1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thông điệp về biến đổi khí hậu trên báo đảng khu vực đồng bằng sông cửu long

231 6 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thông điệp về biến đổi khí hậu trên báo đảng khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả Hồ Thị Thanh Bạch
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Dững, PGS.TS. Nguyễn Quốc Dũng
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Báo chí học
Thể loại Luận án tiến sĩ báo chí học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 231
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều tác phẩm báo chí khi đề cập đến nội dung BĐKH chú trọng mô tả diễn biến, nhấn mạnh tác động tiêu cực mà chưa quan tâm những giải pháp “thích nghi”, “thích ứng” với BĐKH; thông tin

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ BÁO CHÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS Nguyễn Văn Dững

2 PGS.TS Nguyễn Quốc Dũng

HÀ NỘI - 2022

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả luận án

Hồ Thị Thanh Bạch

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 12

1 Hướng nghiên cứu về biến đổi khí hậu, truyền thông về biến đổi khí hậu 12

2 Hướng nghiên cứu thông điệp trên báo chí về biến đổi khí hậu 17

3 “Báo Đảng” và các nghiên cứu về báo Đảng 34

4 Đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án và đề ra hướng nghiên cứu cho luận án 36

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU THÔNG ĐIỆP BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRÊN BÁO ĐẢNG KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 40

1.1 Cơ sở lý luận 40

1.2 Cơ sở thực tiễn 52

Chương 2: THỰC TRẠNG THÔNG ĐIỆP VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRÊN BÁO ĐẢNG KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 66

2.1 Tổng quan về đối tượng khảo sát 66

2.2 Nội dung thông điệp biến đổi khí hậu trên báo Đảng khu vực đồng bằng sông Cửu Long 68

2.3 Hình thức thông điệp biến đổi khí hậu trên báo Đảng đồng bằng sông Cửu Long 86

Chương 3: CÔNG CHÚNG BÁO ĐẢNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VỚI THÔNG ĐIỆP BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 104

3.1 Nhận diện công chúng báo Đảng đồng bằng sông Cửu Long 104

3.2 Nhận thức, thái độ và hành vi tiếp nhận thông điệp biến đổi khí hậu của công chúng 108

Chương 4: THÀNH CÔNG, HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG ĐIỆP BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRÊN BÁO ĐẢNG KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 122

4.1 Thành công và hạn chế của thông điệp biến đổi khí hậu trên báo Đảng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay 122

4.2 Một số giải pháp, kiến nghị nâng cao chất lượng thông điệp biến đổi khí hậu trên báo Đảng khu vực đồng bằng sông Cửu Long 140

KẾT LUẬN 150

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 155

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 156

PHỤ LỤC 168

Trang 5

Từ viết tắt Giải thích

Bộ TN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường

HV BC&TT Học viện Báo chí và Tuyên truyền

IPCC Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu

Trang 6

Bảng 3.1: Tổng hợp đánh giá của công chúng về nội dung và hình thức các

bài viết về BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL 112 Bảng 3.2: Tương quan đánh giá công chúng giữa các báo khảo sát 114 Bảng 3.3: Ý kiến của công chúng về việc điều chỉnh các các khía cạnh nội

dung bài viết BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL 118

Trang 7

Biểu đồ 2.1: Các khía cạnh nội dung thông điệp về BĐKH 68

Biểu đồ 2.2: Các biểu hiện của BĐKH được đề cập trong thông điệp 69

Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ các bài viết có đề cập đến nguyên nhân của BĐKH 78

Biểu đồ 2.4: Thể loại bài viết về BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL 87

Biểu đồ 2.5: Tần suất đăng tải bài viết về BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL năm 2017 98

Biểu đồ 2.6: Mức độ đề cập đến vấn đề BĐKH 99

Biểu đồ 2.7: Vị trí đăng tải các bài viết 101

Biểu đồ 3.1: Nghề nghiệp của công chúng tham gia khảo sát 105

Biểu đồ 3.2: Trình độ công chúng tham gia khảo sát 106

Biểu đồ 3.3: Phương thức tiếp nhận thông tin về BĐKH của công chúng 107

Biểu đồ 3.4: Mức độ quan tâm của công chúng đến vấn đề BĐKH 108

Biểu đồ 3.5: Nhận xét của công chúng về mức độ tác động của BĐKH 109

Biểu đồ 3.6: Đánh giá của công chúng về nội dung các bài viết về BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL 113

Biểu đồ 3.7: Đánh giá của công chúng về hình thức các bài viết về BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL 113

Biểu đồ 3.8: Đánh giá của công chúng về thông tin tích cực và tiêu cực 115

Biểu đồ 3.9: Đánh giá của công chúng về tần suất bài viết về BĐKH 116

Biểu đồ 3.10: Mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin về BĐKH 116

Biểu đồ 3.11: Tác động của thông điệp về BĐKH trên báo Đảng đến công chúng địa phương 119

Biểu đồ 3.12: Mức độ tương tác giữa công chúng với cơ quan báo Đảng về chủ đề BĐKH 120

Trang 8

Hình 2.1: Các bài viết về tác động tích cực của BĐKH trên báo Đảng khu

vực ĐBSCL 74

Hình 2.2: Ảnh trong bài “Vàm Xoáy kêu cứu” (Báo CM ngày 31/3/2017) 95

Hình 2.3: Các chùm ảnh/ phóng sự ảnh trên báo Cà Mau 96

Hình 2.4: Ảnh trong bài viết “Chủ động đề phòng thời tiết nguy hiểm” 97

Hình 2.5: Ảnh trong bài viết “Tăng cường giải pháp phòng chống khô hạn” 97

Hình 2.6: Ảnh trong bài viết “Cần vào cuộc của toàn dân trong phòng chống sạt lở” 97

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thách thức chung của nhân loại trong thế kỷ 21 là vấn đề BĐKH Sự thay đổi một cách bất thường của các xu hướng thời tiết ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống, đe dọa đến sức khỏe con người, là nguyên nhân “châm ngòi” cho các xung đột nội bộ và giữa các quốc gia, khu vực…, đồng thời tác động làm gia tăng nhiều nguy cơ khác làm thay đổi sự phát triển của thế giới Theo ước tính của LHQ, từ nay đến năm 2050, sẽ có khoảng 150 triệu người phải rời bỏ nơi sinh sống do BĐKH gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan; phân nửa động thực vật sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng nếu nhiệt độ Trái Đất tăng thêm từ 1,1 - 6,4 độ C Tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH (COP26), diễn ra tại Glasgow (Vương quốc Anh) ngày 1/11/2021, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Minh Chính

nhấn mạnh: "Tác động tiêu cực của BĐKH ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh

lương thực, nguồn nước, phát triển bền vững, thậm chí đe dọa sự tồn vong của nhiều quốc gia và cộng đồng dân cư" [10] [11] [14]

Việt Nam nằm trong số 05 quốc gia chịu ảnh hưởng năng nề nhất của BĐKH Những tác động của BĐKH đã và đang tiếp tục gây nhiều tổn thất to lớn về người, tác động xấu đến môi trường và đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội; là nguy cơ hiện hữu cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước

ĐBSCL là một trong 03 đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất do nước biển dâng Theo các kịch bản BĐKH, vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng khoảng 20 -300 C; mực nước biển có thể dâng cao thêm từ 75 cm đến

1 mét so với thời kỳ 1980 - 1999 Khi đó, sẽ có khoảng 40% diện tích vùng ĐBSCL

bị ngập, 35% dân số chịu ảnh hưởng xấu do thời tiết phức tạp Thực tế diễn biến thời tiết vùng ĐBSCL 10 năm trở lại đây cũng có nhiều dấu hiệu bất thường, tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở, ngập úng… trở nên nghiêm trọng hơn; 1,7 triệu người

đã di cư khỏi ĐBSCL, hơn gấp đôi trung bình cả nước Tình trạng này tiềm ẩn những nguy cơ lớn vì ĐBSCL là khu vực địa kinh tế - chính trị, có vị trí trọng yếu về an ninh, quốc phòng của quốc gia Toàn vùng ĐBSCL có 17 triệu dân - chiếm gần 18% dân số cả nước, đóng góp khoảng 18% GDP quốc gia Với tổng lượng gạo xuất khẩu

Trang 10

hàng năm chiếm 90%, gần 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản và 70% sản lượng trái cây của Việt Nam, ĐBSCL là khu vực có vai trò đảm bảo an ninh lương thực cho cả nước [11][13] [35][75][89]…

Với chức năng đặc trưng là cung cấp thông tin, định hướng dư luận xã hội [17], báo chí nói riêng và truyền thông nói chung được nhiều quốc gia và tổ chức thế giới nhìn nhận như một công cụ hữu ích và được tận dụng tối đa trong việc nâng cao nhận thức về BĐKH cho công chúng, tạo dựng các diễn đàn thảo luận về giải pháp phù hợp ứng phó với BĐKH đối với từng khu vực và cộng đồng cụ thể Đây cũng là giải pháp

mà Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam hướng đến nhằm nâng cao nhận thức, năng lực thích nghi và ứng phó với BĐKH của cộng đồng Bám sát những định hướng chỉ đạo đó, báo chí Việt Nam thời gian qua đẩy mạnh thông tin tuyên truyền, phổ biến, giải thích đường lối, chính sách, pháp luật về BĐKH và ứng phó với BĐKH Những thông điệp mà báo chí chuyển tải đã cung cấp nhiều kiến thức bổ ích giúp người dân, cộng đồng thêm hiểu biết, có niềm tin và cơ sở để từ đó thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn ứng phó với BĐKH [10][31][46]…

Mặc dù vậy, những nghiên cứu thực tiễn vừa qua cho thấy báo chí thông tin về BĐKH vẫn còn những hạn chế nhất định, như: Một số cơ quan báo chí chỉ thông tin về BĐKH khi có các sự kiện, hoạt động lớn về nội dung này chứ chưa chủ động xây dựng

kế hoạch thông tin thường xuyên Các thông điệp rời rạc, thiếu hệ thống về BĐKH tác động không đủ mạnh để công chúng nhận ra tầm quan trọng của vấn đề này với đời sống nhân loại để từ đó thay đổi hành vi nhằm giảm thiểu những tác động có hại đến môi trường Nhiều tác phẩm báo chí khi đề cập đến nội dung BĐKH chú trọng mô tả diễn biến, nhấn mạnh tác động tiêu cực mà chưa quan tâm những giải pháp “thích nghi”, “thích ứng” với BĐKH; thông tin nhiều về những định hướng, chủ trương chính sách về ứng phó với BĐKH hoặc các hoạt động, phát biểu của lãnh đạo Trung ương, địa phương nhưng lại thiếu những bài phân tích sâu về nguyên nhân, các giải pháp ứng phó và thích nghi hoặc chưa chủ động cung cấp kiến thức, thông tin cho công chúng, cũng như chưa tổ chức diễn đàn thích ứng và dự báo về vấn đề này Ngôn ngữ sử dụng trong nhiều tác phẩm báo chí về lĩnh vực này còn khô khan, khó hiểu thậm chí chưa chính xác Những hạn chế này tạo nên những thông điệp hời hợt, sai lệch, chưa khoa học về BĐKH khiến công chúng hoảng sợ, lo lắng và bi quan khi tiếp nhận; ảnh hưởng

Trang 11

đến mục tiêu nâng cao nhận thức, hiểu biết và hành động về ứng phó với BĐKH cho công chúng nước nhà [16][31][46][65][93]

Tầm quan trọng của vùng ĐBSCL đối với quốc gia và những nguy cơ, hiểm họa

từ tác động tiêu cực của BĐKH mà vùng đất này đang đối mặt đòi hỏi cộng đồng dân

cư nơi đây phải nhận thức đúng đắn, có kiến thức và kỹ năng để chủ động ứng phó với BĐKH một cách hiệu quả Điều này lệ thuộc rất lớn vào thông điệp mà họ tiếp nhận qua các phương tiện truyền thông, mà gần gũi nhất là báo chí địa phương Liệu báo địa phương ĐBSCL có làm tốt chức năng, vai trò định hướng xã hội trong việc xây dựng

và chuyển tải đến công chúng trong khu vực những thông điệp khoa học, đa dạng, khách quan, dễ hiểu, có hệ thống …? Đó là câu hỏi đặt ra cần có những nghiên cứu từ các công trình khoa học cụ thể

Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Thông điệp về biến đổi khí hậu

trên báo Đảng khu vực đồng bằng sông Cửu Long (Khảo sát các báo An Giang,

Cà Mau và Cần Thơ từ năm 2017 đến tháng 6 năm 2019)” làm đề tài luận án tiến

sĩ ngành Báo chí học

2 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Khi thực tiễn đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phải đẩy mạnh hiệu quả thông tin nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của công chúng trong ứng phó với tác động tiêu cực của BĐKH, báo Đảng khu vực ĐBSCL đã chuyển tải các thông điệp gì

và chuyển tải như thế nào về BĐKH đến công chúng? Công chúng có thái độ tiếp nhận, đánh giá và kỳ vọng gì đối với thông điệp về BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL? Thông điệp về BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL cần đáp ứng những tiêu chí nào? Là những câu hỏi nghiên cứu mà Luận án sẽ tập trung kiến giải

Cụ thể, có những vấn đề đặt ra cần quan tâm:

Để thích ứng với quá trình BĐKH, các nhà hoạch định chính sách cũng như cư dân trong vùng cần có nhận thức, thái độ và hành vi phù hợp Vậy trong quá trình này, báo chí - truyền thông có những vai trò gì? Vai trò này được giới truyền thông khu vực ĐBSCL thể hiện như thế nào qua hoạt động của mình? Trong đó, hệ thống báo Đảng ĐBSCL có thực sự thể hiện vai trò trụ cột, nòng cốt của mình trong cung cấp kiến thức, thông tin, để mở mang hiểu biết và thay đổi nhận thức, điều chỉnh thái độ và hành vi công chúng? Nhà báo nói chuyện với công chúng bằng và thông qua thông điệp của mình Vậy thông điệp về BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL hiện nay như thế nào

Trang 12

và vấn đề này có thể nghiên cứu, tổng kết nó nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng thông điệp, để nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của nó đối với khả năng thích ứng với quá trình BĐKH?

