Cụ thể ở môn Ngữ Văn lớp 7 chuyên đề Nghị luận hiện đại Việt Nam có các chuyên đề nhỏ hơn về những vấn đề xã hội là các văn bản: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta – Hồ Chí Minh ; Đức t
Trang 1Cách dạy chuyên đề nghị luận hiện đại Việt Nam qua văn bản: Đức tính giản dị của Bác Hồ
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
1 Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
Trong thời đại công nghệ 4.0 đang phát triển mạnh như vũ bão hiện nay trên toàn thế giới thì mỗi người cần thay đổi, thích nghi, học tập áp dụng vào cuộc sống của mình Đối với mỗi giáo viên công nghệ 4.0 được áp dụng trong các phương pháp dạy học Đặc biệt đối với việc đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh đã và đang thu hút sự tham gia của toàn thể giáo viên các cấp học nói chung và bậc THCS nói riêng Đồng thời cũng thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội
Nhất là trong các năm vừa qua ngành giáo dục đã giao cho các Nhà trường cùng tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch dạy học theo chuyên đề bám vào khung phân phối chương trình của Bộ GD năm 2008-2009; nội dung chương trình giảm tải và chuẩn kiến thức kĩ năng.
Chúng ta được biết ở chương trình cũ, sách giáo khoa cũ đã sắp xếp theo phong cách ngôn ngữ văn bản như: văn trần thuật, miêu tả… Mỗi tuần ở các khối lớp thường phân phối giống nhau có bốn tiết thì hai tiết đầu là tiết Văn bản Tiết ba học tiếng Việt; tiết bốn học Tập làm văn Cứ lặp lại đều như thế ở các tuần Nhưng giờ đây nhiệm vụ của người giáo viên dạy môn Ngữ văn là phải thực hiện đúng tinh thần đổi mới của chương trình thực hiện Kế hoạch dạy học theo chuyên đề để xác định rõ các nội dung tích hợp với những môn học nào Xác định các năng lực cần phát triển rồi cần rèn những kĩ năng sống
cụ thể cho học sinh cũng như đổi mới các phương pháp dạy học chủ yếu là những phương pháp nào Các chủ đề Văn học, tiếng Việt và Tập làm văn vẫn sắp xếp xen kẽ và dạy theo thứ tự từ tiết 1 cho đến tiết cuối cùng của bộ môn.
Mỗi chủ đề lại chia thành nhiều chuyên đề khác nhau Nội dung này trong phần hướng dẫn của chương trình cũ chưa được sáng tỏ.
Nếu giáo viên không nắm được tinh thần đổi mới này cứ dạy chung chung thì không hình thành được các chủ đề lớn với các chuyên đề cụ thể đảm bảo có các nội dung trên Cụ thể ở môn Ngữ Văn lớp 7 chuyên đề Nghị luận hiện đại
Việt Nam có các chuyên đề nhỏ hơn về những vấn đề xã hội là các văn bản: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta – Hồ Chí Minh ; Đức tính giản
dị của Bác Hồ – Phạm Văn Đồng Chuyên đề về văn học có văn bản: Sự giàu đẹp của tiếng Việt – Đặng Thai Mai ; Ý nghĩa của văn chương – Hoài Thanh Chúng ta cũng thấy trong chuyên đề: Nghị luận hiện đại
Việt Nam đều bao gồm các nội dung khó cho cả giáo viên và học sinh Vì thế
nghiên cứu cách dạy học chủ đề này là một việc làm khó, phải đi sâu vào
Trang 2nghiên cứu cả phương pháp dạy học để phát huy được các năng lực, rèn các
kĩ năng sống cụ thể cho học sinh giúp các em nắm vững giá trị từng chuyên
đề cũng như cả chủ đề chung Học sinh biết vận dụng một cách hiệu quả nhất những điều đã học vào thực tế cuộc sống Trên đây là những lí do để tôi viết
sáng kiến kinh nghiệm : “CÁCH DẠY CHUYÊN ĐỀ NGHỊ LUẬN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM QUA VĂN BẢN: ĐỨC TÍNH GIẢN DỊ CỦA BÁC HỒ” – Môn Ngữ Văn 7.
