năm sau, ở giai đoạn thứ hai, Thế Lữphải nhường ngôi “đệ nhất thi sĩ” cho Xuân Diệu. Trong “Thi nhân Việt Nam”,Hoài Thanh khi nhận xét (và có ý so sánh) một số phong cách các nhà Thơ mới đãtinh tường khái quát: “Hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn NhượcPháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Hàn Mạc Tử,Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu…”. “Thiết tha, rạorực, băn khoăn”, phải là ba tính từ (chứ không phải một) đã thâu tóm đúng thầnthái thơ và đời Xuân Diệu. Các nhà phê bình, các nhà thơ, bạn đọc trong và ngoàinước đã không tiếc lời ngợi ca thơ ông, Với Thế Lữ thì Xuân Diệu là “một tâm hồnđằm thắm và rất dễ cảm xúc”, là “nhà thi sĩ của tuổi xuân, của lòng yêu, và của ánhsáng”, còn thơ Xuân Diệu “không phải là văn chương nữa; đó là lời nói, là tiếngreo vui hay tiếng năn nỉ, là sự chân thành cảm xúc, hoặc là những tình ý rạo rựcbiến lẩn trong những thanh âm”. “Xuân Diệu là người của đời, một người ở giữaloài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”. CảHoài Thanh và Vũ Ngọc Phan đều có chung một đánh giá: “Xuân Diệu mới nhấttrong các nhà Thơ mới” và “Xuân Diệu đã đem đến cho thơ ca Việt Nam nhiều cáimới nhất”. Hoài Thanh – tác giả của “Thi nhân Việt Nam” dường như đã giànhnhững tình cảm đặc biệt của mình cho thi sĩ của tình yêu thương bằng những lời có

Trang 2

      Không thể kể hết những ý kiến, những đánh giá của độc giả giành cho “thi sĩrất giàu lòng yêu dấu” ấy. Tất cả nói lên rằng Xuân Diệu đã có một vị trí khó thaythế trên thi đàn Việt Nam hiện đại. Khi ông xuất hiện, Thế Lữ đã từng reo mừng:

“Thế là từ nay, chúng ta đã có Xuân Diệu”. Và khi nhà thơ qua đời, “thế là từ naychúng ta không còn Xuân Diệu nữa”, “Một cây lớn đổ xuống làm cho cả mộtkhoảng trời trống vắng” (Hà Xuân Trường). Tuy nhiên, sự nghiệp mà Xuân Diệu

để lại sẽ còn sống mãi trong lòng người yêu thơ, trong lòng dân tộc, bởi “sự sốngcòn của một nhà văn là ở tác phẩm”

II Phong cách nghệ thuật Xuân Diệu trước CMT8 1945:

      Trong “Bài thơ tuổi nhỏ” sáng tác năm 1933 – khi Xuân Diệu mười bảy tuổi,thi sĩ đã dõng dạc bày tỏ tuyên ngôn sống của mình:

       Giơ tay muốn ôm cả Trái đất       Ghì trước trái tim, ghì trước ngực       Cho đầy trước mắt khoảng cô đơn       Bao la muôn trời, sâu vạn vực…

       Đây chính là nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật của ông: niềm khátkhao giao cảm với đời, cuộc đời hiểu theoo nghĩa chân thật và trần thế nhất. Khátkhao giao cảm – có thể hiểu là những mong ước, mong muốn, hi vọng một cáchthiết tha, cháy bỏng được hòa nhập, được tiếp cận, được tâm sự, giãi bày, đượccảm thông, chia sẻ. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định: “Có thểnói trên đời này có bao nhiêu cách để tiếp xúc với đời, để tâm sự giao cảm với đời,Xuân Diệu đều không bỏ qua và khai thác triệt để  Đây là một trái tim nóng bỏng,trái tim của một con người sinh ra để yêu thương, để ca ngợi sự giao cảm tràn đầytính nhân bản kia, để bày tỏ tình yêu thiết tha của mình đối với cuộc sống và kêu

