Bên cạnh đó chúng tôi nhận thấy nếu trong giảng dạy giáo viên chỉ hướng dẫn học sinh chủ yếu giải riêng lẻ các bài toán rút về đơn vị nằm trong sách giáo khoa theo cách giảng giải, áp đặ
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO SÔNG LÔ
TRƯỜNG TIỂU HỌC YÊN THẠCH
=====***=====
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến : BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI CÁC BÀI TOÁN RÚT VỀ ĐƠN VỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC.
Tác giả sáng kiến: ĐÀO THỊ KHUYÊN Chức vụ: Giáo viên Tác giả sáng kiến: DOÃN THỊ THẮM Chức vụ: Giáo viên
Địa chỉ: Trường Tiểu học Yên Thạch – Sông Lô – Vĩnh Phúc.
Hồ sơ bao gồm:
1 Đơn đề nghị.
2 Bản cam kết, Tóm tắt SKKN.
3 Biên bản đánh giá SKKN cấp trường.
4 Báo cáo SKKN.
Mã lĩnh vực: 07 /2021
Trang 2Yên Thạch, năm 2021
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 LỜI GIỚI THIỆU
Tiểu học là bậc học nền tảng, ở bậc tiểu học, môn Toán là một trong những môn học quan trọng và chiếm một thời lượng lớn Chính vì vậy, học sinh học tốt môn toán sẽ giúp các em có cơ sở học tốt các cấp học tiếp theo Cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí rất quan trọng vì: Nó là một môn học công cụ rất cần thiết để học các môn học khác, để tiếp tục nhận thức thế giới xung quanh và để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn Khả năng hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh tiểu học thông qua học toán là hết sức to lớn như: Phát triển tư duy lô gíc, bồi dưỡng và phát triển thao tác trí tuệ để nhận thức thế giới hiện thực Ngoài ra môn Toán còn góp phần giáo dục tư duy sáng tạo, rèn luyện đức tính kiên trì và khả năng vượt khó cho học sinh Môn toán ở Tiểu học góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học cho học sinh, phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, vận dụng toán học vào thực tiễn; tạo sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, giữa toán học với thực tiễn, giữa toán học với các môn học và hoạt động giáo dục khác Chương trình môn Toán Tiểu học hình thành, phát triển ở học sinh năng lực toán học với các thành tố: tư duy và lập luận toán học; mô hình hóa toán học; giải quyết vấn đề toán học; giao tiếp toán học; sử dụng công cụ, phương tiện học Toán
Song trong thực tiễn giảng dạy, chúng tôi thấy học sinh đối với các dạng toán có lời văn (từ lớp 3 với dạng toán rút về đơn vị) đa số học sinh còn lúng túng khi trình bày lời giải Diễn đạt bằng ngôn ngữ khó khăn, chưa gãy gọn, sử dụng thuật ngữ toán học lúng túng, chưa chặt chẽ, chưa xác định được các dữ kiện của đề bài Cách trình bày chưa thể hiện hết ý tưởng, còn nhầm lẫn các kiểu bài với nhau
Bên cạnh đó chúng tôi nhận thấy nếu trong giảng dạy giáo viên chỉ hướng dẫn học sinh chủ yếu giải riêng lẻ các bài toán rút về đơn vị nằm trong sách giáo khoa theo cách giảng giải, áp đặt mà chưa đặt trong thế so sánh nhận
Trang 3diện sự giống và khác nhau của hai dạng toán, từ đó giúp học sinh khắc sâu,
mở rộng, nâng cao kiến thức thì không chỉ lớp 3 mà lên lớp 4, lớp 5 các em vẫn không hiểu để giải quyết tốt dạng toán này
Cho nên chúng tôi thiết nghĩ việc áp dụng một số biện pháp giải các bài toán rút về đơn vị là điều cần thiết và nên làm Bởi khi có phương pháp phù hợp sẽ giúp cho người giáo viên điều chỉnh cách dạy để học sinh dễ hiểu bài nhất,hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót từ đó nâng cao chất lượng bài học nói riêng và chất lượng dạy học nói chung Về phía học sinh dưới sự dẫn dắt của thầy cô, các em được chủ động chiếm lĩnh tri thức, biểu đạt ý kiến của bản thân, dù có sai thì các em được học qua chính cái sai của mình, học từ bạn nên các em không chỉ nhớ kiến thức lâu vận dụng tốt mà còn được phát triển năng lực của bản thân
Sau khi tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng của việc dạy học môn toán ở Tiểu học, đặc biệt là dạy các bài toán rút về đơn vị, tôi nhận ra những ưu điểm của giải pháp hướng dẫn học sinh giải các bài toán rút về đơn vị, chúng tôi
mạnh dạn nghiên cứu và áp dụng:"Biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải các bài
toán rút về đơn vị nhằm nâng cao chất lượng giáo dục’’ để đáp ứng mục
tiêu dạy học môn Toán nói riêng và mục tiêu giáo dục Tiểu học nói chung
2 TÊN SÁNG KIẾN:
“Biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải các bài toán rút về đơn vị nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.’’
