1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn một số hình thức tổ chức hoạt động củng cố bài trong giảng dạy chương bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn môn hóa học 10 cơ bản

25 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 2,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong số những biện pháp để đạt được mục đích trên đó là đổi mớihình thức củng cố bài bằng cách tổ chức hoạt động khởi động tích cực như: tròchơi, tạo tình huống có vấn đề.... Việc t

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài

Đổi mới phương pháp dạy học (DH) luôn là nhiệm vụ trọng tâm của ngànhgiáo dục nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh(HS) Một trong số những biện pháp để đạt được mục đích trên đó là đổi mớihình thức củng cố bài bằng cách tổ chức hoạt động khởi động tích cực như: tròchơi, tạo tình huống có vấn đề Tổ chức hoạt động củng cố bài trong dạy vàhọc môn Hóa học, kết hợp với những phương pháp DH khác sẽ có ý nghĩa tíchcực đối với yêu cầu đổi mới hiện nay Việc tổ chức các hoạt động củng cố bàitích cực trong giờ học môn Hóa học ở trung học phổ thông (THPT) sẽ làm thayđổi không khí căng thẳng trong các giờ học, tăng thêm hứng thú cho người học,

HS sẽ chú ý hơn, chủ động hơn trong chuẩn bị, mạnh dạn hơn trong đề xuất ýkiến của mình, phát huy tư duy sáng tạo,… Hứng thú và chủ động trong học tập

là sự khởi đầu tốt cho việc nắm bắt kiến thức, hình thành kĩ năng và phát triểnnhân cách ở HS qua bộ môn Hóa học

Qua nhiều năm DH, được giảng dạy hầu hết các lớp bậc THPT tôi luônmong muốn làm thế nào để HS của mình năng động sáng tạo hơn, hứng thútrong học tập, giờ học bớt căng thẳng, bớt áp lực, làm sao để các em có cảm giác

“mỗi ngày đến trường là một ngày vui”, để rồi thông qua mỗi giờ học Hóa họccác em sẽ nhận được kĩ năng giải quyết một số vấn đề thực tế chứ không chỉ lànhững kiến thức khô khan

Thông qua thực tế giảng dạy, dự giờ học hỏi ở đồng nghiệp cộng với các đợt tậphuấn chuyên môn bản thân tôi mạnh dạn áp dụng tổ chức một số hình thức củng

cố bài trong giờ dạy môn Hóa học trong những năm học gần đây và thấy khôngkhí của mỗi tiết học sôi nổi hẳn lên đến giờ học các em không còn cảm thấycăng thẳng mà rất háo hức mong đợi, HS trong lớp hoạt động tích cực và đồngđều, các em mạnh dạn trình bày ý kiến, nêu thắc mắc,… từ đó các em tự chiếmlĩnh kiến thức và ghi nhớ một cách bền vững hơn do đó mà kết quả học tập cũng

được nâng cao Vì vậy, tôi đã chọn tìm hiểu vấn đề: “Một số hình thức tổ chức hoạt động củng cố bài trong giảng dạy chương Bảng tuần hoàn các nguyên

Trang 2

tố hóa học và định luật tuần hoàn môn hóa học 10 cơ bản” làm đề tài sáng

kiến kinh nghiệm của mình

Phạm vi của đề tài được áp dụng ở chương 2: “Bảng tuần hoàn các nguyên

tố hóa học và định luật tuần hoàn” môn Hóa học lớp 10 cơ bản

1.2 Điểm mới của đề tài

- Thông qua các hoạt động củng cố bài học giúp HS tăng cường khả năngchú ý nắm bắt nội dung bài học phát huy tính năng động của các em; tăng cườngkhả năng thực hành, vận dụng các kiến thức đã học

- Nâng cao hứng thú cho người học, góp phần làm giảm mệt mỏi, căngthẳng trong học tập của HS Phát triển tính độc lập, ham hiểu biết và khả năngsuy luận; giúp tăng cường khả năng giao tiếp giữa giáo viên (GV) và HS, vàgiữa HS với nhau, giúp HS rèn luyện các khả năng ứng xử, giao tiếp

- Là tài liệu tham khảo cho GV và HS trong quá trình dạy và học hóa học ởtrường THPT

