PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG VÀNG THẾ GIỚI DỰ ĐOÁN XU HƯỚNG TRONG TƯƠNG LAI 1 Nguồn cung 1 1 3 Nguồn cung chính Vàng được cung cấp chủ yếu thông qua các hình thức sau Khai thác mỏ,tái chế và dự trữ ở ngân hàn.
Trang 1PHÂN TÍCH TH TR Ị TRƯỜNG VÀNG THẾ GIỚI ƯỜNG VÀNG THẾ GIỚI NG VÀNG TH GI I Ế GIỚI ỚI
D ĐOÁN XU H Ự ĐOÁN XU HƯỚNG TRONG TƯƠNG LAI ƯỚI NG TRONG T ƯƠNG LAI NG LAI
1.Nguồn cung
1.1 3 Nguồn cung chính
Vàng được cung cấp chủ yếu thông qua các hình thức sau:Khai thác mỏ,tái chế và dự trữ ở ngân hàng trung ương các nước
Trang 2Khai thác mỏ
Việc khai thác mỏ chiếm phần lớn nhất trong nguồn cung vàng - khoảng là 61,4% mỗi năm Vàng được khai thác khắp các mỏ hầu hết các châu lục trừ Đại Tây Dương do hoạt động khai thác bị cấm Hàng trăm mỏ vàng hoạt động toàn cầu với quy mô đa dạng.
Nhìn chung khai thác vàng từ các mỏ khá ổn định Nguồn cung từ các mỏ trung bình trên 4000 tấn vàng mỗi năm tính trong quãng thời gian 10 năm trở lại Những mỏ mới đang trong quá trình triển khai để đảm bảo sản lượng hiện tại thay vì mở rộng phạm vi khai thác.
Để đưa một mỏ mới vào sản xuất, ước tính mất một quãng thời gian tương đối dài- lên tới 10 năm Điều này có nghĩa rằng sản lượng khai khoáng tương đối ít dao động và khó có thể phản ứng nhanh chóng để có thể có ảnh hương lớn đến được một thay đổi nào đó trong dự đoán về giá cả
Tái chế vàng
Trong khi sản lượng vàng khai thác từ các mỏ là tương đối ít dao động, vàng tái chế giúp đảm bảo nguồn cung thương mại dễ dàng hơn khi cần thiết, góp phần ổn định giá vàng Giá trị của vàng tái chế còn có ý nghĩa về mặt kinh tế vì có khả năng phục hồi lại từ những hình thức sử dụng khác bằng việc nung chảy, tinh chế và tái chế Trong giai đoạn 2008-2018, vàng tái chế chiếm khoảng 37% nguồn cung vàng hàng năm.
Dự trữ từ ngân hàng trung ương các nước
Ngân hàng trung ương và các tổ chức đa quốc gia ( như Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế) hiện giữ khoảng 1/5 tổng lượng vàng dự trữ toàn cầu làm tài sản dự trữ (ước tính số lượng khoảng 29.000 tấn được cất trữ ở 110 tổ chức) Tính trung bình, vàng chiếm khoảng 15% tài sản dự trữ của các chính phủ, tuy nhiên tỷ lệ này có khác nhau giữa các nước Các nước phát triển Tây Âu và Bắc
Mỹ giữ khoảng hơn 40% tổng dự trữ toàn cầu Các nước đang phát triển nắm giữ khoảng 5% tổng dự trữ.
Mặc dù một số các ngân hàng trung ương đã tăng lượng dự trữ vàng trong những thập niên gần đây, nhưng đây cũng chính là nguồn cung cấp lượng vàng lớn ra thị trường từ năm 1989 đến năm 2009 Sang năm 2010, các ngân hàng trung ương lần đầu tiên mua ròng vàng trong 21 năm.