Chúng tôi cũng nêu ra các giả thuyết nghiên cứu như sau:

- Giả thuyết thứ nhất: - BĐKH đã và đang là vấn đề quyết định sự phát triển

bền vững của đất nước và khu vực ĐBSCL Với hệ thống và mạng lưới truyền thông rộng khắp khu vực ĐBSCL, báo Đảng địa phương có vai trò trụ cột, đã có những đóng góp ngày càng tích cực vào quá trình cung cấp kiến thức, thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi công chúng xã hội và nhân dân nói chung trong khu vực nhằm thích ứng với quá trình BĐKH

- Giả thuyết thứ hai: - Trong môi trường truyền thông mới, thông điệp về

BĐKH trên báo Đảng địa phương ĐBSCL đã và đang bộc lộ những nhược điểm, mức

độ đáp ứng yêu cầu của công chúng còn hạn chế, đòi hỏi phải được nghiên cứu, tổng kết để rút ra những vấn đề thực tiễn, đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng và năng lực tác động của thông điệp

- Giả thuyết thứ ba: - Năng lực, kỹ năng thiết kế thông điệp BĐKH của đội ngũ

nhà báo của báo Đảng địa phương khu vực ĐBSCL đang được cải thiện, cần được nghiên cứu, tổng kết và đề ra các giải pháp để tiếp tục nâng cao chất lượng và năng lực tác động của thông điệp, đáp ứng nhu cầu công chúng bản địa

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

Trang 13

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và xây dựng khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu thông điệp về BĐKH nói chung, thông điệp về BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL nói riêng;

- Khảo sát thực trạng, nhận diện vấn đề thực tiễn của thông điệp BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL, tiếp cận ở cả hai hướng nội dung thông điệp và hình thức thông điệp

- Tìm hiểu việc tiếp nhận của công chúng về các thông điệp BĐKH trên báo Đảng địa phương, đồng thời đánh giá mức độ ảnh hưởng của các thông điệp này đối với công chúng xã hội trong khu vực

- Phân tích những vấn đề thực tiễn đặt ra và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông điệp về BĐKH trên báo đảng địa phương khu vực ĐBSCL

- Đề xuất các vấn đề cho các nghiên cứu tiếp theo

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là thông điệp về BĐKH trên báo Đảng khu

- Đối tượng khảo sát thông điệp truyền thông về BĐKH được thực hiện trên các

tờ báo in của Đảng bộ 3 địa phương, gồm: An Giang, Cà Mau và Cần Thơ - là các địa phương chịu ảnh hưởng của BĐKH nặng nề hơn so với các địa phương còn lại trong khía cạnh bị tác động mang tính đặc trưng của khu vực Cụ thể:

+ An Giang là tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, nằm trong khu vực Tứ giác Long Xuyên, có đường biên giới giáp với Campuchia Do thuộc vùng trũng, đây là nơi thường xuyên ngập lũ, đồng thời cũng là địa phương mà tình trạng sạt lở, sụt lún đất diễn ra diện rộng và thường xuyên

+ Cà Mau là địa phương ở cực Nam của Tổ quốc, với 3 mặt giáp biển và hệ thống sông ngòi chằng chịt ăn thông ra biển, vì thế địa phương này hiện bị ảnh hưởng

Trang 14

nặng nề do nước biển dâng và xâm nhập mặn Những năm gần đây, tình hình sạt lở bờ

biển gia tăng làm mỗi năm trên 800ha rừng phòng hộ xung yếu ven biển ở Cà Mau bị

mất, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đe dọa tính mạng, tài sản của người dân

+ Thành phố Cần Thơ là đô thị loại I, có vị trí địa lý trung tâm vùng ĐBSCL So

với các địa phương trong vùng, TP Cần Thơ không chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của

BĐKH ở biểu hiện cụ thể nào, tuy nhiên tác động của BĐKH mang tính đặc trưng của

vùng ĐBSCL đều xuất hiện tại Cần Thơ, như: gia tăng tình trạng ngập lụt, sạt lở, hạn

hán, xâm nhập mặn, xuất hiện tình trạng lốc xoáy… vì thế, Cần Thơ được xem là một

trong những địa phương chịu tác động nặng nề của BĐKH trong khu vực

- Công chúng báo Đảng địa phương được khảo sát tại 03 tỉnh/thành như trên

* Phạm vi thời gian: Các tác phẩm báo chí được khảo sát đăng tải trên các báo

từ tháng 01 năm 2017 đến hết tháng 6 năm 2019

Khảo sát công chúng, phỏng vấn sâu được tiến hành trong khung thời gian 2019

có kéo theo sang đầu năm 2020

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Để giải mã vấn đề nghiên cứu, công trình này dựa trên các cơ sở lý thuyết

sau đây:

- Cơ sở lý luận Mác-Lê-nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng

và Nhà nước Việt Nam; trong đó quan điểm Mác-Lê-nin cho rằng, báo chí “không chỉ

là người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể, mà còn là người tổ chức tập thể nữa”

Tính tập thể ở đây có thể được hiểu, báo chí là cơ quan ngôn luận của Đảng - Đảng

lãnh đạo theo nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” Đây là cơ sở lý luận cơ

bản để luận án nghiên cứu thông điệp về BĐKH trên báo Đảng khu vục ĐBSCL

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “Báo chí ta không phải để cho một số ít người

xem, mà để phục vụ đông đảo nhân dân lao động, để tuyên truyền giải thích đường lối,

chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính chất quần chúng và tinh thần

chiến đấu” [52, tr.116] Nếu coi quần chúng nhân dân là đối tượng chủ yếu, là mục tiêu

phục vụ của báo chí cách mạng thì phải viết sao cho quần chúng nhân dân dễ hiểu, dễ

đọc và dễ làm theo; sự lao động sáng tạo, ước vọng chân chính, những việc làm hay,

Trang 15

những gương sống tốt của quần chúng nhân dân là chủ đề mà các nhà báo cách mạng phải luôn theo dõi, bám sát

ĐCS Việt Nam đã thiết lập các quan điểm cơ bản chỉ đạo hoạt động báo chí trong Nghị quyết TW 5 (khoá X)về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới Theo đó, báo chí phải nắm vững và tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; coi trọng đúng mức việc phát hiện, biểu dương các nhân tố mới, điển hình tiên tiến; phải nâng cao chất lượng tư tưởng, tính hấp dẫn, mở rộng đối tượng độc giả Văn kiện Đại hội lần thứ

IX của ĐCS Việt Nam cũng chỉ rõ hệ thống thông tin đại chúng, trong đó có báo chí

phải “làm tốt chức năng tuyên truyền thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát hiện những nhân tố mới, cái hay, cái đẹp trong xã hội, giới thiệu gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến, phê phán các hiện tượng tiêu cực, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh với những quan điểm sai trái, coi trọng nâng cao tính chân thật, tính giáo dục và tính chiến đấu thông tin… ” [27, tr.91] Điều này cũng cho thấy những yêu cầu cơ bản mà thông điệp báo

chí cần phải có để đáp ứng các mục tiêu, kỳ vọng mà xã hội đặt ra đối với báo chí

- Về lý thuyết chuyên ngành, luận án sử dụng các lý thuyết sau đây:

Một là, Lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự Lý thuyết này cho rằng việc thông tin của TTĐC là hoạt động có mục đích Các cơ quan báo chí truyền thông dựa vào mục đích tôn chỉ và môi trường thực tế để lựa chọn vấn đề hoặc nội dung mà họ coi là quan trọng nhất để sản xuất và cung cấp cho công chúng Tần suất, cường độ của các chủ đề được TTĐC thông tin ảnh hưởng đến mức độ quan tâm, nhận thức của công chúng về tầm quan trọng của vấn đề đó Tiếp cận lý thuyết này vào vấn đề nghiên cứu để thấy rằng thông điệp truyền thông có vai trò quan trọng trong việc chỉ dẫn, định hướng công chúng Tần suất, cường độ, nội dung của thông điệp về BĐKH

mà các cơ quan TTĐC chuyển tải sẽ ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng

Hai là, Lý thuyết Đóng khung Theo lý thuyết này, truyền thông có khả năng dựng khung (framing) để định hướng và điều chỉnh dư luận xã hội “Khung” là những phần trừu tượng có tác dụng sắp xếp hoặc cấu trúc ý nghĩa của thông điệp; được thiết

Trang 16

kế để nâng cao hiểu biết hoặc được sử dụng làm một “lối tắt” nhận thức để liên kết một vấn đề với bức tranh toàn cảnh của hiện thực Các cơ quan TTĐC tạo ra “Khung” bằng cách giới thiệu các thông tin trong một ngữ cảnh hẹp rồi làm cho nó nổi bật lên trên văn bản truyền thông [33] Từ việc lựa chọn và làm nổi bật các vấn đề, TTĐC tạo dựng các nguyên lý được cộng đồng xã hội chia sẻ, áp dụng để xác định vấn đề, đưa ra định nghĩa, giải thích nguyên nhân, đánh giá kết quả và gợi ý cách giải quyết vấn đề Tiếp cận lý thuyết này để thấy rằng thông điệp truyền thông gợi lên và chuyển tải những ý tưởng gì, thì sẽ tạo thành khung nhận thức, cách hành xử của công chúng về vấn đề đó

Ba là, Lý thuyết Truyền thông can thiệp xã hội Lý thuyết này cho rằng, báo chí

- truyền thông tham gia can thiệp (hay giải quyết) các vấn đề KT-XH thông qua việc cung cấp thông tin, kiến thức, tạo diễn đàn chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm cho công chúng xã hội; thông qua đó giúp công chúng và nhân dân nói chung mở mang hiểu biết, thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi xã hội trong quá trình tham gia giải quyết các vấn đề KT-XH đó [26, tr.27-28] Tiếp cận lý thuyết này trong vấn đề nghiên cứu cho thấy truyền thông có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, bao gồm những vấn đề có quy mô mang tính toàn cầu Hiểu biết, nhận thức, thái độ, hành

vi và kỹ năng ứng phó với BĐKH của công chúng lệ thuộc rất lớn vào nội dung của thông điệp về BĐKH mà TTĐC chuyển tải

Ngoài ra, Luận án còn sử dụng các lý thuyết về tâm lý tiếp nhận của công chúng, Lý thuyết sử dụng - hài lòng, Lý thuyết truyền thông điệp cho đối tượng Lý thuyết, phương pháp xã hội học TTĐC cũng được vận dụng trong nghiên cứu này

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, được dùng để nghiên cứu các tài liệu,

sách, bài nghiên cứu trên tạp chí; khảo cứu các công trình khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu; các văn kiện, nghị quyết, pháp luật có liên quan của Đảng và Nhà nước… nhằm hệ thống hoá các vấn đề lý luận liên quan vấn đề này Qua đó, tác giả kế thừa những kết quả đã được nghiên cứu, góp phần làm cho luận án sâu sắc hơn, đồng thời là cơ sở khoa học để nhận định, đánh giá các kết quả nghiên cứu, khảo sát nhằm tìm ra những giải pháp, kết luận khoa học cho đề tài nghiên cứu

- Phương pháp phân tích nội dung, được thực hiện bằng cả hai hình thức định tính và định lượng Đối với phân tích nội dung định lượng, quy trình thực hiện là sau