3 TÁC GIẢ SÁNG KIẾN:
- Họ và tên: ĐÀO THỊ KHUYÊN
- Địa chỉ tác giả sáng kiến:
Trường Tiểu học Yên Thạch - Huyện Sông Lô - Tỉnh Vĩnh Phúc.
- Số điện thoại: 0385925633
- E- mail: daothikhuyen.gvc1yenthach@vinhphuc.edu.vn
- Họ và tên: DOÃN THỊ THẮM
- Địa chỉ tác giả sáng kiến:
Trường Tiểu học Yên Thạch - Huyện Sông Lô - Tỉnh Vĩnh Phúc.
- Số điện thoại: 0393007218
- E- mail:.doantham9@gmail.com
Trang 44 CHỦ ĐẦU TƯ TẠO RA SÁNG KIẾN:
- Đào Thị Khuyên – Doãn Thị Thắm.
- Giáo viên trường Tiểu học Yên Thạch - Sông Lô - Vĩnh Phúc
5 LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN:
Giải pháp được áp dụng trong giảng dạy môn Toán lớp 3 ở trường Tiểu học Yên Thạch, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
Sáng kiến này được áp dụng trong việc nâng cao chất lượng đại trà của môn Toán và đặc biệt hơn là còn áp dụng sáng kiến này cho việc bồi dưỡng học sinh năng khiếu giúp các em tiếp thu nhanh kiến thức và giải toán nhanh hơn, từ đó các em biết giải toán với nhiều cách khác nhau, giúp các em phát huy hết khả năng mình có, giúp các em có hứng thú và mạnh dạn tham gia các sân chơi trí tuệ như giải toán bằng tiếng Anh, Trạng nguyên Toàn tài.…
6 NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU HOẶC ÁP DỤNG THỬ:
Biện pháp này đã được áp dụng cho việc nâng cao chất lượng học sinh đại trà và bồi dưỡng học sinh năng khiếu cho học sinh lớp 3 tại trường Tiểu học Yên Thạch - Sông Lô - Vĩnh Phúc từ tháng 9 năm 2020
7 MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN:
7.1 VỀ NỘI DUNG SÁNG KIẾN
7.1.1 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ DẠY HỌC SINH LỚP 3 GIẢI CÁC BÀI TOÁN RÚT VỀ ĐƠN VỊ.