1 Mô tả giải pháp:
2 Giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
– Thực tế trước khi áp dụng giải pháp mới này thì mỗi giáo viên Ngữ Văn cứ dạy thông thường theo phân phối của từng tuần với thứ tự cứ dạy xong hai tiết văn học đến tiết tiếng Việt cuối cùng là Tập làm văn giáo viên không định hướng rõ sẽ tích hợp kiến thức của những môn học nào với nội dung mình dạy Cũng như không để ý định hướng phát triển các năng lực cần thiết, rèn các kĩ năng sống để đào tạo những học sinh biết chủ động tích cực, có khả năng sáng tạo cao, tự giải quyết được các tình huống gặp trong thực tế cuộc sống….
+ Ưu điểm: Ở giải pháp cũ này học sinh chỉ cần ghi chép đầy đủ kiến thức
vào vở của mình rồi về nhà học thuộc bài là đạt yêu cầu Học sinh trong mỗi giờ học không phải làm việc nhiều, không cần huy động nhiều vốn kiến thức, khả năng tư duy cao để giải quyết một vấn đề nào đó.
+ Nhược điểm: Người Thầy truyền thụ kiến thức mang tính áp đặt nhiều
hơn Học sinh học thụ động, ghi chép học thuộc bài một cách máy móc, không liên hệ vận dụng hữu ích với thực tế cuộc sống của chính bản thân mình và mọi người xung quanh, khả năng thực hành, sáng tạo bị hạn chế nhiều….
Chính vì vậy mà người Thầy của bộ môn Ngữ Văn nói riêng và các môn học nói chung đã đào tạo ra thế hệ học sinh kém khả năng thực hành và sáng tạo, thụ động trước mọi tình huống yêu cầu đặt ra đòi hỏi con người phải biết năng động, giỏi thực hành có hiệu quả thiết thực đáp ứng được yêu cầu của
xã hội, đất nước hiện nay Cho nên chúng tôi đã nghiên cứu cách dạy trên nhằm khắc phục các nhược điểm của giải pháp cũ.
2 Giải pháp sau khi có sáng kiến
Cuộc sống hiện nay cần đào tạo những lớp học sinh năng động sáng tạo, biết thực hành tốt, đối phó được với mọi khó khăn thách thức Nhất là cần nâng cao tinh thần yêu nước, trách nhiệm của thanh niên học sinh với cộng đồng, lí tưởng cách mạng, tinh thần tự học và say mê lao động cống hiến… Đặc biệt là
Trang 3hưởng ứng phong trào “Học tập và làm theo tấm gương tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh” Phong trào này đã trở thành cuộc vận động
chính trị rộng rãi, sâu sắc trong mọi tầng lớp nhân dân và tầng lớp thanh thiếu niên nói riêng Phương pháp học tập, làm theo tấm gương tư
tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh ở mỗi tầng lớp, mỗi lứa tuổi sẽ có
một cách học tập, nhận thức riêng Mặc dù mục đích chung chúng ta cần hướng tới là học tập làm theo tấm gương đạo đức sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh Hơn nữa trong nhà trường ngoài những bài văn thuộc phong cách nghệ thuật như bài thơ: Đêm nay Bác không ngủ – Minh Huệ; Viếng lăng Bác – Viễn Phương… Để nâng cao thêm trí tuệ cuả học sinh và nâng cao khả
năng làm văn Nghị luận được học ở lớp 7 chúng tôi phải giúp các em hiểu
rõ thêm về phong cách nghị luận qua chuyên đề: Nghị luận hiện đại Việt Nam trong sáng kiến trên.
Văn bản: “ Đức tính giản dị của Bác Hồ” nằm trong chuyên đề Nghị luận hiện đại Việt Nam của chủ đề Văn học Theo phân phối chương trình cũ và theo nội dung giảm tải thì văn bản này là Tiết 93 – Bài 23 Còn theo Kế
hoạch dạy học theo chuyên đề năm học 2019 – 2020 và nội dung tinh giản kiến thức do Đại dịch Covid- 19 này là Tiết 87 – Bài 23.
Khi dạy và học chuyên đề này, học sinh đã nắm được đặc điểm của kiểu văn bản nghị luận nói chung trong chủ đề Tập làm văn về bản chất, phương pháp lập luận nói chung và cách làm bài lập luận chứng minh nói riêng Đây chính
là thuận lợi giúp các em hiểu hơn và nắm chắc kiến thức của chuyên đề
* Cách thức thực hiện (cách dạy cụ thể chuyên đề trên), giáo viên phải cho học sinh thấy được đức tính giản dị là phẩm chất cao quý của Bác
Hồ qua đoạn văn nghị luận đặc sắc của tác giả Phạm Văn Đồng.