Sự chuyển dịch từ bán ròng chuyển sang mua ròng do 1 số lý do sau Thứ nhất, các nền kinh tế mới nổi phát triển nhanh chóng và có nhu cầu đối với vàng ngày càng cao nhằm cân đối với lượng ngoại tệ nắm giữ và trở thành phương tiện dự trữ an toàn Ngoài ra, các ngân hàng trung ương châu Âu cũng tăng cường tích trữ vàng sau khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, đồng euro mất
Trang 3Kết quả của sự thay đổi này khiến năm 2010, các ngân hàng trung ương mua ròng tổng cộng 77 tấn vàng, năm 2011 mua vào gấp 6 lần lên gần 457 tấn và năm 2012, con số này lên 534,6 tấn vàng, cao kỷ lục kể từ 1964.
1.3.Phân bố
Nam Phi đứng vị trí là quốc gia sản xuất vàng chủ yếu trong phần lớn của thế kỷ 20 (đóng góp gần 70% sản lượng vàng của thế giới vào những năm 1970) đã bị sụt giảm trong hai thập kỷ qua.
• Dựa trên dữ liệu về các nguồn sản xuất vàng chính trong 15 năm qua, vàng được cung cấp chủ yếu bởi các nước phát triển như Mỹ và Úc, trong khi phần cung cấp của Nam Phi đã giảm mạnh từ 14% năm 2004 xuống còn 4% vào năm 2018.
• Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, Trung Quốc đã nắm bắt cơ hội và tăng dần sự thống trị của mình, với đóng góp trong sản xuất vàng toàn cầu tăng từ khoảng 10%, lên hơn 15% trong năm 2016.
• Nhìn chung, trung tâm sản xuất mỏ vàng thế giới dường như đang chuyển từ ba nước lớn ( Nam Phi, Hoa Kỳ và Úc) sang các quốc gia thị trường mới nổi(Trung Quốc).
Hiện tại Mỹ và châu Á-Thái Bình Dương là thị trường toàn cầu lớn nhất thế giới và tạo ra hơn một nửa doanh thu thị trường toàn cầu
1.4.Các công ty lớn trong ngành khai thác vàng
Người đứng đầu lâu năm Barrick Gold đã sản xuất 4,5 triệu ounce vào năm 2018, thấp hơn 15% so với năm trước, mất vị trí nhà sản xuất hàng
Trang 4đầu của mình cho Newmont Mining Newmont khai thác ít hơn 165koz năm ngoái nhưng đã xoay sở để giữ sản lượng trên 5 triệu ounce
Nếu việc sáp nhập được thực hiện trong năm 2018, tổng sản lượng
Newmont Goldcorp, sẽ tăng lên mức 7,4 triệu ounce trong khi kết hợp Barrick Randgold sẽ khai quật được 5,8 triệu ounce Sản lượng vàng tại Newmont và Barrick ở Nevada, được đầu tư vào đầu năm nay, đạt tới 4,1 triệu ounce
Nhờ sự gia tăng sản lượng vàng tại Grasberg trong những năm cuối cùng của hoạt động khai thác tại mỏ Indonesia, Freeport đã vượt qua Polyus để giành vị trí số 5
Kinross đánh bại Polyus chỉ với 14.000 ounce, nhưng xem xét rằng công ty Canada báo cáo số ounce tương đương vàng, công ty Nga đang phát triển nhanh chóng có thể đã ở đó
Tầng trên cùng có một tiền vệ rất cạnh tranh - với Goldcorp trượt từ thứ năm đến thứ tám, chỉ 150.000 ounce bao gồm giữa gói
Nam Phi với Harmony Harmony Gold đã tăng sản lượng 30% trong năm ngoái lên hơn 1,4 triệu ounce và lần đầu tiên sẽ lọt vào top 10 nếu không phải là năm xuất sắc của Grasberg
Tổng cộng, 15 công ty khai thác vàng hiện thuộc về câu lạc bộ sản lượng hàng năm hơn 1moz với Công ty khai thác Trung Quốc Zijin khai thác phía sau
Top 10 công ty khai thác vàng không thuộc sở hữu nhà nước được liệt kê chịu trách nhiệm cho gần 30% sản lượng toàn cầu
Trang 5Newmont Mining Corp.
