Ngoài ra còn một số lượng không nhỏ những nghiên cứu về những tác phẩm cụ thể của Nguyễn Ngọc Tư đặc biệt là những tác phẩm tiêu biểu như Cánh đồng bất tận, Khói trời lộng lẫy, Ngọn đèn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN
THIÊN TÍNH NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8220121
Người hướng dẫn: TS TRẦN THỊ QUỲNH LÊ
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn khoa học của TS Trần Thị Quỳnh Lê Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn
là trung thực và chưa từng được công bố trên bất kì công trình nào
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Vân
Trang 3Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Trần Thị Quỳnh Lê - người đã tận tình hướng
dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Phòng Sau đại học Trường Đại học Quy Nhơn đã quan tâm, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, cơ quan, đồng nghiệp, những người luôn động viên, khuyến khích, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Vân
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Cấu trúc luận văn 10
CHƯƠNG 1: NGUYỄN NGỌC TƯ VÀ THIÊN TÍNH NỮ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 11
1.1 Nguyễn Ngọc Tư và hành trình nghệ thuật 11
1.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp 11
1.1.2 Nguyễn Ngọc Tư trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại 13
1.2 Vấn đề thiên tính nữ trong văn học Việt Nam 16
1.2.1 Giới thuyết về thiên tính nữ và thiên tính nữ trong văn học 16
1.2.2 Thiên tính nữ trong văn học Việt Nam 19
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2: THIÊN TÍNH NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ NHÌN TỪ ĐỀ TÀI VÀ NHÂN VẬT 25
2.1 Đề tài 25
2.1.1 Quê hương – tình yêu máu thịt của người phụ nữ 25
2.1.2 Hôn nhân, gia đình – những lo âu, dự cảm về sự rạn nứt, đổ vỡ ………30
2.1.3 Tình yêu – những nỗi niềm giấu kín 36
2.2 Nhân vật 41
2.2.1 Nhân vật người phụ nữ 42
2.1.1.1 Người phụ nữ - hiện thân của vẻ đẹp thiên tính nữ 42
Trang 52.2.2 Những nhân vật khác 52
2.2.2.1 Nhân vật người đàn ông – những hình mẫu mang khao khát của người đàn bà 52
2.2.2.2 Nhân vật trẻ em – “khắc khoải khôn nguôi” của người phụ nữ 55
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 60
CHƯƠNG 3: THIÊN TÍNH NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ NHÌN TỪ HÌNH THỨC THỂ HIỆN 61
3.1 Không thời gian nghệ thuật 61
3.1.1 Không gian đời thường, thời gian hiện tại 62
3.1.2 Không gian tâm tưởng, thời gian hoài niệm 67
3.2 Ngôn ngữ 72
3.2.1 Ngôn ngữ giàu sắc thái biểu hiện 72
3.2.2 Ngôn ngữ giàu chất thơ 78
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xuất hiện trên văn đàn văn học những năm đầu của thế kỉ XXI, Nguyễn Ngọc Tư là một trong những cây bút nữ viết truyện ngắn thành công được bạn đọc yêu mến Văn chương Nguyễn Ngọc Tư hấp dẫn bạn đọc bởi chất đời, sự mộc mạc, giản dị mang đậm chất Nam Bộ Những số phận, mảnh đời con người dân quê Nam
Bộ hiện lên trên trang viết Nguyễn Ngọc Tư với sự trầm buồn, da diết, yêu thương Trong suốt hơn 20 năm sáng tác, Nguyễn Ngọc Tư đã để lại nhiều dấu ấn mạnh mẽ
trên văn đàn qua hàng loạt giải thưởng với những tác phẩm tiêu biểu như: Ngọn đèn không tắt (2000), Biển người mênh mông (2003), Giao thừa (2003), Nước chảy mây trôi (2004), Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Cánh đồng bất tận
(2005), Tiếng vang của truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư được khẳng định qua những
giải thưởng có giá trị trong và ngoài nước đặc biệt với hai tác phẩm đặc sắc Ngọn đèn không tắt và Cánh đồng bất tận Điều đáng tự hào của nữ nhà văn là đã vinh
dự lọt vào Top 50 người phụ nữ có ảnh hưởng nhất tại Việt Nam năm 2018 do tạp chí Forbes bình chọn năm 2019
Sau năm 1986, cùng với sự đổi mới toàn diện của đất nước, văn học đã có những bước chuyển mình rõ rệt và đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Trong những thành tựu này phải kể đến sự đóng góp lớn của truyện ngắn và những nhà văn nữ Mỗi nhà văn với một cách tiếp cận khác nhau đã đem đến sự phong phú đa dạng cho truyện ngắn Việt Nam đương đại Trong đó, thiên tính nữ được xem là một đặc điểm làm nên sự độc đáo của các cây bút nữ Đó không chỉ là tiếng nói khẳng định vị trí và tài năng của các nhà văn nữ mà còn được xem là những biểu hiện của ý thức nữ quyền trong văn chương nghệ thuật Dù ý thức hay không ý thức, những yếu tố thuộc về tính nữ, về giới vẫn chi phối đến sáng tác của nhà văn đặc biệt là nhà văn nữ Nguyễn Ngọc Tư cũng vậy Không chỉ là nhà văn của cuộc sống và con người Nam Bộ, sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư trước hết là tiếng nói của một cây bút nữ trên hành trình khám phá cuộc sống và khám phá chính mình Bằng sự thấu hiểu, yêu thương, đồng điệu và chia sẻ sâu sắc về nữ giới, nhà văn
Trang 7Nguyễn Ngọc Tư đã đi sâu vào những điều rung động thầm kín, những tiếng lòng thổn thức, ẩn ức bên trong của người phụ nữ qua từng trang văn Đó là khát khao được yêu thương, sẻ chia trong tình yêu; mong ước gia đình hạnh phúc; thiên chức làm mẹ; được thỏa mãn ân ái vợ chồng,… Tất cả điều đó làm nên thiên tính nữ của Nguyễn Ngọc Tư qua tư duy nghệ thuật, cách tổ chức tác phẩm Mỗi tác phẩm thể hiện sự khắc khoải, suy tư của một trái tim nữ khi viết về tâm tư của giới mình Thiên tính nữ vì thế trở thành một đặc sắc trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Chính điều này, đã góp phần khẳng định được tài năng và phong cách nghệ thuật viết truyện ngắn của nữ nhà văn
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu luận văn Thiên tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Chúng tôi hi vọng với hướng nghiên cứu này
có thể tiếp cận sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư theo một hướng riêng từ góc nhìn thiên tính nữ, để đóng góp thêm một tiếng nói khẳng định về giá trị truyện ngắn của nhà văn nữ trong tiến trình vận động văn xuôi Việt Nam sau năm 1986
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nguyễn Ngọc Tư là cây bút nữ trẻ tài năng Mặc dù thời gian sáng tác chưa dài nhưng chị liên tục cho ra đời những tác phẩm có giá trị Trong thời gian vừa qua, đã có rất nhiều bài báo, bài nghiên cứu về truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, điều này cho thấy bạn đọc đã dành sự quan tâm đặc biệt đến nhà văn nữ này Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, chúng tôi chỉ đi vào những công trình, bài viết khái quát
