Sử dụng mô hình phân tích hệ thống, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra xu hướng biến động của các nguồn lực hiện tại và cân đối lúa gạo cho ĐBSH đến năm 2030.. Trong điều kiện tác động đồng th
Trang 1Cung và cân đối lúa gạo cho đồng bằng sông Hồng trong dài hạn dưới tác động của công nghiệp hóa và nước biển dâng
PGS.TS Nguyễn Văn Song và CN Đỗ Thị Diệp TÓM TẮT
Đất lúa vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) đang giảm đi trong những năm gần đây; đặc biệt là diện tích đất lúa giảm do nước biển dâng (bị nhiễm mặn), do việc chuyển đổi đất lúa sang mục đích phi nông nghiệp Sử dụng mô hình phân tích hệ thống, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra xu hướng biến động của các nguồn lực hiện tại và cân đối lúa gạo cho ĐBSH đến năm 2030 Nếu không có các giả định về sự thay đổi của các yếu tố trong mô hình thì đất lúa của ĐBSH sẽ giảm từ 634.600ha năm 2010 xuống còn 510.920ha năm 2030 Theo các kịch bản phát thải CO2 ở mức thấp, trung bình, cao thì cân đối lúa gạo và an ninh lương thực ở ĐBSH sẽ ổn định tương ứng ở năm 2028, 2027, và 2025
Trong điều kiện tác động đồng thời của các yếu tố đến sản xuất lúa gạo như diện tích đất lúa giảm đến năm 2030 do ảnh hưởng của nước biển dâng (theo các kịch bản thấp, trung bình, cao) và các yếu tố làm tăng sản lượng lúa, cân đối lúa gạo và an ninh lương thực của ĐBSH sẽ giữ vững ở năm 2037, 2035, và 2034 theo các kịch bản phát thải ở mức thấp, trung bình, cao
Do đó, để đảm bảo an ninh lúa gạo trong điều kiện bình quân thóc gạo/đầu người, cung lúa gạo ngày càng giảm, chính quyền ở cấp trung ương và địa phương, các nhà hoạch định chính sách, các nhà lập kế hoạch và người dân phải có các giải pháp đồng bộ để giảm bớt và thích ứng với các sự thay đổi trên
Từ khóa: dân số, đất lúa, công nghiệp hóa, biến đổi khí hậu, cung lúa gạo
Trang 21 GIỚI THIỆU
1.1 Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu
1.1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là nước đang phát triển trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đồng thời là một trong các nước sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu Hàng năm có khoảng 5.000ha đất lúa bị chuyển sang mục đích phi nông nghiệp (Song, 2008) Theo kịch bản phát thải ở mức cao (Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam của Bộ Tài nguyên và môi trường, 2009), đến năm 2100 ĐBSH sẽ bị mất 1666,7 km2 đất, trung bình mỗi năm sẽ bị mất 17 km2 đất Nước biển dâng sẽ ảnh hưởng đến GDP, dân số và vị trí thứ hai thế giới về xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng và ven biển, nơi tập trung đông dân cư và dễ bị tổn thương (WB, 2008)
Các vấn đề đặt ra là:
• Cung lúa gạo của ĐBSH trong dài hạn là bao nhiêu?
• An ninh và cân đối lúa gạo cho ĐBSH trong bối cảnh nước biển dâng, chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích công nghiệp, và tốc độ tăng trưởng dân số như thế nào?
• Những đề xuất và giải pháp hữu ích nào cho xã hội, các nhà quản lý và hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu, hộ nông dân để thích ứng với xu hướng trên?