Trang 3

2 NỘI DUNG ĐỀ TÀI

2.1 Thực trạng của đề tài

Hiện nay đang xuất hiện một thực trạng HS ngày càng thụ động không chịuphát biểu xây dựng bài Nhiều lần thầy cô giáo đặt câu hỏi, dù chỉ là những câuhỏi trong sách giáo khoa nhưng hỏi đi hỏi lại 2, 3 lượt nhưng các em vẫn ngồi

im thin thít, và chính thầy cô là người phải trả lời câu hỏi do mình đặt ra,những tình huống như vậy thường gây tâm lí ức chế cho thầy cô rất nhiều,thậm chí chán nản, không tha thiết với công việc của mình

Nguyên nhân gây nên hiện tượng HS thụ động trong giờ học Hóa bắtnguồn từ tâm lý chung của HS sợ bị chê cười khi phát biểu sai, chưa tự tin vàonăng lực của mình, ngại ngùng, rụt rè khi đứng lên trả lời trước đám đông nhất;

do các em lười học, không chịu, hoặc rất ít chuẩn bị bài trước ở nhà mà có thóiquen đợi đến lớp chờ thầy cô giảng rồi chép vào vở; chưa hiểu rõ tác dụng củaviệc phát biểu xây dựng bài; do không khí các giờ Hóa trên lớp nhiều tiết còn tẻnhạt, thiếu hấp dẫn

Nếu tình trạng lãnh đạm, thụ động, ít hoặc không phát biểu trong giờ họccủa HS phổ thông nói chung và giờ học Hóa nói riêng kéo dài thì không chỉ ảnhhưởng đến chất lượng dạy và học trong hiện tại mà còn có tác động tiêu cực saunày Điều đó sẽ tạo ra những thế hệ người lao động, đội ngũ trí thức kém năngđộng luôn nhút nhát, e dè, sợ sệt khi phát biểu trước đám đông, thiếu bản lĩnh, tựtin trong giao tiếp, không dám nói lên sự thật, chống lại cái sai trái…

Đa số các tiết học đều sử dụng phương pháp truyền thống, hoạt động củng

cố bài thường gây căng thẳng và nhàm chán

Trước tình hình đó thiết nghĩ để nâng cao chất lượng giảng dạy và học mônHóa học là do nhiều yếu tố quyết định, chi phối: chương trình, sách giáo khoa,giáo án, phương pháp giảng dạy của GV, ý thức, thái độ học tập của học trò.Trong đó, đổi mới phương pháp DH đóng vai trò then chốt Có thể khẳng định,đổi mới phương pháp giảng dạy đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.Người GV dạy Hóa học cần khôi phục động lực học tập, khơi dậy niềm say mê,

Trang 4

tình yêu Hóa học học của HS, phát huy tính năng động, gây hứng thú với HSbằng những giờ dạy thực sự hấp dẫn.

- Mục đích: Giới thiệu vào bài mới hoặc củng cố khắc sâu kiến thức của bàihọc; phát huy tư duy nhanh nhạy, sáng tạo của HS

- Cách chơi: GV giới thiệu qua ô chữ gồm có bao nhiêu hàng ngang, hàngdọc từ chìa khoá nằm ở hàng nào Sau đó GV lần lượt đọc từng câu hỏi gợi ý để

HS xung phong giải ô chữ Nếu bạn nào trả lời đúng thì ghi dòng chữ đó vào ôchữ và sẽ được cộng điểm hoặc tuyên dương còn nếu trả lời sai thì sẽ nhường cơhội cho các bạn còn lại Ai tìm ra được ô từ khóa chính xác và nhanh nhất sẽ làngười chiến thắng

* Trò chơi ghép hình đúng

Trò chơi xếp hình đúng có thể là xếp các mảnh ghép khác nhau thành mộthình hoàn chỉnh, có thể là xếp các hình với những mảnh ghép ghi nội dung cóchung đặc điểm vào một nhóm, một thể loại Để tổ chức trò chơi này, GV cần có

sự chuẩn bị sẵn các mảnh ghép Những mảnh ghép đó có thể là hình ảnh, có thể

là chữ viết thể hiện nội dung

- Mục đích: Rèn luyện sự nhanh nhẹn, khéo léo giúp HS nhớ lại nội dungbài học một cách logic

- Cách chơi: GV treo một số hình ảnh và một số mảnh ghép ghi nội dungliên quan đến bài học lên bảng Tuỳ vào mục đích bài học mà GV cho HS xungphong lên xếp những mảnh ghép thành một hình hoàn chỉnh hoặc xếp nhữngmảnh ghép có ghi nội dung tương ứng với một hình ảnh nào đó theo yêu cầu của

Trang 5

GV, đội nào xếp các mảnh ghép đúng hoàn thành trong thời gian ngắn hơn sẽ làđội chiến thắng.