về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư và vấn đề thiên tính nữ trong sáng tác của nữ nhà văn này
2.1 Những công trình, bài viết khát quát về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Nghiên cứu về Nguyễn Ngọc Tư có thể thấy phần lớn các công trình, bài viết đều tập trung khẳng định màu sắc Nam Bộ làm nên chất riêng trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư và cũng là đóng góp của nữ nhà văn trong dòng chảy văn học
đương đại Nhà văn Dạ Ngân từng nhận xét về Nguyễn Ngọc Tư như sau: “Văn của Ngọc Tư mang đậm chất Nam Bộ: hồn hậu, hào sảng Văn hóa tiểu vùng khác nhau, thì sản sinh ra những chất văn khác nhau, sản sinh ra những tác giả khác nhau Ở Bắc Hà không sinh ra văn của Ngọc Tư được, mà ở Nam Bộ không thể sinh ra được
Trang 8văn của Y Ban và Tạ Duy Anh được, tôi nghĩ thế” [29] Mỗi nhà văn đều có một
vùng không gian trọng điểm mà họ am hiểu và gắn bó Sự am hiểu quê hương của
Nguyễn Ngọc Tư từ vốn sống và trải nghiệm cuộc đời được chị khẳng định: “Tôi tự tin vào sự hiểu biết về nông thôn quê hương tôi” [58]
Yêu mến tài năng của Nguyễn Ngọc Tư, tác giả Trần Hữu Dũng dù đang
sinh sống và làm việc tại Mỹ đã lập một thư viện điện tử Tủ sách Nguyễn Ngọc Tư
Trong bài viết Nguyễn Ngọc Tư, đặc sản miền Nam, tác giả đã nhấn mạnh chính
ngôn ngữ Nam Bộ được sử dụng tự nhiên đã tạo nên dấu ấn riêng biệt trong truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tư như sau: “Nguyễn Ngọc Tư, ngòi bút trẻ ấy, rõ ràng đã tạo được một chỗ đứng khu biệt cho mình Nhiều người cho rằng cái độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư là sự chân chất mộc mạc rươm rà từ mỗi truyện cô viết Đúng (…) Song, trước hết, cái đầu tiên làm người đọc choáng váng là nồng độ phương ngữ miền Nam trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư”, “Từ vựng Nguyễn Ngọc Tư không quý phái hay độc sáng như của Mai Ninh chẳng hạn nhưng, đối nghịch, đó là một
từ vựng dân dã, lấy hẳn từ cuộc sống xung quanh Sự phong phú của phương ngữ trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư tích tụ của một thính giác tinh nhạy và trọn vẹn: nghe và nhớ” [9] Chất Nam Bộ của Nguyễn Ngọc Tư được tác giả Huỳnh
Công Tín khẳng định trong bài viết Nguyễn Ngọc Tư, một nhà văn trẻ Nam Bộ
như sau: “Đặc biệt, vùng đất và con người Nam Bộ trong các sáng tác của chị được dựng lên bằng chính chất liệu của nó là ngôn từ và văn phong nhiều chất Nam Bộ của chị” [41]
Ngoài ra có thể thấy khi tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, một số tác giả công trình nghiên cứu khác còn đi sâu khám phá về nhân vật, đặc điểm và phong cách truyện ngắn của nhà văn nữ Nam Bộ này Luận văn thạc sĩ văn học của tác giả Đoàn
Thị Tiến trường Đại học Vinh năm 2011 với công trình nghiên cứu Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đã chỉ ra “Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng thế
giới nhân vật với dụng ý kí thác tư tưởng, quan điểm nghệ thuật của mình đến với công chúng bạn đọc Đồng thời đề cao trách nhiệm của người cầm bút, phải làm sao thể hiện tài năng vốn có của mình để truyền tải hết tình yêu thương tha thiết với đồng loại, đau cùng nỗi đau của nhân vật Vì thế nhà văn đã xây dựng các kiểu nhân vật:
Trang 9nhân vật cô đơn, nhân vật sám hối, nhân vật bi kịch, nhân vật vượt lên số phận,… rất phong phú đa dạng” [40, tr.110] Đồng thời, có hai công trình nghiên cứu khá đầy đủ
về phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là luận văn thạc sĩ
văn học Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của tác giả Nguyễn Thành Ngọc
Bảo thuộc trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh và luận văn thạc sĩ ngôn
ngữ và văn hóa Việt Nam Những đặc điểm thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của tác giả Phạm Thị Lâm thuộc trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Bên
cạnh đó, cũng có công trình nghiên cứu những phương diện làm nên phong cách
Nguyễn Ngọc Tư Tác giả Lương Thị Hải trong luận văn thạc sĩ Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đã chỉ ra “yếu tố chi phối cả hệ thống trở thành hạt nhân
phong cách nghệ thuật Nguyễn Ngọc Tư là bản sắc vùng văn hóa Nam Bộ với những nét đặc sắc” [21, tr.105] và “chi phối thế giới nhân vật là quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Ngọc Tư với cái nhìn nhân ái” [17, tr.105] Trong thời gian
gần đây, tác giả Lê Thúy Vi trường Đại học Quy Nhơn cũng đóng góp công trình
nghiên cứu Sự vận động trong phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư năm 2021
đã chỉ ra sự vận động trong phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương
diện nội dung và phương diện nghệ thuật như sau: “Từ sự thấu hiểu ngày càng sâu sắc, tác phẩm của chị có được sức nặng khái quát khi nó đặt ra được những vấn đề nhân sinh sâu sắc của con người nói chung, không chỉ là những vấn đề của một số đối tượng chính ở thời kì đầu như người nông dân, người nghệ sĩ Tuy có sự thay đổi, nhưng người đọc vẫn nhận ra một Nguyễn Ngọc Tư nhân hậu đằng sau những trang viết có vẻ lạnh lùng, gay gắt ấy Đó là điểm thống nhất xuyên suốt của Nguyễn Ngọc Tư” [60, tr.110], “Không còn kiểu kể chuyện theo bản năng như nói chuyện, như thủ thỉ tâm tình, càng về sau, cách kể chuyện của Nguyễn Ngọc Tư đã có nhiều sự mới mẻ” [60, tr.110]
Những công trình bài viết nghiên cứu về phong cách nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đã đề cập trên nhiều phương diện Giọng điệu là một trong những phương diện biểu hiện quan trọng của phong cách nhà văn người Nam Bộ này Ở
bài viết Một số giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, tác giả Phạm Thị
Hồng Nhung đã chỉ ra ba giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn của nữ nhà văn là:
Trang 10giọng buồn mênh mang; giọng trầm tĩnh, có phần đượm chua xót đắng cay và giọng dân dã mộc mạc Tác giả Phạm Thị Hồng Nhung đã kết luận về giọng điệu trong
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư như sau: “Như vậy, có thể thấy bên cạnh âm hưởng
và giọng buồn, nhưng không chán chường ủ dột, thì sự điềm nhiên và trầm tĩnh là giọng điệu chủ yếu góp phần làm nên phong cách nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư”
