Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì vấn đề vềquản lý nhà nước về bình đẳng giới còn nhiều mặt vẫn chưa được thực hiện tốtnhư: Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ HỒNG NHO
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số : 60 34 04 03
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Vũ Trọng Hách
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, giảng viên và cán bộ, công chức Học việnHành chính, lãnh đạo, đồng nghiệp các cơ quan thuộc tỉnh Kiên Giang đã tạo điềukiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt tôi xin gửi lời biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS, TS Vũ Trọng Hách đãdành thời gian quan tâm, định hướng và góp ý cho tôi trong quá trình thực hiện luậnvăn
Mặc dù bản thân có nhiều cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếusót, rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn học viên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệuđược sử dụng trong Luận văn này là trung thực, khách quan Dựa trên cơ sở kết quảthu thập thông tin, tài liệu thực tế, các tài liệu đã được công bố
NG I VI T C M ĐO N
Lê Thị Hồng Nho
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài luận văn 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6
6 nghĩaÝ lý luận và thực tiễn của luận văn 6
7 Kết cấu của luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI 8
1.1.Những khái niệm cơ bản 8
1.1.1 Khái niệm giới 8
1.1.2 Bình đẳng giới 9
1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước về bình đẳng giới 12
1.1.4 Đặc điểm quản lý nhà nước bình đẳng giới 14
1.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về bình đẳng giới 15
1.2.1 Nhà nước định hướng hoạt động bình đẳng giới 15
1.2.2 Nhà nước hỗ trợ đảm bảo bình đẳng giới 16
1.2.3 Nhà nước can thiệp đảm bảo bình đẳng giới 19
1.3 Nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới 19
1.4 Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về bình đẳng giới 24
1.4.1 Yếu tố chính trị 24
1.4.2 Yếu tố kinh tế 26
1.4.3 Yếu tố pháp lý 27
1.4.4 Phong tục tập quán 30
Trang 61.4.5 nhậpHội quốc tế 32
1.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về bình đẳng giới ở một số địa phương 34
Tiểu kết chương 1 38
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG 39
2.1 Khái quát chung những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 39
2.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội tỉnh Kiên Giang 39
2.1.2 Thực trạng bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 40
2.1.2.1 Trong lĩnh vực chính trị 40
2.1.2.2 Trong lĩnh vực lao động việc làm 41
2.1.2.3 Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ 44
2.1.2.4 Trong lĩnh vực y tế 45
2.1.2.5 Bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình 46
2.2 Thực trạng quản lý nhà nước Bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 47
2.2.1 Ban hành văn bản về tổ chức thực hiện pháp luật bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 47
2.2.2 Tổ chức bộ máy và sắp xếp nguồn nhân lực thực hiện bình đẳng giới của tỉnh 51
2.2.3 Tổ chức triển khai, phổ biến các văn bản pháp luật về bình đẳng giới 55
2.2.4 Thanh tra, kiểm tra giải quyết khiếu nại tố cáo 59
2.2.5 Về công tác thống kê, thông tin, báo cáo kết quả tổ
Trang 7chức thực hiện công tác bình đẳng giới 62
2.2.6 Công tác phối hợp các ngành, các cấp thực hiện bình đẳng giới 64
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới tại tỉnh Kiên Giang 67
2.3.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 67
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 70
Tiểu kết chương 2 74
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG GIAI ĐOẠN 2018 – 2025 75
3.1 Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 75
3.1.1 Bình đẳng giới phát triển kinh tế - xã hội 75
3.1.2 lý vi phạmXử bình đẳng giới 78
3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 80
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật và ban hành văn bản chỉ đạo thực hiện 80
3.2.2 Hoàn thiện tổ chức bộ máy và tăng cường nguồn lực cho quản lý nhà nước về bình đẳng giới 83
3.2.3 Tăng cường tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về bình đẳng giới 88
3.2.4 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra 91
3.2.5 Xây dựng quy chế phối hợp trong hoạt động bình đẳng giới 93
Trang 83.2.6 Đầu tư kinh phí đảm bảo cho hoạt động bình đẳng giới 94
Tiểu kết chương 3 96
K T LUẬN 97
D NH MỤC TÀI LIỆU TH M KHẢO 99
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Bình đẳng giới chính là bình đẳng nam nữ và là một trong những vấn đề cơ bản củaquyền con người, xã hội ngày càng phát triển và văn minh thì bình đẳng giới càngđược chú trọng và thể hiện ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đang trở thành mốiquan tâm chung của hầu hết mọi quốc gia trên thế giới, vì bình đẳng giới là mục tiêuphát triển, là yếu tố nâng cao khả năng tăng trưởng của quốc gia, góp phần quản lýnhà nước hiệu quả Xây dựng xã hội bình đẳng giới là một phần quan trọng trongchiến lược phát triển đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo công bằng xãhội
Trong những năm tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giảiphóng miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những giải pháp, chính sách cụ thể đểtừng bước đưa phụ nữ tham gia vào những hoạt động chính trị, văn hóa, kinh tế xãhội; thực hiện bằng được giải phóng phụ nữ một cách triệt để Nhằm đưa vị thế củangười phụ nữ Việt Nam ngang bằng với nam giới trong xã hội Người cho rằng giữanam và nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội đều có quyền bình đẳng giới nhưnhau, không được trọng nam và coi thường phụ nữ Từ quan điểm tư tưởng đó,Người đã xem công việc giải phóng phụ nữ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cáchmạng nước ta
Phát huy những giá trị tư tưởng của Bác, trong văn kiện qua các kỳ đại hội Đảngđều nhất quán quan điểm về bình đảng giới Đặc biệt trong văn kiện Đại hội đại biểulần thứ XII của Đảng chỉ rõ: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinhthần của phụ nữ Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện các luật pháp, chính sách đối vớilao động nữ, tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của mình; tăng tỉ lệ phụ
nữ tham gia vào cấp ủy và bộ máy quản lý nhà nước Kiên quyết đấu tranh chốngcác tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực,
Trang 10buôn bán, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ” và quyền bình đẳng giới cũngđược Hiến pháp 2013 quy định “công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước
có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới”
Tuy nhiên, trên thực tế, vấn đề phân biệt đối xử với phụ nữ, bất bình đẳng giới vẫncòn diễn ra trong nhiều lĩnh vực, là rào cản lớn đối với phụ nữ, kìm hãm sự pháttriển của họ trên nhiều lĩnh vực đời sống Phần lớn phụ nữ vẫn còn chịu nhiều thiệtthòi cả trong gia đình và xã hội, khoảng cách về giới giữa nam và nữ vẫn chưa xóađược… do tàn dư của thời phong kiến đã ăn sâu trong tiềm thức của người Việt, nhậnthấy được ảnh hưởng của bình đẳng giới nên trong những năm gần đây Đảng, Nhànước tăng cường sự quan tâm trong công tác lãnh đạo, quản lý về bình đẳng giới và đãđạt được một số kết quả tích cực Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì vấn đề vềquản lý nhà nước về bình đẳng giới còn nhiều mặt vẫn chưa được thực hiện tốtnhư: Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này chưa có sự đồngbộ; thiếu cán bộ chuyên trách, cán bộ thiếu kiêm nhiệm; kinh phí chưa đáp ứng yêucầu, những quy định về nội dung lẫn chế tài chưa đủ mạnh để đảm bảo bình đẳnggiới, nhiều cơ quan, đơn vị hay trong cộng đồng dân cư vấn đề bình đẳng giới chưađược hiểu và thực hiện đúng quan điểm của Đảng; việc ban hành và tổ chức thực hiệnchính sách, chương trình, kế hoạch về bình đẳng giới của địa phương và cụ thể hoáchiến lược, chính sách, mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới có thực hiện nhưng vẫnhiệu quả chưa cao; việc tổ chức nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học trong lĩnhvực giới và bình đẳng giới còn ít
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này là rất cần thiết nhằm đưa ra những quan điểm, giảipháp góp phần thực hiện bình đẳng giới, khắc phục những bất cập và tồn tại trong việc
“Quản lý nhà nước về bình đẳng giới” trong thời gian tới, với lý do đó học viên chọn
đề tài Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên
Trang 11địa bàn tỉnh Kiên Giang để làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý công, mã số
60 34 04 03
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Bình đẳng giới là một trong những nội dung quan trọng nhất của mục tiêu tiến bộ,công bằng xã hội Bởi đây không chỉ là vấn đề nhận được sự quan tâm chung củacộng đồng thế giới mà còn xuất phát từ đặc điểm Việt Nam là một nước Châu Á,những hậu quả nặng nề của “trọng nam khinh nữ” của chế độ phong kiến vẫn còn ảnhhưởng nhiều trong xã hội