Trang 4+ GV định hướng:
* Năng lực cần phát triển cho học sinh là : Năng lực tiếp nhận văn bản,
năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sử dụng ngôn ngữ, tự học, sáng tạo, giao
tiếp và hợp tác Năng lực giao tiếp tiếng Việt; năng lực thưởng thức văn học
(cảm thụ thẩm mỹ).
* Tích hợp:
+ Môn Ngữ Văn lớp 7 ở chuyên đề Tập làm văn nghị luận qua bài: Bố cục và phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận; bài: Cách làm bài văn lập luận chứng minh, Bài viết số 5 Với Văn bản: Tinh thần yêu nước của
nhân dân ta- Hồ Chí Minh.
+ Môn Ngữ Văn 9 ở bài: Phong cách Hồ Chí Minh- Lê Anh Trà.
+ Môn Giáo dục công dân 6 bài: Tiết kiệm;
+ Môn Công dân 7 là bài: Giản dị và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, phong trào học tập và làm theo tấm gương của Bác ;
+ Môn Âm Nhạc: các bài hát về Bác
* Phương pháp dạy học: Thuyết trình, đàm thoại, gợi mở, đọc hiểu, thảo
luận nhóm, nghiên cứu tình huống
* Hình thức: Tổ chức dạy học trong lớp theo 2 cách: học theo cá nhân, học
theo nhóm.
* Phương tiện: Máy trình chiếu, phiếu học tập Ao, bút dạ.
Bước 1: phần I Giới thiệu tác giả, tác phẩm
Bất cứ một loại văn bản nào chúng ta cũng phải tìm hiểu phần Giới thiệu chung này Phần này gồm có mục tìm hiểu về tác giả và phần tác phẩm với
các nội dung cụ thể.
Một thuận lợi đây là văn bản viết thuộc chuyên đề: Nghị luận hiện đại Việt Nam Đồng thời học sinh lại đang học chủ đề Tập làm văn với bài: Tìm hiểu chung về phép lập luận chứng minh; Cách làm bài văn này Đặc
biệt hơn tác giả của văn bản lại là cố thủ tướng Phạm Văn Đồng với hơn 30 năm giữ chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta vừa là học trò xuất sắc, là cộng sự gần gũi của Bác đã sống và làm việc nhiều năm bên cạnh Bác, hiểu được sâu sắc về vị lãnh tụ kính yêu.
Trang 5+ Để học sinh hiểu sâu sắc về nội dung của văn bản thì khi học mục 1: Tác giả của phần này, chúng tôi cho học sinh lưu ý về tác giả từ năm sinh, năm
mất, quê quán, nhận xét chung về cuộc đời cách mạng và hoạt động văn hóa nghệ thuật của tác giả Với các câu hỏi sau:
? Dựa vào chú thích * SGK và hiểu biết của em hãy nêu đôi nét chính về tác giả Phạm Văn Đồng ?
? Nhận xét câu trả lời của bạn?
Hs trả lời xong thì GV cho HS quan sát bức chân dung tác giả; tác giả chụp cùng Bác Hồ; cùng phần diễn giảng khắc sâu của GV về tác giả như: ông là 1 trong những người giữ trọng trách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta
Tác giả vừa là học trò xuất sắc vừa là cộng sự gần gũi nhất của Bác nên tác giả có rất nhiều tác phẩm, công trình viết về vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc
ta ví như tác phẩm: Hồ Chủ tịch- Hình ảnh dân tộc; Chủ tịch Hồ Chí Minh; Hồ Chí Minh- Qúa khứ- Hiện tại và tương lai…
+ Ở mục 2 Phần tác phẩm: Trong quá trình dạy về xuất xứ, đọc; chúng tôi
lưu ý với học sinh lớp 6, 7 khâu rèn đọc rất quan trọng, cần thiết Nên yêu cầu học sinh to, rõ ràng, mạch lạc và còn biểu hiện được rõ tình cảm của tác giả Phạm Văn Đồng Giáo viên đọc mẫu đoạn văn đầu tiên Gọi 2 đến 3 học sinh vừa đọc vừa nhận xét tiếp Học sinh tìm nội dung chính của văn bản; bố cục;
thể loại.