Trang 3

1 Xuân Diệu sáng tác nhiều và khỏe:

      Đây là một cách để được giao hòa, gặp gỡ, tâm sự, giãi bày. Suốt cuộc đờilao động bền bỉ của người nghệ sĩ, Xuân Diệu đã để lại một sự nghiệp sáng tác lớnlao với nhiều thể loại. Ở cả hai chặng sáng tác, Xuân Diệu đều có những cống hiếnđáng kể đối với nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông đã viết gần năm mươi cuốnsách, bình thơ trên bốn trăm cuộc, ngoài ra còn làm biên tập sách báo, viết báo,làm báo,… thì không kể hết. Quả thực là “một khối lượng khổng lồ” (Mai QuốcLiên). “Bài học lớn nhất, tấm gương sáng nhất mà Xuân Diệu để lại cho các thế hệcầm bút về sau là tấm gương lao động nghệ thuật cần cù, nhẫn nại, tỉ mỉ, say mê vàliên tục” (Hà Xuân Trường)

      Trước Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu của phong tràoThơ mới. Với hai tập “Thơ thơ” (1938) và “Gửi hương cho gió” (1945), Xuân Diệutrở thành một trong những nhà thơ xuất sắc nhất và điển hình nhất của phong tràoThơ mới, có nhiều đóng góp vào việc cách tân các thể loại thi ca dân tộc và pháttriển ngôn ngữ dân tộc. Nhà thơ Tế Hanh khi được hỏi nếu chọn năm nhà thơ tiêubiểu nhất của phong trào Thơ mới đã trả lời sau khi suy nghĩ: “Kể cũng khó, nhưngtheo tôi thì phải kể đến Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn MạcTử”. Lại hỏi tiếp: nếu chọn một người tiêu biểu nhất thì là ai? Tế Hanh đã trả lờingay: Xuân Diệu. Như vậy, công lao của Xuân Diệu trong phong trào Thơ mới thậtkhông nhỏ

      Sau Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu thuộc số ít người ở hàng đầu của nềnthơ ca cách mạng, trở thành một trong những người đầu tiên xây dựng nền móngcho thơ ca cách mạng Việt Nam

2 Xuân Diệu – nhà thơ của tình yêu:

      Sinh thời, Xuân Diệu đã tự nhận mình là “kẻ uống tình yêu dập cả môi”, thơviết về tình yêu là mảng đặc sắc nhất của thơ Xuân Diệu. Thơ tình của ông có tớivài trăm bài, có những bài về tình yêu hay nhất trong số những bài thơ tình hiệnđại. Một danh hiệu cao quý mà Xuân Diệu được phong tặng ngay từ thời “Thơthơ” và “Gửi hương cho gió” và mãi sau này ông vẫn bền bỉ vun đắp bằng cả cuộcđời sáng tạo của mình; đó là danh hiệu “ông hoàng của thơ tình” hoặc thân thiếthơn là “thi sĩ của tình yêu”… Các nhà nghiên cứu đã đánh giá cao những đóng gópcủa Xuân Diệu trong địa hạt thơ tình: “nhà thơ tình bậc nhất” (Hà Minh Đức), “nhà

Trang 4

ở Xuân Diệu cũng chính là biểu hiện đầy đủ nhất của lòng say mê yêu đời. Đối vớiông, tình yêu là biểu tượng tràn đầy rực rỡ nhất của tuổi thanh xuân và là hạt nhâncủa sự sống. Tư duy nghệ thuật của Xuân Diệu được hình thành và phát triển trên

cơ sở nguồn cảm xúc yêu đương ấy

      Đi sâu vào thế giới tình yêu của Xuân Diệu, ta bắt gặp ở đây mọi cung bậctình cảm yêu đương muôn thuở của con người. Từ những tâm trạng nhớ nhungbâng quơ, những hẹn hò xa xôi đến những thứ tình như mây đưa gió thoảng, từnhững tình cảm vu vơ đến thứ tình cho không như “Gửi hương cho gió”, như

“Phấn thông vàng”, từ những phút say nồng cực lạc đến những khoảng trống vắnglạnh lùng… nghĩa là có đủ mọi trạng thái bâng khuâng, hồi hộp, đắm say, giận dỗi,hờn ghen, hi vọng, tuyệt vọng… của tình yêu. Nhiều nhà thơ chọn tình yêu làmtiền đề cho cảm hứng sáng tạo nhưng có lẽ chỉ Xuân Diệu là đạt đến độ si mê đắmđuối nhất của cảm xúc yêu đương, là người phát ngôn đầy đủ nhất cho tình yêu củathời đại