Trang 17

khi hệ thống hóa các vấn đề lý luận, thao tác hóa các khái niệm bằng những chỉ báo cụ thể có thể đo lường được, tác giả tiến hành lập bảng mã định lượng và phân tích trên các bài báo đã được lựa chọn Kết cấu của bảng mã bao gồm các thông tin định danh

và các chỉ báo về nội dung và hình thức thông điệp, được thiết kế dựa trên kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu Mẫu phân tích là 1.290 tác phẩm báo chí trên báo in An Giang, Cà Mau và Cần Thơ xuất bản từ năm 1/1/2017 đến 30/ 6/2019 có chứa các từ khóa, bao gồm cụm từ “Biến đổi khí hậu” và các từ có liên quan đến BĐKH như: sự nóng lên của bầu khí quyển (hay nóng lên toàn cầu); tình trạng tan băng ở hai cực địa cầu; nước biển dâng; bão, lũ lụt, ngập lụt, hạn hán, sạt

lở, sụt lún, xói mòn, lốc xoáy, mưa trái quy luật (mưa trái mùa) hoặc cường độ bất

thường; hiện tượng El Nino, hiện tượng xâm nhập mặn, mất đa dạng sinh học…

Phần mềm SPSS 16.0 được sử dụng để hỗ trợ cho việc thống kê, phân tích bảng mã

Phân tích nội dung định tính được thực hiện để phân tích sâu các tác phẩm báo chí theo từng chủ đề nghiên cứu, rút trích các thông tin, mô tả, so sánh và kiểm tra một

số kết quả… nhằm làm rõ hơn các kết quả của phân tích định lượng

- Phương pháp PVS: tác giả đã phỏng vấn 18 người, gồm chuyên gia - nhà khoa

học về BĐKH, nhà quản lý và nhà báo chuyên viết về BĐKH ở các báo khảo sát với mục đích thu thập thêm các cứ liệu thực tế, những ý kiến nhận xét, đánh giá chuyên sâu… nhằm làm sâu sắc thêm lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu; xác định giải pháp nâng cao năng lực, kỹ năng thiết kế thông điệp và chất lượng thông điệp

về BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL

- Phương pháp bảng hỏi anket, được dùng khảo sát 450 công chúng ở 3 địa

phương An Giang, Cà Mau và Cần Thơ (mỗi địa phương 150 người) Đối tượng khảo sát là công chúng từng tiếp nhận thông tin về BĐKH trên báo Đảng địa phương Việc khảo sát bằng bảng hỏi nhằm tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của các thông điệp BĐKH và thu nhận đánh giá của công chúng đối với thông điệp về BĐKH trên báo Đảng địa phương

- Phương pháp thống kê - phân loại được sử dụng để tìm hiểu tần suất và cơ cấu

các loại thông điệp về BĐKH trên các báo Đảng diện khảo sát

6 Đóng góp mới của luận án

- Luận án hệ thống những vấn đề lý luận về nghiên cứu thông điệp báo chí,

đặc biệt là trên báo in; xác định vai trò và những yêu cầu đối với báo Đảng khu vực

Trang 18

ĐBSCL trong thực hiện nhiệm vụ truyền thông nhằm tăng cường hiểu biết, thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi công chúng để thích ứng với BĐKH

- Luận án chỉ ra thực trạng thông điệp về BĐKH trên báo Đảng khu vực

ĐBSCL hiện nay và thực trạng về thái độ tiếp nhận, nhu cầu công chúng ở ĐBSCL đối với thông điệp về BĐKH

- Luận án đưa ra những dự báo về thuận lợi và thách thức của báo Đảng trong

môi trường truyền thông mới, khuyến nghị những giải pháp để nâng cao chất lượng thông điệp về BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL để đáp ứng mục tiêu truyền thông về chủ đề này

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

7.1 Ý nghĩa khoa học

Là công trình nghiên cứu đầu tiên tiếp cận cơ bản và hệ thống vấn đề thông điệp

về BĐKH trên các báo in các tỉnh Đảng bộ khu vực ĐBSCL, luận án sẽ làm phong phú thêm cho lĩnh vực nghiên cứu truyền thông, cụ thể là khía cạnh phân tích thông điệp trên báo in

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần nâng cao năng lực tác động và hiệu quả truyền thông về BĐKH trên báo chí nói chung, báo Đảng khu vực ĐBSCL nói riêng

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở phân tích, đánh giá khách quan, luận án sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan thực tiễn của thông điệp về BĐKH trên các tờ báo Đảng khu vực ĐBSCL nói chung, cụ thể hơn là của các tờ báo trong diện khảo sát Qua đó, giúp các cơ quan báo chí nhìn nhận lại kết quả thực hiện nhiệm vụ thông tin trong thời gian qua, từ đó góp

phần cải thiện và nâng cao chất lượng thông tin về BĐKH

Luận án cũng sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích phục vụ công tác nghiên cứu khoa học về đề tài BĐKH hoặc lĩnh vực nghiên cứu thông điệp và gợi mở hướng nghiên cứu cho các đề tài khoa học khác có liên quan

Luận án sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích và thú vị cho giới báo chí - truyền thông, cho các cơ sở nghiên cứu - đào tạo nguồn nhân lực cho báo chí - truyền thông về thông điệp BĐKH nói chung, thông điệp về BĐKH ở ĐBSCL trên báo in của Đảng bộ địa phương nói riêng

Trang 19

Công trình này cũng sẽ là tài liệu tham khảo có ích cho các nhà hoạch định chính sách về BĐKH, nhất là ở ĐBSCL Luận án cũng sẽ là tài liệu tham khảo cho những ai, kể cả người nước ngoài, quan tâm đề thông điệp báo chí - truyền thông

về BĐKH

8 Kết cấu của luận án

Ngoài Chương Tổng quan, Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án có kết cấu 4 chương

Chương Tổng quan được viết theo mô thức chung, điểm xuyết một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài; từ đó tìm kiếm để kế thừa và khoảng trống để góp phần lấp đầy những khoảng trống nghiên cứu đó Chương 1, luận án thiết lập

cơ sở lý luận - thực tiễn cho vấn đề nghiên cứu; trong đó sau khi giải mã các khái niệm công cụ cơ bản, minh giải các lý thuyết được sử dụng, luận án phân tích yêu cầu thực tiễn cần yếu cho nghiên cứu này Chương 2, tìm hiểu thực trạng thông điệp BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL; nhìn nhận rõ hơn vấn đề thực tế đặt ra Chương 3, tìm hiểu công chúng báo Đảng khu vực ĐBSCL trong quá trình tiếp nhận thông điệp về BĐKH Theo quan điểm tiếp cận của báo chí học, chúng tôi cho rằng nghiên cứu thông điệp không thể không đặt trong mối quan hệ (ở mức

độ nào đó) với công chúng báo chí; và từ kết quả nghiên cứu chương 3, luận án soi chiếu với chương 2 để phân tích vấn đề thực tiễn Chương 4, trên cơ sở đề cập MTTT mới và những yêu cầu đặt ra, luận án chủ yếu phân tích vấn đề thực tiễn qua khảo sát, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng thông điệp về BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL

Trang 20

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1 HƯỚNG NGHIÊN CỨU VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, TRUYỀN THÔNG VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1.1 Tài liệu tiếng nước ngoài

“Thông tin về BĐKH và về sự nóng lên toàn cầu trên các phương tiện TTĐC có

vai trò rất quan trọng đối với nhận thức và quan điểm của con người về vấn đề này Bởi hầu hết mọi người không trực tiếp trải nghiệm BĐKH mà phải dựa vào nội dung truyền thông để phát triển sự hiểu biết về nó” [88] Vì thế, nhiều nghiên cứu đã tập

trung làm rõ vai trò của truyền thông - báo chí đối với việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về BĐKH để điều chỉnh hành vi phù hợp

The Role of Information and Communication Technologies for community - based adaptation to climate change (2010) (tạm dịch: Vai trò của công nghệ thông tin

và truyền thông đối với cộng đồng - cơ sở để thích ứng với BĐKH) - nghiên cứu được

thực hiện bởi tổ chức Lương thực thế giới (FAO) nhấn mạnh việc áp dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả truyền thông là mấu chốt để thực hiện 3 chiến lược (1)thích ứng, (2)giảm thiểu và (3)cả hai - tức vừa thích ứng vừa giảm thiểu tác động tiêu cực của BĐKH Nghiên cứu này đề ra một quy trình “truyền thông cho sự phát triển” (Communication for Development) gồm 6 giai đoạn, nhằm phát huy cao nhất hiệu quả truyền thông, đáp ứng nhu cầu kiến thức và thông tin về BĐKH của các

tổ chức và các nhóm dễ bị tổn thương nhằm mục tiêu phát triển bền vững Trong đó, thiết kế thông điệp nằm trong giai đoạn thứ 3, được xem là giai đoạn đòi hỏi nhiều sự sáng tạo nhất trong toàn bộ quy trình [110, tr16-18]

Sách A history of The science and politics of Climate change: The Role of the

Intergovernmental Panel on Climate Change (2008) (tạm dịch: Lịch sử khoa học và chính trị của BĐKH: Vai trò của IPCC đối với BĐKH) [98] được viết bởi Giáo sư Bert

Bolin, Chủ tịch đầu tiên của IPCC, cung cấp cái nhìn trung thực về sự phức tạp để triển khai xây dựng và thực hiện các chính sách về BĐKH cũng như những khuyến cáo, giải pháp để các chính sách về BĐKH được thực thi một cách suôn sẻ và hiệu quả Đề cập đến TTĐC thông tin về về BĐKH, tác giả cho rằng các thông tin về BĐKH thời gian qua “đã có một sự phân cực đáng tiếc” và các thông điệp về BĐKH trên truyền thông đang rất hỗn độn Thay vì nêu những dự báo và những gì nên làm, TTĐC lại cường điệu hóa, mô tả BĐKH như một thảm họa…

Trang 21

“Environmental Change and Agricultural Sustainability in the Mekong Delta”

(2011) (Tạm dịch: Thay đổi môi trường và nông nghiệp bền vững ở ĐBSCL), do Mart

A Stewart và Peter A Coclanis biên tập là tập hợp những báo cáo, tham luận được trình bày tại Hội thảo quốc tế “Thay đổi môi trường, Nông nghiệp bền vững và Phát triển kinh tế”, được tổ chức tại Đại học Cần Thơ vào cuối tháng 3 năm 2010 [127] 23 bài viết trong ấn phẩm đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị về thực trạng BĐKH ở ĐBSCL và những tác động của nó đến đời sống KT-XH, nhất là việc canh tác nông nghiệp của vùng đất đang phải làm nhiệm vụ đảm bảo “an ninh lương thực” cho quốc gia và nguồn cung cấp lương thực quan trọng của thế giới Những giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thích ứng được đề cập cũng nhấn mạnh yếu tố nâng cao nhận thức và kỹ năng chống chịu của cộng đồng nơi đây đối với sự thay đổi bất thường của môi trường

Nghiên cứu về vai trò của truyền thông trong việc nâng cao hiệu quả ứng phó với BĐKH, Y Prabhanjan Yadav và Rapaka Jhansi Rani - đến từ Ấn Độ - nhấn mạnh

vai trò tối quan trọng của truyền thông, cho rằng “chính quyền và người dân đều phụ

thuộc vào truyền thông, không chỉ để phổ biến thông tin, mà còn trong việc thiết lập chương trình nghị sự cho sự phát triển và các hoạt động liên minh khác vì sự phát triển bền vững của quốc gia” [141] Trong tài liệu nghiên cứu “Role of communication in climate change and sustainable development” (2011) (tạm dịch: Vai trò của truyền thông đối với BĐKH và phát triển bền vững), hai tác giả nhấn mạnh: Yêu cầu về trách

nhiệm của báo chí là cung cấp thông tin hữu ích nhằm giúp xã hội hiểu sâu hơn các vấn

đề và khuyến khích tìm kiếm các giải pháp khả thi để thích ứng và giảm thiểu tác hại của BĐKH Trách nhiệm xã hội là tiêu chí duy nhất để phân biệt báo chí với blog, thông tin sai lệch hoặc thông tin theo kiểu định hướng Tác giả cũng xây dựng một quy trình truyền thông cho trường hợp xảy ra thảm họa thiên tai và khuyến cáo các phương tiện TTĐC nên tuân theo để giảm thiểu hậu quả đến mức thấp nhất…

Sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình truyền thông xã hội trong hơn một thập kỷ qua cũng mở ra cho các nhà khoa học nghiên cứu về BĐKH những góc nhìn

mới Ashley A Anderson đã chỉ ra trong nghiên cứu của mình The Role of the Media

in the Construction of Public Belief and Social Change (2017) (Tạm dịch: Vai trò của truyền thông trong việc xây dựng niềm tin cộng đồng và thay đổi xã hội) [96] một số