Ngày nay, phụ nữ chiếm hơn một nữa dân số cả nước, đang ngày càng khẳng định vịtrí, vai trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậybình đẳng giới là vấn đề càng có ý nghĩa quan trọng khi nước ta đang bước vào giaiđoạn của tiến trình đổi mới, khi chúng ta thực hiện giao lưu, hợp tác quốc tế trên nhiềulĩnh vực, đặc biệt là việc quản lý nhà nước về bình đẳng giới cũng cần nghiên cứu vàvận dụng việc quản lý của nền hành chính các nước thực hiện quy trình quản lý hiệuquả Vì vậy, việc nghiên cứu về bình đẳng giới tiếp tục là đề tài được nhiều ngườiquan tâm nghiên cứu nhằm khẳng định địa vị của người phụ nữ và tạo cơ hội cho phụ
nữ đóng góp cho sự nghiệp đổi mới đất nước Nhiều công trình, đề tài được công bố làmột trong những cơ sở giúp cho việc hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới.Một số công trình, đề tài nghiên cứu tiêu biểu là: Lê Ngọc Hùng: “Xã hội học về giới
và phát triển”, Nxb Quốc gia Hà Nội, năm 2000; Lương Phan Cừ: “Bình đẳng giới hiện trạng chính sách và pháp luật về bình đẳng giới”, xuất bản năm 2004; TS Đỗ ThịThạch “Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa”, Nxb Chính trị quốc gia năm 2005; TS Hoàng Mai “Bình đẳng giớitrong quản lý cán bộ công chức” đề cập việc đánh giá bình đẳng giới trong quản lýcán bộ công chức ở Việt Nam; Ths
Trang 12-Nguyễn Thị Nguyệt, đề tài “Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động ở ViệtNam và một số gợi ý giải pháp chính sách” tập trung nghiên cứu các vấn đề sau: Xuhướng của bất bình đẳng trong thu nhập hiện nay; Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độbất bình đẳng trong thu nhập đồng thời phân tích các chỉ tiêu theo trình độ văn hóa,trình độ chuyên môn, vùng, ngành kinh tế để đưa ra được gợi ý giải pháp phù hợp;Nguyễn Thị Hồng Linh, đề tài “Quản lý nhà nước về bình đẳng giới – thực trạng tạithành phố Cần Thơ” nghiên cứu thực trạng việc quản lý nhà nước về bình đẳng giớitại thành phố Cần Thơ và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước vềbình đẳng giới trên địa bàn thành phố; Luận văn Thạc sĩ Quản lý nhà nước: Vai trò củaHội Liên hiệp phụ nữ đối với việc tăng cường sự tham gia quản lý nhà nước của phụ
nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tác giả Nguyễn Thị Liên.Luận văn phân tích làm sáng tỏ vị thế, vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong quản
lý nhà nước; chỉ ra những mặt mạnh hà hạn chế của phụ nữ trong quản lý nhà nước,phân tích nguyên nhân, qua đó đưa ra những giải pháp nhằm phát huy vai trò của HộiLiên hiệp phụ nữ Việt Nam trong thúc đẩy phụ nữ tham gia quản lý nhà nước trongthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Báo cáo phát triển giới năm
2012, chuyên đề bình đẳng giới và phát triển của Ngân hàng Thế giới: đánh giá tầmquan trọng của bình đẳng giới đối với sự phát triển, những khu vực trên thế giới tiến
bộ nhất và chậm tiến bộ nhất về bình đẳng giới
Các công trình nghiên cứu và các bài viết trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh của vấn
đề Tuy nhiên các công trình này chủ yếu tập trung vào vấn đề bình đẳng giới ởmột số lĩnh vực như: lĩnh vực chính trị, lao động việc làm; lĩnh vực gia đình đốitượng nghiên cứu phần lớn các công trình này là các mục tiêu của bình đẳng giới vàvai trò của phụ nữ trong quản lý nhà nước Đặc biệt chưa có công trình nghiên cứu vềvấn đề bình đẳng giới ở tỉnh Kiên Giang Dựa trên
Trang 13cơ sở nền tảng lý luận có sự tham khảo tiếp thu, phát triển và nghiên cứu áp dụng vào thực tiễn quản lý nhà nước về bình đẳng giới tại tỉnh Kiên Giang.
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn quản lý nhà nước về bình đẳng giới để phântích, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới của tỉnh KiênGiang, góp phần đề xuất một hệ thống giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bìnhđẳng giới trên địa bàn tỉnh
Nhiệm vụ
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về bình đẳng giới
+ Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới; nhận xétđánh giá những thành tựu, những hạn chế trong quản lý nhà nước về bình đẳng giớitrên địa bàn tỉnh Kiên Giang 2011 – 2016
+ Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giớitrên địa bàn tỉnh Kiên Giang
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch
sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối
Trang 14chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà Nước về giới và bình đẳng giới.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: nghiên cứu các báo cáo, tàiliệu, số liệu của các cơ quan quản lý, cơ quan Đảng và tổ chức chính trị - xã hội
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề về giới, lý luậnquản lý nhà nước về bình đẳng giới Phân tích đánh giá thực trạng quản lý nhà nước
về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, chỉ ra những kết quả đạt được vànguyên nhân hạn chế
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đánh giá thực tiễn quản lý nhà nước, phân tích những kếtquả và yếu kém, đưa ra những giải pháp thiết thực từ góc độ quản lý trực tiếp côngtác bình đẳng giới tại địa phương Các giải pháp của luận văn sẽ góp phần tích cựcvào việc nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địabàn tỉnh Kiên Giang Kết quả nghiên cứu của luận
Trang 15văn cũng là tài liệu của những người quan tâm đến hoạt động bình đẳng giới kham khảo, nghiên cứu và học tập.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu kham khảo nội dung của luận văn được chia thành ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về bình đẳng giới
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm giới
- Giới đề cập đến những khác biệt và mối quan hệ xã hội giữa phụ nữ vànam giới Nói cách khác, giới đề cập đến các quan niệm, thái độ, hành vi, mốiquan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bốicảnh xã hội cụ thể, do học hỏi mà có và có thể thay đổi theo thời gian Có rấtnhiều quan niệm về giới khác biệt giữa các nền văn hóa và các khu vực khácnhau, ví dụ: có quan niệm xã hội cho rằng con trai không được khóc, khôngđược chơi búp bê, con gái không được leo trèo; hay nam giới phải làm trụ cộttrong gia đình, phụ nữ thì phải tề gia nội trợ; chăm sóc con cái…
Theo Luật Bình đẳng giới năm 2006 thì “giới chỉ đặc điểm vị trí, vai trò của nam và
nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” [36, tr.1]; còn “giới tính chỉ các đặc điểm sinhhọc của nam và nữ” [36, tr.1]
- Giới tính là chỉ sự khác biệt phổ biến về mặt sinh học giữa nam giới vàphụ nữ Đó là những đặc điểm riêng và có được hình thành tự nhiên từ khi conngười sinh ra và rất khó thay đổi, ví dụ: nữ ở mọi nơi trên thế giới, ở thành thịhay nông thôn đều giống nhau ở chức năng mang thai, sinh con và chỉ có họmới có khả năng sinh con và mang thai, ngược lại chỉ có nam giới mới có khảnăng tạo ra tinh trùng
Cần phân biệt sự khác nhau giữa “giới” và “giới tính” Giới tính đề cập đến những đặctrưng khác nhau giữa nam giới và phụ nữ về mặt y - sinh học và chức năng tái sảnxuất nòi giống Trong khi đó giới là chỉ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trongquan hệ xã hội Bởi thế, chúng ta chỉ có thể nói “bình đẳng
Trang 17giới” chứ không có “bình đẳng giới tính” Vì giới là những vai trò, vị trí mà xã hộiquy định nên có thể đòi hỏi bình đẳng, còn giới tính là do tự nhiên sinh ra, không thểthay đổi theo không gian và thời gian nên không thể đòi hỏi hay đấu tranh để nam giới
có cấu tạo giống như nữ hay ngược lại, nữ phải có cấu tạo giống nam
Theo nhận thức học viên, giới là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xãhội giữa nam giới và phụ nữ Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, chophụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau Giới còn là thuật ngữ để chỉ vai trò
xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ Là mộtphạm trù xã hội, giới cũng giống như chủng tộc, tộc người và phân tầng xã hội, trongmột mức độ lớn, sẽ quyết định cơ hội cuộc sống của con người
Khái niệm về giới không chỉ đề cập đến nam và nữ mà cả mối quan hệ giữa nam và
nữ Trong mối quan hệ ấy có sự phân biệt về vai trò, trách nhiệm, hành vi, hoặc sựmong đợi mà xã hội đã quy định cho mỗi giới Những quy định/mong đợi xã hội nàyphù hợp với các đặc điểm này phù hợp với với các đặc điểm văn hóa, chính trị, kinh
tế, xã hội và tôn giáo; vì thế nó luôn biến đổi theo các giai đoạn lịch sử và có khác biệtgiữa các cộng đồng xã hội
1.1.2 Bình đẳng giới
Bình đẳng giới có nghĩa là những ứng xử, những khát vọng và những nhu cầu khácnhau của phụ nữ và nam giới đều được cân nhắc đánh giá và ủng hộ như nhau Bìnhđẳng giới không có nghĩa nữ giới và nam giới trở thành như nhau, nhưng các quyền,trách nhiệm và các cơ hội của họ không phụ thuộc họ sinh là nam giới hay nữ giới.Theo Luật bình đẳng giới, “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngangnhau, được tạo điều kiện cơ hội phát huy năng
Trang 18lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau vềthành quả của sự phát triển đó” [36, tr.1].