[31] Trong bài viết Không gian sông nước trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc
Tư của Thụy Khuê đăng trên trang web Viet – Studies và Thời gian huyền thoại trong truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư của Mai Hồng được
đăng trên trang web Viet – Studies đã làm rõ không thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư chính là không gian ruộng đồng sông nước và thời
huyền thoại Bên cạnh đó, bàn về hình tượng con người có bài viết Hình tượng con người cô đơn trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đăng trên Tạp chí Văn nghệ
quân đội của tác giả Phạm Thái Lê Như vậy, đa số các bài viết chủ yếu khai thác cảm hứng nghệ thuật và các phương diện nghệ thuật như: không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, nhân vật, ngôn ngữ , trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Ngoài ra còn một số lượng không nhỏ những nghiên cứu về những tác phẩm cụ thể
của Nguyễn Ngọc Tư đặc biệt là những tác phẩm tiêu biểu như Cánh đồng bất tận, Khói trời lộng lẫy, Ngọn đèn không tắt,… Ở các công trình bài viết này tuy thiên
tính nữ không phải là đối tượng nghiên cứu trực tiếp song đây đó người viết vẫn tìm thấy được những gợi ý liên quan đến đề tài
2.2 Những bài viết về thiên tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư và trong văn học Việt Nam đương đại
Trong phạm vi tài liệu chúng tôi khảo sát được, tuy chưa nhiều nhưng vấn đề thiên tính nữ đã được nghiên cứu trong văn học Việt Nam ở các thể loại thơ lẫn văn xuôi Tiêu biểu có thể kể đến công trình nghiên cứu của tác giả Phan Thanh Bình
trường Đại học Sư phạm năm 2007 với đề tài Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đã chỉ ra yếu tố thiên tính nữ trong sáng tác
của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp như sau: “Vẻ đẹp của thiên tính nữ còn được Nguyễn Huy Thiệp tập trung ở việc khắc họa sự hòa nhập của cái đẹp thực với cái đẹp bí ẩn thiêng liêng của tạo hóa, tạo vẻ đẹp mang màu sắc huyền ảo vừa gần gũi,
Trang 11vừa xa xôi đầy lôi cuốn và hấp dẫn” [7] Trong công trình luận văn Thiên tính nữ trong tác phẩm thơ của các nữ sĩ Việt Nam hiện đại của tác giả Phan Hồng Hạnh
công bố năm 2008 trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã khảo sát thơ và đưa ra nhận định chung các nữ sĩ Việt Nam hiện đại Luận văn đã nêu ra được những cách tân về mặt hình thức nghệ thuật theo tiến trình phát triển thơ ca hiện đại
mang thiên tính nữ “Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, chúng ta vẫn nhận thấy một quy luật chung của các nhà thơ nữ, đó là trong tác phẩm của mình, các chị vẫn luôn thể hiện được thiên tính chức của người phụ nữ: thơ các chị nghiêng về tiếng nói của cảm xúc, đề tài và cảm hứng thơ các chị hướng nhiều về tình yêu và tình mẫu
tử Những hình ảnh, giọng điệu, ngôn từ trong thơ các chị cũng thiên nhiều về sự mềm mại, uyển chuyển” [19] Từ đó dẫn đến kết luận, thơ ca của các nhà văn nữ in
đậm dấu ấn thiên tính nữ Trong luận văn Đặc sắc tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh
của tác giả Trần Thị Hồng Vân trường Đại học Đà Nẵng năm 2011 đã đưa ra nhận
định như sau: “Vẻ đẹp trong thơ Xuân Quỳnh được tạo ra bởi chất thiên tính nữ Thơ Xuân Quỳnh bắt đầu từ tư duy hướng nội Chị dùng cái bản năng và phẩm chất thường trực của một người đàn bà để hướng những lát cắt cảm xúc mãnh liệt bên trong mình với những gì thật nhất, để nói cho biết, cho thỏa những trạng thái tâm hồn Cõi thơ Xuân Quỳnh thênh thang dấu ấn tâm hồn của một người đàn bà muôn thuở” [59] Về văn xuôi, cũng có rất nhiều công trình bài viết nghiên cứu bàn về
vấn đề thiên tính nữ trong sáng tác của các nhà văn Tiêu biểu như đề tài Đặc điểm ngôn ngữ của giới nữ trong văn học đương đại Việt Nam của Chu Huyền Thương, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 năm 2018 Tác giả tập trung vào đi khảo sát và
nghiên cứu 27 truyện ngắn của ba nhà văn tiêu biểu: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn
Huy Thiệp và Nguyễn Nhật Ánh Trong công trình nghiên cứu Ý thức nữ tính trong truyện ngắn Võ Thị Hảo của tác giả Đặng Thị Kiều Oanh năm 2017 trường
Đại học Quy Nhơn đã đưa ra nhận định sau: “Ý thức nữ tính trong văn xuôi nữ đương đại là một vấn đề chứa đựng nhiều ý nghĩa nhân sinh và thẩm mỹ” [32]
Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ của tác giả Dương Thị Thúy Hằng trường Đại học Thái
Nguyên năm 2020 với công trình nghiên cứu Vấn đề nữ quyền trong sáng tác của một số nhà văn dân tộc thiểu số (Khu vực miền núi phía bắc Việt Nam) đã chỉ ra
Trang 12âm hưởng nữ quyền tuy còn mơ hồ nhưng tiếng vọng của nó đã vang lên thể hiện ở việc những người phụ nữ dân tộc thiểu số đã đứng lên đấu tranh chống lại những hủ tục, tập quán đã lạc hậu, lỗi thời, mang màu sắc mê tín đã trở thành vật cản, gánh nặng của đối với các cộng đồng người dân tộc thiểu số
Ngoài ra cũng có một số công trình tuy không trực tiếp nghiên cứu thiên tính
nữ nhưng cũng đề cập đến vấn đề lối viết nữ trong văn học Đặc biệt là những công
trình về truyện ngắn nữ trong văn học tiêu biểu như đề tài luận án Truyện ngắn của các nhà văn nữ đương đại – tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại của nghiên
cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Phượng năm 2019 đã chỉ ra được chất: “nữ tính” tồn tại
trong bề sâu của tư duy nghệ thuật qua bốn phương diện: hình tượng cuộc sống, thế giới nhân vật, thế giới biểu tượng và không – thời gian nghệ thuật Bên cạnh đó, với
đề tài luận án Truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay năm 2019, tác giả Trần
Thị Quỳnh Lê đã nêu ra những dạng thái biểu hiện trong truyện ngắn nữ Việt Nam
từ năm 1896 đến nay ở phương diện không gian, thời gian nghệ thuật và những đặc trưng giới nữ trong lối viết
Thiên tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư vì thế mới chủ yếu được giới thiệu qua một số nhận định hay nghiên cứu cùng với các tác giả nữ Trong bài
viết Thiên tính nữ và góc nhìn giới tính trong văn chương Việt Nam đương đại
của tác giả Nguyễn Thị Năm Hoàng đăng trên Tạp chí Khoa học Công nghệ Việt