Riêng phần bố cục sau khi học sinh nêu xong thì GV cho HS nhận xét và hỏi để tích hợp sang chủ đề Tập làm văn ở bài: Bố cục và phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận.
Giáo viên chốt lại văn bản học chỉ là một đoạn trích trong bài: Chủ tịch Hồ
Chí Minh, tinh hoa và khí phách của dân tộc, lương tâm của thời
đại của tác giả nên bài viết không có đầy đủ các phần của một bài văn nghị
luận hoàn chỉnh, mới chỉ có hai phần như các em vừa tìm hiểu đấy là phần nêu vấn đề; phần giải quyết vấn đề Đồng thời giáo viên cũng nhấn mạnh luôn nội dung tích hợp là để bài văn thuyết phục người đọc, người nghe ngoài bố cục hợp lí, chặt chẽ thì các luận cứ, luận chứng phải rõ ràng, toàn diện Và học sinh vận dụng phần học kiến thức ở bài tập làm văn này để phân tích văn bản học.
Hệ thống câu hỏi:
+ Xuất xứ
Trang 6? Nêu xuất xứ của văn bản ? – Trích từ bài Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh hoa khí phách của dân tộc, lương tâm của thời đại- diễn văn trong Lễ kỉ niệm 80 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh
– HS nêu nghĩa 1 vài chú thích( ví dụ từ: thanh bạch, tao nhã, hiền triết)
? Vậy bài văn nghị luận vấn đề gì?
? Tìm bố cục của văn bản này ? Nhận xét trình tự lập luận?
? Em hãy nhận xét câu trả lời của bạn?
– Bạn nêu bố cục đúng nhưng thiếu nhận xét: Trình tự lập luận của tác giả đi
từ việc nêu vấn đề chính ở phần 1 đến làm sáng rõ cho vấn đề bằng hai khía cạnh ở phần 2
? Trong phần Tập làm văn các em đã học bài: Bố cục và phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận, hãy nhớ và nhắc lại nhiệm vụ của ba phần: Nêu vấn đề, giải quyết vấn đề và kết thúc vấn đề? Bố cục văn bản này có gì giống
và khác?
+ Ý 1: Ba phần – Mở bài: Nêu vấn đề có ý nghĩa với đời sống (luận điểm xuất phát, tổng quát)
– Thân bài: Trình bày nội dung chủ yếu của bài (có thể có nhiều đoạn nhỏ, mỗi đoạn có một luận điểm phụ)
– Kết bài: Nêu kết luận nhằm khẳng định tư tưởng, thái độ, quan điểm của bài
Trang 7+ Ý 2: So sánh – Giống: Cũng có phần mở bài nêu vấn đề chính có ý nghĩa; phần thân bài thì trình bày những biểu hiện cụ thể của vấn đề chính đó
– Khác: Văn bản này không có phần kết bài
? Xác định thể loại văn bản?
Bước 2: Phần II Đọc- hiểu văn bản:
Giáo viên phải cho học sinh thấy rõ trong văn bản nghị luận không chỉ có lí lẽ không mà muốn lí lẽ ấy đến được với người đọc phải kèm theo những dẫn chứng vừa chính xác, vừa cụ thể và sinh động nữa Đặc biệt giáo viên phải giúp học sinh hiểu rõ lời văn của tác giả Phạm Văn Đồng rất giàu hình ảnh,
sinh động vô cùng Ví dụ trong bài viết: Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân
tộc,tác giả nói về Bác là: “ Bình sinh Hồ Chủ tịch là người rất giản dị, lão thực Vĩ nhân , thật vĩ nhân bao giờ cũng giản dị, lão thực Đã cầu kì
là thiếu bản lĩnh, cố làm trò để đánh lừa thiên hạ và hậu
thế…”……… Hoặc trong bài: “ Chủ tịch Hồ Chí Minh hình ảnh dân tộc”,
tác giả Phạm Văn Đồng nói: “ Mấy mươi năm xa cách quê hương, Người ko quên mùi vị những thức ăn đặc biệt Việt Nam như cà muối, dưa chua tương ớt, và ngày thường bây giờ , Người vẫn ưa thích những thứ ấy Ngay sau khi về nước, gặp Tết, Người không quên mừng tuổi đồng bào hàng xóm và và quà bánh cho trẻ em, tuy chỉ có mấy đồng xu, nhưng cũng bọc giấy hồng đơn cẩn thận, tươm tất Bình sinh như thế, đứng địa vị Chủ tịch Chính phủ kháng chiến kêu gọi quốc dân, Người dùng những lời nói thống thiết đi sâu vào tâm hồn Việt Nam: “ Nhiễu điều phủ lấy giá gương; Người trong một nước thì thương nhau cùng”.