* Trò chơi trả lời nhanh

Trò chơi này có thể tổ chức dưới dạng các gói câu hỏi

- Mục đích: Giúp HS tích cực huy động trí nhớ, tư duy và khả năng phảnứng nhanh về các nội dung đã được học

- Chuẩn bị: GV chuẩn bị các gói câu hỏi và đáp án cho các đội chơi, thẻđiểm …

- Cách chơi: Chia nhóm Mỗi đội chọn cho mình một gói câu hỏi Cử đạidiện người để lên trả lời câu hỏi Cuối cùng GV tổng kết đội nào có nhiều câutrả lời đúng và số điểm cao nhất thì đó là đội chiến thắng

Như vậy, bằng cách vận dụng những trò chơi đó, tôi thấy bài giảng hấp dẫn

và lôi cuốn HS, HS bị cuốn hút bởi những phương pháp mới được vận dụng linhhoạt, phù hợp với những bài giảng ở trường THPT, lưu ý phải phù hợp bài học,phù hợp với thực tế HS, thực tế ở địa phương

b Sử dụng thí nghiệm (TN) để thiết kế tình huống có vấn đề (THCVĐ)

* Vai trò của TN trong việc xây dựng THCVĐ trong DH hóa học

Trong quá trình DH nói chung, DH hóa học nói riêng, TN giữ vai trò rấtquan trọng như một bộ phận không thể thiếu được TN được coi là nguồn kiếnthức để hình thành các khái niệm, định luật, học thuyết hóa học cơ bản và là cầunối giữa lý thuyết và thực tiễn Thông qua việc quan sát và tiến hành TN, HSnắm kiến thức sâu sắc và bền vững, đồng thời cũng có hứng thú say mê tronghọc tập

Tuy nhiên, đối với TN còn có một ưu thế đặc biệt nữa là thông qua đó đểlàm hoạt động hóa người học, phát triển tư duy sáng tạo, hình thành năng lựcphát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề cho HS nếu như các TN được tiến hànhtheo hình thức TN nêu vấn đề Đó là các TN được dùng để tạo nên các THCVĐtrong DH hóa học TN nêu vấn đề có lợi thế trước hết ở đặc tính trực quan sinhđộng của đối tượng nghiên cứu Đó là tình huống bất ngờ, sự không bình thườngcủa phản ứng hóa học xảy ra trong TN như biến đổi màu sắc, thay đổi trạng thái,

Trang 6

hoặc cháy hay nổ ngoài dự kiến của người quan sát Chính những dấu hiệukhông bình thường này đã lôi cuốn sự chú ý của HS và tạo ra thế năng tâm lýmuốn nghiên cứu, muốn tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng khác thườngtrong TN Khi quan sát và suy nghĩ về các TN nêu vấn đề, HS thấy được mâuthuẫn (THCVĐ) về nhận thức Dưới sự hướng dẫn của GV, HS xây dựng giảthuyết để tìm ra con đường giải quyết vấn đề Như vậy, TN nêu vấn đề sẽ đặt HSvào vị trí của người nghiên cứu, tìm tòi một cách sáng tạo để giải quyết nhiệm

vụ đặt ra

TN dạng này không chỉ dùng cho việc cung cấp kiến thức, hình thành cáckhái niệm mà còn được dùng để sửa các lỗi về nhận thức của HS và hiệu chỉnhcác kiến thức về các vấn đề riêng biệt trong chương trình hóa học Trong quátrình hoàn thành các TN nêu vấn đề, HS thường đi đến kết luận có tính chất tổngquát một cách thỏa mãn đồng thời cũng phát triển được kĩ năng của mình Việcgiải quyết những vấn đề chưa rõ ràng trong nhận thức bằng thực nghiệm sẽ khơidậy tính độc lập sáng tạo của HS

Như vậy, không phải bất kì TNHH nào cũng có thể sử dụng để tạo raTHCVĐ trong giờ học TN được dùng để tạo ra THCVĐ là loại TN mà qua đó

có thể đặt ra và giải quyết các vấn đề học tập khác nhau Tức là qua TN phải nảysinh được một trong các tình huống, các vấn đề trong DH hóa học như: tìnhhuống nghịch lí – bế tắc, tình huống lựa chọn và tình huống nhân quả