Bình đẳng giới bao hàm bình đẳng về quyền, bình đẳng về cơ hội tiếp cận và kiểmsoát nguồn lực, bình đẳng về thụ hưởng những thành quả và lợi ích, bình đẳng giớikhông đơn thuần là nam giới làm việc gì thì nữ giới cũng phải làm như nam giới vàngược lại Bình đẳng giới luôn xét đến khía cạnh khác biệt về mặt sinh học giữa nam
và nữ, tôn trọng sự khác biệt này chính là tạo cơ hội, điều kiện thực hiện bình đẳnggiới
Để đạt được mục tiêu bình đẳng giới cần đảm bảo các yếu tố sau:
Thứ nhất, nam giới và nữ giới phải có vị trí vai trò như nhau trong gia đình và ngoài
xã hội Điều đó có nghĩa là cả hai giới đều có điều kiện và cơ hội như nhau để pháthuy năng lực, không đặt nam và nữ vào những công việc như nhau là thể hiện bìnhđẳng giới
Thứ hai, nam giới và nữ giới có điều kiện và cơ hội như nhau để phát huy năng lựccủa mình cho sự phát triển của cộng đồng và gia đình Nam hay nữ đều được tạođiều kiện và cung cấp cơ hội để phát huy năng lực bản thân, nhưng phát huy nhưthế nào, phát huy đến đâu là tùy vào năng lực của mỗi người, không nhất thiết namgiới làm lãnh đạo thì nữ giới cũng phải làm lãnh đạo tương đương
Thứ ba, nam và nữ được thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển của cộngđồng và gia đình
Bình đẳng giới thật sự có ý nghĩa khi nó mang lại cơ hội như nhau cho mọi người lựachọn và thể hiện năng lực của mình đúng như họ mong muốn Bình đẳng giới không
có nghĩa nam giới và nữ giới phải trở thành như nhau, nhưng các quyền, trách nhiệm
và các cơ hội của họ sẽ không phụ thuộc họ sinh ra là nam giới hay phụ nữ, ví dụ: BộLuật lao động quy định “Mọi người đều có
Trang 19quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độnghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử” [39, tr.2] về giới tính.
- Định kiến giới: khác biệt giới là do con người tạo nên Mỗi xã hội, conngười có những suy nghĩ, quan niệm và những mong đợi khác nhau đối với phụ
nữ và nam giới Những suy nghĩ, quan niệm và mong đợi này thường thiên lệch,
cố hữu, lặp đi lặp lại nhiều lần và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khácqua quá trình xã hội hóa mà hình thành, nó là định kiến giới Nó còn là suy nghĩcủa xã hội về loại hoạt động hoặc các đặc điểm được gán cho là của phụ nữ haynam giới
Theo Luật bình đẳng giới “định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiênlệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam và nữ” [36, tr.1], và
“phân biệt đối xử là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vaitrò, vị trí của nam và nữ, gây mất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đờisống xã hội và gia đình” [36, tr.2] Bình đẳng giới không chấp nhận định kiến giới,phân biệt đối xử về giới trên mọi hình thức Bình đẳng giới là mục tiêu nhằm xóa bỏ
sự phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam giới và nữ giới trong pháttriển kinh tế- xã hội và phát triển nguồn lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữanam và nữ, thiết lập, củng cố quan hệ hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa nam và nữ trongmọi lĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội
Công bằng giới chỉ sự bình đẳng của kết quả đầu ra, có nghĩa là nam giới và nữ giớiđều có những cơ hội công bằng không chỉ trong xuất phát điểm mà còn trong kết quả.Công bằng giới là sự đối xử công bằng cho cả hai giới, có xem xét đến những nhu cầukhác nhau của nam giới và nữ giới, những rào cản văn hóa, những quan niệm phânbiệt đối xử trong quá khứ của từng nhóm đối tượng nhất định
Trang 20- Lồng ghép giới: Theo Hội đồng kinh tế và xã hội của Liên hiệp quốcđưa ra năm 1997, “lồng ghép giới là một chiến lược làm cho các mối quan tâm
và kinh nghiệm của phụ nữ cũng như nam giới, là một phần không thể tách rờitrong thiết kế, thực hiện, giám sát và đánh giá các chính sách, chương trìnhtrong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội, làm cho phụ nữ và nam giới
có thể hưởng lợi như nhau và bất bình đẳng không tồn tại lâu dài” [28,tr.2] Nhưvậy lồng ghép giới là cách thức đưa quan điểm bình đẳng giới vào mọi thiếtchế, chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển của xã hội và cộng đồngnhằm làm cho các chính sách, chương trình, kế hoạch đáp ứng nhu cầu giới,đem lại lợi ích cho cả phụ nữ và nam giới
Lồng ghép giới được xem là công cụ để quản lý nhà nước tốt vì phương pháp này đảmbảo thực hiện quản lý nhà nước đáp ứng mọi nhu cầu và lợi ích của mọi thành viêntrong đời sống xã hội, đảm bảo cơ hội thụ hưởng bình đẳng cho cả nam giới và nữgiới một cách công bằng
1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước về bình đẳng giới
Quản lý: Trên thực tế có rất nhiều khái niệm khác nhau về quản lý, tùy thuộc vào góc
độ nghiên cứu của từng lĩnh vực mà có các khái niệm về quản lý khác nhau Nhìnchung, quản lý là sự kết hợp giữa tri thức và lao động trên phương diện điều hành dựatrên cơ sở nguyên tắc đã được định sẵn nhằm đạt được mục đích, mục tiêu của quảnlý
Quản lý là sự điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào nhữngquy luật hay nguyên tắc tương ứng cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ýmuốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đặt ra từ trước Nó là yếu tố thiếtyếu quan trọng, vì vậy quản lý không thể thiếu trong đời sống xã hội, xã hội càngphát triển cao thì vai trò quản lý càng lớn và nội dung càng phức tạp
Trang 21Vậy quản lý là sự tác động có mục đích đã được đề ra theo đúng ý chí của chủ thểquản lý đối với các đối tượng chịu sự quản lý, theo đúng mong muốn của người quảnlý.