Nam đăng ngày 11/12/2018 đã bàn về vấn đề thiên tính nữ như sau: “Thiên tính nữ đều mang dấu ấn rất riêng của phái tính, của cá nhân các tác giả gắn với hệ sinh thái tự nhiên và tinh thần của họ - điều mà các nhà phê bình sinh thái nữ quyền gọi
là mối liên hệ chặt chẽ giữa môi trường (môi trường tự nhiên, môi trường xã hội), phụ nữ và văn chương” [20] Tác giả Nguyễn Thị Năm Hoàng đề cập đến thiên tính
nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư chính là chất Nam Bộ đậm đặc Thời gian
gần đây với bài viết Thiên tính nữ trong văn học việt nam đương đại – nhìn qua những biểu tượng nghệ thuật đăng trên nội san Trường Đại học Sư phạm Nghệ
thuật Trung ương vào ngày 10/04/2021, Nguyễn Thị Năm Hoàng đã đề cập thiên tính nữ qua biểu tượng trong truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư như sau: “Trong số đó, khát khao được yêu thương, khát khao bản năng của giới,
Trang 13khát khao được thực hiện những thiên chức phụ nữ như làm vợ, làm mẹ… những trạng thái tâm lý phức tạp của người vợ, người mẹ, người con sau những biến cố hôn nhân, gia đình” [21]
Nhìn chung, chúng tôi nhận thấy thiên tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư chỉ được đề cập cùng các nhà văn khác chứ chưa có một bài viết hay công trình chuyên biệt về vấn đề này Tuy nhiên những công trình trên sẽ là tư liệu quan trọng cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích đầu tiên trong việc nghiên cứu đề tài này là tiếp cận, làm rõ thiên tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư ở phương diện nội dung và nghệ thuật Qua đó, khẳng định những đóng góp của nhà văn đối với văn học Nam Bộ nói riêng, văn học Việt Nam sau năm 1986 nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu thiên tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư ở các phương diện cụ thể như đề tài, nhân vật và hình thức thể hiện để thêm một cách tiếp cận và khám phá những nét đặc sắc trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Qua đó góp thêm một tiếng nói khẳng định vị trí của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư trên văn đàn văn học nước nhà
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thiên tính nữ trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư trên các bình diện nội dung và hình thức thể hiện
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề thiên tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Vì vậy, chúng tôi tập trung khảo sát các tuyển tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư cụ thể như sau:
Tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt, Nxb Trẻ, 2000
Tập truyện ngắn Ông ngoại, Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh, 2001
Tập truyện ngắn Giao thừa, (in tái bản lần thứ 23), Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh, 2020
Trang 14Tập truyện ngắn thiếu nhi Biển người mênh mông, Nxb Kim Đồng, 2003
Tập truyện ngắn và ký Nước chảy mây trôi, Nxb Văn nghệ, Hồ Chí Minh, 2004 Tập truyện ngắn Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Nxb Văn hóa Sài Gòn, Hồ Chí
Tập truyện ngắn Đảo (in tái bản lần thứ 8), Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh, 2019
Tập truyện ngắn Không ai qua sông, Nxb Trẻ, Hồ Chí Minh, 2016
Tập truyện ngắn Cố định một đám mây, Nxb Đà Nẵng, 2018
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống: Đây là một phương pháp quan trọng giúp người thực hiện luận văn hệ thống các yếu tố nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc
Tư, qua đó góp phần lí giải các biểu hiện của vấn đề thiên tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, đồng thời hiểu được các mối liên hệ giữa các yếu tố đó
- Phương pháp loại hình: Đây là một phương pháp nhằm tìm ra những đặc điểm tương đồng loại hình về thi pháp thể loại, mặt khác thấy được quy luật phát triển của thể loại truyện ngắn từ thực tế đời sống văn học sau năm 1986
- Phương pháp tiếp cận tác phẩm theo thi pháp học: Phương pháp này để tìm hiểu những biểu hiện thiên tính nữ trong các tác phẩm đồng thời nhận ra sự kế thừa
và nét riêng trong thiên tính nữ của Nguyễn Ngọc Tư
- Phương pháp liên ngành: Do hiện tượng văn hóa rất đa dạng và bao trùm lên tất cả các mặt của đời sống con người, xã hội, cộng đồng, nên việc lý giải một hiện tượng văn hóa đòi hỏi sự đóng góp công sức của nhiều nghiên cứu chuyên ngành khác nhau
Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi còn vận dụng sự hỗ trợ
từ các thao tác nghiên cứu văn học khác như: khảo sát văn bản, phân tích, tổng hợp,
Trang 15thống kê, so sánh… để khám phá thiên tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu hoàn chỉnh và hệ thống về truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn thiên tính nữ Qua đó, khẳng định đóng góp của Nguyễn Ngọc Tư đối với nền văn học đương đại Việt Nam nói riêng và nền văn học nước nhà nói chung Mặt khác, với hướng nghiên cứu tác phẩm về thiên tính nữ, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo trong hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
được phân chia thành các chương sau:
Chương 1 Nguyễn Ngọc Tư và thiên tính nữ trong văn học Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 1: NGUYỄN NGỌC TƯ VÀ THIÊN TÍNH NỮ TRONG
VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Nguyễn Ngọc Tư và hành trình nghệ thuật
1.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau trong một gia đình nông dân Vốn là người ham học hỏi, có năng khiếu văn chương từ nhỏ nhưng vì hoàn cảnh gia đình nên Nguyễn Ngọc Tư đã nghỉ học sớm
Dù hoàn cảnh có khó khăn thế nào nhưng chất văn chương vẫn không ngừng chảy
và thôi thúc trong con người của Nguyễn Ngọc Tư Điều này, chị may mắn được thừa hưởng chất văn chương nghệ thuật từ ba Chính ba là người động viên và giúp chị viết tiếp ước mơ trở thành nhà văn chuyên nghiệp như ngày hôm nay
Nguyễn Ngọc Tư luôn chăm chỉ viết văn như một đam mê và để vơi bớt những khó khăn trong cuộc sống Những sáng tác đầu tay của Nguyễn Ngọc Tư
được người ba của mình gởi đến tạp chí “Văn nghệ bán đảo Cà Mau” Tác phẩm
của Nguyễn Ngọc Tư được chọn đăng Sau đó, chị được làm cộng tác viên, rồi làm văn thư, học làm phóng viên tại báo này Từ đây, ngòi bút văn chương của Nguyễn Ngọc Tư có cơ hội thuận tiện phát triển khả năng sáng tạo mãnh liệt và đã tạo được nhiều dấu ấn qua hàng loạt giải thưởng trong và ngoài nước