* Những định hướng khi lựa chọn TN để tạo THCVĐ

Những định hướng khi lựa chọn TN là cơ sở quan trọng để thiết kế hệthống TN tạo THCVĐ Chính vì vậy, tôi xin tổng hợp và đề xuất các định hướnglựa chọn TN như sau:

Phải có nội dung gắn bó với bài giảng, xem như một phần của bài giảng.Vai trò của TN là phục vụ cho trọng tâm bài giảng, cho nội dung kiến thức mà

HS cần lĩnh hội Nhờ TN mà trọng tâm bài học được làm nổi bật, như thế HSmới nhớ lâu kiến thức, vì vậy nội dung TN không được xa rời bài giảng

Có nội dung bắt đầu từ cái quen thuộc đi đến cái bất thường

Trang 7

Nội dung phải tồn tại một vấn đề mà trong đó bộc lộ mâu thuẫn giữa cái đãbiết và cái phải tìm, HS phải vượt qua một khó khăn trong tư duy hoặc hànhđộng mà vốn hiểu biết sẵn có chưa đủ để vượt qua Điều chưa biết đó sẽ đượckhám phá trong THCVĐ mà TN đặt ra Nội dung các TN này cần dựa vào sựhiểu biết về những hiện tượng và các qui luật đã biết của HS Nền tảng kiến thức

đã có sẽ giúp cho HS tích cực suy nghĩ, nhanh chóng tìm ra được phương hướnggiải quyết vấn đề

Có nội dung hợp lý và có tính logic chặt chẽ

Nội dung bắt nguồn từ những cái quen thuộc đi đến những cái bất thườngmột cách bất ngờ nhưng phải logic, hợp lý Cần làm cho HS thấy rõ, trong họchưa có ngay lời giải, nhưng đã có một số kiến thức, kĩ năng liên quan đến vấn

đề đặt ra và nếu họ tích cực suy nghĩ thì có nhiều hy vọng giải quyết được vấn

đề đặt ra

Chứa đựng hoàn cảnh có vấn đề gây ra nhu cầu nhận thức cho người họcKhông phải TN nào cũng có thể sử dụng để tạo THCVĐ trong giờ học Nộidung TN tạo tình huống phải đặt ra và giải quyết được các vấn đề học tập khácnhau

Vừa sức, không quá đơn giản, không quá phức tạp, phù hợp với khả năng

HS để tạo niềm tin

Một vấn đề đưa ra tuy có hấp dẫn nhưng nếu cao quá hoặc đơn giản quá sovới khả năng vốn có của HS thì không gây ra nhu cầu nhận thức nào cả Điềunày nếu diễn ra nhiều lần thì sẽ dẫn đến mất hứng thú học tập, mất niềm tin vàokhả năng nhận thức của HS

Có tác dụng kích thích tư duy và gây hứng thú cho người học

TN tạo tình huống có lợi thế trước hết ở đặc tính trực quan sinh động củađối tượng nghiên cứu Đó là những tình huống bất ngờ, sự không bình thườngcủa phản ứng hóa học xảy ra trong TN như biến đổi màu sắc, thay đổi trạng thái,hoặc cháy nổ ngoài dự kiến của người quan sát Chính những dấu hiệu khôngbình thường này đã lôi cuốn sự chú ý của HS và tạo ra tâm lý muốn nghiên cứu,muốn tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng khác thường trong TN

Trang 8

Được trình bày ngắn gọn, súc tích, đủ ý, rõ ràng.

Nội dung phải được thể hiện thành công bằng TN

TN là phương tiện trực quan chính yếu, được dùng phổ biến và giữ vai tròquyết định trong quá trình DH Do đó nội dung lựa chọn cần được tiến hành TNtrước để kiểm tra sự chính xác và chuẩn bị dụng cụ TN cho phù hợp

* Những bước khi sử dụng TN để tạo THCVĐ

Khi dùng TN hóa học để tạo THCVĐ, GV cần tổ chức các hoạt động họctập của HS theo 6 bước như sau:

1 GV giới thiệu TN cần nghiên cứu

2 Tổ chức cho HS dự đoán hiện tượng TN sẽ xảy ra theo lí thuyết (trên cơ

sở kiến thức HS đã có)