Ảnh hưởng của nước biển dâng đến nông nghiệp của các nước trên thế giới
Trang 3Hình 1: Ảnh hưởng của nước biển dâng đến nông nghiệp của các nước trên thế giới
Sơ đồ 1: Đồng bằng sông Hồng
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nghiên cứu “cung và cân đối lúa gạo cho đồng bằng sông Hồng trong dài hạn dưới tác động của công nghiệp hóa và nước biển dâng” được tiến hành để giải quyết thỏa đáng các câu hỏi trên
1.1.2 Mục tiêu nghiên cứu
a) Mục tiêu chung
Dựa trên xu hướng phát triển công nghiệp, tốc độ tăng trưởng dân số và các kịch bản về mực nước biển dâng, nghiên cứu sẽ chỉ ra cung lúa gạo, an ninh lúa gạo, cân đối lúa gạo cho ĐBSH đến năm 2030 Trên cơ sở đó, nghiên cứu sẽ đề xuất các giải pháp hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, cán bộ chính quyền trung ương
và địa phương, hộ nông dân nhằm thích ứng và giảm nhẹ các tác động trên
b) Mục tiêu cụ thể
• Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến cung lúa gạo, an ninh lương thực, mô hình phân tích hệ thống, và các lý luận có liên quan;
Trang 4• Tìm ra cung lúa gạo, an ninh và cân đối lúa gạo cho ĐBSH đến năm 2030 trong bối cảnh nước biến dâng do biến đổi khí hậu, sự phát triển công nghiệp và tốc
độ gia tăng dân số;
• Đề xuất các giải pháp hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, lập kế hoạch, cán bộ chính quyền trung ương và địa phương, hộ nông dân nhằm thích ứng và giảm nhẹ các tác động trên
1.2 Tổng quan nghiên cứu của đề tài
Hàng thập kỉ sản xuất lương thực trước đây, đặc biệt khi lúa gạo đang là mối quan tâm hàng đầu của thế giới, đã có nhiều nghiên cứu và sản xuất lúa gạo, an ninh lúa gạo và tăng trưởng dân số Theo báo cáo của FAO, thế giới đã đạt kỉ lục 628 triệu tấn gạo năm 2005 nhờ giá gạo tăng năm 2004 dẫn đến sự mở rộng diện tích sản xuất lúa gạo Châu Á là nơi sản xuất và tiêu thụ khoảng 90% lúa gạo của thế giới Tổ chức dân số thế giới trong báo cáo hội thảo (ngày 21 tháng 6 năm 2008) đã chỉ ra rằng, dân
số thế giới hiện ước đạt 6.704,8 triệu người với tốc độ gia tăng rất khó kiểm soát Cũng theo dự báo của tổ chức này, đến năm 2042 dân số sẽ đạt mốc 9 tỉ người Nếu không
có chiến lược hành động cụ thể thì khủng hoảng về lương thực và nước sạch sẽ dẫn đến xung đột tôn giáo
Trong nghiên cứu “chính sách lúa gạo của Việt Nam: những cải cách gần đây
và cơ hội trong tương lai” của Chantal Pohl Nielsen trên tạp chí kinh tế châu Á năm
2003 chỉ ra rằng, hạn ngạch xuất khẩu gạo được xem như là công cụ chính sách hạn chế sản xuất lúa gạo và xuất khẩu gạo của Việt Nam dưới mức tiềm năng
Jonathan Haughton, 2004, Viện chính sách công, Boston, USA, trong nghiên cứu “ảnh hưởng và tác động của chính sách lúa gạo đến lương thực và phân phối thu nhập ở Việt Nam” đã chỉ rõ, 10% thuế xuất khẩu đánh vào lúa gạo sẽ làm giảm sản xuất, khuyến khích tiêu dùng và giảm xuất khẩu tới 25% Thuế xuất khẩu do đó cũng ảnh hưởng tới các hộ khá giả và các hộ ở những khu hẻo lánh, biệt lập, phải mua lúa gạo và lương thực từ bên ngoài Các hộ nghèo sẽ được lợi từ chính sách này, tuy nhiên
họ cũng là đối tượng phải gánh chịu những ảnh hưởng tiêu cực này
Công nghiệp hóa và biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng
và mạnh mẽ trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam dưới các cấp độ ảnh hưởng khác
Trang 5nhau, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp Sự gia tăng tốc độ công nghiệp hóa và biến đổi khí hậu làm giảm diện tích đất nông nghiệp, nhất là khu vực đất lúa phì nhiêu màu