Một trong những công ty khai thác mỏ lâu đời nhất, Newmont Mining có lịch
sử gần 100 năm Công ty có trụ sở tại Colorado này có hoạt động tại năm quốc gia trên thế giới với các hoạt động quan trọng ở Bắc và Nam Mỹ, cũng như Châu Á, Úc và Châu Phi
Trang 6Đầu năm 2019, công ty khai thác đã mua Goldcorp trong một hợp đồng trị giá
10 tỷ USD, sau đó là liên doanh với Barrick Gold vào tháng 7 với tên gọi Nevada Gold Mines.Trụ sở được đặt tại Nevada, và theo thông cáo báo chí hợp tác của các công ty vàng, đây là sự sáng lập của liên doanh vàng lớn nhất thế giới Các mỏ của Nevada Gold được sở hữu và điều hành 61.5% bởi Barrick và 38,5% thuộc sở hữu của Newmont Goldcorp
Sản lượng vàng do công ty này khai thác được dự kiến là 6,5 triệu ounce trong năm 2019
1.3.2
Barrick Gold Corp.
Với hoạt động tại hơn một chục quốc gia và vốn hóa thị trường hơn 20 tỷ USD, Barrick Gold là là công ty vàng lớn nhất thế giới.Công ty có các hoạt động khai thác tại Argentina, Úc, Canada, Chile, Cộng hòa Dominican, Papua New Guinea, Peru, Ả Rập Saudi, Tanzania, Hoa Kỳ và Zambia.Hơn 75% sản lượng vàng của Barrick đến từ khu vực Châu Mỹ
Barrick Gold đã tụt xuống từ vị trí hàng đầu năm 2017 để xuống ở vị trí thứ haivề các nhà sản xuất vàng hàng đầu trong ngành khai thác mỏ Mặc dù sản lượng đã giảm trong năm ngoái, năm 2018 và 2019 đã chứng kiến những bước tiến lớn đối với nhà sản xuất vàng Ngoài ra việc sáp nhập tài sản tại Nevada với Newmont Goldcorp vào ngày 1 tháng 7, công ty đã mua lại
Randgold Resources vào tháng 9 năm 2018
Liên doanh mỏ vàng Nevada bao gồm 10 mỏ khai thác ngầm và 12 mỏ lộ thiên, hai cơ sở nồi hấp, hai cơ sở rang xay, bốn nhà máy oxit, một nhà máy tuyển nổi và năm cơ sở lọc đống Sản lượng của Nevada dự kiến là 1,5 triệu ounce trong năm 2019
1.3.3
AngloGold Ashanti
Công ty khai thác vàng lớn thứ ba trên thế giới về sản xuất, AngloGold
Ashanti là một công ty Nam Phi có hoạt động tại gần một chục quốc gia Năm
2004, công ty như hiện tại đã được thành lập khi AngloGold Limited và
Ashanti Goldfields Company Limited sáp nhập AngloGold Ashanti Limited hiện là nhà sản xuất vàng toàn cầu với 21 hoạt động tại bốn châu lục
Trang 7Kinross Gold Corp.