Trang 22

“bằng chứng” cho thấy truyền thông xã hội đã tác động tích cực, nâng cao nhận thức về BĐKH của công chúng bằng cách tạo ra những diễn đàn trao đổi về vấn đề này; hình ảnh và video về các sự kiện thời tiết khắc nghiệt trong khu vực giúp người xem dễ dàng tiếp thu, từ đó thay đổi quan niệm mặc định BĐKH là những “thông tin khoa học phức tạp”, giúp tiếp cận đối tượng lớn công chúng thông qua chia sẻ và thảo luận Tuy nhiên, truyền thông xã hội thiếu sự kiểm soát và ý kiến khoa học trong một số trường hợp lại làm gia tăng sự hoài nghi về BĐKH…

Trong khi phần đông các nhà khoa học và công chúng nhìn nhận BĐKH là vấn

đề hiện hữu và cần cấp thiết ứng phó, thì trên báo chí và TTĐC vẫn có những tiếng nói

“phủ nhận BĐKH” (Climate denial), thậm chí hình thành nên “Chủ nghĩa hoài nghi BĐKH” (Climate skepticism) Trong một hướng nghiên cứu khác, (Cross-national

comparison of the presence of climate scepticism in the print media in six countries, 2007-2010) (2012) (Tạm dịch: So sánh xuyên quốc gia về sự hiện diện của chủ nghĩa hoài nghi BĐKH trên các tờ báo in ở sáu quốc gia, 2007-2010) [119], James Painter và

Teresa Ashe đã tiến hành đối chiếu mức độ và số lượng xuất hiện những quan điểm theo Chủ nghĩa hoài nghi BĐKH trên báo in ở Brazil, Trung Quốc, Pháp, Ấn Độ, Anh

và Mỹ Kết quả cho thấy báo Mỹ và Anh có tỷ lệ xuất hiện cao nhất các bài báo có tiếng nói hoài nghi, trong khi báo chí Pháp và ba nước đang phát triển cung cấp ít không gian hơn cho những đối tượng này Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có một sự tương ứng mạnh mẽ giữa khuynh hướng chính trị của một tờ báo và sự sẵn sàng trích dẫn hoặc sử dụng tiếng nói hoài nghi không kiểm chứng trong các ý kiến…

Trong báo cáo “Perceptions of Climate Change: The Role of Art and the

Media” (2011) (tạm dịch: Nhận thức về BĐKH: Vai trò của nghệ thuật và truyền thông) trình bày tại hội nghị chuyên đề “Nhận thức xuyên Đại Tây Dương về BĐKH: Vai trò của Nghệ thuật và Truyền thông”, được tổ chức vào ngày 18 và 19-10- 2010,

tại đại học Boston, hai nhà nghiên cứu Miquel Muñoz và Bernd Sommer nêu thực tế ngày càng nhiều người Mỹ không tin BĐKH do con người gây ra và truyền thông về BĐKH có lẽ là thất bại lớn nhất của báo chí Hoa Kỳ Bởi lẽ xu hướng thương mại

đơn thuần khiến cho nhiều báo chí Hoa Kỳ thích “tập trung vào các nội dung xung

đột và bất đồng chính kiến, để cung cấp cho khán giả của họ một câu chuyện ly kỳ”

hơn là những thông tin dài hơi và không mấy mới mẻ của BĐKH Đồng thời, khẳng định các thông điệp tiếp nhận từ các phương tiện TTĐC và nghệ thuật là tác động

Trang 23

mạnh nhất đến định hình nhận thức của công chúng Điều này càng thể hiện vai trò

quan trọng của truyền thông, bởi vì “nhận thức của công chúng về nguyên nhân, rủi

ro và hậu quả của BĐKH cuối cùng sẽ chi phối quyết định phản ứng chính trị, kinh tế

và xã hội đối với nó” [131]

“Environmental Change and Agricultural Sustainability in the Mekong Delta”

(2011) (Tạm dịch: Thay đổi môi trường và nông nghiệp bền vững ở ĐBSCL), do Mart

A Stewart và Peter A Coclanis biên tập là tập hợp những báo cáo, tham luận được trình bày tại Hội thảo quốc tế “Thay đổi môi trường, Nông nghiệp bền vững và Phát triển kinh tế”, được tổ chức tại Đại học Cần Thơ vào cuối tháng 3 năm 2010 [127] 23 bài viết trong ấn phẩm đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị về thực trạng BĐKH ở ĐBSCL và những tác động của nó đến đời sống KT-XH, nhất là việc canh tác nông nghiệp của vùng đất đang phải làm nhiệm vụ đảm bảo “an ninh lương thực” cho quốc gia và nguồn cung cấp lương thực quan trọng của thế giới Những giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thích ứng được đề cập cũng nhấn mạnh yếu tố nâng cao nhận thức và kỹ năng chống chịu của cộng đồng nơi đây đối với sự thay đổi bất thường của môi trường

1.2 Tài liệu tiếng Việt

Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam đề cập đến vấn đề BĐKH ở những góc nhìn khác nhau, phổ biến nhất là góc độ khoa học tự nhiên nhằm giúp cộng đồng hiểu đúng về BĐKH, những tác động của BĐKH Phải kể đến trước

hết là các “Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam” năm 2009, 2012 và

2016 do Bộ TN&MT Việt Nam công bố Đây là những công trình nghiên cứu quy mô, cung cấp thông tin tổng quan về tình hình, tác động BĐKH ở Việt Nam tại thời điểm công bố và thảo những kịch bản về tác động của BĐKH trong tương lai, làm cơ sở để hoạch định các giải pháp ứng phó ở tầm quốc gia cũng như địa phương

“BĐKH và tác động ở Việt Nam”, ấn phẩm của của Viện Khoa học Khí tượng

Thủy văn và Môi trường [88], gồm 4 phần, trình bày những kiến thức cơ bản về BĐKH; lịch sử BĐKH và những sự kiện quan trọng gần đây về BĐKH ở Việt Nam; kịch bản BĐKH ở Việt Nam; tác động của BĐKH đến các lĩnh vực KT-XH; các phương pháp nghiên cứu BĐKH Đặc biệt, ở chương 7 phần III, trong các giải pháp

Trang 24

chiến lược ứng phó với BĐKH ở Việt Nam, cũng đề cập đến khía cạnh nâng cao hiệu quả truyền thông nhằm thay đổi nhận thức và khả năng thích ứng của cộng đồng

“Chủ động ứng phó với BĐKH, đẩy mạnh công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (2013), là tài liệu do Hội đồng khoa học

các cơ quan Đảng Trung ương biên soạn gồm tập hợp các bài viết của các nhà khoa học, các chuyên gia về BĐKH ở Việt Nam [42] Trong đó có một số bài viết đã nêu lên thực trạng và đưa ra những giải pháp chủ yếu cho công tác thông tin, tuyên truyền ứng phó BĐKH, bảo vệ tài nguyên, môi trường ở Việt Nam hiện nay

“Phương pháp lồng ghép BĐKH vào kế hoạch phát triển KT-XH địa phương”

(2011) do Lê Anh Tuấn biên soạn với sự tài trợ của Tổ chức Rosa Luxemburg Stiftung (CHLB Đức) [86] Đây là sách hướng dẫn các bước thực hành việc lồng ghép nội dung ứng phó BĐKH khi xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH địa phương, đặc biệt thích hợp với vùng ĐBSCL do dựa trên nghiên cứu về đặc điểm cư trú và tập quán canh tác của người dân nơi đây Đặc biệt, một phần lớn nội dung tài liệu hướng dẫn các kỹ năng truyền thông hai chiều - phỏng vấn và tiếp cận người dân để thu thập thông tin về BĐKH cho việc hoạch định chính sách và truyền thông về BĐKH

“Ảnh hưởng của BĐKH đến tài nguyên nước và ngập lụt ĐBSCL” (2014) do

Trần Hồng Thái chủ biên, trình bày tổng quan về lưu vực sông MeKong và ĐBSCL [75] Công trình đề cập các kịch bản BĐKH phục vụ đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đến tài nguyên nước ở ĐBSCL; Đánh giá ảnh hưởng của BĐKH đến tài nguyên nước

và đề xuất các biện pháp thích ứng với BĐKH trong khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên nước ở ĐBSCL

“Thích nghi với BĐKH thông qua di cư - Một nghiên cứu về trường hợp

ĐBSCL” (2014) là công trình nghiên cứu do Han Entzinger và Peter Scholten (Đức)

thực hiện tại Việt Nam - một trong 06 quốc gia là đối tượng nghiên cứu của Dự án “Di

cư, Môi trường và BĐKH: Bằng chứng cho chính sách” do Liên minh Châu Âu tài trợ

và Tổ chức Di cư Quốc tế triển khai [35] Báo cáo cho thấy được thực trạng và những tác động sâu sắc của BĐKH đối với đời sống của người dân ĐBSCL trên nhiều phương diện cũng như mức độ hiểu biết và khả năng thích ứng còn nhiều hạn chế của cộng đồng dân cư nơi đây với tác động tiêu cực của BĐKH

Trang 25

Ngoài các tác phẩm vừa nêu, còn nhiều luận án tiến sĩ với đề tài liên quan đến

BĐKH, như: Luận án “Vấn đề giới trong bối cảnh của BĐKH (Nghiên cứu trường hợp

tại xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định)” của Vũ Phương Ly - Đại học

Khoa học Xã hội và Nhân văn (2017) Luận án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh An

Giang để ứng phó với BĐKH” của Nguyễn Hữu Thịnh - Học viện Chính trị Quốc gia

Hồ Chí Minh (2018) Luận án “Nghiên cứu cơ sở khoa học trong việc đánh giá các

giải pháp thích ứng với BĐKH - áp dụng cho tỉnh Quảng Ngãi” của Chu Thị Thanh

Hương - Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và BĐKH, Bộ Tài nguyên và Môi trường (2018) Mặc dù các công trình này nghiên cứu dưới góc nhìn chủ yếu của các nhà khoa học tự nhiên, tuy nhiên, các nhà khoa học đã nhìn nhận, phân tích thực trạng BĐKH dưới góc nhìn của khoa học xã hội và những tác động của nó đối với sự phát triển bền vững cũng như các giải pháp của Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng để giảm thiểu và thích ứng

2 HƯỚNG NGHIÊN CỨU THÔNG ĐIỆP TRÊN BÁO CHÍ VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

2.1 Nghiên cứu về thông điệp

2.1.1 Tài liệu tiếng nước ngoài

Phân tích thông điệp truyền thông (analyse media message) còn được gọi là phân tích nội dung truyền thông (media content analyses), không chỉ bao gồm phân tích văn bản (text analyses), mà còn có thể thực hiện đối với các bài phát biểu, các hoạt động tương tác bằng lời nói, hình ảnh trực quan, hành vi phi ngôn từ, sự kiện âm thanh

và bất kỳ loại thông điệp nào khác Trong nghiên cứu báo chí - truyền thông, nghiên

cứu thông điệp là một trong những hướng nghiên cứu cơ bản, bởi lẽ “nó cho thấy các

hiện tượng, các sự kiện xã hội và những tác động xã hội chi phối các hiện tượng, sự kiện xã hội diễn ra vào một giai đoạn nào đó” [59]

Đề cập đến nguồn gốc của phân tích thông điệp, nhiều nhà nghiên cứu khẳng định đây là một phương pháp nghiên cứu có lịch sử lâu đời [94][95][101][126] Tuy

nhiên, nếu thời điểm Từ điển tiếng Anh của Webster năm 1961 đưa vào định nghĩa

"phân tích nội dung" như một bước ngoặt trong việc thành lập và công nhận lĩnh vực thì năm 1927, thời điểm luận án tiến sĩ của Harod Lasswell ra đời, đã đánh dấu sự ra đời của nghiên cứu thực nghiệm có giá trị lớn của nhánh nghiên cứu này Với tên gọi

Trang 26

“Propaganda in Technique the World War", tạm dịch: Kỹ thuật tuyên truyền trong Chiến tranh thế giới”, ban đầu Lassweell gọi phương pháp nghiên cứu trong luận án

của mình là “nghiên cứu không gian” (space analyse), để tìm hiểu về những tác động của tuyên truyền chính trị đối với ý nghĩ công chúng Từ luận án này, Lasswell sau đó

đã phát triển kỹ thuật nghiên cứu thông điệp một cách có hệ thống, nhất là phát triển kỹ thuật phân tích nội dung định lượng Tính ưu việt của phương pháp này, theo Lasswell

là “thông qua việc sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích nội dung nhằm đạt

được tính khách quan, chính xác và tổng quát Tính khách quan thường được coi là điều kiện tiên quyết của nghiên cứu khoa học, nhưng một điều khó đạt được trong nghiên cứu về hành vi của con người, đặc biệt là trong nghiên cứu về hành vi bằng lời nói” [115, tr.31] Với công trình nghiên cứu này - như nhà nghiên cứu Sheram nhận

định - Lasswell đã đóng góp rất lớn trong quá trình nghiên cứu của ngành truyền thông,

trên cả 3 khía cạnh: “Cung cấp một phương pháp nghiên cứu để ông có thể được coi là

một trong những người sáng lập thực sự của một nhánh nghiên cứu truyền thông”;