      Đến với tình yêu, Xuân Diệu muốn khám phá thực chất ý nghĩa của nó vàđồng thời qua đó, bộc lộ quan niệm sống của mình. Có thể coi Xuân Diệu là ngườiđầu tiên đã đưa vào thơ Việt Nam tình yêu thật sự là tình yêu, nghĩa là sự giao cảmtuyệt đối, tuyệt đỉnh, sự hòa nhịp giữa linh hồn và thể xác. Tình yêu phải thực sự làtình yêu của con người trần tục chứ không phải thứ tình Biêlinxki từng chế giễu

“chỉ làm đẹp lòng các vị bảo hộ hậu cung vua chúa phương Đông” mà thôi. Tuynhiên cái đích mà tình yêu nhằm đạt tới phải là sự hòa hợp cao độ của tâm hồn, làtrái tim đỏ thắm của em, tâm hồn xanh thẳm của em, là phút giây giao cảm tuyệtvời của những con người “Trời ơi, anh muốn uống hồn em!”

Với tình yêu, con người sinh ra để mà yêu ấy luôn sôi nổi cuồng nhiệt:

       Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ,

Trang 5

Xuân Diệu ý thức được ý nghĩa cuộc đời nằm trong vòng tuổi trẻ, ý nghĩa tình yêunằm trong vòng khoảnh khắc, thơ Xuân Diệu ghi lại rất nhiều những khoảnh khắcngưng đọng của tâm hồn với một cường độ cảm xúc mạnh mẽ: khoảnh khắc gặpgỡ:

       Ấy là hồn giăng rộng khắp không gian

       Để đánh lưới những duyên hờ mới mẻ

       Ấy những cánh chuyển trong lòng nhẹ nhẹ      Nghe xôn xao rờn rợn đến hay hay

      (Xuân không mùa)       Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!

       Có nghĩa gì đâu một buổi chiều

       Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,       Bằng mây nhẹ nhẹ, gió hiu hiu      (Vì sao)Khoảnh khắc chợt bùng lên nỗi nhớ:

       Anh nhớ tiếng! Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh       Anh nhớ em, anh nhớ lắm! em ơi

      (Tương tư chiều)       

Trang 6

Rồi khoảnh khắc vội vàng, giục giã, được giao cảm chiếm lĩnh và khao khát vươntới cái vô biên, tuyệt đích:

       Mau lên chứ, vội vàng lên với chứ

       Em, em ơi, tình non sắp già rồi      (Giục giã)

       Em vui đi, răng nở ánh trăng rằm       Anh hút nhụy của mỗi giờ tình tự

Vì luôn khát khao vô biên, tuyệt đích, nên:

       Biển đắng không nguôi nỗi khát thèm       Nên lúc môi ta kề miệng thắm,

       Trời ơi, ta muốn uống hồn em      (Vô biên)Với Xuân Diệu, tất cả đều là tình yêu thứ nhất, là mùa xuân đầu:

       Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng       Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng;

       Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,       Chim trên cành há mỏ hát ra thơ       Xuân là lúc gió về không định trước      (Xuân không mùa)       Mặt trời vừa mới cưới trời xanh

Trang 7

       Má hồng phơn phớt, mắt long lanh      (Rạo rực)Sau này, khi đã chiều tà bóng xế, tình yêu trong thơ ông vẫn luôn nồng nàn:

       Tôi đã yêu từ khi chưa có tuổi       Lúc chưa sinh, vơ vẩn giữa dòng đời       Tôi sẽ yêu khi đã hết tuổi rồi

      Không xương vóc, chỉ huyền hồ bóng dáng      (Đa tình)

Cho đến lúc sắp giã biệt cuộc đời, nhà thơ vẫn khao khát:

       Hãy để cho tôi được giã từ       Vẫy chào cõi thực để vào hư       Trong hơi thở chót dâng trời đất       Cũng vẫn si tình đến ngất ngư