mỡ Bên cạnh đó, sự giảm sút năng suất và sản lượng lúa sẽ đe dọa an ninh lương thực quốc gia trong tương lai Tiến sĩ Trần Thanh Lâm (2009) – giám độc viện tài nguyên nước và môi trường Nam Á trong nghiên cứu “tác động của biến đổi khí hậu đến tăng trưởng kinh tế: dự báo và giải pháp” đã chỉ ra rằng: biến đổi khí hậu là mối đe dọa rất lớn, là nguyên nhân của nạn đói và dịch bệnh, do đó nó ảnh hưởng tới các cấu thành
cơ bản của nền kinh tế và cuộc sống con người Ở Việt Nam, trong những năm gần đây biến đổi khí hậu diễn ra rất phức tạp, số đợt lạnh giảm đi đáng kể trong hai thập kỉ gần đây Năm 1994 và 2007 chỉ có 15 đến 15 đợt lạnh (bằng 56% mức trung bình của nhiều năm) Một ví dụ bất thường gần đây nhất do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu là đợt không khí lạnh đầu tiên kéo dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 đã gây tổn hại lớn đến sản xuất nông nghiệp nói chung
Trong hội thảo “chiến lược an ninh lương thực quốc gia và ổn định đất lúa đến năm 2020, tầm nhìn 2030” do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tổ chức ngày 29/5 tại Cần Thơ cho thấy, hàng năm nông dân phải dành 74.000ha đất nông nghiệp để xây dựng các dự án, khu công nghiệp và khu đô thị Tỷ lệ mất đất nông nghiệp do đô thị hoác và biến đổi hiện nay là 1% Theo báo cáo mới nhất tại hội thảo, nước ta chỉ còn hơn 9 triệu ha đất nông nghiệp, trong đó có hơn 4 triệu ha đất lúa Tuy nhiên, diện tích này đang bị thu hẹp với tốc độ nhanh chóng
Theo ông Trần Ngọc Hùng, chủ tịch hiệp hội xây dựng Việt Nam, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp phải trên cơ sở giữ vững đất nông nghiệp, đặc biệt là đất lúa Trong tương lai, dân số Việt Nam sẽ tăng từ100-120 triệu người, trong điều kện công nghiệp hóa và đô thị hóa phát triển ồ ạt như hiện nay, thế giới phải đối mặt với nguy
cơ nước biển dâng do nhiệt độ trái đất nóng lên…điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Hàng triệu ha đất nông nghiệp ở ĐBSH và ĐBSCL sẽ bị ngập trong nước, an ninh lương thực sẽ bị đe dọa, môi trường sống sẽ bị
ô nhiễm nặng nề, kinh tế xã hội sẽ bị xáo trộn
Kết quả nghiên cứu của giáo sư Vũ Tuyên Hoàng đã chỉ ra rằng: diện tích đất nông nghiệp bị mất do công nghiệp hóa, đô thị hóa Kinh nghiệm phát triển của các
Trang 6nước châu Á - nơi mà lúa gạo là nguồn cung cấp lương thực chủ lực cho thấy, trải qua hàng thập kỉ tiến hành công nghiệp hóa và đô thị hóa, tỷ lệ mất đất canh tác mỗi năm
từ 0,5% đến 2% Theo như tỷ lệ đất canh tác hàng năm bị mất ở thập kỉ 1980-1990 thì con số này của Trung Quốc là 0,5%, Hàn Quốc là 1,4%, Thái Lan 2%, Nhật Bản 1,6% Trong những năm gần đây, Việt Nam đã mất khoảng 0,4% diện tích đất canh tác, đặc biệt đất lúa mất với tỷ lệ cao hơn khoảng 1% Tuy nhiên, với tốc độ công nghiệp hóa tăng nhanh như hiện nay thì tốc độ mất đất nông nghiệp sẽ không dừng lại ở con số trên
Kết quả nghiên cứu và dự báo của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hợp Quốc (IPPC) và ngân hàng thế giới đã chỉ ra rằng, Việt Nam sẽ là một trong năm nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu Trong 100 năm tới, nước biến sẽ dâng cao 1m, nhiệt độ tăng 20C Theo đó, đồng bằng sông Cửu Long có
từ 1,5 đến 2 triệu ha và đồng bằng sông Hồng có từ 0,3 đến 0,5 triệu ha đất nông nghiệp, trong đó phần lớn là đất lúa sẽ bị ngập hoặc mặn hóa không thể canh tác được Biến đổi khí hậu cũng làm gia tăng các thảm họa tự nhiên và giảm năng suất cây trồng vật nuôi Cũng theo kết quả nghiên cứu của tổ chức này, nếu nhiệt độ tăng thêm 10C thì năng suất lúa sẽ giảm 10%, năng suất ngô giảm từ 15 đến 20%, nhu cầu nước sạch