Quản lý nhà nước là một phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của nhà nước, quản
lý nhà nước ra đời với tính chất là hoạt động quản lý xã hội Quản lý nhà nước, hiểutheo nghĩa rộng là được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, đó là hoạt độngchấp hành và điều hành, được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức, được thựchiện trên cơ sở để thi hành pháp luật, được bảo đảm thực hiện bởi hệ thống các cơquan nhà nước (hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hợp được giao nhiệm vụquản lý nhà nước)
Quản lý nhà nước là quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lựcnhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và quan trọng của con người.Điểm khác nhau cơ bản giữa quản lý nhà nước và các hình thức quản lý khác là tínhquyền lực nhà nước gắn với cưỡng chế nhà nước khi cần Từ khi xuất hiện nhà nướcthì việc điều chỉnh các quan hệ xã hội được xem là quan trọng, cần thiết Quản lý nhànước được thực hiện bởi toàn bộ hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nướcnhằm thực hiện chức năng đối ngoại của nhà nước Do đó, quản lý nhà nước làhoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước tiến hành đối với tất
cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằngcách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục
vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hộiphát triển theo một định hướng thống nhất của nhà nước
Quản lý nhà nước về bình đẳng giới là sự tác động của các cơ quan nhà nước có thẩmquyền trong lĩnh vực bình đẳng giới nhằm đạt mục tiêu bình đẳng giới Các cơ quan
có thẩm quyền quản lý nhà nước về bình đẳng giới được quy
Trang 22định trong Luật bình đẳng giới, Nghị định thi hành Luật bình đẳng giới và một số vănbản quy phạm pháp luật khác.
Quản lý nhà nước về bình đẳng giới xác lập sự can thiệp của nhà nước trong lĩnh vựcnày, các vấn đề bình đẳng giới trở thành đối tượng quản lý của nhà nước Thông qua
đó nhà nước thể hiện quan điểm, thái độ, định hướng của mình đối với việc thực hiệnmục tiêu bình đẳng giới
Quản lý nhà nước về bình đẳng giới được thực hiện ở 4 cấp: Trung ương, cấp tỉnh, cấphuyện, cấp xã Mỗi cấp có chức năng, nhiệm vụ nhất định đối với việc thực hiện bìnhđẳng giới, qua đó hình thành hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về bình đẳng giớitrong cả nước
Qua nghiên cứu cho thấy quản lý nhà nước về bình đẳng giới là nhà nước tổ chức xâydựng triển khai thực hiện các chính sách, mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; banhành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, các biện pháp thúc đẩy bìnhđẳng giới, trên cơ sở xây dựng hệ thống tổ chức nguồn nhân lực và đảm bảo nguồnkinh phí hoạt động nhằm mục tiêu xóa bỏ định kiến giới, xây dựng xã hội công bằng,văn minh
1.1.4 Đặc điểm quản lý nhà nước bình đẳng giới
Quản lý nhà nước về bình đẳng giới là một dạng quản lý đặc biệt trên nhiều phươngdiện, các nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới bao gồm nhiều nhiều lĩnh vựcphải thực hiện cả hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước,… so với quản lý nhà nước
về bình đẳng giới về giáo dục hay quản lý nhà nước về y tế là quản lý chuyên ngànhtrên một lĩnh vực, với quản lý nhà nước về bình đẳng giới thì phải thực hiện trênnhiều lĩnh vực của đời sống xã hội
1.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về bình đẳng giới
1.2.1 Nhà nước định hướng hoạt động bình đẳng giới
Trang 23Xã hội ngày càng phát triển và văn minh thì bình đẳng giới càng được chú trọng vàthể hiện ở mọi lĩnh vực của đời sống - xã hội Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước tarất quan tâm thực hiện vấn đề bình đẳng nam nữ Điều này đã được thể hiện trongcác văn kiện của Đảng và pháp luật của nhà nước như: Nghị quyết số 11-NQ/TW của
Bộ Chính trị ngày 27/4/2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hoá đất nước; năm 2006 Nhà nước đã ban hành Luật Bình đẳng giới nhằmđạt mục tiêu xoá bỏ sự phân biệt đối xử về giới Trong hoạt động bình đẳng giới đượcnhà nước định hướng cụ thể bằng các văn bản quy phạm pháp luật như: quyền vànghĩa vụ nam và nữ là như nhau thông qua các hoạt động tuyển dụng, nhân sự, chínhsách; tuổi dự tuyển công chức đối với cả nam và nữ hiện nay là như nhau; quy chế bổnhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm cán bộ, công chức lãnhđạo, tuổi bổ nhiệm lần đầu cho các vị trí lãnh đạo từ cấp trưởng, phó phòng cấp huyện
và tương đương trở lên cho cả nam và nữ đều như nhau Điều kiện, tiêu chuẩn đăng
ký dự tuyển cán bộ, công chức do nhà nước ban hành không cho phép phân biệt giớitính trong tuyển dụng Chính sách tiền lương và các chế độ phụ cấp chi trả khôngphân biệt công chức nam và công chức nữ Trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng, Quychế cử công chức đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài bằng nguồn ngân sách nhà nước
đã quy định tuổi cử đi đào tạo, bồi dưỡng của nam và nữ là bằng nhau Về công tácquy hoạch công chức nữ làm việc trong các cơ quan nhà nước: phụ nữ đã được cáccấp chính quyền tạo điều kiện tham gia các hoạt động xã hội và phát huy tốt vai tròtham gia quản lý nhà nước, phấn đấu bảo đảm có tỷ lệ nữ thích đáng trong các cơquan nhà nước các cấp
Để thực hiện chính sách về bình đẳng giới nhà nước tại điều 7 Luật Bình đẳng giới cóđịnh hướng: Bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội và gia đình; hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam nữ phát huy khả năng, có cơhội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ
Trang 24hưởng thành quả của sự phát triển; Bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con
và nuôi con nhỏ,… ; Áp dụng các biện pháp thích hợp để xóa bỏ các phong tục, tậpquán lạc hậu cản trở thực hiện mục tiêu bình đẳng giới; Khuyến khích cơ quan, tổchức gia đình, cá nhân tham gia hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới; Hỗ trợ hoạt độngbình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điềukiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; hỗ trợ những điều kiện cần thiết để nâng caochỉ số phát triển giới đối với các ngành, lĩnh vực và địa phương mà chỉ số phát triểngiới thấp hơn mức trung bình của cả nước
1.2.2 Nhà nước hỗ trợ đảm bảo bình đẳng giới
Về khuôn khổ pháp lý Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà(năm 1946), quan điểm bình đẳng giới đã được thể hiện bằng nguyên tắc “không phânbiệt giống nòi, gái trai”; và đã quy định: “Tất cả các công dân Việt Nam đều ngangquyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội” (Điều 6) và “Đàn bàngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9) Quan điểm đó tiếp tụcđược kế thừa và phát triển phù hợp với xu thế phát triển của đất nước và thời đại quacác lần sửa đổi Hiến pháp năm 1959, 1980 và đặc biệt, tại Hiến pháp nước Cộng hoà
Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, quan điểm này lại được khẳng định tại Điều63: “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá,
xã hội và gia đình” từ đó, những tư tưởng tiến bộ về bình đẳng giới nói trên đã được
cụ thể hoá bằng các chính sách, pháp luật của Đảng, nhà nước Đặc biệt, trong giaiđoạn đổi mới và hội nhập, công tác xây dựng pháp luật dựa trên nguyên tắc tiếp cận
về quyền và bình đẳng giới được Đảng, Nhà nước, Quốc hội và các cơ quan nhà nướcrất quan tâm Vấn đề bình đẳng giới được thể chế hoá trong hầu hết các văn bản phápluật, đã tạo cơ sở pháp lý, tạo điều kiện và cơ hội trao quyền bình đẳng cho cả nam và
nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, như: Luật Doanh nghiệp,Luật Đầu tư, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã
Trang 25hội, Luật dạy nghề, Luật Giáo dục, Luật Khoa học và công nghệ, Bộ luật Dân sự, Bộluật Hình sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Chăm sóc sức khoẻ nhân dân, LuậtKhiếu nại, tố cáo, Luật Cư trú, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Pháp lệnhcán bộ, công chức,… và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác như các nghị định,quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thông tư hướng dẫn của các Bộ,ngành Bên cạnh đó, để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, Chính phủ đã có nhiềugiải pháp như ban hành các chính sách đặc thù; lồng ghép vào các chiến lược,chương trình mục tiêu quốc gia như: Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảmnghèo, Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, về việc làm, về bảo hộ laođộng, về giáo dục, về dạy nghề, về y tế cộng đồng; nhiều văn bản quy phạm pháp luậtthuộc các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình đã có những quy địnhriêng cho phụ nữ, tạo điều kiện đảm bảo cho viêc thực hiện bình đẳng giới một cáchthực chất; thành lập Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, ban hành Chiến lượcquốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2020 v.v Đặc biệt, ngày 29tháng 11 năm 2006, Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội khoá XI thông qua và cóhiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 Luật Bình đẳng giới tiếp tục thể chếhoá quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước Việt Nam về bình đẳng giới nhằm bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nam và nữ; đồng thời thông qua hệ thống các văn bảnquy phạm pháp luật về bình đẳng giới và các hình thức với hệ thống pháp lý ngàycàng được hoàn thiện phù hợp với đặc điểm, tình hình của đất nước, nhận thức xãhội về bình đẳng giới ngày càng được nâng cao, góp phần đảm bảo sự bình đẳng trongđời sống xã hội cũng như của cộng đồng dân cư