        Thơ tình Xuân Diệu thực sự là thơ tình, tình yêu của những người yêu

Trong “Thơ thơ” có cái rạo rực thiết tha, nồng cháy, “Gửi hương cho gió” có cái dadiết, đằm thắm xen lẫn vị đắng cay. Vì hướng tới sự giao cảm về phương diện tinhthần và tâm hồn nên tình yêu trong thơ Xuân Diệu rất mãnh liệt và cũng rất trongsáng, lành mạnh. Xuân Diệu yêu đời tha thiết và khao khát được đáp lại:

       Và hãy yêu tôi một giờ cũng đủ       Một giây cũng cam, một chút cũng đành      Nhưng do không gặp gỡ những tâm hồn đồng điệu, chân thật, nên hầu hếtnhững bài thơ tình của Xuân Diệu là nỗi đau của một trái tim đắm say, nồng nhiệt

Trang 8

cô đơn. Có lúc sự thờ ơ, hờ hững của người đời khiến trái tim thi sĩ không tránhkhỏi sự tủi hổ:

       Lòng ta là một cơn mưa lũ

       Đã gặp lòng em là lá khoai       Mưa biếc tha hồ rơi giọt ngọc

       Lá xanh không ướt đến da ngoài      (Nước đổ lá khoai)Thậm chí, “chết ở trong lòng một ít” bởi:

       Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu       Cho rất nhiều song chẳng nhận bao nhiêu       Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết      (Yêu)Càng yêu, càng thấy “dại khờ”:

       Người ta khổ vì thương không phải cách       Yêu sai duyên, và mến chẳng nhằm người

      Có kho vàng, nhưng chẳng tặng tùy nơi      Người ta khổ vì xin không phải chỗ

Ta hiểu vì sao trong thế giơi nghệ thuật của Xuân Diệu, mùa xuân và bình minh điliền với những chiều thu và những đêm trăng lạnh, sự nồng nàn đi liền với cảmgiác bơ vơ

      Trong tình yêu, Xuân Diệu đã đi đến tận cùng của sự thành thực: thành thựcnói lên nỗi khát tình dằng dặc của đời mình; thành thực can đảm nói lên những mặttrái của tình yêu. Nếu như trong văn chương truyền thống, nguyên nhân của nhữngmối lương duyên trắc trở là do khách quan, thì Xuân Diệu thấy nguyên nhân sự

Trang 9

       Linh hồn ta còn u uẩn hơn đêm,

       Ta chưa thấu, nữa là ai thấu rõ      Kiếm mãi, nghi hoài, hay ghen bóng gió      Anh muốn vào dò xét giấc em mơ

      Nhưng anh giấu em những mộng không ngờ      Cũng như em giấu những điều quá thực      (Xa cách)Khoảng cách về tâm hồn mới là điều đáng sợ nhất, bởi:

      Em là em, anh vẫn cứ là anh

      Có thể nào qua Vạn lý trường thành      Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật

      Nhưng dù tình yêu có được đền đáp hay không, trái tim yêu của Xuân Diệuvẫn nồng nàn say đắm, vẫn khát khao gặp gỡ, tâm hồn vẫn “giăng rộng khắp khônggian – Để đánh lưới những duyên hờ mới mẻ”, bởi với thi sĩ của tình yêu, “Tìnhyêu không tuổi, và xuân không ngày tháng”

3.Quan niệm thẩm mỹ:

Trong các nhà thơ hiện đại, Xuân Diệu đã đem lại cho thơ một quan niệm thẩm

mỹ hết sức mới mẻ, góp phần tạo nên một cuộc cách mạng trong thi ca: cuộc đờitrần thế là đẹp nhất, con người - đặc biệt là người thiếu nữ - là tuyệt diệu nhất, làchuẩn mực cho mọi vẻ đẹp trên đời

       Xuân Diệu chịu ảnh hưởng của trường thơ tượng trưng Pháp. Trường thơnày quan niệm vũ trụ là một thế giới huyền bí mà mắt thường không nhìn thấyđược, cái mà con người nhìn thấy chỉ là dấu hiệu tượng trưng của bản thể ấy. Vìvậy, các nhà thơ theo trường phái này không chủ trương miêu tả thế giới rõ rệt, hữuhình mà cố gắng miêu tả những biến thái tinh vi, mong manh, huyền diệu của vũ