Nguyễn Ngọc Tư sinh ra và lớn lên ở Nam Bộ nên sáng tác nghệ thuật luôn gắn bó chặt chẽ với cuộc sống sinh hoạt vùng sông nước Đồng bằng sông Cửu Long Văn chương của Nguyễn Ngọc Tư luôn thể hiện được bản chất mộc mạc, chân chất, giản dị và phóng khoáng của người dân Nam Bộ bao đời Do đó, đọc tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, người đọc thấy gần gũi, thân quen vì nó phản ánh được hiện thực đời sống và tâm hồn người dân quê chứ không phải cố lấy chất liệu từ những điều xa
lạ, hoa mĩ Đó là một trong những yếu tố làm nên thành công của nhà văn Nếu chỉ có
sự am hiểu và chất liệu hiện thực cuộc sống người dân Nam Bộ thì chưa đủ tạo nên giá trị của tác phẩm cũng như tên tuổi nhà văn Chính tài năng cùng với sự lao động miệt mài, tâm huyết của Nguyễn Ngọc Tư hòa nhịp cùng trái tim mang tâm hồn và lẽ sống tốt đẹp đã làm nên dấu ấn phong cách riêng trong sáng tác của chị
Trang 17Nguyễn Ngọc Tư thuộc thế hệ nhà văn trẻ tài năng của nền văn học Việt Nam sau năm 1986 Nguyễn Ngọc Tư có bút lực dồi dào và cho ra đời nhiều tác phẩm đã tạo được ấn tượng trong lòng công chúng bạn đọc Trong sự nghiệp của mình, Nguyễn Ngọc Tư đã cho xuất bản và gởi đến bạn đọc hàng loạt tác phẩm hay
tiêu biểu trong đó gồm: 15 truyện ngắn, 8 tản văn, 2 tạp bút (Biển của mỗi người và Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư), 2 tiểu thuyết (Sông và Biển sử nước) và 2 tập thơ (Chấm và Gọi xa xôi)
Với những tác phẩm có giá trị và gây tiếng vang trong giới văn học Nguyễn Ngọc Tư cũng vinh dự gặt hái nhiều giải thưởng cao quý Giải thưởng đầu tiên đánh dấu tên tuổi Nguyễn Ngọc Tư rẽ hướng từ một tay ngang sang con đường viết văn
chuyên nghiệp là giải Ba báo chí toàn quốc năm 1997 với tập kí sự Nỗi niềm sau cơn bão dữ Sự ra đời của tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt (năm 2000) đã một
lần nữa khẳng định tài năng của một cây bút trẻ tuổi giàu khả năng sáng tạo Nguyễn
Ngọc Tư Tác phẩm ra đời đã vinh dự Giải I trong Cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần II và giải Mai Vàng cho Nhà văn xuất sắc vào năm 2000 Tập truyện
ngắn này còn giúp tác giả đoạt Giải B ở Hội nhà văn Việt Nam vào năm 2001 Năm
2003, nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư vinh dự là một trong Mười nhân vật trẻ xuất sắc tiêu biểu của năm 2002 Đến năm 2005, sự ra đời của truyện ngắn Cánh đồng bất tận đã khẳng định vị trí vững chắc và tên tuổi của Nguyễn Ngọc Tư trong lòng công
chúng và giới phê bình văn học Khi vừa mới ra đời, tác phẩm này đã gây ra nhiều
luồng ý kiến khác nhau trong dư luận Tuy nhiên, giá trị tác phẩm Cánh đồng bất tận không thể phủ nhận được vì truyện ngắn đã thổi một làn gió mới trong văn học nước nhà Năm 2006, tác phẩm Cánh đồng bất tận đoạt giải thưởng Hội nhà văn
Việt Nam Tài năng và tên tuổi của Nguyễn Ngọc Tư được công nhận kể cả trong
và ngoài nước khi tác phẩm Cánh đồng bất tận vinh dự đoạt giải thưởng LiBeraturpreis 2018 do Hiệp hội Quảng bá văn học châu Á, châu Phi, Mỹ
Latin tại Đức (Litprom) bình chọn Với khả năng sáng tạo và bút lực tài năng của mình, Nguyễn Ngọc Tư xứng đáng lọt vào Top 50 người phụ nữ có ảnh hưởng nhất tại Việt Nam 2018 do tạp chí Forbes bình chọn vào năm 2019
Những giải thưởng trong suốt sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư chính
Trang 18là sự công nhận tài năng và sức ảnh hưởng của văn chương mà nhà văn mang lại cho đời Tuy nhiên, giải thưởng cao quý nhất mà Nguyễn Ngọc Tư nhận được chính
là sự yêu mến, đón đợi của bạn đọc với từng tác phẩm của ngòi bút sâu sắc, bình dị đậm chất Nam Bộ này mang lại Có thể khẳng định, Nguyễn Ngọc Tư chính là một cây bút nữ tài năng hiếm có của nền văn học Việt Nam đương đại
1.1.2 Nguyễn Ngọc Tư trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại
Sau năm 1986, văn xuôi Việt Nam đã chứng kiến nhiều sự bứt phá mạnh mẽ trên nhiều phương diện trước hết là về lực lượng đội ngũ đặc biệt là các nhà văn nữ
Có thể nói chưa bao giờ các nhà văn nữ lại xuất hiện đông đảo như giai đoạn này
khiến “cán cân” văn chương nghiêng hẳn về các cây bút nữ Những cái tên làm nên một nền văn chương mang “gương mặt nữ” có thể kể đến như: Phạm Thị Hoài, Lê
Minh Khuê, Trần Thùy Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Võ Thị Hảo,Phan Thị Vàng Anh,Võ Thị Xuân Hà ,… Mỗi nhà văn đều có một dấu ấn riêng biệt và nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng vậy Chị đã tạo dấu ấn trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại bởi màu sắc Nam Bộ đặc sắc Hiện thực đời sống và con người Nam Bộ được thể hiện đậm nét qua từng truyện ngắn của nữ nhà văn Phải thực sự
là người gắn bó, am hiểu, dành tình cảm lớn cho quê hương thì Nguyễn Ngọc Tư mới có thể viết được những tác phẩm xuất sắc như vậy Do đó, Nguyễn Ngọc Tư
đã khiến người đọc cảm mến, dành tình cảm đối với miền sông nước Nam Bộ bằng những câu văn mộc mạc, giản dị Viết về đề tài miền tây sông nước Nam Bộ đã có rất nhiều cây bút thâm niên cả về tuổi nghề lẫn tuổi đời khai thác như: Đoàn Giỏi, Anh Đức, Sơn Nam Mỗi nhà văn sẽ cho người đọc một trải nghiệm, một cảm xúc riêng Đến nay, sự xuất hiện của cây bút trẻ tài năng Nguyễn Ngọc Tư như thổi một luồng gió mát trong lành với nét đẹp rất riêng, bình dị, đằm thắm trong những tác phẩm viết cùng đề tài này
Khác với các nhà văn nữ đương thời, Nguyễn Ngọc Tư không chọn cách phản ánh hiện thực đời sống với những gai góc, trần trụi như Phạm Thị Hoài hay với giọng văn lạnh lùng như Nguyễn Thị Thu Huệ mà rất nhẹ nhàng, đằm thắm Đọc văn Nguyễn Ngọc Tư, người đọc cảm thấy được xoa dịu tâm hồn, sống lại những kí ức tuổi thơ vùng quê sông nước hay những nét văn hóa đặc trưng của người Nam Bộ đa
Trang 19dạng và phong phú Điều kì diệu, đọc trang văn Nguyễn Ngọc Tư ai chưa đến Nam
Bộ cũng hiểu và yêu nơi đây, còn ai xa quê hương như được sống lại giữa tình quê Tác giả Trần Hữu Dũng là người đã có nhiều bài viết, sưu tầm nghiên cứu về
Nguyễn Ngọc Tư đã nhận định: “Nguyễn Ngọc Tư - đặc sản Nam Bộ” Bên cạnh
đó, Trần Hữu Dũng còn đưa ra nhận định: “Trong văn chương Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta ở khắp mọi phương trời tìm lại được quê hương đích thực trong tâm tưởng, những tình tự ngủ quên trong lòng mình, những kỉ niệm mà không ai chia sẻ Thật vậy, từ tập “Giao thừa” đến “Ngọn đèn không tắt” đến “Cánh đồng bất tận” mới xuất bản gần đây - chúng ta thấy đó là những truyện ngắn viết về cuộc sống bình thường của người dân Đồng bằng sông Cửu Long” [10]