Vấn đề hỗ trợ bình đẳng giới trong chế độ công vụ, công chức cũng được quyđịnh: Công chức nữ nghỉ sinh con theo quy định của pháp luật thì phải được bảo đảmquyền lợi về nâng lương, nâng ngạch, quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng;
Trang 26không được sử dụng công chức nữ có thai từ tháng thứ bảy hoặc đang nuôi con nhỏdưới 12 tháng tuổi làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm; không cản trở việc tuyểndụng, sử dụng, bổ nhiệm nam hoặc nữ vào vị trí lãnh đạo, quản lý hoặc các vị trí, chứcdanh chuyên môn vì định kiến giới; không thực hiện biệt phái hoặc giải quyết thôi việcđối với công chức nữ trong thời gian đang mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36tháng tuổi; đối với độ tuổi nghỉ hưu của công chức nữ nên có chính sách nâng độ tuổinghỉ hưu lên bằng như nam giới đối với một số trường hợp có đủ sức khoẻ, tự nguyện
và là chuyên viên cao cấp, chuyên gia; phó giáo sư, giáo sư, tiến sĩ; một số các chứcdanh lãnh đạo cụ thể ở cấp tỉnh, cấp bộ Khi thực hiện miễn thi ngoại ngữ trong các kỳthi hoặc xét nâng ngạch công chức, viên chức thì cán bộ, công chức nữ được giảm 5tuổi so với nam giới Điều kiện, tiêu chuẩn đăng ký dự tuyển cán bộ, công chức doNhà nước ban hành không cho phép phân biệt giới tính trong tuyển dụng Cán bộ,công chức nữ được bảo đảm các chính sách dành cho người mẹ và các biện pháp thúcđẩy bình đẳng giới quy định trong pháp luật lao động, pháp luật hình sự, pháp luậtbình đẳng giới và các văn bản pháp luật khác Bên cạnh đó, Nhà nước hỗ trợ nguồntài chính cho hoạt động bình đẳng giới
1.2.3 Nhà nước can thiệp đảm bảo bình đẳng giới
Cùng với việc hỗ trợ đảm bảo bình đẳng giới, Nhà nước can thiệp và xử lý vi phạm,tại chương V, Luật Bình đẳng giới đã quy định về thanh tra, giám sát thực hiện phápluật bình đẳng giới, đồng thời quy định hành vi vi phạm, hình thức xử lý vi phạm phápluật về bình đẳng giới,… và để cụ thể nội dung của Luật, Chính phủ đã ban Nghị định55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính vềbình đẳng giới, nghị định quy định rõ các hành vi vi phạm hành chính về bình đẳnggiới trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động việc làm, giáo dục đào tạo, y tế,…
và quy định mức xử phạt hành chính khi vi phạm
Trang 27Như vậy, Nhà nước đã sử dụng các công cụ, biện pháp thông qua ban hành Luật, quyđịnh pháp luật, chính sách, chương trình, kế hoạch thực hiện bình đẳng giới trongtừng giai đoạn cụ thể và tổ chức thực thi, kiểm tra việc thực thi các văn bản đó: tổchức thực hiện các biện pháp thúc đẩy, xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ công chứchoạt động trong lĩnh vực bình đẳng giới, đầu tư kinh phí, áp dụng các chế tài với các
vi phạm để đảm bảo các quy định để thực hiện các mục tiêu đề ra Như vậy, bình đẳnggiới cần thiết phải có sự quản lý của nhà nước
1.3 Nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới
Theo Luật Bình đẳng giới quy định quản lý nhà nước về bình đẳng giới gồm các nộidung: xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, mục tiêu quốc gia vềbình đẳng giới; ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bìnhđẳng giới; ban hành và tổ chức thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới; tuyêntruyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bình đẳng giới; xây dựng, đào tạo, bồidưỡng đội ngũ cán bộ hoạt động về bình đẳng giới; thanh tra, kiểm tra thực hiện phápluật về bình đẳng giới; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bìnhđẳng giới; thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo về bình đẳng giới và hợp tácquốc tế về bình đẳng giới
Qua đó, cho thấy quản lý nhà nước về bình đẳng giới gồm rất nhiều nội dung Có thểxem xét các nội dung đó dựa trên các phương diện cơ bản sau:
Thứ nhất, hoạch định chính sách chiến lược, ban hành các văn bản quy phạm phápluật về bình đẳng giới Để quản lý nhà nước về bình đẳng giới, trước hết phải có hệthống các văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới Các văn bản này là hànhlang pháp lý, là căn cứ để tổ chức thực hiện việc quản lý nhà nước về bình đẳng giớitheo đúng định hướng và quy định
Trang 28Hệ thống các văn bản quản lý nhà nước về bình đẳng giới bao gồm các văn bản phápluật về vấn đề bình đẳng giới và các văn bản pháp luật có nội dung liên quan nhưLuật Hôn nhân gia đình, Luật Phòng chống bạo lực, Luật Bình đẳng giới, Luật Laođộng,… các văn bản quy phạm pháp luật quy định các biện pháp bảo đảm thực hiệnbình đẳng giới, xử lý vi phạm hành chính về bình đẳng giới, hướng dẫn kinh phí phục
vụ hoạt động bình đẳng giới; các văn bản ban hành có tính định hướng như chiếnlược, quy hoạch, kế hoạch, dự án về hoạt động bình đẳng giới và các văn bản khác cónội dung liên quan đến quản lý nhà nước về bình đẳng giới
Thứ hai, tổ chức thực hiện bình đẳng giới
Tổ chức thực hiện bình đẳng giới là nhiệm vụ cơ bản của bộ máy quản lý nhà nước vềbình đẳng giới Theo Luật Bình đẳng giới thì việc tổ chức thực hiện bình đẳng giớiđược phân công cho Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (LĐ-TBXH), bao gồm cácnội dung như: tổ chức triển khai thực hiện các chiến lược, chính sách, mục tiêu bìnhđẳng giới; tổ chức thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới; chủ trì phối hợpvới các cơ quan nhà nước trong quản lý nhà nước về bình đẳng giới; thanh tra, kiểmtra, xử lý vi phạm pháp luật trên các lĩnh vực có liên quan đến bình đẳng giới, thựchiện công tác thống kê, thông tin báo cáo về bình đẳng giới,…
Thứ ba, tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về bình đẳng giớiCông tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về bình đẳng giới là một trongnhững biện pháp quan trọng nhằm thay đổi nhận thức và hành vi của cộng đồng dân
cư về giới và bình đẳng giới; góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thựchiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới
Công tác tuyên truyền giáo dục các chính sách pháp luật về bình đẳng giới đượcthực hiện thông qua hình thức thông tin, tuyên truyền về giới và các chính sách phápluật về bình đẳng giới như thông qua báo cáo viên, tuyên
Trang 29truyền viên, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, internet, loa truyền thanh
cơ sở, phát hành các ấn phẩm, tài liệu tuyên truyền, thông qua các loại hình văn hóatruyền thống, văn hóa quần chúng, sáng tác văn thơ, nghệ thuật, sinh hoạt cộng đồng,thông qua việc tổ chức thi tìm hiểu pháp luật; qua sinh hoạt của các loại hình câulạc bộ; lồng ghép trong các hoạt động của các tổ chức, cá nhân và gia đình vàthông qua các hình thức thông tin, truyền thông khác
Nội dung tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về bình đẳng giới bao gồmchính sách, pháp luật và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong các lĩnh vực củađời sống xã hội như: chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học vàcông nghệ, văn hóa, thông tin, thể thao, y tế và gia đình
Cơ quan thực hiện tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về bình đẳng giới làcác bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan, tổ chức kháctrong phạm vi chức năng nhiệm vụ quyền hạn được giao, thực hiện tuyên truyền,phổ biến kiến thức về giới và các chính sách pháp luật về bình đẳng giới trong ngành,lĩnh vực hoặc địa phương phụ trách
Thứ tư, tổ chức bộ máy và bố trí nguồn lực hoạt động bình đẳng giới.Đội ngũ cán bộ công chức hoạt động về bình đẳng giới chính là những người trực tiếptiến hành các hoạt động quản lý nhà nước về bình đẳng giới Sự thành công hay thấtbại của một quy định, một chính sách phụ thuộc chặt chẽ vào nhận thức và năng lựccủa những người thực hiện
Cơ cấu tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước vềbình đẳng giới được tổ chức từ trung ương đến địa phương Ở trung ương việc thànhlập Vụ bình đẳng giới thuộc Bộ Lao động Thương binh – xã hội đã đưa nhân sự quản
lý bình đẳng giới ở cấp trung ương thành đội ngũ chuyên nghiệp, chuyên trách hoạtđộng Ở cấp tỉnh, một số địa phương thành
Trang 30lập phòng bình đẳng giới thuộc Sở LĐTB và xã hội cũng đã được chuyên trách hóanhân sự làm công tác này, các tỉnh còn lại chưa thành lập được phòng bình đẳng giớithì nhân sự được bố trí 01 cán bộ phụ trách hoặc kiêm nhiệm nhiều công việc khácnhau Ở cấp huyện và xã thì bố trí cán bộ phụ trách lao động TBXH kiêm nhiệm.