Trang 10

       Bài thơ “Vội vàng” được coi là tuyên ngôn về quan niệm sống của XuânDiệu, một triết lí nhân sinh được thể hiện bằng hình tượng thơ thấm đẫm cảm xúc

Với Xuân Diệu, cuộc sống trần thế đầy hấp dẫn, đó là một thiên đường trên mặtđất, một khu vườn tràn đầy xuân sắc, một không gian tươi thắm tràn ngập lá nõn,hoa thơm, trái ngọt  mà vạn vật ở độ lên hương rực rỡ nhất, đều say đắm xuântình: ong bướm như trong tuần tháng mật; hoa phải là hoa của đồng nội xanh rì; láphải là lá của cành tơ, chồi biếc; yến oanh rộn rã khúc tình si  Vì vậy, không việc

gì phải tìm kiếm thiên đường ở tận đâu, mà hãy yêu mến, gắn bó tận hưởng hếtmình ngay trong cuộc đời này

      Từ quan niệm coi con người là chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp, nhà thơ nhìn trờiđất, cỏ cây, hoa lá, núi sông  đầy vẻ tình tứ:

       Hơi gió thở như mặt người yêu mến       Mây đa tình như thi sĩ đời xưa

Thời tiết bốn mùa thì: “Xuân: người ta vì ấm mà cần tình, Thu: người ta vì lạnh sắpđến mà cũng rất cần đôi; Nắng hạ đốt người một cách cực lạc và tiết đông khỏavào da thịt làm dây cả máu xương”. Mùa xuân được thi sĩ hình dung, liên tưởngnhư làn môi căng mọng của người thiếu nữ “Tháng giêng ngon như một cặp môigần” – một câu thơ hay vào loại hiếm thấy trong lịch sử văn học dân tộc. XuânDiệu đã khái quát lên thành toàn bộ thế giới xuân tình. Nhìn phấn thông bay, thi sĩnhư thấy ái tình tản mạn, ôm ấp không gian, hoa thì không phân biệt được là hoahay là những thiếu nữ đa tình. Biển thì như một người tình say đắm, một trái timyêu không bao giờ mệt mỏi  Có thể nói, làm nên những câu thơ đầy cảm xúc, cảmgiác ấy, một phần quan trọng là nhờ cách dùng từ ngữ của Xuân Diệu: độc đáo, táobạo, có giá trị gợi cảm mạnh mẽ. Tuy nhiên, thơ Xuân Diệu, về bản chất vẫn kếthừa phát huy cái nhạc điệu riêng, linh hồn riêng của thơ ca truyền thống. Chính vìvậy, kinh nghiệm Đông và Tây, truyền thống và hiện đại, kết tinh ở một tâm hồnnghệ sĩ khát khao giao cảm với đời đã giúp Xuân Diệu khám phá được những biếnthái tinh vi của thiên nhiên cũng như của nội tâm con người và thể hiện được trong

Trang 11

4 Xuân Diệu rất ý thức về sự chảy trôi của thời gian:

      “Trong các nhà thơ hiện đại, Xuân Diệu là người có năng lực cảm nhận tinh

tế bước đi của thời gian. Có lẽ cũng do lòng yêu tuổi trẻ, muốn ngăn sự già nua tàn

tạ, nên nhà thơ luôn cảnh giác với thời gian và kịp thời báo động với chính mình”

(Vũ Quần Phương). Với Xuân Diệu, thời gian trở thành “nỗi ám ảnh”, thành “kẻthù đáng gờm”, là “đại lượng tiêu cực, thù địch với hạnh phúc và tuổi xuân”. XuânDiệu quan niệm thời gian mang trong lòng nó sự trôi chảy mà mỗi khoảnh khắcqua đi là mất đi vĩnh viễn:

       Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua      Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già      (Vội vàng)

Đây là một quan niệm hết sức mới mẻ, tiến bộ về thời gian – thời gian tuyến tính

Thời trung đại, với quan niệm thời gian tuần hoàn với chu kì bốn mùa, nên conngười rất ung dung, bình thản trước thời gian:       