Nhà nghiên cứu Bùi Đức Hào đã từng nhận xét: “Văn chương của Nguyễn Ngọc Tư là văn chương của thân phận Nếu nghệ thuật, nói như Andre Malraux là một “phản định mệnh”, thì nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư đã kết tinh được dũng khí sắc bén với bao dung hồn hậu, thống khổ với hi vọng, nước mắt với nụ cười Tác phẩm của chị có khi được nhìn như một sự cảnh báo hoặc một liều thuốc cứu rỗi Nó chính là lời mời dừng lại để đến với sự thật, với yêu thương để trở về nguồn nhân ái của con người giữa một thế giới lây lan vô cảm, phân ly và ngày càng có khuynh hướng chạy trốn về phía trước”[59]
Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư luôn đưa những chất liệu cuộc sống đời thực Nam Bộ, đặc biệt là phương ngữ địa phương vào văn chương Nhà văn Dạ Ngân
có rất nhiều bài báo trả lời phỏng vấn nhận xét về phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Khi trả lời phỏng vấn nhà báo Kim Anh, nhà văn Dạ Ngân
từng nhận xét như sau: “Cái cách tu từ của Tư là tuyệt vời Tôi thấy phương ngữ
mà Nguyễn Ngọc Tư đưa vào truyện bao giờ cũng có sự cân nhắc cho sự đóng góp vào vốn liếng chung của ngôn ngữ quốc gia [29, tr.3] Trong bài viết Bất tận với Nguyễn Ngọc Tư, tác giả Văn Công Hùng cũng đưa ra những nhận xét đề cập
về phương diện ngôn ngữ như sau: “Các câu thoại cũng thế Đầy bất ngờ và lí thú, đậm bản sắc Nam Bộ Đậm đặc đến mức dẫu chưa một lần đến Nam Bộ cũng thấy rõ nó hiện ra mồn một khi đọc văn Nguyễn Ngọc Tư” [22, tr.15]
Có lẽ vì chính là người con của miền tây sông nước Nam Bộ nên Nguyễn
Trang 20Ngọc Tư được thừa hưởng lối sống, cách nghĩ tự do, bình dị, mộc mạc mang tâm hồn rộng lớn như những cánh đồng trù phú, những dòng sông đỏ nặng phù sa Đó chính là vẻ đẹp tự nhiên từ bên trong tâm hồn Chính quê hương là nguồn cảm hứng bất diệt trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Trong một lần trả lời phỏng vấn với
tác giả Trần Hoàng Thiên Kim, Nguyễn Ngọc Tư nói rằng: “Tôi sẽ nghĩ đến điều đó sau khi đã “chán bóc tách” mãi về miền quê của mình Bây giờ thì chưa, cái cảm giác chỉ chạm tới lớp áo ngoài của miền đất này khiến tôi nghĩ mình sẽ ở lại lâu”
[59] Nguyễn Ngọc Tư đã dẫn dắt người đọc vào thế giới riêng của mình bằng lối viết giản dị mộc mạc nhưng không kém phần sâu sắc để cảm nhận lấy tất cả những
vẻ đẹp nơi vùng sông nước Nam Bộ mà không khỏi xuýt xoa, trìu mến nơi đây
Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện trên văn đàn văn học Việt Nam như là một người con ưu tú tài năng của mảnh đất Nam Bộ Bằng tài năng, phong cách sáng tạo cùng với sự lao động miệt mài, nghiêm túc, trách nhiệm với nghề, Nguyễn Ngọc Tư đã tìm cho mình vị trí xứng đáng của mình trong lòng công chúng yêu mến văn chương nói chung và trong dòng chảy văn học đương đại Việt Nam nói riêng Sáng tác văn chương không chỉ để thỏa đam mê, Nguyễn Ngọc Tư còn mong muốn mỗi tác phẩm của mình có thể gián tiếp giới thiệu nét đẹp văn hóa của người dân miền tây sông nước Nam Bộ đến khắp cả nước và rộng hơn là toàn thế giới Và Nguyễn Ngọc Tư đã làm được điều đó khi tác phẩm của chị đã được xuất bản ra nước ngoài
và công chiếu thành phim dự các liên hoan quốc tế Thành quả này hoàn toàn xứng đáng với một người nhà văn chuyên nghiệp và trách nhiệm với nghề như Nguyễn Ngọc Tư Trong một lần trả lời phỏng vấn với tác giả Huỳnh Công Tín, cây bút tài
năng Nam Bộ đã khẳng định trách nhiệm viết văn rất rõ ràng: “Tôi cũng là một bạn đọc, nên không thể viết ra một tác phẩm mà chính tôi cũng không chắc là hiểu Tôi không hề lúng túng trước việc mặc cái áo nào cho người khác thấy mình đẹp Tôi luôn đứng trước gương với chiếc áo mà tôi thấy tự tin nhất, trước khi ra đường và người đi đường sẽ có những xu hướng thẫm mĩ khác nhau, nhìn vào tôi Đành thôi ” [41]
Nghệ thuật văn chương luôn đòi hỏi nhà văn không ngừng tìm tòi, sáng tạo
và thử nghiệm Điều này, Nguyễn Ngọc Tư luôn trăn trở và theo đuổi không ngừng
Trang 21Cây bút trẻ người Nam Bộ luôn dũng cảm bước mình ra khỏi vị trí an toàn để thể nghiệm những thể loại văn học khác nhau Trong suốt quá trình sáng tác, phong cách nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư có sự vận động và phát triển trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Từ một cây bút viết văn theo đam mê và bản năng nhưng giờ đây Nguyễn Ngọc Tư đã trở thành nhà văn chuyên nghiệp có
quan niệm nghệ thuật và phong cách độc đáo riêng Trong một bài viết Thử nhận định về Gió lẻ sau hiện tượng Cánh đồng bất tận, tác giả Bùi Đức Hào đã trích dẫn
lời nhận xét nhà văn Nguyên Ngọc đối với bản lĩnh văn chương của Nguyễn Ngọc
Tư như sau: “Gần đây, một số tạp bút của Nguyễn Ngọc Tư có hơi chững lại, không còn giữ được nhiều sự thâm trầm và sắc sảo như trước Nhưng có lẽ cũng không sao, người viết lên xuống là thường Tôi vẫn tin Nguyễn Ngọc Tư Cô ấy rất có bản lĩnh Một trong những nét bản lĩnh đó là cô luôn thấy văn chương của mình có vấn
đề, luôn thấy cần thay đổi, đồng thời vẫn là mình Trong một bài viết, Tư đã nói rằng cô sợ mình “nhạt” đi, một người viết biết được như thế là rất giỏi Chắc Tư còn tự thay đổi, sẽ khác đi mà vẫn là Tư” [60]
Trong dòng chảy văn học đương đại Việt Nam, văn chương Nguyễn Ngọc
Tư vẫn mang những nét chung và có những nét rất riêng độc đáo Chính điều này,
đã khiến ngòi bút của chị không lẫn vào đâu Đó là những tác phẩm mang nét đặc trưng của đời sống và con người Nam Bộ chân chất, đậm tình
1.2 Vấn đề thiên tính nữ trong văn học Việt Nam
1.2.1 Giới thuyết về thiên tính nữ và thiên tính nữ trong văn học
Thiên tính nữ có thể hiểu một cách đơn giản là bản tính vốn có của người
phụ nữ Nguyễn Xuân Khánh đã định nghĩa: “Thiên tính nữ đơn thuần là tính mềm mại, tính nhu, uyển chuyển của người phụ nữ” [19] Đó là những phẩm chất tạo hóa
ban tặng chỉ riêng cho nữ giới, làm nên vẻ đẹp và sự đặc biệt của họ so với nửa kia
là nam giới Từ thuở bình minh của văn hóa loài người, nếu đàn ông là hiện thân cho sức mạnh, vốn đảm nhiệm một sứ mệnh lớn lao với tư cách một người anh hùng thì tạo hóa lại cho người đàn bà những thiên chức mà nửa kia còn lại dẫu