Để đảm bảo số lượng người làm công tác bình đẳng giới, các cơ quan nhà nước phảiđảm bảo chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức này Hiện tại việc tuyểnchọn nhân sự quản lý về bình đẳng giới được thực hiện tương tự như việc tuyển chọnnhân sự làm công tác quản lý công tác khác trong các cơ quan nhà nước, chưa tínhđến đặc thù công việc bình đẳng giới liên quan đến các vấn đề tư tưởng, quan điểm,
và định kiến lâu đời Nếu người làm công tác quản lý về bình đẳng giới không cónhận thức đúng về bình đẳng giới thì dễ dẫn đến hoạt động nhận thức giáo điều khôngthuyết phục được người khác, không đạt được mục tiêu của hoạt động là tiến tới bìnhđẳng giới thực chất Do đó, cùng với việc nhà nước phải ban hành các quy định, đàotạo, bồi dưỡng và nâng cao nhận thức, kỹ năng nghiệp vụ hoạt động cho đội ngũ cán
bộ công chức hoạt động về bình đẳng giới nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra thì cần có chế
độ đãi ngộ, quy định khen thưởng, xử phạt hành vi vi phạm,… nhằm đảm bảo côngtác bình đẳng giới được triển khai nghiêm túc và có hiệu quả
Thứ năm, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới; giải quyếtkhiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới
Thanh tra, kiểm tra thực hiện bình đẳng giới nhằm đảm bảo hoạt động bình đẳng giớiđược thực hiện nghiêm túc, đúng quy định, kịp thời ứng xử với những thành tích vàsai phạm, đồng thời điều chỉnh chính sách phù hợp với đặc điểm tình hình thực tế củađịa phương, đơn vị
Trang 31Việc thanh tra, kiểm tra có thể thực hiện theo ngành dọc, do cơ quan chuyênmôn cấp trên tiến hành với cấp dưới, ví dụ giữa Bộ LĐTBXH với Sở LĐTBXH, hoặc
có thể được thực hiện giữa cơ quan quản lý có thẩm quyền chung với cơ quan chuyênmôn phụ trách các nhiệm vụ có liên quan đến lĩnh vực bình đẳng giới, ví dụ giữa Ủyban Nhân dân cấp tỉnh với Sở LĐTBXH, sở Nội vụ, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch,
… ngoài ra còn có các hoạt động thanh tra hành chính, thanh tra chuyên môn đối vớiviệc chấp hành pháp luật liên quan đến bình đẳng giới
Nội dung thanh tra, kiểm tra bao gồm thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật vềbình đẳng giới; việc thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới;các biện pháp đảm bảo bình đẳng giới; giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý các vi phạmtheo quy định Công tác thanh tra, kiểm tra có thể tiến hành định kỳ hoặc đột xuất,đánh giá thường niên hoặc theo các chuyên đề nhất định
Thứ sáu, hợp tác quốc tế về bình đẳng giớiHội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của người laođộng và quan hệ giữa con người Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường cũng làđộng lực hàng đầu thúc đẩy quá trình hội nhập Hội nhập diễn ra trên nhiều lĩnh vựckhác nhau Hội nhập đã trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh
mẽ đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia Nó là hoạt động quan trọngnhằm tận dụng sự hỗ trợ từ nước ngoài về phương tiện, con người, kinh phí, côngnghệ để hoàn thành tốt công việc
Thực hiện bình đẳng giới là một trong tám mục tiêu của Liên hiệp quốc, là lĩnh vựcđược các tổ chức quốc tế đặc biệt quan tâm, hiện tại Việt Nam nhận được sự tài trợcủa các tổ chức quốc tế như cơ quan Liên hiệp quốc về bình đẳng giới và traoquyền cho phụ nữ, tổ chức lao động quốc tế, tổ chức hòa bình
Trang 32và phát triển Tây Ban Nha, Cao ủy Liên hiệp quốc về người tị nạn, chính phủ Na uy,Chính phủ Hàn quốc,… các tổ chức quốc tế và chính phủ nước ngoài đã hỗ trợ Chínhphủ Việt Nam về tài liệu, công cụ, phương án hoạt động, kinh phí và nhân sự tư vấncho các chương trình, dự án.
1.4 Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về bình đẳng giới
1.4.1 Yếu tố chính trị
Yếu tố chính trị có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả của hoạt động thực hiện phápluật bình đẳng giới như môi trường chính trị - xã hội của đất nước ta trong ổn định,phát triển bền vững chính là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động quản lý nhà nước vàthực hiện pháp luật bình đẳng giới, vì nó củng cố ý thức và niềm tin chính trị của cán
bộ, đảng viên, và quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của đảng, gia tăng lậptrường chính trị - tư tưởng của các cá nhân có thẩm quyền áp dụng pháp luật
Về cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng ảnh hưởng rất quan trọng tớihoạt động thực hiện pháp luật bình đẳng giới Ở nước ta, sự vận hành của hệ thốngpháp luật trên các phương diện xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật luôn đượcđặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Đảng ta nhận thức sâu sắc rằng muốn xây dựng được
bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, vận hành trên cơ sở các nguyên tắc, quyđịnh của pháp luật thì vấn đề thực hiện pháp luật một cách nhất quán, nghiêm minh từphía cán bộ, đảng viên và nhân dân luôn được đặt lên vị trí hàng đầu Muốn cho phápluật được tôn trọng và thực hiện nghiêm túc thì cán bộ đảng viên phải là những người
đi trước, gương mẫu thực hiện và có “năng lực tổ chức và vận động nhân dân thựchiện đường lối của đảng pháp luật của nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân,biết phát huy sức dân” Chính vì vậy, đảng ta luôn quan tâm và chỉ đạo sâu sát đối vớicác mặt hoạt động pháp của luật về bình đẳng giới, đã ban hành nhiều chủ trương,
Trang 33nghị quyết định hướng việc thực hiện công tác bình đẳng giới như: Nghị quyết số: NQ/TW, ngày 12/7/1993 của Bộ chính trị ban hành về “Đổi mới và tăng cường côngtác vận động phụ nữ trong tình hình mới”; Chỉ thị số: 37-CT/TW ngày 16/5/1994 củaBan Bí thư Trung ương Đảng về “Một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hìnhmới” Từ những quan điểm chỉ đạo trên, trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ IX, có nêu: “Thiết thực chăm lo sự bình đẳng về giới, sự tiến bộ của phụ nữ”;Ngày 16/3/2015 Ban Bí thư kết luận về Đề án “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đốivới công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ trong tình hình mới”.