       Sen tàn, cúc lại nở hoa       Sầu dài, ngày ngắn, đông đà sang xuân       (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Thời gian trung đại tính theo chiều vĩ mô: ngàn đời, vạn năm, thiên thu  nên chếtchưa phải là hết, còn có kiếp sau. Còn ở thời hiện đại, người ta không yên tâm vớiđiều đó. Đời người hữu hạn, ngắn ngủi vô cùng, cho nên con người không thể thờ

ơ với cuộc sống, không nên lãng phí thời gian, phải sống năng suất hơn gấp nhiềulần trong cùng một thời gian được sống, hãy tìm cách đốt cuộc đời mình lên để nóitrôi qua thì không phải luyến tiếc. Cho nên, ta bắt gặp những khoảnh khắc thi sĩ

“cảnh giác với thời gian và kịp thời báo động với chính mình”:

      - Tình thổi gió, màu yêu lên phấp phới      Nhưng đôi ngày, tình mới đã thành xưa

Trang 12

      - Sự thật ngày nay, không thật đến ngày mai      (Phải nói)

      - Cái trôi không đợi cái bay

      Từ tôi phút ấy, sang tôi phút này

Ý thức về sự trôi chảy của thời gian cũng là cách không chấp nhận cuộc sống mùtối, vô danh vô nghĩa, tẻ nhạt, và cội nguồn sâu xa của nó chính là niềm khát khaogiao cảm với đời

      Vô cùng nhạy cảm trước sự đổi thay “nổi nênh, xiêu đổ, tan tác” của cuộcđời, Xuân Diệu luôn nhìn thấy sự đối lập nghiệt ngã giữa thời gian vô tận của vũtrụ và thời gian quá ngắn ngủi của kiếp người. Càng tha thiết với cuộc đời, ôngcàng nhìn thấy thời gian trôi với nhịp độ chóng mặt: “rồi đi”, “cứ thế mà bay”

những ngày những tháng

       Thong thả chiều vàng thong thả lại      Rồi đi…đêm xám tới dần dần

      Cứ thế mà bay cho đến hết      Những ngày, những tháng, những mùa xuân      (Giờ tàn)        

Chưa có nhà thơ nào luyến tiếc thời gian đến xót xa như Xuân Diệu, bởi ông ý thứcđược rằng thời gian trôi là tuổi trẻ mất và tuổi già đang chờ đón. Do vậy, cảm nhận

về sự vận động của thời gian trong thơ Xuân Diệu xuất phát từ ý thức về sự mấtmát. Cùng với ngày tháng trôi qua, Xuân Diệu chỉ nhìn thấy sự vật đang bị bàomòn, tàn tạ:

       Hoa nở để mà tàn

Trang 13

Đằng sau một loạt những “vội vàng”, “giục giã”, “mau với chứ”, “gấp đi em”… tahình dung ra điệu bộ cuống cuồng của thi nhân cùng nỗi ám ảnh lo sợ: muộn màng,không kịp, lỡ làng, lỡ thì… Nhưng vốn là người ham sống, Xuân Diệu không camlòng chịu để cho ngày tháng trôi qua trong mòn mỏi, vô vị, ông tìm cách chống đỡ,ngăn cản không cho thời gian cướp đi những lạc thú của tuổi trẻ, tình yêu

      Có thể nói rằng, với Xuân Diệu, thời gian là một chất xúc tác đặc biệt tạonên những luồng rung động đặc biệt trong cảm hứng sáng tạo, thôi thúc thi sĩ viếtnên những câu thơ vừa có sức khái quát, vừa sinh động gợi cảm

5 Xuân Diệu là nhà thơ rất có ý thức khẳng định cái “tôi” cá nhân.

      Thơ ca muôn đời vẫn là sự bộc lộ cảm xúc của chủ thể sáng tạo trước conngười và tạo vật. Song nếu như trong thơ ca trung đại, quan niệm “thi dĩ ngôn chí”,