Kinross Gold Corp là công ty nhỏ nhất trong danh sách của chúng tôi theo giới hạn thị trường Công ty giám sát hoạt động khai thác tại sáu quốc gia khác nhau, mặc dù Canada không phải là một trong số họ Ước tính 60% sản lượng vàng của công ty trong năm 2018 đến từ các hoạt động khai thác ở Bắc và Nam Mỹ
2.Quy mô tiêu thụ hằng năm
2.1
Tiêu thụ vàng sản xuất trên thế giới vào khoảng 50% cho trang sức, 40% cho đầu tư và 10% dùng trong công nghiệp
Nhu cầu trang sức
Trang sức vàng chiếm phần lớn cho nhu cầu vàng hàng năm lớn nhất trên mỗi lĩnh vực Điều này đã giảm trong những thập kỷ gần đây, nhưng nó vẫn chiếm khoảng 50% tổng nhu cầu về vàng
Đầu tư
Trang 8Vàng mang tính chất đặc trưng như một nhóm tài sản.Sự phân bổ ít ỏi cho vàng có thể chứng minh giúp bảo vệ và nâng cao hiệu suất của danh mục đầu tư Mặc dù vậy, trên toàn cầu, vàng vẫn chỉ chiếm chưa đến một phần trăm danh mục đầu tư
Tuy nhiên, điều này đang thay đổi và các nhà đầu tư thuộc mọi lĩnh vực đang chấp nhận vàng như một kho lưu trữ có giá trị dài hạn, đáng tin cậy,di chuyển độc lập với các tài sản khác Khối lượng vàng hàng năm được mua bởi các nhà đầu tư đã tăng ít nhất 235% trong ba thập kỷ qua
Phân tích cho thấy vàng có thể được sử dụng trong danh mục đầu tư để bảo
vệ sức mua, giảm biến động và giảm thiểu tổn thất trong thời kỳ sốc thị
trường
Nhu cầu từ ngân hàng trung ương
Thập kỷ qua đã chứng kiến sự thay đổi cơ bản trong hành vi của ngân hàng trung ương đối với vàng, được thúc đẩy bởi sự đánh giá lại vai trò và sự xác đáng của nó sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 Các ngân hàng trung ương thị trường mới nổi đã tăng mua vàng chính thức, trong khi các ngân hàng châu Âu đã ngừng bán, và lĩnh vực này hiện là nguồn cung cấp 1 lượng vàng đáng kể hằng năm
Công nghệ
Vàng ngoài việc chỉ phổ biến cho các mục đích xã hội cũng là một trong
những vật liệu được tìm kiếm nhiều nhất cho các mục đích công nghệ Nó là vật liệu dễ dát, dễ uốn và kháng vi khuẩn tốt nhất mà con người từng biết đến (theo Azomaterials, 2001).Vàng có công dụng rất cao trong nhiều ngành công nghiệp từ Sinh học y tế,Nha khoa, Môi trường,nhiên liệu tế bào, Điện tử, Công nghệ nano, Nhiếp ảnh, Không gian, v.v Mỗi năm nhiều công dụng mới cho ngành công nghiệp được khám phá có thể chuyển sự tiêu thụ vàng
về hướng công nghiệp hơn xã hội
Mặc dù hầu hết các ứng dụng công nghệ sử dụng khối lượng vàng thấp, nhưng tác động của chúng rất đa dạng và rộng khắp
2.2 Các nước
Trang 9Trung Quốc tiêu thụ khoảng 984 tấn vàng mỗi năm Nó nhập khẩu khoảng hai phần
ba lượng vàng mà nó sử dụng Vàng được sử dụng cho công nghiệp, đầu tư và trang sức Vàng luôn sẵn có ở Trung Quốc cho mọi mục đích sử dụng Trên thực tế, một
số ngân hàng ở Trung Quốc sẽ bán tiền vàng qua quầy(over-the-counter)
Ấn Độ tiêu thụ khoảng 849 tấn vàng mỗi năm Con số này thay đổi dựa trên nền kinh
tế nhìn chung Ngành công nghiệp khai thác vàng của nó rất nhỏ nên hầu hết lượng tiêu thụ của nó đều được nhập khẩu Việc sử dụng chính của vàng là cho đồ trang sức và đồ trang trí khác Vàng cũng được xem như giá trị lưu trữ
Trang 10Hoa Kỳ tiêu thụ khoảng 193 tấn vàng mỗi năm Nguồn tiêu thụ được trộn lẫn giữa sử dụng trong công nghiệp, đầu tư và trang sức
Đức tiêu thụ gần 124 tấn vàng mỗi năm Một lượng lớn vàng tiêu thụ ở Đức là dành cho công nghiệp