sẽ tăng thêm 10% Điều này sẽ ảnh hưởng đến sản xuất lúa gạo, đồng thời tạo ra nhiều khó khăn và thách thức cho vấn đề đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, lương thực cho nội tiêu và xuất khẩu trong dài hạn Trong tương lai, biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến diện tích canh tác lúa nếu như không có biện pháp hành động ngay từ bây giờ
Mô hình phân tích hệ thống đã được TS Nguyễn Văn Song sử dụng trong nghiên cứu “dự báo sự thay đổi của dân số, lao động và diện tích đất canh tác lúa ở tỉnh Hải Dương đến năm 2020”
1.3 Mô tả đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Đồng bằng sông Hồng là vùng kinh tế trọng điểm của khu vực phía Bắc Việt Nam Trong những năm gần đây, vùng đã tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn với tốc độ khá cao Trong quá trình đó, diện tích đất nông nghiệp của vùng đang dần bị giảm xuống, kết hợp với hiện tượng nước biển dâng đang và sẽ gây ra những sự thay đổi đáng kể trong sản xuất lương thực của vùng
Trang 7Đồng bằng sông Hồng có diện tích tự nhiên 14.862 Km2, chiếm 4,49% diện tích cả nước và 12,77% diện tích các tỉnh phía Bắc Theo niên giám thống kê, ĐBSH bao gồm 11 tỉnh: Hà Nội, Quảng Ninh, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh Các tỉnh thuộc vùng ĐBSH nằm dọc ven biển phía Bắc của Việt Nam, do đó sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp của hiện tượng nước biển dâng
do biến đổi khí hậu
a) Tình hình sử dụng đất
Cùng với xu hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, tình hình sử dụng đất đai của ĐBSH có nhiều biến động Đất nông nghiệp giảm đi do chuyển đổi mục đích sử dụng, trong khi đó đất rừng có xu hướng tăng lên cùng với các chính sách phủ xanh đất trống đồi trọc của Chính phủ Từ kết quả nghiên cứu xu hướng biến động đất đai của ĐBSH trong 10 năm cho thấy:
Đất nông nghiệp giảm dần cho mục đích công nghiệp hóa, hiện đại hóa và các mục đích khác
Đất phi nông nghiệp có xu hướng ngày càng tăng cùng với sự gia tăng dân số
và phát triển cơ sở hạ tầng, tưới tiêu, công nghiệp và các công trình xây dựng khác
Đất chưa sử dụng giảm đi do khai hoang mở rộng diện tích đất sản xuất nông nghiệp và sử dụng vào các mục đích cụ thể khác
Theo xu hướng biến động đất đai của cả nước, đất nông nghiệp có xu hướng giảm đi, cụ thể diện tích đất sử dụng, đất ở nông thôn và thành thị tăng lên phù hợp với quy luật phát triển kinh tế Tuy nhiên, trong vài năm tới, cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, nhu cầu về đất cho các ngành kinh tế, đặc biệt là xây dựng, khu công nghiệp, nhà ở nông thôn và thành thị sẽ tăng lên mạnh hơn Vì vậy, cần điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất để vừa bảo vệ nghiêm ngặt vùng đất lúa, đồng thời đáp ứng yêu cầu sử dụng đất cho các mục đích khác
b) Thuận lợi, khó khăn
* Thuận lợi
Một trong những lợi thế của ĐBSH là khí hậu với mùa đông lạnh, đất đai màu
mỡ (80% đất phù sa), hệ thống thủy lợi vào loại tốt nhất (80% diện tích tưới tiêu chủ
Trang 8động, trong đó 60% diện tích có nước tưới phù sa), trình độ áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp cao nhất cả nước (tập trung 80% các viện nghiên cứu, thị trường thuận lợi: gần Trung Quốc, Đông Bắc Á) ĐBSH là tam giác phát triển với tốc độ đô thị hóa nhanh, do đó có điều kiện tốt để đẩy mạnh phát triển hàng hóa và dịch vụ sản xuất nông nghiệp cho người dân