“văn dĩ tải đạo” đã lấn át cái bản ngã thì Thơ mới ra đời đồng nghĩa với sự khẳngđịnh cái “tôi” cá nhân. “Ngày thứ nhất, ai biết đích ngày nào, chữ “tôi” xuất hiệntrong thi đàn Việt Nam. Nó thực sự bỡ ngỡ như lạc long nơi đất khách bởi nómang theo một quan niệm chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân” (HoàiThanh)

       Xuân Diệu là một nhà Thơ mới tiêu biểu nhất, vì thế rất có ý thức khẳngđịnh cái “tôi” của mình. Không phải ngẫu nhiên ông được coi là người phát ngônđầy đủ nhất cho tư tưởng cá nhân của phong trào Thơ mới. Với Xuân Diệu, cái

“tôi” cá nhân được ý thức sâu sắc khi lần đầu tiên trên thi đàn, cái “tôi” tiểu tư sảnmạnh dạn bày tỏ những tâm tư thầm kín, những xúc cảm yêu đương tuôn trào,những khát vọng được hưởng thụ không dứt, không nguôi hoa thơm trái ngọt củacuộc đời trần thế. Vì thế, Xuân Diệu không chỉ hoàn toàn mới lạ so với các thế hệtrước mà còn mới lạ so với các nhà thơ cùng thời. Chỉ có Xuân Diệu mới có đủ độ

Trang 14

       Hái một mùa hoa lá thuở măng tơ       Đốt muôn nến sánh mặt trời chói lọi       Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt       Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm      (Giục giã) 

Thơ mới là thơ của cái “tôi”, viết về cái “tôi”, nhưng chỉ với Xuân Diệu, sự tồn tạicủa cái “tôi” mới được đẩy lên với ý nghĩa tuyệt đối của nó. Thơ ông tràn ngập chữ

“tôi”, nó được khai thác và biểu hiện ở nhiều cấp độ khác nhau. Nó có thể là sựphô diễn bức chân dung tự họa của nhà thơ, nhiều khi nhỏ bé, yếu đuối:

       Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ

       Mà vạn vật là muôn đá nam châm      (Cảm xúc)      Tôi là con chim đến từ núi lạ

       (Lời thơ vào tập “Gửi hương”)       Tôi là con nai bị chiều đánh lưới

       Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối      (Khi chiều giăng lưới)       Tôi là kẻ qua sa mạc

Nhưng cũng có lúc cái “tôi” ấy trở nên mạnh mẽ, quyết liệt:

       Tôi là một kẻ điên cuồng       Yêu những ái tình ngây dại

Trang 15

      (Hư vô)

      Cũng có thể là sự bộc lộ đến tận cùng khát vọng khi thi nhân xoáy vào bêntrong chiều sâu tâm hồn mình. Đằng sau cái “tôi” trữ tình đứng ở ngôi thứ nhất làmột hệ thống những động từ chỉ hành động và tư thế cảm xúc rất Xuân Diệu : Đó

là ý thức chiếm lĩnh hương sắc cuộc đời (nắng, gió, không chờ nắng hạ mới hoàixuân…), hoặc lúc không còn tự chủ được nữa: “Tất cả tôi run rẩy tựa dây đàn”,

“tôi run như lá, tái như đông”. Rồi tôi nhớ; tôi buồn; tôi đã yêu; tôi sung sướng; tôi

sẽ chết… Tuy nhiên, khẳng định cái “tôi” tích cực, cái “tôi” thấm đẫm màu sắc cáthể trong thơ Xuân Diệu không chỉ căn cứ vào tần số xuất hiện của chữ “tôi” hoặcvào sự đề cao quá đáng của bản ngã cá nhân thành đỉnh Hi Mã Lạp Sơn ngấtngưởng, mà cơ sở chính của nó là sự thành thật của xúc cảm. Thơ Xuân Diệu làniềm khát sống, khát yêu đến cuồng nhiệt. Con người ấy muốn uống cạn, một cách

vồ vập “cái li tràn đầy sự sống”. Trong thơ Xuân Diệu, toát lên một nhu cầu mãnhliệt: được cảm thông. Con người rất có ý thức về bản ngã ấy không phải là cái “tôi”