3 Chuẩn bị hoá chất, tiến hành TN hoặc hướng dẫn HS tiến hành TN

Trong DH hóa học, TN dùng để tạo tình huống có thể được thực hiện ở cácdạng: TN biểu diễn của GV, TN nghiên cứu của HS khi học bài mới

TN được dùng để tạo tình huống do HS thực hiện có thể tiến hành theo 2mức độ:

GV nêu vấn đề nghiên cứu, HS làm TN và xuất hiện (nảy sinh) THCVĐ

GV hướng dẫn HS xây dựng giả thuyết khoa học và lập kế hoạch giải quyết vấn

đề Sau đó là xử lý kết quả và nêu kết luận khoa học

Ở một mức độ cao hơn, GV chỉ nêu vấn đề nghiên cứu, HS độc lập tiếnhành TN và cũng nảy sinh THCVĐ HS tự xây dựng giả thuyết khoa học, tiếnhành các TN trong kế hoạch giải quyết vấn đề Sau đó tự phân tích, xử lý kếtquả và rút ra kết luận khoa học

Tổ chức cho HS giải quyết vấn đề (GV hướng dẫn HS hoặc HS độc lập giảiquyết vấn đế)

Khi giải quyết vấn đề có thể tổ chức cho HS thảo luận nhóm, thu thậpnhững dự đoán, câu hỏi, cách giải quyết vấn đề…

Cần kết luận về kiến thức và con đường tìm kiếm, thu nhận kiến thức

* Qui trình dạy HS giải quyết vấn đề trong các bài có sử dụng TN tạo tình huống

Trang 9

Dựa vào qui trình chung dạy HS giải quyết vấn đề đã nêu ở trên Kết hợpvới đặc điểm bài học và đặc điểm của các TN nêu vấn đề được trình bày tronggiờ học, tôi đề xuất qui trình dạy HS giải quyết vấn đề trong các bài có sử dụng

TN tạo tình huống như sau:

Phản ứng (TN) vừa rồi xảy ra ở điều kiện nào?

Các dấu hiệu đó chứng tỏ phản ứng xảy ra trong TN đã tạo thành nhữngsản phẩm nào? Có giống với sản phẩm đã biết không?

Như vậy, ngoài các tính chất đã biết, nguyên tố (chất) đang nghiên cứucòn có những tính chất gì khác?

Bước 3: Xác định phương hướng giải quyết – nêu giả thuyết

GV yêu cầu HS nhắc lại điều kiện của 2 TN đã trình bày (hoặc biểu diễnlại các TN đó)

Xác định sản phẩm của phản ứng sau (ở TN thứ hai)

Để giải quyết được vấn đề này, GV yêu cầu HS căn cứ vào những dấuhiệu đã quan sát được để tổng hợp, phân tích, so sánh, rồi phán đoán xem chấtmới là chất gì Cũng có thể bằng cách thử chất này bằng các phản ứng đặc trưnghoặc dùng chất chỉ thị,…, sau đó viết phương trình phản ứng

Để xác định được tính chất khác của chất nghiên cứu trong điều kiệnmới, GV yêu cầu HS dựa vào việc kết luận về chất mơi tạo thành và phươngtrình phản ứng, từ đó xác định sự biến đổi số oxy hóa, xác định trung tâm phản

Trang 10

ứng là nguyên tử hay ion nào? Từ đó xác định những tính chất khác của nguyên

tố (hay chất phản ứng) ở điều kiện mới là gì?

Bước 4 và 5: Lập kế hoạch và giải theo giả thuyết

Vấn đề 1: phản ứng (TN) 2 được tiến hành trong điều kiện: nhiệt độ,nồng độ, xúc tác, áp suất,…

Vấn đề 2: Chất mới sinh ra ở TN 2 có trạng thái, màu sắc, mùi,…

Chất mới sinh ra có phản ứng đặc trưng với…

Chất mới sinh ra làm chất chỉ thị… đổi màu…

Vậy chất đó là:…

Vậy phương trình phản ứng là:…, phản ứng này thuộc loại… và chấtđang nghiên cứu ngoài tính chất đã biết thì còn có thêm tính chất:… , ở điềukiện…

Bước 6: Đánh giá việc thực hiện kế hoạch giải

Căn cứ vào việc tiến hành TN, kết quả TN và quá trình phân tích so sánhthì xác nhận kế hoạch giải ở trên là đúng