Qua thực tế tìm hiểu thực trạng dạy học sinh lớp 3 giải các bài toán rút
về đơn vị, chúng tôi nhận thấy một số thuận lợi và hạn chế sau:
- Về thuận lợi:
Giáo viên được trang bị đầy đủ sách vở và các trang thiết bị dạy học Đa
số giáo viên gương mẫu, nhiệt tình trong quá trình truyền thụ tri thức cho học sinh
Bên cạnh đó giáo viên luôn sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học nhằm phát huy hết khả năng học tập của học sinh
Trang 5Học sinh có đủ sách vở, đồ dùng học tập, có đủ sách giáo khoa Khoa học công nghệ phát triển nên học sinh chiếm lĩnh tri thức từ nhiều nguồn khác nhau
- Về mặt hạn chế:
Đối với giáo viên:
Một số thầy cô giáo chưa linh hoạt trong quá trình dạy học, chưa chú ý khơi gợi để học sinh vận dụng tìm tòi nhiều cách giải bài toán khác nhau
Một số thầy cô còn phụ thuộc nhiều vào sách hướng dẫn, còn áp đặt cách giải Chẳng hạn có những bài toán mà dữ kiện không tường minh, giáo viên chưa hướng dẫn cho học sinh đưa về các dạng toán đã học thì học sinh không biết cách giải bài toán
Một số thầy cô giáo mới chỉ quan tâm đến việc hướng dẫn học sinh giải một bài tập cụ thể mà ít hướng dẫn học sinh khái quát hóa kiến thức, nên khi học sinh gặp các bài toán hợp thì không biết cách làm
Đối với học sinh:
Học sinh chưa chủ động chiếm lĩnh kiến thức, chưa vận dụng linh hoạt các kiến thức đã học để giải bài toán rút về đơn vị
Học sinh chưa phân biệt được hai kiểu bài của bài toán rút về đơn vị nên khi giải các bài tập còn gặp khó khăn trong việc trình bày lời giải
Trong quá trình dạy học toán, tôi nhận thấy các em có một thói quen đó là: chưa đọc kĩ đề bài, chưa phân tích đề, chưa xác định được dạng toán cụ thể Khi làm bài thì mơ hồ, làm xong không kiểm tra lại kết quả, cho nên không phát hiện được lỗi sai của mình Nhất là dạng toán rút về đơn vị, mà qua thăm nắm thì vấn đề các em mắc phải ngay từ lớp 3 và lên đến lớp 4, lớp
5 vẫn có em mắc sai sót trong làm bài Đặc biệt ở dạng bài toán rút về đơn vị, sau khi học xong hai kiểu bài nhiều em bị nhầm lẫn hai kiểu bài đó
Để biết cụ thể về thực trạng học tập của học sinh chúng tôi tiến hành khảo sát học sinh qua hai bài tập cụ thể sau:
Bài toán 1:
Có 5 ô tô chở được 30 tấn gạo Hỏi 3 xe như thế có thể chở được bao nhiêu tấn gạo?
Bài toán 2:
Có 50 kg gạo đựng vào 5 bao Hỏi có 90 kg gạo thì cần có bao nhiêu
bao như thế để đựng?
Sau khi kiểm tra chúng tôi trực tiếp chấm bài và nhận thấy : Một số em hiểu và phân biệt được hai kiểu bài rút về đơn vị
Còn đa số các em nhầm lẫn, dẫn đến kết quả bài chưa tốt
Trang 6* Kết quả kiểm tra khi chưa áp dụng sáng kiến:
Lớp Sĩ số
Học sinh đạt:
Hoàn thành tốt
Học sinh đạt:
Hoàn thành
Học sinh: chưa hoàn thành
Số lượng % Số lượng % Số lượng %
3A 30 7 23,3 18 60 5 16,7 3D 34 8 23,5 20 58,8 6 17,7 3E 35 7 20 20 57,1 8 22,9
* Nguyên nhân
Do các em chưa nhớ các bước giải một bài toán rút về đơn vị, chưa phân biệt được hai kiểu bài toán rút về đơn vị
Mặt khác khả năng phân tích, tổng hợp kiến thức của học sinh còn hạn chế nên dẫn đến kết quả bài làm chưa tốt
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, tôi đã mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy dạng toán này, bản thân tôi đã trực tiếp giảng dạy, áp dụng cho lớp 3
và các lớp 4-5 trong những năm học gần đây Bên cạnh đó tôi chia sẻ biện pháp của mình tới giáo viên dạy ở khối 3 và tiếp tục nhân rộng đến các lớp
4-5 với mục đích giúp các em có phương pháp giải toán nói chung, phương pháp giải dạng toán có liên quan đến rút về đơn vị nói riêng Giúp các em biết chủ động thực hiện giải toán không rập khuôn máy móc mà phải dựa vào tư duy, phân tích tổng hợp thông qua trải nghiệm, khám phá kiến thức cụ thể