mạnh mẽ đến đâu cũng không có được bằng thiên chức sinh hạ những “con người đích thực” với đầy đủ ý nghĩa thiêng liêng của nó Như một sự thôi thúc tất yếu của
Trang 22bản năng, bất kì người đàn bà nào sinh ra cũng biết mang nặng đẻ đau, ôm ấp, chăm bẵm, thương yêu và lo lắng cho con cái đến cuối cuộc đời Họ được tạo ra để làm tròn thiên chức người mẹ, người vợ Thiên chức đó cùng những chế định về tình cảm đặt người phụ nữ vào môi trường hình thành phẩm cách đặc trưng khác nam giới Nhẹ nhàng, dịu dàng, giàu tình cảm, thủy chung, giàu đức hy sinh, nhân hậu, bao dung được xem là những nét đẹp phẩm hạnh nổi bật của người phụ nữ và đó được xem là một trong những biểu hiện thiên tính nữ hay tính nữ Không nên cố định tính nữ hay thiên tính nữ trong một vài biểu hiện cụ thể bởi cùng với sự phát triển của xã hội, vai trò và vị thế của người phụ nữ cũng có nhiều thay đổi nên những điều được xem là đặc điểm của phụ nữ cũng trở nên phong phú, đa dạng Tính nữ vì thế không chỉ là yếu tố bị chi phối bởi giới tính nghĩa là dựa vào gen di
truyền về mặt sinh học mà về mặt xã hội, giới tính hay còn được gọi là giới hoặc phái được hình thành trong quá trình bản thân con người đó trưởng thành Do đó,
đôi khi giới tính sinh học khác biệt với giới tính xã hội của một con người Nếu xét
về mặt sinh học thì phụ nữ mang đặc điểm giới tính nữ nhưng xét về mặt xã hội thì tính nữ không chỉ có riêng ở người phụ nữ mà còn có ở cả người nam Tuy nhiên trong phạm vi đề tài khi nói về thiên tính nữ chúng tôi vẫn thiên về những phẩm cách, đặc tính tự thân, vốn có của người phụ nữ Đó là vẻ đẹp và bản tính nguyên thủy, những thuộc tính tốt đẹp của người phụ nữ nhằm phân biệt với khái niệm nữ quyền là yếu tố chi phối bởi quan niệm xã hội, được xã hội tạo lập trong các quan
hệ, chế ước, ràng buộc Thiên tính nữ được xem là một trong những yếu tố xác lập bản sắc cần được tôn trọng của phái nữ trong các tiếng nói đấu tranh về nữ quyền trong những năm gần đây
Trong văn chương, sự tác động của thiên tính nữ đến các sáng tác văn học thật ra đã tồn tại như một đặc điểm tự thân của người viết nữ từ xưa đến nay nhưng
do những định kiến, quan niệm xã hội trước đây người ta ít bàn vấn đề về giới cũng như sự tác động của nó đến các phương diện đời sống văn hóa, xã hội Cùng với sự phát triển của khoa học về giới và sự lớn mạnh của phong trào nữ quyền, tiếng nói của người phụ nữ dần được xác lập và khẳng định trong đó có cả văn chương Nếu
trước đây người phụ nữ được ấn định bởi những quan niệm “tòng thuộc” về tam
Trang 23tòng, tứ đức hay “Đàn bà được sinh ra từ chiếc xương sườn của đàn ông” (trích Kinh Thánh) thì tư tưởng nổi tiếng của Simone de Beauvoir “On ne nait pas femme,
on le devient” (Người ta không hiển nhiên là phụ nữ, mà trở thành phụ nữ) đã phá
vỡ những tư tưởng định kiến xã hội trói buộc người phụ nữ để kêu gọi sự bình đẳng giới giữa nam và nữ trên các phương diện đời sống xã hội và cả văn chương nghệ thuật Các nhà nghiên cứu văn chương nghệ thuật chú ý nhiều hơn đến cái gọi là chủ nghĩa nữ quyền, tinh thần, ý thức nữ quyền trong sáng tác của các nhà văn đặc biệt là các nhà văn nữ và thiên tính nữ được chú ý và nghiên cứu như một đặc điểm làm nên cái riêng, cái bản sắc của người viết nữ dù tất nhiên mọi đặc điểm đều có
sự tương đối của nó
Hiện nay, việc nghiên cứu thiên tính nữ trong sáng tác văn học thường nhìn nhận theo hai hướng biểu hiện Thứ nhất, thiên tính nữ là sự ngợi ca, đề cao vẻ đẹp của người phụ nữ Thứ hai, thiên tính nữ được hiểu rộng hơn là sự chi phối những yếu tố thuộc tính của giới nữ đến tư duy nghệ thuật, phương thức thể hiện hay lối viết của người sáng tác đặc biệt là những người sáng tác nữ dẫu người viết có ý thức hay không Điều này giống như nhận định của tác giả Nguyễn Thị Năm Hoàng
trong bài nghiên cứu Thiên tính nữ và góc nhìn giới tính trong văn chương Việt Nam đương đại đăng trên tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam vào tháng 4/2019 “Thiên tính nữ, nữ tính (Femininity) trong văn chương là đặc điểm, là nguyên tắc tư duy nghệ thuật, cách thức tổ chức tác phẩm mang bản sắc phái nữ
hoặc sự đề cao những phẩm chất và giá trị của phụ nữ” [20] Trong phạm vi đề tài
này, chúng tôi thống nhất với các quan điểm trên khi tìm hiểu thiên tính nữ trong sáng tác văn học là đi sâu khám phá những đặc điểm, những yếu tố mang bản sắc
nữ tác động đến tư duy nghệ thuật, cách thức tổ chức tác phẩm hay lối viết của nhà
văn Sự tương đồng về giới khiến cho các cây bút nữ thường có những xu hướng
chung mà nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định như cái “lỉnh khỉnh, dở dang” trong
phạm vi đề tài, chủ đề, hình tượng nữ là nhân vật trung tâm trong thế giới nghệ thuật của họ, điểm nhìn trần thuật từ ngôi thứ nhất, tự thuật là mô hình tự sự đặc thù của văn học nữ,… Tuy nhiên, với mỗi nhà văn, sự khác nhau về đặc điểm tính cách, phong cách, các thiên tính nữ lại được biểu hiện khác nhau trong cùng chung những
Trang 24đề tài nội dung hay phương thức thể hiện Vì thế nghiên cứu thiên tính nữ của mỗi
nhà văn không chỉ là tìm hiểu “mẫu số chung” của các nhà văn nữ mà còn là cái
riêng trong dòng chung đó
1.2.2 Thiên tính nữ trong văn học Việt Nam
Trong đời sống xã hội và kể cả văn học Việt Nam, người phụ nữ mang những phẩm chất tốt đẹp luôn chiếm một vị trí quan trọng Điều này, đã khẳng định vai trò và sự tôn trọng của xã hội dành cho người phụ nữ Bởi vậy, thiên tính nữ trong văn học đã được hình thành từ nguồn gốc sâu xa của văn hóa người Việt Trước tiên, thiên tính nữ bắt nguồn từ nền văn minh nông nghiệp xem trọng việc sinh sôi, nảy nở của tự nhiên và con người Việt Nam là một đất nước với tín ngưỡng đa thần, trọng tình cảm, nhất là trọng nữ giới Các vị thần cai quản ở Việt Nam chủ yếu là nữ giới nhưng không phải là những cô gái trẻ đẹp như một số tôn giáo mà là các bà mẹ, các Mẫu Hơn thế nữa, từ xa xưa, Việt Nam là đất nước có
văn hóa Mẫu hệ Tục thờ Mẫu đã đi vào văn hóa và tâm thức của người Việt “Mẫu
là hiện thân của sự được mùa, một ước vọng truyền kiếp về hạnh phúc phồn thực của người nông dân Mẫu còn biểu hiện cho tinh thần nhân ái rất cao” [32] Trong
văn hóa Việt Nam có thờ Tam phủ, Tứ Phủ Tam phủ là danh từ chỉ ba vị thánh thần gồm Mẫu Đệ Nhất (Mẫu Thượng Thiên), Mẫu Đệ Nhị (Mẫu Thượng Ngàn) và Mẫu