Từ đây Giáo viên cho học sinh nắm được kiến thức cơ bản của hai đơn vị kiến
thức cần phân tích: Giới thiệu đức tính cao đẹp của Bác; Những biểu hiện cụ thể trong đức tính giản dị của Bác Trong đó kiến thức trọng tâm
là phần 2: Những biểu hiện cụ thể trong đức tính giản dị của Bác qua
hai phương diện là: Trong lối sống; trong lời nói, bài viết Ở phần này
người Thầy phải giúp học sinh phát triển được các năng lực đã định hướng chung, trong đó chú trọng hơn đến năng lực hợp tác, sáng tạo, giải quyết vấn
đề và năng lực thưởng thức văn học Và giúp cho học sinh tích hợp được
với những biểu hiện cao đẹp khác trong lối sống giản dị của Bác
trong môn Ngữ văn 9 ở bài: Phong cách Hồ Chí Minh- Lê Anh Trà sau
câu hỏi thảo luận về sự giản dị trong lối sống của Bác Hồ Tích hợp với chủ đề Tập làm văn: Cách làm bài văn lập luận chứng minh về cách
Trang 8đưa lí lẽ, dẫn chứng Với bài Giáo dục công dân học ở lớp 6; lớp 7 về
lối sống giản dị, tiết kiệm; Phần tích hợp này thực hiện sau khi phân tích xong ý a: “Trong lối sống” của mục (2) Sau khi phân tích xong ý b:
“ Trong lời nói, bài viết” của mục (2) thì giáo viên tích hợp với văn
bản học: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta – Hồ Chí Minh mà học sinh được học trong tiết 31- Bài 20, những việc làm cụ thể khác của chính
Bác; các bài thơ, mẩu chuyện ngợi ca lối sống cao đẹp của Bác của các tác giả khác Những lời nói; bài viết giản dị khác của Bác Rèn các kĩ năng sống: biết học tập và làm theo tấm gương của Bác: thực hiện lối sống giản dị, tiết kiệm,
có trách nhiệm, biết yêu lao động, quan tâm giúp đỡ mọi người, nói và viết biết dùng từ ngữ giản dị, dễ hiểu….
Hệ thống câu hỏi:
Ý 1: Giới thiệu đức tính cao đẹp của Bác.
GV yêu cầu HS quan sát hai đoạn văn đầu của văn bản ( SGK/ Trang 53)
? Nêu nội dung chính của phần văn bản này?
GV diễn giảng lại nội dung chính của phần văn bản này chính là vấn đề cơ bản của toàn văn bản, còn gọi là luận điểm chính ở tập làm văn được thể hiện ngay đoạn 1
? Đoạn văn thứ 2 có ý nghĩa như thế nào?
? Từ đây em có nhận xét gì về cách nêu vấn đề của tác giả? ? Tác dụng?
– Vừa trực tiếp vừa ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu và chặt chẽ – Đức tính giản dị của Bác chính là: Sự nhất quán giữa cuộc đời cách mạng
và cuộc sống giản dị, thanh bạch của Bác
Ý 2 Những biểu hiện cụ thể trong đức tính giản dị của Bác
? Nhắc lại những nội dung tác giả nêu ở phần 2 của bố cục?
– Sự giản dị của Bác trong lối sống – Sự giản dị của Bác trong lời nói, bài viết.
a.Trong lối sống
Trang 9? Theo dõi đoạn văn: “ Con người của Bác, đời sống…… Nhất, Định, Thắng, Lợi!” (sgk/ 53) Các em hãy cho biết sự giản dị trong lối sống của Bác Hồ được tác giả nói qua các khía cạnh nào đây?
– Trong bữa ăn – Nơi ở
– Việc làm – Quan hệ với mọi người
Giáo viên cho học sinh đọc câu hỏi thảo luận nhóm trên trình chiếu: Tìm và
phân tích các dẫn chứng nói về sự giản dị của Bác ở các khía cạnh trên?