7.1.2 BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 3 GIẢI CÁC BÀI TOÁN RÚT VỀ ĐƠN VỊ.
Khi thực hiện giải pháp giúp học sinh giải toán rút về đơn vị cho học sinh lớp 3, chúng tôi đã thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
7.1.2.1: Áp dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực để trang
bị kiến thức chắc chắn cho học sinh về dạng bài toán rút về đơn vị.
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực chính là dịch chuyển trọng tâm của quá trình dạy học từ giáo viên sang hoạt động học của học sinh Để góp phần tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, tôi rất tâm đắc với kiểu phương pháp dạy học mới đang được áp dụng đó là dạy học thông qua các hoạt động trải nghiệm, khám phá, phát hiện kiến thức của học sinh Kết hợp vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học tích cực nhằm giúp học sinh phát huy hết khả năng học tập của mình
Dạy học thông qua trải nghiệm khuyến khích tổ chức các hoạt động độc lập, tự học cá nhân hoặc hoạt động nhóm của học sinh; đòi hỏi giáo viên phải thiết kế các hoạt động học tập giúp học sinh tự phát hiện, phân tích và vận
Trang 7dụng kiến thức Đặc biệt giờ học sẽ thành công khi giáo viên có khả năng sử dụng tiến trình 5 bước: Tình huống xuất phát/ câu hỏi nêu vấn đề -> Giúp học sinh bộc lộ ý tưởng ban đầu, trải nghiệm-> Đề xuất phương án thực hành/ giải quyết vấn đề ->Tiến hành giải quyết vấn đề -> Kết luận, hợp thức hóa kiến thức và vận dụng
+ Bước 1: Tình huống xuất phát/ câu hỏi nêu vấn đề:
Giáo viên có thể: Đặt câu hỏi, đố vui, kể chuyện, đặt một tình huống, tổ chức trò chơi … Có thể thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ hoặc cá nhân học sinh
Giáo viên đưa ra câu hỏi nêu vấn đề phù hợp và gợi được trí tò mò của học sinh giúp học sinh chuẩn bị tâm thế để khám phá kiến thức mới
+ Bước 2: Giáo viên giúp học sinh bộc lộ được ý tưởng của mình và
trải nghiệm
Bước này khuyến khích học sinh nêu ý tưởng, đề xuất ban đầu của mình Trong quá trình dạy học, đây là bước quan trọng, thông qua việc bộc lộ
ý tưởng ban đầu của học sinh mà học sinh mạnh dạn, tự tin hơn rất nhiều Từ
đó giúp học sinh phát huy năng lực học tập tích cực Giáo viên tổ chức các hình thức trải nghiệm gần gũi với học sinh Các câu văn phải đơn giản, dễ hiểu
+ Bước 3: Đề xuất phương án thực hành/ giải quyết vấn đề
Từ những ý tưởng phong phú của học sinh, giáo viên giúp các em đề xuất các câu hỏi liên quan đến bài học Giáo viên dùng câu hỏi gợi mở, phân tích, đánh giá để giúp học sinh thực hiện quá trình phân tích và giải quyết vấn
đề Có thể sử dụng các hình thức thảo luận cặp đôi, thảo luận nhóm, hoặc các hình thức sáng tạo khác tùy vào từng bài cụ thể để kích thích trí tò mò, sự ham thích tìm tòi, khám phá, phát hiện của học sinh, sử dụng các kĩ thuật dạy học phát triển năng lực của học sinh…
+ Bước 4: Tiến hành giải quyết vấn đề
Thông qua các bài tập cơ bản để học sinh rèn việc nhận dạng, áp dụng các bước giải và công thức cơ bản Giáo viên giúp học sinh nhận ra điểm mạnh, điểm yếu của mình, từ đó biết cách giải từng kiểu bài và trải nghiệm thành thạo
Giáo viên giúp học sinh trải nghiệm thông qua hệ thống các bài tập từ