khép kín mà là cái “tôi” luôn phơi trải, luôn mở ra trước cuộc đời, là một tâm hồnkhao khát tìm gặp những tâm hồn. Với Xuân Diệu, dù vui hay buồn, sung sướnghay đau khổ, hi vọng hay thất vọng… nghĩa là tất cả những rung động tinh vi củađời sống tâm hồn đều được Xuân Diệu thành thật bày tỏ. Sự chân thực của tìnhcảm là một phẩm chất tiêu biểu của thơ trữ tình nói chung, đến trào lưu Thơ mớiđược chú trọng khai thác và mở thêm nhiều ngóc ngách, phức tạp, tinh vi hơn đểlàm phong phú thêm khả năng tự biểu hiện và sức mạnh hướng nội của thơ. Dù ởphương diện nào, ta đều thấy ở hồn thơ Xuân Diệu những phẩm chất nổi bật tiêubiểu cho khát vọng được khẳng định cái “tôi” như một tâm điểm nghệ thuật củathơ lãng mạn 1932-1945

III Kết luận:

      Sinh thời, Xuân Diệu vẫn tìm đến sự giao cảm với cuộc đời bằng thơ, bằngtâm hồn của một nhà thơ thiết tha yêu sự sống. Sự nghiệp mà ông để lại là một disản thơ vô giá mà từng ý thơ, từng lời thơ vẫn tiếp tục nảy sinh, đánh thức dậyniềm vui, nỗi buồn và bao xôn xao trong lòng tuổi trẻ hôm nay. Ở giai đoạn trướcCách mạng tháng Tám, Xuân Diệu được coi là gương mặt tiêu biểu nhất của tràolưu thơ ca lãng mạn; là nhà thơ “mới nhất” trong các nhà Thơ mới. Ông đã mangđến cho thi đàn Việt Nam một nguồn cảm hứng yêu đời dào dạt, một luồng rung

Trang 16

động mới mẻ trước tình yêu, một nhịp sống hoàn toàn mới lạ và một cái tôi giàubản   sắc   Ông   cũng   là   người   tìm   ra   nhiều  kiểu   cấu   trúc   hiện  đại   cho   câu   thơViệt Nam và làm phong phú thêm hình thức thơ bằng những hình ảnh độc đáo vànhững nét nhạc điệu tân kì. Có thể nói, sự cộng hưởng giữa khát vọng sống và khátvọng đổi mới thơ ca là nguồn động lực thúc đẩy mọi sự tìm tòi sáng tạo và tạo rasức mạnh cảm hóa đặc biệt của thơ Xuân Diệu trước Cách mạng Tháng Tám.

      Với nửa thế kỉ hành trình sáng tạo, Xuân Diệu đã để lại cho các thế hệ độcgiả và nhất là những người cầm bút bài học thấm thía về tài năng và bản lĩnh thi sĩ

Con đường đi của Xuân Diệu từ một nhà thơ lãng mạn thành một nhà thơ Cáchmạng là con đường tiêu biểu cho thế hệ Thơ mới 1932-1945. Ở cả hai chặng đường

ấy, Xuân Diệu đều có những cống hiến hết sức to lớn. Vị trí của ông trên văn đàndân tộc là một vị trí không ai có thể thay thế được. Cùng với khát vọng sống thiếttha sôi nổi, thơ Xuân Diệu sẽ tiếp tục hành trình trong cuộc sống hôm nay và maisau

       

      

ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT VÀ CÁ TÍNH SÁNG TẠO CỦA THƠ XUÂN DIỆU TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

 

I Xuân Diệu – Cây đời mãi xanh tươi:

      “Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong”, Xuân Diệu đã từng sống ở cả ba miềnđất nước. Từ khi còn là một học sinh trung học hay là một viên chức, Xuân Diệuluôn lao động sáng tạo say mê, bền bỉ. Với hơn nửa thế kỉ cầm bút, ông đã để lạimột khối lượng tác phẩm đồ sộ: khoảng 50 tác phẩm thuộc nhiều thể loại: thơ, văn,phê bình, nghiên cứu phê bình văn học và dịch thuật  Ở lĩnh vực nào tài năngXuân Diệu cũng được ghi nhận, nhưng thơ vẫn là bộ phận sáng tác có giá trị nhất

Ngày đăng: 01/11/2022, 10:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w