“Cung cấp một cách tiếp cận sâu sắc để tuyên truyền” và “Tiết lộ vai trò chính trị của truyền thông vượt ra ngoài những gì đã được thể hiện bằng các hành động như các chiến dịch từ chối và bầu cử” [dẫn lại từ 142, tr.85]

Trong “The comparative study of symbols: An introduction” (1952) (Tạm dịch:

Đại cương về nghiên cứu so sánh các biểu tượng), khi định nghĩa về phân tích nội

dung, Lasswell cho rằng “Phân tích nội dung là một kỹ thuật nhằm mục đích mô tả, với

tính khách quan, độ chính xác và tính tổng quát tối ưu, những gì được nói về một chủ

đề nhất định ở một nơi nhất định tại một thời điểm nhất định” [115, tr34] Lasswell

cũng tuyên bố rằng “phân tích nội dung hoạt động trên tiện ích rằng hành vi bằng lời

nói là một dạng hành vi của con người, rằng dòng biểu tượng là một phần của dòng sự kiện và quá trình giao tiếp là một khía cạnh của quá trình lịch sử” [115, tr34]

Sách “Media Analyse technique” (Tạm dịch: Kỹ thuật phân tích nội dung) của

Arthur Asa Berger là giáo trình cho các sinh viên Trường Đại học San Fransico (Hoa Kỳ) xuất bản đầu tiên vào năm 1982 và đã có 5 lần tái bản Nội dung trọng tâm là trình bày những khái niệm cơ bản của lý thuyết về ký hiệu, lý thuyết phân tâm học, lý thuyết Mácxít và lý thuyết xã hội học, về các kỹ thuật diễn giải và cách áp dụng các lý thuyết này vào việc phân tích nội dung trên các loại hình truyền thông khác nhau Theo

Berger, “phân tích nội dung là việc điều tra các thông điệp và giao tiếp sẽ cho phép

Trang 27

hiểu biết sâu sắc về một số khía cạnh (ví dụ: niềm tin, giá trị) của những người nhận được những thông điệp này” [95, tr.125]

Tác giả cũng cho rằng kỹ thuật phân tích nội dung có 05 ưu điểm nổi bật Đó là (01) Không tốn kém để tiến hành; (02) Có thể dễ dàng để có được mẫu nghiên cứu; (03) Không phô trương (do đó không ảnh hưởng đến các đối tượng của nó); (04) Mang lại dữ liệu có thể được định lượng; và (05) Có thể được sử dụng để kiểm tra các sự kiện hiện tại, sự kiện trong quá khứ hoặc cả hai [95, tr.126-127] Tuy nhiên, ông cũng nhìn nhận còn nhiều hạn chế trong phân tích nội dung, như: Khó để chắc chắn rằng mẫu nghiên cứu là đại diện; Khó để có được một định nghĩa tốt về chủ đề đang được nghiên cứu; Không phải lúc nào cũng dễ dàng tìm thấy một đơn vị đo lường được; Không thể chứng minh rằng các suy luận được thực hiện trên cơ sở phân tích nội dung là chính xác Mặc dù thẳng thắng chỉ ra những hạn chế đó, Berger vẫn cho rằng phân tích nội dung là một phương pháp nghiên cứu phù hợp để cho những công trình nghiên cứu lý thú và bổ ích

Sách “Analyzing media messages - Using Quantitative Content Analysis in

Research” (Tạm dịch: Phân tích thông điệp truyền thông - Sử dụng phân tích nội dung định lượng trong nghiên cứu) (2005) của Daniel Riffe, Giáo sư trường Đại học Ohio -

Hoa Kỳ, và các cộng sự thực hiện không chỉ đưa ra các nguyên tắc quan trọng trong đo lường, phân tích dữ liệu và suy luận để tiến hành phân tích nội dung định lượng, quyển sách còn đi sâu vào việc hướng dẫn chọn từ khóa, lấy mẫu, các quy tắc mã hóa, phân tích dữ liệu… Các tác giả cho rằng phân tích nội dung định lượng rất cần thiết trong 03 trường hợp: (01) Khả năng tiếp cận dữ liệu là một vấn đề và nhà nghiên cứu bị giới hạn trong việc sử dụng chứng cứ tài liệu; (02) Cấu trúc và ngôn ngữ riêng của chủ thể sử dụng là vấn đề rất quan trọng trong nghiên cứu (như khi nghiên cứu về ngôn ngữ của bệnh nhân tâm thần); (03) Khối lượng ngữ liệu vượt quá khả năng cá nhân của nhà nghiên cứu để kiểm tra nó [101, tr.39]

Trong “The Content Analysis Guidebook” (Tạm dịch: Sách hướng dẫn phân

tích nội dung) (2002), của Kimberly A Neuendorf, Giáo sư Truyền thông tại Đại học

bang Cleveland (Hoa Kỳ), đã dành chương đầu tiên để điểm qua các cột mốc quan trọng của nghiên cứu thông điệp và dành 7 chương còn lại để hướng dẫn các thao tác

kỹ thuật phân tích nội dung Theo tác giả, khởi nguồn của phân tích thông điệp chính là

Trang 28

“phân tích hùng biện” (Rhetorical Analysis) Các nghiên cứu theo hướng phân tích

thông điệp đầu tiên còn lưu giữ “là những bài luận quy phạm mang tính chủ quan, bao

gồm lời khuyên về cách nói hiệu quả, và chúng đã được viết cách đây khoảng 4.000 năm” [123, tr.31] Neuendorf đã trích lại nghiên cứu của Riffe và Freitag, thực hiện

năm 1997, cho thấy sự gia tăng gần gấp sáu lần số lượng các bài báo về phân tích nội dung trên tạp chí Báo chí - Truyền thông hàng quý trong khoảng thời gian 24 năm - từ

6,3% năm 1971 lên 34,8% vào năm 1995 [123, tr.27]… Theo tác giả, “Phân tích nội

dung là tóm tắt, phân tích định lượng các thông điệp dựa trên phương pháp khoa học (…) và không giới hạn đối với các loại biến có thể được đo lường hoặc bối cảnh trong

đó các thông điệp được tạo ra hoặc được trình bày” [123, tr.10] Việc vận dụng các

phương thức khoa học vào nghiên cứu cần đặc biệt chú ý đến các tiêu chí: tính tương tác - khách quan, phác thảo giả định, độ tin cậy, tính hợp lệ, tính tổng quát, khả năng nhân rộng và kiểm định giả thuyết

Trong cuốn sách “Media Messages and Public Health” (Tạm dịch: Thông điệp

truyền thông và sức khỏe cộng đồng) (2009) do Tiến sĩ Amy B Jordan - Giám đốc Bộ

phận Nghiên cứu về Truyền thông và Trẻ em đang phát triển của Trung tâm Chính sách công cộng Annenberg thuộc Đại học Pennsylvania (Hoa Kỳ) và các cộng sự thực hiện [94], đã dành 2 phần đầu đề cập khá chi tiết về khái niệm và hướng dẫn kỹ thuật thực hiện nghiên cứu phân tích nội dung; 2 phần còn lại là tập hợp những bài báo khoa học, báo cáo kết quả công trình nghiên cứu về thông điệp truyền thông ở các khía cạnh liên quan đến sức khỏe cộng đồng Tài liệu này rất có ý nghĩa và giá trị kế thừa với luận án mà tác giả đang thực hiện bởi mặc dù nội dung nghiên cứu chủ yếu về các khía cạnh liên quan đến sức khỏe, tuy nhiên cách thức thực hiện các nghiên cứu khá đa dạng với một số công trình thiên về phương pháp định lượng, một số công trình tập trung yếu tố phân tích định tính hoặc kết hợp song song cả hai… giúp tác giả rút ra được những kinh nghiệm quý báu để vận dụng trong thực tiễn quá trình nghiên cứu

Klaus Krippendorff, tác giả của Content Analysis - An Introduction to Its

Methodology (tạm dịch: Phân tích nội dung - Giới thiệu về phương pháp luận của nó)

(2013), cho rằng so với quá khứ, phân tích nội dung ngày nay có sự khác biệt đáng kể Trước đây, phân tích nội dung là một phương pháp dựa trên kinh nghiệm, là quá trình khám phá, dự đoán hoặc suy luận theo ý định mang tính chủ quan của tác giả (định

Trang 29

tính) Tuy nhiên trong phân tích nội dung đương đại, sự kết hợp giữa định tính và định

lượng là không thể thiếu Bởi lẽ, theo tác giả “mỗi phân tích nội dung đòi hỏi một bối

cảnh trong đó các văn bản có sẵn được kiểm tra” và “tất cả các cách đọc văn bản là định tính, ngay cả khi các đặc điểm nhất định của văn bản sau đó được chuyển đổi thành số” [124, tr.22] “Việc phân biệt định lượng/ định tính là cũng có nghĩa tách rời

sự minh bạch và tính khách quan của việc xử lý dữ liệu khoa học và sự phù hợp của các

phương pháp sử dụng tương ứng với bối cảnh đã lựa chọn” [124, tr.87] Trên cơ sở đó, Krippendorff cũng đã phát triển một khung khái niệm để phân tích nội dung gồm sáu thành phần [124, tr.29-30]

Bên cạnh các tài liệu lý luận, các công trình nghiên cứu thực nghiệm áp dụng phương pháp này - có thể bắt gặp trên rất nhiều lĩnh vực - giúp chúng ta rút ra được những kinh nghiệm quý báu để vận dụng trong thực tiễn quá trình nghiên cứu, như:

“Sex on American television: An analysis across program genres and network types”

(Tạm dịch: Sex trên truyền hình Mỹ: Phân tích về các thể loại chương trình và loại

mạng); A Content Analysis of the Dallas Farmers Market Instagram (Tạm dịch: Phân

tích nội dung của Instagram “Thị trường nông dân Dallas”)…

Từ các tài liệu, công trình nghiên cứu mà tác giả đã tổng luận trên, có thể thấy phương pháp phân tích thông điệp/ nội dung là một phương pháp nghiên cứu được ứng dụng lâu đời trong lịch sử nghiên cứu báo chí truyền thông Các tài liệu, công trình nghiên cứu vừa đề cập cũng giúp tác giả luận án có được cái nhìn tổng quan về lịch sử

và phương pháp, cũng như cách thức tiến hành phân tích nội dung thông điệp báo chí - truyền thông ra sao, những ưu điểm, hạn chế cũng như những vấn đề cần lưu ý của phương pháp này, để từ đó có thể áp dụng vào việc phân tích nội dung thông điệp về BĐKH trên báo Đảng ĐBSCL

2.1.2 Tài liệu bằng tiếng Việt

Nhiều tài liệu nghiên cứu về TTĐC ở Việt Nam đã đề cập và dành dung lượng thỏa đáng để giới thiệu về “thông điệp” - từ khái niệm, vai trò, ý nghĩa, phân loại…, qua đó giúp người đọc có được kiến thức tổng quan về toàn bộ quy trình truyền thông nói chung cũng như của riêng “thông điệp” trong quy trình này Đáng kể đến như các

sách: “Truyền thông đại chúng” (2001) và “Cơ sở lý luận báo chí” (1992) của Tạ Ngọc Tấn; “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” (2004) của Dương Xuân Sơn và cộng sự;

“Cơ sở lý luận báo chí “(Nguyễn Văn Dững - 2012), “Báo chí và dư luận xã hội”

Trang 30

(Nguyễn Văn Dững - 2011), “Báo chí giám sát,phản biện xã hội ở Việt Nam” (Nguyễn Văn Dững - 2017); “Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” (Nguyễn Văn Dững

và Đỗ Thị Thu Hằng - 2012), “Giáo trình Tâm lý học báo chí” (2013) và “Tâm lý học

ứng dụng trong nghề báo” (2013) của Đỗ Thị Thu Hằng; “Vai trò của báo chí trong định hướng dư luận xã hội” (2012) của tác giả Đỗ Chí Nghĩa…

Đối với phân tích thông điệp, có thể nói hiện nay ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu

về báo chí - truyền thông dưới góc độ tiếp cận xã hội học đề cập khá rõ nét đến vấn đề thông điệp báo chí - truyền thông, nhưng hướng nghiên cứu này lại chưa được triển khai nhiều Về mặt nghiên cứu lý luận, đến nay chưa có quyển sách nào của các nhà nghiên cứu Việt Nam đề cập sâu về phương pháp nghiên cứu này

Trong Truyền thông, Lý thuyết và Kỹ năng cơ bản (2012) của Nguyễn Văn

Dững (chủ biên) và Đỗ Thị Thu Hằng, các nhà nghiên cứu cho rằng truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian, trong đó bao gồm các yếu tố tham dự chính là: Nguồn, Thông điệp, Kênh truyền thông, Công chúng, Phản hồi/Hiệu quả,