dễ đến khó
+ Bước 5: Giáo viên cùng học sinh thống nhất, hợp thức hóa kiến thức
và vận dụng làm bài
Trang 8Giáo viên hướng dẫn học sinh trải nghiệm thông qua các bài tập với mức độ khó dần Từ đó học sinh hình thành trong đầu các bước giải cụ thể và vận dụng các bước giải đó vào giải từng kiểu bài cụ thể Đồng thời giúp học sinh nắm được ý nghĩa thực tế của bài toán vì toán học luôn gắn với thực tế,
Việc áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực có vai trò vô cùng quan trọng bởi khi đó học sinh được tạo các cơ hội tham gia các hoạt động học tập một cách chủ động, tích cực; được trực tiếp tham gia vào hoạt động học, tự lĩnh hội được các kiến thức mới, được thực hành, vận dụng kiến thức mới vào giải quyết các bài tập, các tình huống thực tế Từ đó học sinh hứng thú học tập hơn, nắm chắc kiến thức hơn, còn làm tiền đề tốt hơn cho việc thực hiện các dạng bài tập cụ thể
7.1.2.2: Giúp học sinh nắm chắc các bước giải của bài toán rút về đơn vị.
Để học sinh hiểu và vận dụng các bài toán rút về đơn vị, tôi hướng dẫn học sinh các bước giải một bài toán như sau:
* Bước 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc kĩ bài toán.
* Bước 2: Sau khi đọc đề, giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt bài
toán
* Bước 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích bài toán.
* Bước 4: Giáo viên hướng dẫn học sinh trình bày lời giải.
* Bước 5: Giáo viên hướng dẫn học sinh kiểm tra lời giải và đánh giá
cách giải
Cụ thể như sau:
* Bước 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc kĩ bài toán:
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc thật kĩ đề bài để học sinh nắm được các yêu cầu của bài toán Học sinh nắm được mối liên hệ giữa các yếu tố trong bài toán từ đó hình thành trong đầu phần nào cách giải bài toán rút về đơn vị
Giúp học sinh có thói quen tự đưa ra các câu hỏi đề hiểu rõ mối liên hệ giữa các yếu tố trong bài toán
* Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh các cách tóm tắt bài toán:
Sau khi học sinh đọc đề toán, giáo viên giúp các em lược bớt các yếu tố thừa, giúp bài toán gọn lại, dễ hiểu hơn Từ đó các em biết tự mình tóm tắt bài toán Và biết nhìn vào tóm tắt đó để đọc lại bài toán
Để học sinh biết tóm tắt bài toán, giáo viên hướng dẫn học sinh một số cách tóm tắt bài toán như sau:
Trang 9* Cách 1: Hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng
* Cách 2: Hướng dẫn học sinh tóm tắt bài bằng hình tượng trưng.
* Cách 3: Hướng dẫn học sinh tóm tắt bài bằng sơ đồ Ven.
* Cách 4: Hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng chữ.
* Cách 5: : Hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng kẻ ô
* Cách 6: : Hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng chữ và dấu.
* Cách 7: : Hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng lưu đồ.
Học sinh đọc kĩ bài toán và lựa chọn cách tóm tắt bài toán sao cho ngắn gọn và dễ hiểu nhất
* Bước 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích kĩ bài toán.
Sau khi học sinh tóm tắt bài toán thì giáo viên cùng học sinh phân tích các yếu tố của bài toán thông qua hệ thống các câu hỏi gợi mở chẳng hạn như:
- Bài toán cho em biết yếu tố gì?