* Khó khăn
Khó khăn và thách thức đặt ra cho ĐBSH là diện tích đất trung bình trên đầu người thấp nhất cả nước (540 m2/người), tình trạng dư thừa lao động, tỷ lệ thiếu việc làm hơn 10%/năm, quỹ đất cho sản xuất nông nghiệp tiếp tục giảm đi nhanh chóng (bao gồm cả đất tốt và không tốt), môi trường bị ô nhiễm do phát tiển công nghiệp và
đô thị, thu nhập bình quân của người dân thấp…dẫn đến hạn chế khả năng đầu tư cho phát triển sản xuất
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
2.2.2 Chọn điểm nghiên cứu
Đồng bằng sông Hồng là vùng kinh tế trọng điểm của phía Bắc Việt Nam ĐBSH cung cấp khoảng 20% (tương ứng 6 triệu tấn gạo) mỗi năm cho cả nước Tuy nhiên, ĐBSH cũng là vùng chịu ảnh hưởng thứ hai bởi hiện tượng nước biển dâng Hơn nữa, trong những năm gần đây, vùng đã tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn với tốc độ cao Trong quá trình đó, đất nông nghiệp của vùng
bị giảm dần cùng với nước biến dâng đã dẫn đến nhiều thay đổi trong sản xuất lương thực Do đó, để ổn định tình hình sản xuất lúa gạo trong điều kiện tiến hành thành công nghiệp hóa thành công là điều không dễ dàng Vì những lý do trên, ĐBSH được chọn làm điểm nghiên cứu của đề tài
2.1.2 Thu thập số liệu
a) Chọn mẫu
Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên từ tổng thể và đảm bảo ý nghĩa thống
kê Nghiên cứu sử dụng phiếu điều tra phỏng vấn hộ nông dân dựa trên dung lượng mẫu như sau:
Trang 9ĐBSH bao gồm 11 tỉnh (Hà Nội, Quảng Ninh, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh) Dựa vào điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất nông nghiệp, Thái Bình, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Nam Định là các tỉnh điển hình trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng Bên cạnh đó, 4 tỉnh này có diện tích đất nông nghiệp tương đối lớn, trình độ thâm canh lúa nước cao Trong mỗi tỉnh sẽ chọn 3 huyện, mỗi huyện chọn 3 xã, mỗi xã chọn 15 hộ nông dân sản xuất lúa Các hộ được chọn theo hai tiêu chí: (1) diện tích đất trồng lúa lớn, (2) trình độ thâm canh sản xuất cao
b) Số liệu thứ cấp
Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ:
Các nghiên cứu đã được công bố: báo cáo khoa học, tạp chí;
Báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội của vùng;
Niên giám thống kê các năm 2000 – 2010
Số liệu sơ cấp được thu thập để phân tích tình hình kinh tế xã hội của vùng, đồng thời phân tích thực trạng sử dụng các nguồn lực (dân số, lao động nông nghiệp, sản lượng lúa) cho phát triển nông nghiệp Từ đó, xây dựng mô hình phân tích hệ thống dự báo cung và cân đối lúa gạo cho ĐBSH trong dài hạn
c) Số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra 540 hộ nông dân trồng lúa ở 04 tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Nam Định, Vĩnh Phúc Đây là những tỉnh điển hình trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng Trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa và tình hình phân phối lúa gạo, từ đó đề xuất kế hoạch và chiến lược sử dụng các đầu vào hợp lý và hiệu quả
2.2 Phương pháp phân tích
2.2.1 Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu kinh tế
xã hội thông qua mô tả các số liệu thu thập được Phương pháp này được sử dụng để phân tích tình hình kinh tế xã hội của vùng, thực trạng sử dụng các nguồn lực nhưđất canh tác lúa, dân số - lao động, sản lượng lúa qua các năm.