04-Dưới sự lãnh đạo của Đảng, định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật thường xuyênđược thực hiện và Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48- NQ/TW ngày24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đếnnăm 2010, định hướng đến năm 2020, từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thốngpháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiệnthể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; pháp luậtđược hoàn thiện tạo điều kiện thuận lợi quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, trong đó
có quản lý về bình đẳng giới
1.4.2 Yếu tố kinh tế
Kinh tế là hoạt động quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một đất nước Kinhnghiệm thế giới cho thấy rõ tăng cường bình đẳng giới có nghĩa là nâng cao mức độtăng trưởng kinh tế Việc đầu tư cho bình đẳng giới trong lao động việc làm là tạothuận lợi cho tăng trưởng ổn định vì phụ nữ chiếm trên 50% lực lượng lao động ởViệt Nam, nếu không sử dụng hợp lý lực lượng lao động nữ thì thì sẽ ảnh hưởng rấtlớn đến sự phát triển của nền kinh tế; chính vì thế nhằm đạt được mục tiêu bình đẳnggiới trong lĩnh vực lao động việc làm, Điều 13 Luật bình đẳng giới đã quy định nộidung bình đẳng giới trong lĩnh vực
Trang 34lao động bao gồm: Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối
xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội,điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác; Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn,
độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêuchuẩn chức danh” Về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng: theo Bộ luật Lao động 2012
quy định việc tuyển dụng nam, nữ trong các nghề là bình đẳng Về tiền lương và thu
nhập: bảo đảm được tính công bằng không có sự phân biệt đối xử về giới Về chính sách bảo hiểm xã hội và các điều kiện lao động khác: pháp luật không có sự phân biệt
đối xử giữa nam và nữ, theo quy định của pháp luật hiện hành, mọi tổ chức, cá nhân
sử dụng lao động đều phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam, nữ trong tuyển dụng
và sử dụng lao động Nhà nước bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọimặt với nam giới
Bất bình đẳng giới là nguyên nhân làm tăng tỷ lệ nghèo đói, cản trở việc chăm sóc sứckhỏe cho dân cư, hạn chế các cơ hội tăng thu nhập và gây nên một loạt tổn thất kháccho xã hội Bình đẳng giới làm tăng cơ hội học tập, việc làm và phát triển bản thâncho phụ nữ đồng thời làm thay đổi nhận thức cộng đồng xã hội, những tiến bộ nàythường gắn liền với việc giảm mức sinh, tăng cường sức khỏe của trẻ em và phụ nữ,
và vì vậy sẽ tác động tới tăng trưởng kinh tế Bất bình đẳng giới thường được thểhiện rất rõ ở sự khác biệt mức thu nhập giữa nam và nữ: ở các quốc gia như Đức,Phần Lan, nh, Slovakia… có khoảng cách thu nhập nam nữ chênh nhau từ 20% trởlên
Nếu như khoảng cách thu nhập có sự chênh lệch ở mức cao sẽ gây nên sự phí phạmnguồn lực đáng kể cho nền kinh tế và xã hội, cản trở tiềm năng, năng lực đóng gópcủa phụ nữ
1.4.3 Yếu tố pháp lý
Bình đẳng giới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, là nhiệm vụ trọng tâm củachiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Bình đẳng giới
Trang 35vừa là mục tiêu vừa là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xây dựng xã hội ổn định vàđồng thuận, phát triển bền vững đất nước Việt Nam đã đạt được những thành tựu tolớn trên tất cả các mặt của đời sống chính trị, kinh tế - xã hội Sự phát triển của đấtnước đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện hệ thống pháp luật để một mặt có đầy đủ khungpháp lý để điều chỉnh các hoạt động của đời sống xã hội, mặc khác để phù hợp vớiluật pháp quốc tế trong bối cảnh hội nhập Bình đẳng giới là vấn đề khá nhạy cảm,nhiều chủ thể quan tâm, hoàn thiện pháp luật bình đẳng giới giúp cho các chủ thể phápluật đạt được vị trí bình đẳng nhau trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, khắcphục những bất bình đẳng giới trong xã hội từ trước đến nay, hoàn thiện hệ thốngpháp luật nói chung, pháp luật bình đẳng giới nói riêng là một yêu cầu mang tínhthường xuyên và liên tục của Nhà nước nhằm bảo đảm quyền lợi cho các chủ thể nóichung và phụ nữ nói riêng Vì vậy, hoàn thiện pháp luật về quyền bình đẳng giới làmột yếu tố tác động làm cơ sở cho việc thực hiện tốt bình đẳng giới.
Ở nước ta, chủ trương bình đẳng giới được đề ra ngay từ khi Đảng Cộng sản ra đời.Chính sách bình đẳng giới thật sự là sợi chỉ đỏ xuyên suốt của chính sách phụ vận quacác thời kỳ phát triển của Nhà nước ta Quyền bình đẳng giới đã được Hiến định ngay
từ Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta (1946) Vị trí, vai trò của nữ giới được xã hộitôn trọng và pháp luật tạo điều kiện thuận lợi để nữ giới phát triển tài năng và thamgia hoạt động chính trị, hoạt động xã hội
Bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới trong quá trình xây dựng, thực hiện chính sáchpháp luật Pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng của con người, trong đó có quyền bìnhđẳng của phụ nữ Do đó, việc hoàn thiện bộ phận pháp luật này không thể tách rakhỏi việc hoàn thiện hệ thống pháp luật chung Điều này có nghĩa là hoàn thiện bộphận pháp luật về bình đẳng giới cũng phải đặt trong mối quan hệ với hoàn thiệnpháp luật chung và căn cứ vào những đặc điểm riêng của phụ nữ
Trang 36Để các văn bản pháp luật dễ đi vào cuộc sống, Chính phủ và các cơ quan hành chính ởđịa phương tăng cường những nghiên cứu liên quan tới bình đẳng giới nhằm cung cấp
cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật liênquan đến bình đẳng giới Các tổ chức chính trị - xã hội cần mạnh dạn hơn nữa trongquá trình tham gia quản lý nhà nước trong vấn đề bảo đảm quyền bình đẳng giới Vềsửa đổi, bổ sung pháp luật bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế: nam, nữbình đẳng trong tham gia trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sảnxuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin,nguồn vốn, thị trường và nguồn lao động Điều chỉnh Luật doanh nghiệp cho phù hợpvới xu thế chung của đất nước hiện nay
Sửa đổi, bổ sung pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị:Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội; nam,
nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện quy định, quy chế của cơ quan, tổchức; nam, nữ bình đẳng trong tham gia trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng
cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được và được giớithiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổchức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; nam,
nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng
vị trí quản lý, lãnh đạo cơ quan, tổ chức
Sửa đổi, bổ sung pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, laođộng, xã hội, dân sự: Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, đượcđối xử bình đẳng tại nơi làm việc, về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xãhội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác Nam, nữ bình đẳng về tiêuchuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các
Trang 37chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh Nam, nữ bình đẳng về độtuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng Nam, nữ bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghềhọc tập, đào tạo Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách
về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ Nữ cán bộ, công chức, viênchức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới ba mươi sáu tháng tuổiđược hỗ trợ theo quy định của Chính phủ Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận, ứngdụng khoa học và công nghệ Nam, nữ bình đẳng trong việc tham gia các hoạt độngvăn hóa, thông tin, thể dục, thể thao Nam, nữ bình đẳng trong hưởng thụ văn hóa, tiếpcận và sử dụng các nguồn thông tin Phụ nữ nghèo cư trú ở vùng sâu, vùng xa, là đồngbào dân tộc thiểu số, trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, khisinh con đúng chính sách dân số được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ
Hệ thống pháp luật hoàn thiện là điều kiện để thực hiện tốt bình đẳng giới, nếupháp luật không được điều chỉnh, hoàn thiện phù hợp theo từng thời điểm và cònnhiều vấn đề bất cập, chưa chặt chẽ, thì việc bình đẳng giới kém hiệu quả
1.4.4 Phong tục tập quán
Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo, vì vậy định kiến về giớicòn tồn tại trong xã hôi; Phụ nữ là người đảm nhận chính trong các hoạt động nội trợtrong gia đình nhưng lại giữ vai trò thứ yếu trong ra quyết định Chính những vấn đềtrên đã tạo thành rào cản đối với phụ nữ trong việc tiếp cận các cơ hội phát triển
Trong tư tưởng Nho giáo, quan điểm “nam tôn, nữ ty” đã mang lại quyền lực tối caocho người đàn ông trong gia đình, bên cạnh đó, người vợ trong Nho giáo được dạy dỗphải phục tùng người chồng với vai trò chính của họ là chăm lo nội trợ trong gia đình,chăm sóc chồng con, người phụ nữ Nho giáo hoàn hảo
Trang 38phải đạt đủ tứ đức “công, dung, ngôn, hạnh” Tư tưởng đó đã ăn sâu, thấm đẫm từ đờinày qua đời khác của người dân Việt, nó tác động đến tư duy, ý nghĩ và hành động vàđược biểu hiện rõ nét trong ca dao, tục ngữ, trong các sản phẩm truyền thông khác vàđặc biệt là nó còn xuất hiện trong sách giáo khoa của học sinh phổ thông.