Bước 7: Kết luận về lời giải

GV chỉnh lý, bổ sung và chỉ ra những điều cần lĩnh hội

Bước 8: Kiểm tra lại kiến thức vừa tiếp thu và dạy HS tập vận dụng kiến

thức Cho HS thực hiện TN với một số chất khác tương tự (ở cùng điều kiệnnghiên cứu với TN2)

2.3 Một số hình thức tổ chức hoạt động củng cố trong các bài cụ thể

2.3.1 Bài 7: Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học

a Mục tiêu bài học

HS nắm được:

- Nguyên tắc sắp xếp các nguyên tố trong bảng tuần hoàn

- Cấu tạo của bảng tuần hoàn (ô nguyên tố, chu kỳ, nhóm)

HS rèn luyện kĩ năng:

- Dựa vào dữ liệu ghi trong ô và vị trí của ô nguyên tố trong bảng tuầnhoàn để suy ra được các thông tin về thành phần nguyên tử của nguyên tố nằmtrong ô

Trang 11

- Dựa vào cấu hình electron nguyên tử của một nguyên tố để xác định vịtrí của nguyên tố đó trong bảng tuần hoàn và ngược lại.

b Xây dựng hoạt động củng cố bài

- Thí nghiệm biểu diễn: Khiêu vũ cùng các kim loại kiềm

- Mục đích:

+ Giới thiệu một số nguyên tố kim loại kiềm

+ Chứng minh các nguyên tố trong cùng một nhóm có tính chất tương tựnhau

+ Giúp HS khắc sâu được các nguyên tắc sắp xếp các nguyên tố trongbảng tuần hoàn

- Cách tiến hành:

+ Chuẩn bị 1 cốc thủy tinh 100ml, đựng 30ml nước cất

+ Nhỏ thêm vài giọt phenolphtalein vào cốc

+ Rót 50 ml dầu hỏa lên mặt nước

+ Lấy mẩu nhỏ natri và kali (kích thước bằng hạt đậu xanh) đặt cẩn thậnlên lớp dầu hỏa

- Hiện tượng:

Mẩu natri, kali chìm xuống, nổi lên rồi lại chìm xuống nước, cứ như thếkhoảng 10 – 12 lần cho đến khi mẩu natri, kali tan hết Trong khi đó lớp nướcphía dưới từ trong suốt chuyển thành màu hồng

- Giải thích:

Natri, kali nặng hơn dầu hỏa nên chìm xuống Nhưng khi tiếp xúc vớinước nó lập tức tác dụng với nước, giải phóng khí H2 Bọt khí H2 bao bọc mẩunatri, kali và đệm khí đó đẩy nó nổi lên lớp dầu hỏa Tại đây, các bọt khí tách ra

và mẩu natri, kali bị chìm xuống Dung dịch sau phản ứng có màu hồng là dosau phản ứng tạo ra dung dịch kiềm

- PTHH: 2Na + 2H2O → 2NaOH + H2↑

2K + 2 H2O → 2 KOH + H2↑

2.3.2 Bài 8: Sự biến đổi tuần hoàn cấu hình electron nguyên tử của các nguyên tố hóa học

Trang 12

+ Có 8 câu hỏi trắc nghiệm

+ Các nhóm trả lời nhanh trong vòng 30s vào bảng phụ

+ Hình thức đấu loại trực tiếp, nhóm có câu trả lời chính xác cuối cùnggiành chiến thắng

Câu 1: Các nguyên tố thuộc cùng một nhóm A có tính chất hóa học tương tự

nhau, vì vỏ nguyên tử các nguyên tố nhóm A có:

A Số electron như nhau B Số lớp electron như nhau.

C Số electron thuộc lớp ngoài cùng như nhau D Cùng số electron s hay p Đáp án: C.

Câu 2: Sự biến thiên tính chất của các nguyên tố thuộc chu kì sau lại được lặp

lại tương tự như chu kì trước là do:

A Sự lặp lại tính chất kim loại của các nguyên tố ở chu kì sau so với chu kì

trước

B Sự lặp lại tính chất phi kim của các nguyên tố ở chu kì sau so với chu kì

trước

C Sự lặp lại cấu hình electron lớp ngoài cùng của nguyên tử các nguyên tố ở

chu kì sau so với chu kì trước (ở ba chu kì ban đầu)

D Sự lặp lại tính chất hóa học của các nguyên tố ở chu kì sau so với chu kì

trước

Ngày đăng: 31/10/2022, 21:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w