Trang 10* Dùng phương pháp chỉ số để phân tích biến động của từng nhân tố xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cấu thành nhân tố và tổng thể Cụ thể trong đề tài này chúng tôi sử dụng hệ thống chỉ số để xem xét và phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới sản lượng lúa của vùng
* Dãy số thời gian: Giúp dự báo, dự đoán sự phát triển của hiện tượng trong tương lai:
- Dự báo theo lượng tăng lên bình quân
Yk = y0 + k.d Trong đó: yk: Là mức độ kì thứ k kể từ kì gốc
- Dự báo mức tăng dân số
Nt = N0 [ 1+ (P +(-)V)/100]
Trong đó: P là tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên
V là tỉ lệ gia tăng dân số cơ học
2.2.2 Phương pháp mô hình hóa
Mô hình phân tích hệ thống
Mô hình phân tích hệ thống sẽ cho phép dự báo cung, cân bằng lúa gạo, tốc độ gia tăng dân số của ĐBSH trong dài hạn Trong nghiên cứu này, mô hình phân tích hệ thống được sử dụng để liên kết các biến trong dự báo ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, ảnh hưởng của nước biển dâng, sự phát triển công nghiệp hóa và đô thị hóa đến cung lúa gạo, cân đối lúa gạo trong một chuỗi thời gian Nghiên cứu sẽ sử dụng các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam của Bộ Tài nguyên môi trường và
Bộ Nông nghiệp &PTNT để dự báo diện tích đất nông nghiệp bị mất (do nước biển dâng, hạn hán và ngập lụt), sản lượng thóc gạo giảm sút và các yếu tố khác trong dài hạn cho ĐBSH
Trang 11Mô hình phân tích hệ thống là loại mô hình dùng để mô tả và phân tích sự vận động của một chuỗi sự vật hiện tượng kinh tế - xã hội trong một khoảng thời gian dài Chuỗi sự vật hiện tượng trong mô hình có mối quan hệ hữu cơ và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên một sự tương tác thay đổi có tính chất hệ thống động Sự phân tích kết quả của
mô hình được gọi là phân tích hệ thống
Nguồn lực được sử dụng trong phát triển kinh tế - xã hội hết sức đa dạng và phong phú như đất đai, dân số - lao động, lương thực, tài nguyên thiên nhiên Sự gia tăng dân số làm diện tích đất nông nghiệp bình quân trên đầu người giảm, hay tốc độ
đô thị hoá nhanh sẽ làm giảm diện tích đất canh tác, do đó làm giảm sản lượng lúa Có thể nói, sự thay đổi của nguồn lực này sẽ có tác động dây chuyền tới các nguồn lực khác, những nguồn lực đó có mối quan hệ với nhau trong một hệ thống phức tạp Trong nghiên cứu này, nguồn lực đất canh tác lúa, dân số - lao động, sản lượng lúa sẽ được đặt trong một hệ thống và sử dụng mô hình phân tích hệ thống để xây dựng và phân tích hệ thống đó
Các yếu tố cấu thành nên mô hình kinh tế động được thể hiện như sau:
Trang 12Sơ đồ 2: Mô hình phân tích hệ thống trong phân tích và dự báo cung lúa gạo, cân đối lúa gạo của ĐBSH
Có ba biến chính trong mô hình, bao gồm dân số, đất lúa, cân đối lúa gạo Trong đó, biến cân đối lúa gạo là biến trung tâm quan trọng nhất trong mô hình Nó chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi năng suất lúa, diện tích gieo trồng (diện tích canh tác và
hệ số sử dụng đất)
Trong những năm gần đây, tổng diện tích gieo trồng lúa của ĐBSH đang có nguy cơ giảm mạnh do chuyển đất lúa cho mục đích công nghiệp, do ảnh hưởng của mực nước biển dâng Bên cạnh đó, có một tỷ lệ nhỏ đất lúa tăng lên do khai hoang phục hóa từ diện tích đất chưa sử dụng và do chuyển từ các loại đất khác sang mục đích trồng lúa Tuy nhiên, do tốc độ mở rộng diện tích lúa nhỏ hơn tốc độ suy giảm nên nhìn chung đất lúa vẫn có xu hướng giảm đi đáng kể