Nhiễu Trong đó “thông điệp” được định nghĩa: “Là nội dung thông tin trao đổi từ

nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận Thông điệp chính là tâm tư tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học - kỹ thuật… được mã hoá theo một hệ thống ký hiệu nào đó Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chấp nhận và có chung cách hiểu - tức là có khả năng giải mã Tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con người được sử dụng để chuyển tải thông điệp” [19, tr.13] Theo các tác giả, thông điệp có 4 dạng là thông điệp

đích; thông điệp cụ thể; thông điệp tài liệu và thông điệp ẩn Thông điệp trong một chu trình truyền thông phải đảm bảo các yêu cầu, gồm: phải phù hợp với công chúng, nhóm đối tượng và thể hiện rõ mục tiêu của chiến dịch truyền thông; phù hợp với chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước; phù hợp với các quy tắc và giá trị xã hội, với văn hóa

- lối sống dân tộc và phát triển; phù hợp với tâm lý tâm trạng xã hội và thể hiện được lợi ích của công chúng, nhóm đối tượng; phù hợp với các kênh truyền thông

“Tâm lý học ứng dụng trong nghề báo” (2013) của tác giả Đỗ Thị Thu Hằng

[39] khi đề cập đến các vấn đề cơ chế ảnh hưởng của tâm lý xã hội đến công chúng báo chí truyền thông và tâm lý tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng đã làm bật lên vai trò quan trọng của “thông điệp” trong tác phẩm báo chí để tạo nên tác động tâm lý

xã hội đến từng cá nhân trong xã hội và các nhóm công chúng; gợi ý một số giải pháp

Trang 31

và kỹ năng xây dựng thông điệp báo chí phù hợp để tác động một cách có ý thức vào các đối tượng xã hội theo những cơ chế nhất định…

Các bài báo khoa học của tác giả Mai Quỳnh Nam đã công bố các nghiên cứu phân tích nội dung xã hội học TTĐC đầu tiên ở Việt Nam, như:

+ Trong “Truyền thông và phát triển nông thôn”, đăng trên tạp chí Xã hội học

số 3, năm 2003 [60], tác giả đã nhắc đến vai trò “rất quan trọng” của thông điệp trong quá trình truyền thông khi phân tích cơ chế tác động của truyền thông đối với hành động của con người

+ Trong “Về đặc điểm và tính chất của giao tiếp đại chúng”, Tạp chí Xã hội học,

số 2 năm 2000, khi đề cập đến hoạt động tiếp nhận thông tin của công chúng, tác giả cho

rằng “Sự liên kết xã hội của người đọc, người nghe, người xem cho thấy mối quan tâm

chung của họ đối với các nội dung thông điệp được truyền tải ( ) Khi các thông điệp được thông báo tác động đến các nhóm công chúng lớn, cũng có nghĩa là các thông điệp

đó thực hiện vai trò tổ chức xã hội thông qua hoạt động truyền bá tập thể” [57]…

+ Trong bài “Thông điệp về trẻ em trên báo hình báo in”, tạp chí Xã hội học số 2- 2002, tác giả nhấn mạnh “Tính đặc thù của phương pháp thông điệp báo chí là việc

cho thấy ý nghĩa của thông điệp, tần số, diện tích của những nội dung được trình bày ở dạng cố định hóa trong các văn bản, ảnh… ở báo in, hoặc các hình ảnh, màu sắc, âm thanh, bằng chữ… ở báo hình” Tác giả nhấn mạnh quan hệ giữa thông điệp và thực tế

giao tiếp, môi trường truyền thông “nhiệm vụ cơ bản của phương pháp phân tích thông

điệp báo chí là cần thể hiện quan hệ của thông điệp với thực tế ngoài thông điệp đã sản sinh ra thông điệp” [59]

Nghiên cứu phân tích quốc tế về “Hình ảnh trẻ em trên báo chí” do Trung tâm

truyền thông ASIAN (AMIC) phối hợp với Viện Xã hội học thực hiện năm 1999 Những người nghiên cứu đã quan sát các thông điệp về trẻ em được thông báo trong tháng 10/1999 trên 10 tờ báo in, 2 đài truyền hình và tiến hành hơn 200 cuộc phỏng vấn bằng nhiều hình thức để từ đó đúc rút những nhận định quan trọng về thông điệp

về trẻ em trên báo hình và báo in Từ đó, tác giả đã đưa ra các khuyến cáo để công chúng và các cơ quan báo chí điều chỉnh, nhằm thực hiện tốt vai trò xã hội trong hoạt động báo chí vì các lợi ích cơ bản của trẻ em

Trong “Cơ chế tác động của báo chí”, Nguyễn Văn Dững đã đưa ra mô hình tác

động, theo đó từ thực tiễn đời sống, các chủ thể (nhà báo) thiết kế những thông điệp,

Trang 32

chuyển qua kênh truyền để tác động vào ý thức quần chúng (hay công chúng xã hội) Đối tượng tiếp nhận - dựa trên nền tảng nhận thức chính trị, văn hóa và tri thức cá nhân

mà có những thái độ hành vi tương ứng và được xem là có hiệu lực/hiệu quả khi nó phù hợp với mong muốn của chủ thể, đồng thời nó sẽ tác động trở lại thực tiễn đời

sống Tác giả nhấn mạnh: “Để có được thông điệp - tác phẩm báo chí hay, hấp dẫn

công chúng, đòi hỏi ở người viết quá trình lao động sáng tạo, công phu, nghiêm túc, có tâm và nhiệt thành, không chỉ đòi hỏi trình độ, năng lực mà còn năng khiếu nghề nghiệp; không chỉ trình độ văn hoá và vốn sống mà quan trọng là năng lực nhận thức, sức bật tư duy, khả năng phản ứng nhanh nhạy và chính xác trước sự kiện và vấn đề của cuộc sống” [17]

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu thực nghiệm có sử dụng phương pháp phân tích thông điệp, như:

+ “Thông điệp truyền thông về đồng tính luyến ái trên một số báo in và báo

mạng” (2011), do Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường phối hợp với HV

BC&TT thực hiện Các tác giả đã đưa ra các phân tích và đánh giá về cách một số báo

in và báo mạng đưa tin và bình luận về người đồng tính và sự thay đổi về cách đưa tin qua các năm

+ Công trình nghiên cứu của khoa Xã hội học, HV BC&TT về “Định kiến giới

trong các sản phẩm truyền thông trên các phương tiện TTĐC hiện nay” (2011) tác giả

Nguyễn Thị Tuyết Minh và nhóm nghiên cứu đã tìm kiếm và phân tích các vấn đề giới, định kiến giới, khuôn mẫu giới trong thông điệp truyền thông trên các phương tiện TTĐC qua hình ảnh minh họa và ngôn từ được sử dụng

+ “Hiệu quả của các bài viết về bạo lực gia đình trên báo điện tử Việt Nam hiện

nay” (2011) là Luận án tiến sỹ Xã hội học của Phạm Hương Trà Tác giả sử dụng

phương pháp phân tích thông điệp tìm hiểu việc phản ánh về bạo lực gia đình trên báo điện tử qua nội dung bài viết, khuôn mẫu, hình thức, nguyên nhân, chân dung người bị bạo lực và người gây bạo lực, ngôn ngữ sử dụng và hình ảnh minh hoạ… Đồng thời, tác giả còn làm rõ thêm nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng khi tiếp nhận thông điệp của các bài viết

+ “Khuynh hướng chính trị của báo chí Mỹ (Khảo sát các bài xã luận của New

York Times và Wall Street Journal từ 2009-2012)” (2014) là Luận án tiến sĩ báo chí

Trang 33

học của Vũ Thanh Vân Tác giả nghiên cứu các bài xã luận đăng từ năm 2009 đến

2012, trên báo New York Times và Wall Street Journal, nhằm xác định khuynh hướng chính trị thể hiện trên hai tờ báo, chỉ ra mối quan hệ giữa chính trị và báo chí; rút ra kinh nghiệm về nghệ thuật trình bày quan điểm trong bài xã luận, khả năng thuyết phục

và định hướng nhận thức cho công chúng

+ Luận án tiến sĩ “Thông điệp về hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên báo điện

tử Việt Nam hiện nay” (2019) của Bùi Thị Minh Hải đã khảo sát tác phẩm báo chí viết

về đề tài hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên các trang báo mạng điện tử: Vietnamnet.vn, VnEpress.net, Giadinh.net.vn, Tuoitre.vn, Baophapluat.vn Trên cơ sở khảo sát, phân tích, đánh giá các tác phẩm báo mạng điện tử về hôn nhân có yếu tố nước ngoài, luận án công bố thực trạng thông điệp hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay và chỉ ra những vấn đề đang đặt ra cần giải quyết nhằm nâng cao chất lượng thông điệp về hôn nhân có yếu tố nước ngoài trên báo mạng điện tử

+ “Thông điệp về tham nhũng trên báo in (Nghiên cứu trường hợp báo Nhân

dân, báo Lao động, báo Tuổi trẻ giai đoạn 2005 - 2014)” là luận án Xã hội học của tác

giả Nguyễn Thị Tuyết Minh Luận án đã chỉ ra thực trạng nội dung và hình thức thông điệp về tham nhũng trên báo in và khuyến nghị các giải pháp nhằm phát huy hiệu quả thông điệp về tham nhũng trên báo in

Các luận án vừa nêu đều có sử dụng phương pháp phân tích thông điệp, có giá trị nhất định trong việc cung cấp những kinh nghiệm về phương pháp nghiên cứu và lý luận, giúp tác giả luận án rút ra được nhiều bài học quý để vận dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài

2.2 Nghiên cứu thông điệp truyền thông về biến đổi khí hậu

2.2.1 Tài liệu tiếng nước ngoài

Trên cơ sở phân tích các công trình nghiên cứu về truyền thông BĐKH, bài báo

khoa học “Content analysis methods for assessing climate change communication and

media portrayals” (tạm dịch: Phương pháp phân tích nội dung để đánh giá chân dung truyền thông và thông tin BĐKH), in trong quyển The Oxford Encyclopedia of Climate

Change Communication, Julia Metag - Giáo sư Khoa học Truyền thông tại Đại học

Fribourg - Thụy Sĩ, khẳng định “phân tích nội dung là một trong những phương pháp

được sử dụng thường xuyên nhất trong nghiên cứu truyền thông BĐKH”

Trang 34

Một tài liệu liên quan trực tiếp đến thông điệp BĐKH là Mediated messages

about climate change: reporting the IPCC Fourth Assessment in the UK print media

(2017) (Tạm dịch: Thông điệp gián tiếp về BĐKH: Báo cáo đánh giá lần thứ tư của

IPCC trên báo in ở Anh) Công trình của Giáo sư Mike Hulme, Khoa Khoa học Môi

trường - Đại học East Anglia, Anh đã nghiên cứu trên 11 tờ báo có quyền sở hữu, mật

độ lưu thông, đối tượng độc giả, phong cách và khuynh hướng chính trị khác nhau Mẫu được chọn là các tờ báo xuất bản vào ngày 3 tháng 2, 7 tháng 4 và 5 tháng 5 của năm 2007, tức là ngay sau ngày ba nhóm nghiên cứu khoa học (WG-1), tác động và thích ứng (WG-2), giảm thiểu (WG-3) công bố bản tóm tắt đề xuất của họ, làm cơ sở

để tổng hợp hoàn thiện Báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC Nghiên cứu này giải quyết các câu hỏi: mức độ khác nhau trong báo cáo của ba Nhóm làm việc IPCC trên các tờ báo in của Anh? Những thông điệp nào từ Báo cáo IPCC mà các tờ báo khác nhau chọn để làm nổi bật và những thông điệp nào loại bỏ? Các loại hình ngôn ngữ chủ yếu được sử dụng trong báo cáo này là gì? Nghiên cứu kết luận rằng báo in ở Anh đăng tải các bài báo mang thông điệp báo động và hù dọa hơn là các bài báo thể hiện sự lạc quan về khả năng thích ứng của con người với BĐKH Phương pháp tiến hành và kết quả thu được từ nghiên cứu này là cơ sở để luận án tham chiếu trong quá trình nghiên cứu thông điệp về BĐKH trên báo Đảng ĐBSCL

Phân tích nội dung cũng là cách thức Nathan Young và Eric Dugas chọn để tiến

hành nghiên cứu về những thông điệp mà hai tờ báo lớn của Canada, The Globe and

Mail và The National Post, chuyển tải đến công chúng trong ba khung thời gian cách

nhau 10 năm là 1988-1989, 1998-1999 và 2007- 2008 (Representations of Climate

Change in Canadian National Print Media: The Banalization of Global Warming -

Tạm dịch: Đại diện cho BĐKH trên báo in Quốc gia Canada: Bình thường hóa sự

nóng lên toàn cầu) Phân tích nội dung 5.897 bài báo cho kết quả: Tần suất thông tin về