Phong tục gia đình của người Việt nói chung theo chế độ phụ quyền, có tục lệ thờcúng tổ tiên, duy trì nòi giống, nên rất coi trọng con trai và vì thế, đề cao vai trò củanam giới Người đàn ông, người chồng được coi là trụ cột trong gia đình, phụ nữ đượcquan niệm là người trông coi việc bếp núc Những yếu tố hình thành nên tư tưởngtrọng nam, xem thường nữ mặc dù đã được khắc phục rất nhiều kể từ khi đất nướcgiành được độc lập, nhưng những dư âm, tàn tích của nó vẫn còn ẩn sâu trong tâm lý,suy nghĩ của một bộ phận người dân, tác động đến việc thực hiện bình đẳng giới
Nếp sống dựa trên quan niệm “tam tòng, tứ đức” đã trở nên quen thuộc, ăn sâu vào
tiềm thức của người phụ nữ Việt Nam trước đây, làm cho người phụ nữ cam phận lệthuộc hoàn toàn vào chồng, không dám quyết định, giải quyết những vấn đề trong giađình Còn người chồng quen với tư tưởng gia trưởng, áp đặt mọi quyết định đối vớingười vợ Phụ nữ được mong đợi là làm việc nhà nhiều hơn, còn nam giới là trụ cộtkinh tế, người kiếm sống nuôi các thành viên gia đình Từ đó đẫn đến những định kiếnnghề nghiệp, trong đó, một số công việc được coi là của nam giới (làm rừng, đánhbắt hải sản, đi làm ăn xa nhà, lãnh đạo cộng đồng…); một số việc được coi là củaphụ nữ (nội trợ, chăm sóc gia đình, sản xuất tại nhà, gần nhà, không tham gia lãnh đạocộng đồng…) Chính ảnh hưởng của quan niệm đó mà hiện nay, phụ nữ nông thôn ViệtNam nói chung, chủ yếu chỉ quen với công việc đồng áng, nội trợ; những công việcđơn giản, thủ công, thu nhập thấp
Trang 39Một trong những hạn chế về giáo dục đối với phụ nữ phải kể đến các định kiến về việcthường xuyên xây dựng hình ảnh nam giới và phụ nữ với vai trò, nghề nghiệp theoquan điểm truyền thống như phụ nữ thường là giáo viên, bác sỹ, nội trợ…; nam giớithường là giám đốc, kỹ sư, phi công… Cách xây dựng hình ảnh như vậy rất ảnhhưởng đến định hướng lựa chọn ngành nghề trong tương lai và sự tách biệt giới trênthị trường lao động là tất yếu.Trong các ngành đào tạo, đại đa số phụ nữ theo học ởcác ngành sư phạm và khoa học xã hội, trong khi đó, nam giới lại chiếm số đông trongcác ngành kỹ thuật Sự cách biệt này là nguyên nhân làm hạn chế khả năng và cơ hộicủa phụ nữ tham gia vào thị trường lao động đang thay đổi trong điều kiện đất nướchội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và tiếp cận với khoa học kỹ thuật và công nghệ.Quan niệm về người chồng là trụ cột trong gia đình đã gây áp lực cho nam giới phải
cố gắng phấn đấu để tìm kiếm việc làm có thu nhập cao, trong khi phụ nữ dễ bị tưtưởng cầu an, chỉ tìm kiếm các công việc nhẹ nhàng, thu nhập thấp để dành thời gianchăm sóc chồng con, dẫn đến sự tự nguyện bị lệ thuộc chi phối bởi đức ông chồng
về mọi mặt Áp lực của định kiến xã hội còn cản trở phụ nữ cầu tiến bộ Vì hầu nhưnhững người phụ nữ có chí tiến thủ, phấn đấu vươn lên trong công tác, học tập, khẳngđịnh được vị thế bình đẳng, đôi khi vượt trội trong gia đình về thu nhập kinh tế và
địa vị xã hội thường bị đánh giá là người phụ nữ có nhiều “tham vọng, hãnh tiến” Từ
những quan niệm trên nó là một trong những rào cản để thực hiện bình đẳng giới
1.4.5 Hội nhập quốc tế
Ở Việt Nam hiện nay, toàn cầu hoá đang tác động đến việc thực hiện bình đẳng giớitrong gia đình và sự tác động này có tính hai mặt Một mặt, quá trình này mang lạinhững lợi ích đáng kể, là điều kiện để thực hiện bình đẳng giới, hệ thống pháp luậtViệt Nam về bình đẳng giới ngày càng được hoàn thiện cùng
Trang 40với những quy định của liên hiệp quốc về quyền bình đẳng giới, học tập kinh nghiệmcác nước tiến bộ, toàn cầu hóa tạo ra nhiều cơ hội mới để các nước xích lại gần nhau,
có điều kiện tìm hiểu giao lưu, kết nối và trao truyền những giá trị văn hoá… bên cạnh
đó, hội nhập là điều kiện để kinh tế gia đình được cải thiện, đời sống được nâng cao;các thành viên được tiếp thu những giá trị mới tiến bộ của xã hội hiện đại; nhận thức
về tình yêu, hôn nhân, tuổi kết hôn của thanh niên và nhất là phụ nữ được nâng cao,làm cho thanh niên có nhiều cơ hội học tập, tìm được việc làm phù hợp, tăng thu nhập
và khẳng định vị thế của mình
Trong bối cảnh xã hội hiện nay, dưới tác động của toàn cầu hóa kinh tế và nhữngchính sách kinh tế mới, chính sách về giới và lồng ghép giới vào các chương trìnhkinh tế - xã hội của địa phương cùng với công tác tuyên truyền về bình đẳng giới đượcquan tâm thì sự phân công lao động trong gia đình đã có chuyển biến tích cưc theohướng tiến bộ và bình đẳng Người phụ nữ không còn bị bó hẹp trong lĩnh vực nội trợ
mà đã vươn lên làm kinh tế, tăng thu nhập cho gia đình và tham gia các hoạt động
xã hội Từ những hoạt động đó, họ thấy được vai trò, giá trị của bản thân và ý thứcđược vị thế và quyền cá nhân của mình Trong gia đình truyền thống trước đây, namgiới thường là người đưa ra những quyết định trọng đại Công cuộc đổi mới đất nước
và hội nhập đã thúc đẩy quá trình dân chủ, bình đẳng trong gia đình cũng như ngoài
xã hội Vị thế của nam giới và nữ giới đều có những biến đổi theo hướng tiến bộ,dân chủ, bình đẳng Xu hướng vợ và chồng cùng nhau bàn bạc và đi đến quyết địnhchung thể hiện rõ nét Toàn cầu hóa đã mang lại nhiều cơ hội cho phụ nữ nâng caonhận thức và họ đã dần khẳng định mình…
Mặt khác, toàn cầu hóa cũng đặt ra những thách thức đối với thực hiện bình đẳng giớitrong gia đình như vấn đề HIV/ IDS; bạo hành gia đình và buôn