Trang 13Năng suất cây trồng (năng suất lúa) chịu tác động bởi trình độ thâm canh sử dụng các yếu tố đầu vào lao động, thuốc BVTV, phân bón, giống…Mức độ ảnh hưởng của các biến này được xác định thông qua hàm Cobb-Douglus và được kiểm định ý nghĩa thống kê
Nhu cầu lúa gạo (biến phân phối lúa gạo) cho các mục đích: tiêu dùng (nội tiêu), thức ăn cho chăn nuôi, xuất khẩu (bán ra ngoài khu vực), hao hụt trong thu hoạch
và bảo quản Trong đó, tiêu dùng (nội tiêu) chịu ảnh hưởng bởi tiêu dùng cho người,
dự trữ và để giống Tiêu dùng cho người lại chịu tác động bởi biến bình quân thóc tiêu thụ/người/năm và quy mô dân số của vùng Tổng dân số thay đổi do thay đổi trong tỷ
lệ tăng tự nhiên (tỷ lệ sinh và tỷ lệ tử) và tỷ lệ tăng cơ học (tỷ lệ di cư và nhập cư) Bức tranh toàn cảnh mô hình phân tích hệ thống trong dự báo cung và cân đối lúa gạo cho ĐBSH được trình bày trong mô hình stella trên
Phần mềm Stella được sử dụng để dự báo tác động của nước biển dâng, chuyển đổi đất lúa sang mục đích phi nông nghiệp, sự gia tăng dân số đến cân đối lúa gạo của ĐBSH trong dài hạn Có ba biến chính: đất lúa, dân số, cân đối lúa gạo trong mô hình
Mô hình hóa năng suất lúa
Sử dụng mô hình Cobb - Douglas để mô hình hoá các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa Mô hình Cobb - Douglas là mô hình được sử dụng rộng rãi trong kinh tế học
vi mô và vĩ mô Ưu thế của mô hình Cobb - Douglas là thiết lập được mối quan hệ giữa các yếu tố không cùng độ đo lường, các yếu tố không cùng bản chất đều được đánh giá đồng thời
Mô hình Cobb - Douglas có dạng tổng quát như sau:
Y= F[Z]= a.Z1α1.Z2α2 Znαn.e[γD]
Y là biến số phụ thuộc, phản ánh yếu tố kết quả của sự tác động
A là hằng số
Z1, Z2 Zn là các biến độc lập phản ánh nguyên nhân
D là biến giả định mang tính định tính, D nhận giá trị bằng 0 hoặc 1
(1, 2 n là các hệ số của biến số Z), (γ
là hệ số của D) Sau khi biến đổi sẽ thiết lập được mối quan hệ giữa biến số phụ thuộc và các biến độc lập thể hiện ở phương trình hồi quy tương quan sau
LnY= α0+α1LnZ1+α2LnZ2+ +αnLnZn+γD
Trang 14- Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa
LnY=α0+α1LnX1+α2LnX2+α3LnX3+α4LnX4+α5LnX5+α6LnX6+α7LnX7
Y: Năng suất lúa (tấn/ha)
(i: hệ số của biến số Xi (i=1,7)
X1: lượng bón phân kali (kg/ha)
X2: lượng bón phân lân (kg/ha)
X3: lượng bón đạm (kg/ha)
X4: Thuốc bảo vệ thực vật (kg/ha)
X5: lao động (ngày người/ha)
X6: giống (kg/ha)
X7: lượng phân chuồng (tấn/ha)
X8: Nhiệt độ (0C)
2.3 Hạn chế của nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian và ngân sách nên nghiên cứu chỉ tiến hành ở địa bàn ĐBSH Nghiên cứu tiến hành dựa trên các giả định:
(1) Tốc độ tăng dân số chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ sinh, tye lệ tử và tổng dân số (2) Tỷ lệ tăng cơ học bằng 0 (giả định lượng di cư đi và lượng nhập cư đến bằng nhau)
(3) Cung lúa gạo chỉ cho tiêu dùng nội bộ (nội tiêu)
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thực trạng sản xuất lúa của Việt Nam và đồng bằng sông Hồng
3.1.1 Tình hình sản xuất lúa của Việt Nam