Thái Lan tiêu thụ khoảng 90 tấn vàng mỗi năm Đồ trang sức bằng vàng dưới dạng dây chuyền và đồ trang sức khác được bán tại các cửa hàng trên khắp cả nước Giá vàng được hiển thị công khai trước các cửa hàng Nó được định giá dưới dạng
“baht”, vào khoảng 15 gram
Ả Rập Saudi tiêu thụ khoảng 85 tấn vàng mỗi năm Trang sức vàng Ả Rập Saudi nổi tiếng về chất lượng trên khắp châu Á và chiếm phần lớn nhất trong tiêu thụ của nó Thổ Nhĩ Kỳ tiêu thụ khoảng 72 tấn vàng mỗi năm Thổ Nhĩ Kỳ sử dụng vàng nhiều nhất cho trang sức
Iran tiêu thụ khoảng 71 tấn vàng mỗi năm Vàng được sử dụng cho sản xuất trang sức cũng như mục đích đầu tư
Việt Nam nhập khẩu khoảng 63 tấn vàng mỗi năm Việt Nam, giống như các nước Đông Nam Á khác, sử dụng vàng để làm đồ trang sức cũng như lưu trữ giá trị
Indonesia tiêu thụ khoảng 59 tấn vàng mỗi năm Nhiều vàng được tiêu thụ ở
Indonesia là để sử dụng làm đồ trang sức và trang sức
3.Giá cả
Vàng là một trong những mặt hàng hoạt động tốt nhất trong những tháng gần đây Giá vàng đã tăng khoảng 16% trong một năm qua lên đến hơn 1.420 USD / ounce vào tháng 7 năm 2019, mức tăng này đã đạt gần 20% kể từ mức giảm thấp gần đây vào tháng 9 năm
2018 Mặc dù có tác động bất lợi của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung , việc tăng giá vàng được dẫn đầu bởi sự gia tăng mua từ các ngân hàng trung ương lớn và sự tham gia bán lẻ cao hơn trong bối cảnh bất ổn kinh tế gia tăng Tuy nhiên, vàng cũng có phần biến động khá lớn trong 50 năm qua
Biến động gi á v à ng trong h ơ n 50 n ă m qua
Trang 11Trong lịch sử, giá vàng trung bình hàng năm trên toàn cầu vẫn ở mức dưới 700 USD / ounce từ những năm 1970 đến 2007
Trong thời gian này, giá vàng chứng kiến sự tăng vọt vào năm 1980 để chạm mốc 850 USD / ounce (trung bình hàng năm là 615 đô la năm đó), dẫn đến lạm phát cao do giá dầu tăng mạnh, sự can thiệp của Liên Xô vào Afghanistan và tác động của cuộc cách mạng Iran đã thúc đẩy nhà đầu tư chuyển sang kim loại
Thời kỳ này được theo sau bởi một môi trường giá dịu cho đến khi thế giới bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, sau đó là sự chậm lại ở Eurozone
2 sự kiện đã làm tăng giá trị của vàng như một công cụ phòng
hộ, dẫn đến mức tăng giá toàn cầu,giữ ở mức trên $
1.100/ounce kể từ năm 2010
Giá vàng trung bình hàng năm tăng cao nhất trong năm 2012(khoảng 1.700$/ounce), do mua từ các ngân hàng trung ương lớn để đa dạng hóa
cơ sở tài sản của họ, nhu cầu trang sức cao, nới lỏng định lượng và lạm phát gia tăng
Từ năm 2012,giá vàng giảm liên tục từ 1.700$/ounce đến 1.200$/ounce năm 2015.Sau năm 2015,giá vàng có sự tăng nhẹ qua mỗi năm đạt mức
$1,508.20/ounce vào tháng 10/2019
So sánh giá vàng v ớ i s ả n l ượ ng v à ng h ơ n 50 n ă m
Giá vàng phần lớn duy trì mối quan hệ nghịch đảo với sản lượng sản xuất từ năm 1970 đến 2018
Trang 12Tuy nhiên, sau năm 2012, giá giảm mạnh mặc dù mức sản xuất có
sự cải thiện, chủ yếu là do sự cải thiện trong nền kinh tế Mỹ
Trong một năm qua, giá vàng đã chứng kiến rất nhiều biến động bất kể xu hướng sản xuất toàn cầu, do căng thẳng thương mại Mỹ-Trung
Sau cuộc khủng hoảng năm 2008, nhu cầu và giá vàng tăng cao đã khiến các công ty lớn khám phá các mỏ mới dẫn đến sản lượng toàn cầu tăng lên trong 10 năm qua