BĐKH trên hai tờ báo đại diện này ngày càng tăng, nhưng thông điệp chuyển tải đến độc giả lại bị “lệch” bởi lẽ ngày càng ít tiếng nói của các nhà khoa học và những người

có trách nhiệm của chính quyền và công dân bình thường, trong khi đại diện của các nhóm môi trường và doanh nghiệp/ngành công nghiệp ngày càng nổi bật Tỉ lệ các bài báo có kiến thức khoa học chuyên môn sâu và những chi tiết đắt giá đáng tin cậy, những bài “thuần” nói về BĐKH giảm, trong khi ngày càng nhiều hơn các bài báo mà vấn đề BĐKH chỉ được “điểm qua” trong bài báo nói về các vấn đề khác, như chính trị,

Trang 35

nghệ thuật và văn hóa, công nghệ và xu hướng kinh doanh Những bài viết quan trọng, chủ yếu lại dẫn từ các tài liệu báo chí Hoa Kỳ… Các nhà nghiên cứu lo ngại điều này

sẽ ảnh hưởng đến “sự khao khát hành động chính trị cụ thể” của người Canada trong

việc hành động ứng phó với BĐKH

Trong bài công bố kết quả nghiên cứu đăng trên tạp chí Science Communication

ngày 5/9/2007, tác giả khẳng định: Việc trình bày các nội dung của báo cáo đã áp dụng những yếu tố gây hoang mang quá mức BĐKH được trình bày với những chi tiết rất đáng sợ, bằng ngôn ngữ của sự sợ hãi và thảm họa, thay vì diễn đạt nó như là một hiện tượng ngẫu nhiên với kết quả có thể điều chỉnh nếu lựa chọn được các chính sách đúng đắn Nội dung về thích ứng - làm giảm sự nhạy cảm của xã hội đối với BĐKH - không được ưu ái hoặc bị gạt ra ngoài lề Việc thảo luận về lựa chọn chính sách tiềm năng để giảm thiểu tác động tiêu cực của BĐKH của xã hội là nội dung ít phổ biến nhất, bị loại ở vị trí thứ ba Phương pháp nghiên cứu và những kết luận đúc rút từ công trình nghiên cứu này mang tính gợi mở nhiều vấn đề quan trọng có liên quan đến đề tài, đồng thời giúp tác giả luận án nắm bắt thêm thực tiễn thông tin về BĐKH ở báo chí quốc tế [134]

Một nghiên cứu khác, A construal - level perspective of climate change images

in US newspapers (2017) (Tạm dịch: Một cách hiểu - cấp độ diễn đạt của hình ảnh về BĐKH trên các tờ báo in Hoa Kỳ), Ran Duanvà các cộng sự phân tích 635 hình ảnh về BĐKH từ các tờ báo lưu hành rộng rãi ở Mỹ là USAToday, New York Times và Wall Street Journal Kết quả cho thấy, trái với những gì mọi người vẫn nghĩ, BĐKH đã được

mô tả trực quan là một vấn đề tương đối cụ thể chứ không phải trừu tượng và hầu hết được miêu tả với mức độ đặc thù cao Hình ảnh có chủ đề con người tác động và gây

ấn tượng hơn so với hình ảnh có chủ đề tự nhiên và chủ đề công nghiệp trong bối cảnh môi trường bị tác động bởi BĐKH… Những vấn đề trên cung cấp thêm góc nhìn về tác động của hình ảnh, có giá trị trong quá trình phân tích các yếu tố cấu thành nội dung thông điệp BĐKH mà tác giả luận án nghiên cứu

Sách Communicating on climate change: An essential resource for Journalists,

Scientists, and Educators (2008) (Tạm dịch: Truyền thông về BĐKH:Một tài liệu hữu ích cho các nhà báo, nhà khoa học và giáo dục) được xuất bản bởi Viện báo cáo môi

trường và biển Metcalf được xem là một bản “tổng kết lớn”, sau 6 lần hội thảo, được tổ

Trang 36

chức từ cuối năm 2003 đến tháng 6 năm 2006 với chủ đề “Science Communication and

the News Media” (Tạm dịch: Thông tin khoa học và tin tức truyền thông), có sự tham

dự của nhiều nhà khoa học hàng đầu và các nhà báo tên tuổi trong lĩnh vực này từ nhiều quốc gia Phân tích nội dung những bài báo về vấn đề này đối chiếu với những thông tin khoa học chính thống được công bố cho thấy có nhiều sự chênh lệch khi chuyển tải “thông tin khoa học” chuyển thành một “tin tức truyền thông” 11 lý do nổi cộm dẫn đến tình trạng này được liệt kê và đưa ra những khuyến nghị giải quyết Đáng

kể đến là: Thu hút công chúng là cơ sở để báo chí tồn tại, trong khi tin tức BĐKH

thường “không có mùi thuốc súng”; Các nhà báo đôi khi cường điệu những phát hiện,

nghiên cứu mới hoặc thiếu kiến thức khoa học cơ bản để thẩm định độ tin cậy của các phát hiện đôi khi được tạo ra vì những lý do chính trị hoặc tài chính hơn là vì khoa học

và nhân sinh, dẫn đến sự nhầm lẫn và hoài nghi trong công chúng; Mối quan hệ giữa nhà khoa học và nhà báo chưa chặt chẽ… Tài liệu này cung cấp những kiến thức cả về

lý luận và thực tiễn, giúp tác giả nhìn rõ hơn quan điểm và cách thức khai thác thông tin về BĐKH ở môi trường báo chí quốc tế

Framing Climate Change: A Content Analysis of Chinese Mainstream Newspapers From 2005 to 2015 (2017) (Tạm dịch: Khung Biến đổi khí hậu: Phân tích nội dung của các tờ báo chính thống của Trung Quốc từ năm 2005 đến 2015) là công

trình nghiên cứu của 3 nhà khoa học Jingjing Han, Shaojing Sun và Yanqin Lu Các tác giả đã phân tích 1.248 bài báo đề cập đến vấn đề BĐKH đăng trong thời gian diễn ra Hội nghị các bên Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH từ năm 2005 đến 2015 trên năm tờ báo chính thống của Trung Quốc Trong đó, People’s Daily, Xinhua Telecom Daily là hai tờ báo của ĐCS Trung Quốc; Science and Technology Daily là tờ báo khoa học quốc gia chuyên ngành; Southern Metropolis Daily và Xinmin Evening News là các tờ báo tự chủ kinh phí Kết quả nghiên cứu cho thấy các nội dung về những tác động của BĐKH đến cuộc sống của con người xuất hiện nhiều nhất, tiếp theo là các bài viết đề cập đến nguyên nhân, các xu hướng hợp tác đối phó với BĐKH, những vấn đề còn gây tranh cãi về BĐKH Nghiên cứu cũng cho thấy rằng các tờ báo của ĐCS Trung Quốc ưu tiên đưa nhiều tin tức về hoạt động hoặc chỉ đạo của lãnh đạo

có liên quan đến BĐKH và“cố gắng vẽ ra một hình ảnh tích cực và mang tính xây

dựng về những nỗ lực toàn cầu về BĐKH (…) Trong khi đó, bằng cách mô tả sinh động cuộc sống cá nhân, các phóng viên của tờ Southern Metropolis Daily cố gắng

Trang 37

khơi gợi cảm xúc trong khán giả và kêu gọi hành động công khai về BĐKH trong cuộc sống hàng ngày của họ” [120] Nghiên cứu cho thấy thông điệp về BĐKH cần gắn với

cuộc sống thường nhật và cảm xúc của công chúng, đồng thời nền tảng tư tưởng, pháp

lý và tài chính chi phối đáng kể nội dung thông điệp về BĐKH

Tại Chile, Devin M Dotson và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu nhằm so sánh “bức tranh” BĐKH được vẽ lên như thế nào ở hai tờ báo có hệ tư tưởng chính trị khác nhau là El Mercurio, tờ báo có số lượng phát hành lớn nhất ở Santiago, Chile ủng

hộ Đảng bảo thủ, và một đối trọng khác - tờ La Nacio´n, ủng hộ quan điểm của Đảng

tự do Báo cáo công trình nghiên cứu này trong bài báo khoa học Media Coverage of

Climate Change in Chile: A Content Analysis of Conservative and Liberal Newspapers

- (Tạm dịch: Truyền thông đưa tin về BĐKH ở Chile: Phân tích nội dung của các tờ

báo Bảo thủ và Tự do), La Nacio´n gần gấp đôi El Mercurio cả về số lượng tác phẩm

và dung lượng chữ trong mỗi bài viết về BĐKH Số bài báo có minh họa của La Nacio´n cũng nhiều hơn gấp 4 lần; thể loại tác phẩm cũng đa dạng hơn so với đối thủ Phân tích nội dung chi tiết về nguồn tin, thể loại, vị trí bài báo, tình tiết, mức độ thông

tin, tính hệ thống của vấn đề… các tác giả đã kết luận “Phe bảo thủ có khuynh hướng

chung là nghi ngờ BĐKH và không ủng hộ hành động để giải quyết nó” [104 ]

“Climate on cable: The nature and impact of global warming coverage on Fox

News, CNN, and MSNBC” (Tạm dịch: Khí hậu trên truyền hình cáp: Bản chất và tác động của thông tin nóng lên toàn cầu trên Fox News, CNN và MSNBC) do Lauren

Feldman và các cộng sự thực hiện đã phân tích nội dung các tác phẩm về BĐKH trên

3 kênh truyền hình cáp Fox News, CNN và MSNBC từ năm 2007 đến 2008 Đồng thời, các tác giả cũng khảo sát công chúng thường xuyên theo dõi các kênh truyền

hình này để đánh giá về quan điểm và nhận thức của họ Nghiên cứu này cung cấp

bằng chứng cho thấy người càng thường xuyên xem Fox News, họ càng ít chấp nhận

sự nóng lên toàn cầu Ngược lại, việc xem CNN và MSNBC sẽ có nhận thức tốt hơn

về vấn đề này… Công trình nghiên cứu này cũng cho thấy một hướng đi mới trong nghiên cứu thông điệp mà theo Julia Metag - Giáo sư Khoa học Truyền thông tại Đại

học Fribourg, Thụy Sĩ - đã chỉ ra Đó là: Nếu như trước đây, nghiên cứu nội dung về

truyền thông BĐKH thường thực hiện bằng một vài phương pháp đơn lẻ, thì ngày nay

đã có những phương pháp “tiếp cận đa phương thức”, để áp dụng cho các mẫu quy

mô lớn Bên cạnh đó là xu hướng kết hợp nghiên cứu giữa thông điệp truyền thông và

Trang 38

đối tượng công chúng tiếp nhận thông điệp đó để đưa ra kết quả về tác động của truyền thông về BĐKH đối với nhận thức họ chứ không chỉ dựa trên giả định rằng nội dung của truyền thông BĐKH ảnh hưởng đến nhận thức của công chúng về BĐKH ở một mức độ nào đó [111]

Ngoài những công trình vừa nên trên, có thể tìm thấy nhiều nghiên cứu khác về BĐKH trên báo chí Anh, Ấn Độ, Na Uy… trong các công trình nghiên cứu đã được

công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế, như: Climate change and media usage:

Effects on problem awareness and behavioural intentions (Tạm dịch: BĐKH và

phương tiện truyền thông sử dụng: Ảnh hưởng đến nhận thức vấn đề và ý định hành

vi); Soil news - the soil carbon and climate policy journey in Australia and the role of

different media (Tạm dịch: Tin tức về đất - hành trình chính sách khí hậu và đất carbon

ở Úc và vai trò của các phương tiện truyền thông khác nhau); The uncertainties of

climate change in Spanish daily newspapers: content analysis of press coverage from

2000 to 2010 (Tính bất định của BĐKH trên các nhật báo Tây Ban Nha: phân tích nội

dung của thông tin báo chí từ năm 2000 đến 2010)… Các công trình nêu trên có ý nghĩa tham khảo cho tác giả luận án ở nhiều góc độ về phương pháp nghiên cứu, về cơ

sở lý luận và các khía cạnh thực tiễn thông tin về BĐKH trên báo chí quốc tế

2.2.2 Tài liệu tiếng Việt

“Báo chí với vấn đề BĐKH ở Việt Nam” (2017) - sách chuyên khảo của hai tác

giả Đinh Văn Hường và Nguyễn Minh Trường là ấn phẩm được bổ sung, chỉnh sửa để xuất bản và công bố chính từ đề tài nghiên cứu khoa học "Báo chí với vấn đề BĐKH ở Việt Nam hiện nay" - được thực hiện từ năm 2015 đến năm 2017 Cuốn sách chuyển tải 4 nội dung chính: BĐKH và vai trò của báo chí; Một số phương thức truyền thông trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam; Thực tiễn thông tin, truyền thông về BĐKH của báo chí Việt Nam; Bối cảnh, yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng báo chí về BĐKH Để có căn cứ đánh giá về thực tiễn thông tin, truyền thông về BĐKH của báo chí Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã khảo sát, thống kê tin bài về BĐKH trên