Lúa gạo đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn của Việt Nam Khoảng 80% trong số 11 triệu hộ dân tham gia sản xuất lúa với phương thức canh tác truyền thống là chủ yếu
Trang 15Bảng 1: Tình hình sản xuất lúa của Việt Nam
(1000 ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (1000 tấn)
Trải qua thời gian, diện tích và năng suất lúa tiếp tục tăng lên đáng kể Tổng hiện tích trồng lúa trong cả nước tăng từ 4,74 triệu ha năm 1970 lên 7,66 triệu ha năm
2000, sau đó giảm xuống 7,51 triệu ha năm 2009 Năng suất lúa không ngừng tăng lên,
từ 19,0 tạ/ha (1970) lên 53,2 tạ/ha (2010) Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do quá trình công nghiệp hóa đô thị hóa đã làm diện tích lúa có nguy cơ giảm xuống Do
Trang 16đó, mặc dù năng suất lúa tăng do áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất nhưng sản lượng lại có dấu hiệu giảm sút
Giai đoạn 1990 – 2002, diện tích gieo trồng lúa tăng khoảng 24% Bên cạnh đó, diện tích canh tác lúa cũng không ngừng tăng lên trong suốt thời kỳ từ 1990 đến 2000 với tốc độ tăng bình quân 2,4%/năm Tuy nhiên, xu hướng giảm nhẹ bắt đầu xuất hiện
từ những năm 2000 đến năm 2010, bình quân giảm 1,41%/năm Trong 9 năm, trong khi diện tích lúa giảm thì sản lượng lúa vẫn tiếp tục tăng lên nhờ áp dụng các biện pháp tăng năng suất hợp lý
Sự thay đổi trong diện tích và năng suất lúa là hai nguyên nhân chính ảnh hưởng đến tỷ lệ tăng sản lượng lúa, tuy nhiên vai trò của các yếu tố này rất khác nhau giữa các vùng và có thể thay đổi theo thời gian Giai đoạn 1990 -2010, sản lượng thóc
ở hai vựa lúa của cả nước tăng lên rất ấn tượng Ở ĐBSH, do diện tích đất canh tác bình quân trên hộ rất thấp, hệ số sử dụng đất lúa tương đối cao nên sự gia tăng sản lượng chủ yếu dựa vào đầu tư thâm canh tăng năng suất (94% tăng sản lượng nhờ tăng năng suất) Trong khi đó ở ĐBSCL sản lượng lúa tăng chủ yếu do tăng diện tích gieo trồng (64% tăng sản lượng nhờ tăng diện tích gieo trồng)
Từ Đại hội Đảng lần thứ 6, sản xuất nông nghiệp chuyển từ kinh tế tập thể sang nông nghiệp hợp tác xã sản xuất, quản lý theo cơ chế thị trường, các hộ gia đình đơn vị kinh tế tự chủ Điều này đã khuyến khích các hộ nông dân đầu tư tiền bạc, sức lực để tái cơ cấu sản xuất và thâm canh, sản lượng thóc gạo của Việt Nam do đó không ngừng tăng lên Việt Nam đã giải quyết được vấn đề cơ bản về thiếu hụt lương thực, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và giữ vị trí xuất khẩu gạo thứ hai thế giới (sau Thái Lan) Tuy nhiên, một vài năm trở lại đây, diện tích trồng lúa có xu hướng giảm xuống, nguyên nhân chính là do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa làm cho đất sản xuất nông nghiệp nói chung, đất lúa nói riêng giảm đi đáng kể So với năm 2000, năm
2005 diện tích đất trồng lúa giảm 315.000ha (FAO STAT, 2006)
Sản xuất lương thực trong thời kì đổi mới của đất nước được xác định là vấn đề quan trọng để đảm bảo nhu cầu cơ bản cho tiêu dùng và ổn định xã hội Vì vậy, nên tập trung vào phát triển sản xuất lương thực ở những vùng trọng điểm và vùng phụ cận, phấn đấu tăng lương thực bình quân trên đầu người, tăng sản xuất lương thực về mặt số lượng và chất lượng để đảm bảo nhu cầu tiêu dùng, dự trữ và xuất khẩu