Giáo viên nhắc nhở thời gian thảo luận là 2 phút; các nhóm thảo luận như các tiết học trước Yêu cầu nhóm trưởng đôn đốc các thành viên của nhóm mình thảo luận sôi nổi, có hiệu quả Hết thời gian thì giáo viên đáp án chuẩn
và gọi 1 học sinh đọc trên trình chiếu:
+ Bữa ăn: Chỉ có vài ba món rất giản đơn, lúc ăn Bác không để rơi vãi một hạt cơm, ăn xong, cái bát bao giờ cũng sạch và thức ăn còn lại được sắp xếp tươm tất Chúng ta càng thấy Bác quý trọng biết bao kết quả sản xuất của con người và kính trọng như thế nào người phục vụ
Đơn giản, đạm bạc, Bác quý trọng người lao động + Nơi ở: Cái nhà sàn của Bác vẻn vẹn chỉ có vài ba phòng; cái nhà sàn đó luôn luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn, một đời sống thanh bạch và tao nhã biết bao
Căn nhà sàn đơn sơ, mộc mạc, gần gũi với thiên nhiên + Việc làm: Bác suốt đời làm việc, suốt ngày làm việc:Từ việc lớn cứu nước, cứu dân
Đến những việc nhỏ: Trồng cây… Bác cốgắng tự mình làm việc, người giúp việc và phục vụ Bác rất ít
Bác say mê, tận tâm và tỉ mỉ.
+ Quan hệ với mọi người: Viết một bức thư, nói chuyện với các cháu Bác đặt tên cho Trường, Kì, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi
Trang 10Bác gần gũi, quan tâm và yêu thương tất cả mọi người Giáo viên: Khi học sinh đọc xong giáo viên hỏi: Các em vừa nghe bạn đọc đáp
án, hãy đối chiếu với kết quả của các nhóm và nhận xét xem nhóm nào đã làm được đúng nhất?
Giáo viên nhận xét, bổ sung và kết luận lại: Các em có thời gian là 1 phút ghi lại kết quả trên Đồng thời giáo viên diễn giảng tích hợp nhanh: Các em ạ những cái tên Bác đặt cho 8 đồng chí bảo vệ Bác ở chiến khu Việt Bắc ( vào năm 1947) cũng thể hiện niềm tin sắt son của Bác vào cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta sẽ thắng lợi một ngày không xa đấy! Và ngợi ca lối sống giản dị của Bác có biết bao nhiêu tác giả đã nói như tác giả Lê Anh
Trà ở bài: “Phong cách Hồ Chí Minh” cũng nói rằng: Lần đầu tiên trong
lịch sử Việt Nam và có lẽ cả thế giới, có 1 vị Chủ tịch nước lấy chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ bên cạnh bờ ao làm cung điện của mình…Và chủ nhân của này cũng trang phục hết sức giản dị, với bộ quần áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp thô sơ của các chiến sĩ Trường Sơn đã được một tác giả phương Tây ca ngợi như 1 vật thần kì… Sau này các
em sẽ học trong chương trình Ngữ văn 9 đấy!
Giáo viên: Yêu cầu HS quan sát đoạn văn tiếp theo “ Nhưng chớ hiểu lầm… thế giới ngày nay” – sgk/ 53
? Nêu nội dung chính của đoạn văn này?
– Nó không chứng minh cụ thể cho luận điểm trên mà giải thích, bình luận thêm về phẩm chất giản dị của Bác để tránh mọi người hiểu lầm đời sống của Bác là khắc khổ của nhà tu hành hay nhà hiền triết xưa.
-Bác sống đời sống giản dị vì Bác sống sôi nổi, phong phú đời sống và cuộc đời đấu tranh gian khổ chống Pháp, chống Mĩ của quần chúng nhân dân
? Tại sao tác giả khẳng định đời sống vật chất giản dị làm nổi bật sự phong phú về đời sống tinh thần, tâm hồn, tình cảm của Bác Đó thực sự là đời sống văn minh?
? Vì sao tác giả nói đó thực sự là cuộc sống văn minh? ( HS thảo luận tự do)
? Dựa vào bài: Cách làm bài văn lập luận chứng minh ở phần Tập làm văn, hãy cho cô biết phần thân bài phải đảm bảo yêu cầu nào?
? Từ đây chỉ ra các biện pháp nghệ thuật được tác giả Phạm Văn Đồng sử dụng để phân tích lối sống giản dị của Bác?