5 tờ báo in (Nhân Dân, Tài nguyên và Môi trường, Thanh niên, Nam Định) và 2 báo điện tử (Tuổi trẻ Online, Lao Động); áp dụng phương pháp phân tích nội dung từ các mẫu đại diện và phỏng vấn sâu các cá nhân các nhà báo, nhà quản lý báo chí, nhà khoa học… Từ đó, các tác giả đã chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và làm rõ nhiều nguyên

Trang 39

nhân của các hạn chế về nội dung và hình thức chuyển tải thông tin về BĐKH trên báo chí hiện nay, như: một số lãnh đạo báo chí chưa nhận thức đúng và đầy đủ tầm quan trọng, cấp thiết và cần thiết đưa tin về BĐKH; sự hợp tác, chia sẻ và cung cấp thông tin giữa cơ quan báo chí và cơ quan quản lý các cấp về lĩnh vực này chưa ăn khớp; năng lực nghiệp vụ, kiến thức khoa học về lĩnh vực BĐKH của nhà báo chưa đáp ứng yêu cầu… Nghiên cứu là tài liệu tham chiếu có ý nghĩa, giúp NCS bổ sung nền tảng kiến thức về vấn đề nghiên cứu và đúc rút hướng nghiên cứu mới

“Bối cảnh truyền thông về BĐKH đăng tải trên phương tiện TTĐC Việt Nam”

(2015) do Lưu Hồng Minh và SonJa Schirmbeck đồng chủ biên là cuốn sách tập hợp kết quả 3 chủ đề nghiên cứu nằm trong dự án hợp tác nghiên cứu về truyền thông do

HV BC&TT hợp tác cùng Viện Friedrich Ebert Stiftung (Đức) tại Việt Nam thực hiện Mặc dù nghiên cứu từ góc độ xã hội học về truyền thông BĐKH, nhưng công trình này cũng vận dụng phương pháp phân tích nội dung làm chủ đạo Cụ thể:

+ Nghiên cứu “Thực trạng đưa tin về BĐKH trên báo chí” của nhóm tác giả

Lưu Hồng Minh, Đỗ Đức Long và Phó Thanh Hương phân tích định lượng nội dung bài viết về BĐKH đăng tải trên báo in và báo mạng giai đoạn 2011-2012 và các tin bài phát sóng trên truyền hình năm 2013 Nghiên cứu cho thấy điểm tương đồng giữa truyền hình và báo in, báo điện tử trong việc đăng tải thông tin BĐKH là những thông tin về biểu hiện, cách ứng phó và hậu quả của BĐKH được đề cập nhiều hơn là những thông tin nguyên nhân và dự báo BĐKH Phần lớn các thông tin không nói về nguồn thông tin, nhưng khi có nói đến nguồn thông tin thì chủ yếu phát từ các nhà lãnh đạo, quản lý…

+ “Thực trạng đưa tin về BĐKH trên truyền hình” do Phạm Hương Trà và

Phạm Thị Tuyết Minh thực hiện đã thu thập và phân tích 271 tin bài có liên quan đến BĐKH trên 6 chương trình của VTV1 (Đài Truyền hình Việt Nam) và THVL1 của Đài truyền hình Vĩnh Long Các tác giả đã chỉ ra một số đặc điểm, nhấn mạnh hạn chế các chương trình truyền hình trong mẫu phân tích, như: Bối cảnh mà BĐKH xuất hiện chủ yếu thông qua các hội nghị, hội thảo, các chuyến viếng thăm hoặc trong các chủ trương mới của Đảng và Nhà nước, các sự kiện liên quan tới môi trường hoặc khi các thiên tai mới xảy ra gây ảnh hưởng tới đời sống người dân Các tin, chương trình vẫn còn thiếu tính liên kết, chưa phân tích theo chiều sâu, đôi khi khiến người xem lầm tưởng là

Trang 40

những hiện tượng thiên nhiên bình thường Chưa quan tâm nhiều tới hậu quả của BĐKH đến đời sống văn hóa, xã hội mà chỉ tập trung đưa tin về hậu quả kinh tế, thể chất của con người…

+ “Báo chí đưa tin về BĐKH” là chủ đề thứ 3, do Dương Thị Thu Hương báo

cáo kết quả trên cơ sở phân tích định tính 181 tin, bài đăng từ tháng 8/2011 đến tháng 7/2012 của 03 tờ báo in (Nhân Dân (hàng ngày), Tuổi Trẻ, Tạp chí Môi trường) và báo mạng (Vnexpress, Vfej) Kết quả cho thấy báo in và báo mạng quan tâm thông tin về biểu hiện, hậu quả, giải pháp nhiều hơn là nguyên nhân của BĐKH; ít truyền tải cho người dân những thông tin về việc xử lý thực tế, phòng tránh, khắc phục thảm họa ra sao Các công trình nghiên cứu trên giúp luận án tiếp cận, hiểu và nắm rõ hơn các kiến thức lý thuyết và thực tiễn sáng tạo thông điệp về BĐKH trên các loại hình báo chí ở Việt Nam

Ngoài hai tài liệu trên, có thể kể đến một số đề tài nghiên cứu, bài báo khoa học

và tham luận trình bày trong các hội thảo khoa học liên quan đến chủ đề báo chí - truyền thông về BĐKH, như:

“Chiến lược truyền thông BĐKH” [6] là một nội dung trong Dự án “Tăng cường năng lực ứng phó với BĐKH ở Việt Nam, nhằm giảm nhẹ tác động và kiểm soát phát thải khí nhà kính”, do UNDP tài trợ, Viện Khí tượng thủy văn và môi trường, Bộ

TN&MT và Bộ NN và PTNT thực hiện tại thành phố Cần Thơ, tỉnh Bình Định và Ninh Thuận Nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng là phần lớn các thông điệp truyền thông

và những bản tin/phóng sự/bài viết liên quan đến BĐKH ở Việt Nam đều tập trung mô

tả những khía cạnh tiêu cực như tác động và tính dễ bị tổn thương, bế tắc của các quá trình đàm phán quốc tế v.v… thay vì đưa ra những minh họa chi tiết, những câu chuyện, kinh nghiệm và giải pháp mang tính tích cực về BĐKH

Đề tài nghiên cứu “Nhận thức, nhu cầu thông tin về BĐKH của đội ngũ làm

công tác truyền thông hiện nay” là một nghiên cứu khác của Phạm Thị Hương Trà (HV

BC&TT), công bố tháng 9/2014 Tác giả khảo sát để có câu trả lời cho những vấn đề: Những người làm công tác truyền thông hiện nay có nhận thức như thế nào về BĐKH?

Họ có những nhu cầu gì về thông tin liên quan tới BĐKH? Mong muốn gì được cung cấp những kiến thức gì về BĐKH? Nội dung đề tài giúp tác giả luận án có thêm nguồn

tư liệu thực tiễn để vận dụng trong quá trình luận giải, phân tích nguyên nhân thành công và hạn chế của thông điệp BĐKH

Ngày đăng: 01/11/2022, 00:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lưu Văn An (2008), Truyền thông đại chúng trong tổ chức hệ thống quyền lực ở các nước tư bản phát triển, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng trong tổ chức hệ thống quyền lực ở các nước tư bản phát triển
Tác giả: Lưu Văn An
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2008
4. C. B (1954), Cần phải xem báo Đảng, Báo Nhân dân số 197 ngày 24-6-1954 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần phải xem báo Đảng
Tác giả: C. B
Năm: 1954
6. Ban Chỉ đạo Dự án CBCC (2010), Chiến lược truyền thông biến đổi khí hậu, Hà Nội. http://www.climatechange.hochiminhcity.gov.vn/hethongvanban/Lists/ TaiLieuBienDoiKH/Attachments/20/chien-luoc-truyen-thong-du-an-cbcc.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược truyền thông biến đổi khí hậu
Tác giả: Ban Chỉ đạo Dự án CBCC
Năm: 2010
7. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa - Thông tin và Hội Nhà báo Việt Nam (2012) “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TW của Bộ Chính trị khóa VIII về đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản”. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TW của Bộ Chính trị khóa VIII về đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
8. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2010), Dự án “Nâng cao năng lực thể chế về quản lý rủi ro thiên tai tại Việt Nam, đặc biệt là các rủi ro liên quan đến BĐKH”. Báo cáo tổng kết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án “Nâng cao năng lực thể chế về quản lý rủi ro thiên tai tại Việt Nam, đặc biệt là các rủi ro liên quan đến BĐKH
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2010
11. Bộ Tài nguyên và môi trường (2016), Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam. NXB Tài nguyên môi trường và Bản đồ Việt Nam.Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Nhà XB: NXB Tài nguyên môi trường và Bản đồ Việt Nam. Hà Nội
Năm: 2016
12. Bộ Tài nguyên và môi trường (2020), Phòng, chống giảm thiểu hiện tượng sạt lở bờ biển http://www.monre.gov.vn/Pages/phong-chong,-giam-thieu-hien-tuong-sat-lo-bo-bien.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng, chống giảm thiểu hiện tượng sạt lở bờ biển
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Năm: 2020
16. Đinh Hữu Dư (2015), Truyền thông đại chúng với biến đổi khí hậu, Kỷ yếu Hội nghị môi trường toàn quốc lần thứ IV, Bộ TN&MT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng với biến đổi khí hậu
Tác giả: Đinh Hữu Dư
Năm: 2015
17. Nguyễn Văn Dững (2007), Cơ chế tác động của báo chí, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế tác động của báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Năm: 2007
18. Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở lý luận báo chí, NXB. Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB. Lao động
Năm: 2012
19. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên) và Đỗ Thị Thu Hằng (2012); Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
20. Nguyễn Văn Dững (chủ biên) (2017), Báo chí những điểm nhìn từ thực tiễn (tập 3), NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những điểm nhìn từ thực tiễn (tập 3)
Tác giả: Nguyễn Văn Dững (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2017
22. Nguyễn Văn Dững (2017), Báo chí giám sát, phản biện xã hội ở Việt Nam; NXB Đại học Quốc gia hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí giám sát, phản biện xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia hà Nội
Năm: 2017
23. Nguyễn Văn Dững (2016), Môi trường truyền thông số và vấn đề xây dựng “báo chí kết nối”, Tham luận tại Hội thảo khoa học do Hội truyền thông Châu Âu, ĐH Vienner (CH Áo) và Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp tổ chức, tháng 6/2016 tại ĐH Vienner Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường truyền thông số và vấn đề xây dựng "“báo chí kết nối”
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Năm: 2016
24. Nguyễn Văn Dững, (2016), Hướng đi nào cho báo chí trong môi trường truyền thông số (Nhìn từ trường hợp báo chí Việt Nam) tạp chí Lý luận Chính trị;số 6 năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng đi nào cho báo chí trong môi trường truyền thông số (Nhìn từ trường hợp báo chí Việt Nam)
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Năm: 2016
25. Nguyễn Văn Dững (2017), Tìm kiếm mô hình truyền thông chính sách công cho Việt Nam, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 6/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm kiếm mô hình truyền thông chính sách công cho Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Năm: 2017
26. Nguyễn Văn Dững và Hồ Thị Thanh Bạch (2021), Quản lý thông tin trên mạng xã hội trong bối cảnh bùng nổ thông tin, tr.19-32. NXB Chính trị Quốc gia Sự Thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý thông tin trên mạng xã hội trong bối cảnh bùng nổ thông tin
Tác giả: Nguyễn Văn Dững và Hồ Thị Thanh Bạch
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Sự Thật
Năm: 2021
2. Nguyễn Việt Anh, Đỗ Minh Hùng (2019), Phát triển đội ngũ cộng tác viên phát hành, bạn đọc các tạp chí của Đảng - nhiệm vụ cấp thiết và lâu dài, http://tuyengiao.vn/nghien-cuu/phat-trien-doi-ngu-cong-tac-vien-phat-hanh-ban-doc-cac-tap-chi-cua-dang-nhiem-vu-cap-thiet-va-lau-dai-122532 Link
3. Ngọc Ánh (2019), Báo động tình trạng đa dạng sinh học Việt Nam vẫn trên đà suy giảm và suy thoái https://moitruong.net.vn/bao-dong-tinh-trang-da-dang-sinh-hoc-viet-nam-van-tren-da-suy-giam-va-suy-thoai/ Link
32. Trung Đức (2018), Khí hậu và sức khỏe con người: Thông điệp từ Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu toàn cầu, http://www.greenidvietnam.org.vn/khi-hau-va-suc-khoe-con-nguoi-thong-diep-tu-uy-ban-lien-chinh-phu-ve-bien-doi-khi-hau-toan-cau.html Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w