- Bài toán hỏi về vấn đề gì?
- Muốn tìm yếu tố đó em cần biết gì?
- Muốn tìm yếu tố chưa biết em làm thế nào?
Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích, tổng hợp các yếu tố của bài toán một cách thành thạo từ đó khắc sâu hơn đề bài trong đầu học sinh
* Bước 4: Giáo viên hướng dẫn học sinh trình bày bài giải.
Sau khi học sinh phân tích, tổng hợp các yếu tố của bài toán, giáo viên cùng học sinh khám khá cách viết lời giải Yêu cầu học sinh viết câu trả lời đúng, trình bày sạch đẹp, cân đối
* Bước 5: Giáo viên hướng dẫn học sinh kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải:
Sau khi học sinh làm bài xong, giáo viên yêu cầu học sinh đọc lại lời giải, xác định lại kiểu bài rút về đơn vị, thử lại kết quả và kiểm tra kết quả
Xem xét các yếu tố, dữ liệu của bài toán nếu thử lại thấy đúng và hợp lý là bài làm đã đúng
Riêng đối với những em học sinh năng khiếu thì giáo viên cần khơi gợi
để học sinh tìm ra các cách giải khác nhau và tìm cách giải nhanh nhất không
áp đặt cách giải đối với học sinh Giúp học sinh phát huy hết năng lực học tập của mình từ đó phát hiện ra nhân tố học sinh năng khiếu
Trang 107.1.2.3: Hướng dẫn học sinh phân biệt hai kiểu bài rút về đơn vị.
Khi giải các bài toán rút về đơn vị giáo viên cần giúp học sinh phân biệt được hai kiểu bài cụ thể Đây là bước khó đối với học sinh vì vậy giáo viên phải gợi ý hướng dẫn để học sinh nhận ra sự khác biệt giữa hai kiểu bài
Cả hai kiểu bài đều giống nhau ở bước 1 Bước 1: Đây là bước Rút về đơn vị Bước 2: Đến bước này đã có sự khác nhau tùy thuộc vào từng kiểu bài
mà học sinh chọn cách giải cho đúng:
+ Kiểu bài 1: Tìm giá trị nhiều phần ( bước này dùng phép tính nhân) + Kiểu bài 2: Tìm số phần (bước này dùng phép chia)
Để học sinh làm tốt dạng bài rút về đơn vị giáo viên cần hướng dẫn học sinh hiểu thật kĩ hai kiểu bài rút về đơn vị, từ đó học sinh phân biệt được hai kiểu bài và chọn cách làm bài đúng
Dù là kiểu bài nào thì bước đầu tiên cũng là bước rút về đơn vị và làm phép chia, sau đó thực hiện bước thứ hai
7.1.2.4: Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp giải hai kiểu bài rút về đơn vị.
Ở phần này tôi hướng dẫn các em phương pháp giải hai kiểu bài:
* Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp giải bài toán rút về đơn vị bằng phép tính chia, nhân (kiểu bài 1):
Trước khi hướng dẫn học sinh các bước giải toán rút về đơn vị, Giáo viên cho học tự tìm cách giải bài toán theo ý hiểu riêng của mình Ứng dụng
tiến trình 5 bước để hướng dẫn học sinh.(Sử dụng kĩ thuật Khăn trải bàn) để
phát huy năng lực tích cực của học sinh Thông qua đó học sinh chủ động tìm tòi, khám phá, trải nghiệm và chiếm lĩnh kiến thức
Bài toán 1: Có 35 l mật ong chia đều vào 7 can Hỏi mỗi can có bao
nhiêu lít mật ong?
Bước 1: Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc kĩ bài toán
Bước 2: Giáo viên hướng học sinh tóm tắt bài toán:
(Thông qua các câu hỏi gợi mở để hướng dẫn học sinh) + Giáo viên yêu cầu học sinh tóm tắt để giáo viên ghi bảng:
7 can: 35 l
1 can:…l?.
Bước 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích bài toán