Đệ Tam (Mẫu Thoải) Còn thờ Tứ Phủ tức là ba vị Mẫu ở trên và thêm Mẫu Địa Nhiều làng xã thuộc vùng Bắc Bộ còn thờ Mẫu Liễu Hạnh - vị Thánh Mẫu đứng đầu hệ thống Tam Phủ, Tứ Phủ thờ đạo Mẫu Tất cả những cai quản quan trọng nhất của xã hội nông nghiệp đều do người nữ đảm nhiệm Đồng thời, trong quan niệm của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, thần Mặt Trời tối cao cũng là nữ (nữ thần Mặt Trời) Theo thời gian, đời sống người Việt đã hình thành tín ngưỡng phồn thực, nguyên lí Mẹ và Đạo Mẫu Phật giáo là tôn giáo lớn khi du nhập vào Việt Nam cũng có sự kết hợp với tín ngưỡng này Khi đến các chùa, ta dễ nhận ra sự tồn tại đồng thời việc thờ Phật và thờ Mẫu Sự tôn thờ người phụ nữ ở các dạng thức khác nhau cùng với sự lưu hành, tiếp nối các truyền thuyết, giai thoại về vai trò của người nữ trong việc xây dựng, kiến tạo và duy trì nòi giống dân tộc Từ nền tảng này, người phụ nữ trở thành một đối tượng của tín ngưỡng văn hóa quan trọng ở
Trang 25Việt Nam Điều này, đã ảnh hưởng đến suy nghĩ, tư tưởng của con người trong đời sống hằng ngày và kể cả đời sống tâm linh Do đó, thiên tính nữ trong văn học được thể hiện hết sức đa dạng và phong phú ở nhiều mặt đời sống và tinh thần đặc biệt
thông qua hình tượng nhân vật nữ
Trong văn học dân gian, hình ảnh người phụ nữ mang những quan niệm và
vẻ đẹp lí tưởng thẩm mĩ của nhân dân Từ thần thoại, sử thi, truyền thuyết luôn xuất hiện những vị nữ thần có sức mạnh che chở, lòng từ bi khiến nhân dân yêu mến và tôn thờ như: Nữ Oa, Nữ thần Mặt Trời, mẹ Âu Cơ Đến những câu ca dao dân ca, người phụ nữ với những hoàn cảnh, thân phận chìm nổi nhưng vẻ đẹp vẫn sáng ngời Họ luôn cần mẫn siêng năng làm việc, chăm lo cho gia đình không kể mưa
nắng dãi dầu với tình yêu thương duy nhất dành cho gia đình “Thân cò lặn lội bờ sông/ Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”, “Chồng em áo rách em thương/ Chồng người áo gấm xông hương mặc người”,… Người phụ nữ trong ca dao “đẹp người đẹp nết” nhưng lại luôn có số phận long đong, chìm nổi Chính vì vậy, trong
ca dao dân ca thường bắt đầu bằng những lời than trách, thấm đẫm nỗi niềm xót xa
“thân em”, “phận gái”, “phận nữ nhi”, “phận đàn bà”,… Bằng cảm quan về thân
phận mang đặc thù tính nữ, người phụ nữ xưa đã phần nào nhận ra sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội Trong ca dao dân ca đã xuất hiện những lời phản kháng, đấu tranh có sự chua ngoa, bông đùa đi ngược lại đạo đức Nho giáo phong
kiến Họ còn dám lấy “đoan trang”, “tiết hạnh” ra mà cười cợt: “Chính chuyên chết cũng ra ma/ Lẳng lơ chết cũng mang ra ngoài đồng” Sở dĩ họ dám lựa chọn những
cách thức phản kháng và chống đối lại cả hệ thống xã hội nam quyền vì họ nhận thức được bản thân đã và đang rơi vào tình cảnh khổ sở và bất hạnh Người phụ nữ
đã có ý thức vươn tới hạnh phúc, giải phóng bản thân bằng việc phá bỏ, cởi trói những lễ giáo phong kiến
Đến văn học trung đại Việt Nam, vẻ đẹp giàu nữ tính của người phụ nữ vẫn
được khác họa chân thực Họ là người phụ nữ tài hoa, đức hạnh vẹn toàn “tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp” (Chuyện người con gái Nam Xương trích Truyền kì mạn lục – Nguyễn Dữ) Hơn thế nữa, họ luôn chung thủy, vị tha đợi chờ chồng mòn mỏi “Non yên dù chẳng tới miền/ Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng
Trang 26trời” (Chinh phụ ngâm khúc – Đoàn Thị Điểm) Thế nhưng, cuộc đời người phụ nữ
luôn bị vùi dập bởi những luật lệ hà khắc của chế độ phong kiến và đạo đức Nho giáo Những tác giả nữ đã nói lên tiếng nói đấu tranh mạnh mẽ như Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm là những trường hợp tiêu biểu Bên cạnh đó, những tác giả nam trong văn học trung đại đã viết về thân phận người phụ
nữ và nói lên những tiếng nói thầm kín sâu xa bên trong người phụ nữ về tình yêu, khao khát hạnh phúc lứa đôi, kể cả chuyện ân ái Những sáng tác của Nguyễn Trãi, Phạm Thái, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Trần Tế Xương, Tản Đà,… đã xây dựng nên hình tượng người phụ nữ có sức sống lâu bền trong văn học
Biết bao người phụ nữ trong xã hội phong kiến phải chịu cảnh “Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” (Truyện Kiều – Nguyễn Du) hay
“Bảy nổi ba chìm với nước non/ Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn” (Bánh trôi nước – Hồ
Xuân Hương) Thế nhưng, người phụ nữ theo năm tháng không đánh mất đi vẻ đẹp
thiên tính nữ của mình “Một duyên hai nợ, âu đành phận/ Năm nắng mười mưa dám
quản công” (Thương vợ - Trần Tế Xương)
Đầu thế kỉ XX, tiếp thu tư tưởng tiến bộ về bình đẳng giới của phương tây, văn học Việt Nam đã có nhiều quan niệm thẩm mĩ thay đổi tích cực hướng về người
nữ Người phụ nữ hiện đại bên ngoài xinh đẹp, thướt tha, dịu dàng còn bên trong thì trí tuệ, nhân hậu Điều đặc biệt so với thời trước, người phụ nữ mạnh dạn được yêu
và thể hiện tình cảm của mình Họ vượt qua những định kiến, sự bảo thủ của lễ giáo phong kiến kìm kẹp để dám sống hết mình vì tình yêu Ở giai đoạn này, những cây bút nam và nữ đều thể hiện quan niệm về vấn đề tình yêu sôi nổi trên văn đàn như: Phan Khôi, Phạm Quỳnh, Manh Manh nữ sĩ, Tương Phố, Vân Hương nữ sĩ,… Sự ra
đời của một số tác phẩm như: Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách); Nửa chừng xuân, Hồn bướm mơ tiên (Khái Hưng), Lá ngọc cành vàng (Nguyễn Công Hoan),… chính là
lời khẳng định mạnh mẽ thiên tính nữ của người phụ nữ trong xã hội hiện đại
Đến năm 1945, chế độ phong kiến Việt Nam hoàn toàn bị sụp đổ, người phụ
nữ càng ý thức hơn về vị trí và vai trò của mình trong xã hội mới Bên cạnh tính nữ nhẹ nhàng, mềm mại sẵn có từ ngàn xưa, người phụ nữ lại thêm sự mạnh mẽ, dũng cảm trở thành lực lượng vũ trang tham gia chiến đấu khi đất nước bị xâm lăng Suốt
Trang 2730 năm chống Pháp và Mỹ ác liệt, người phụ nữ kiên cường, đảm đang, bất khuất bước vào trang thơ ca hào hùng của dân tộc Người phụ nữ trở thành những cô thanh niên xung phong, người giao liên, bà mẹ anh hùng sáng ngời lí tưởng cách
mạng và thời đại như: chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi); Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu); Mẹ Suốt, Mẹ Tơm, Bà má Hậu
Giang (Tố Hữu),… Người phụ nữ bằng xương bằng thịt từ trong hiện thực đời sống
ác liệt của chiến tranh bước vào trang văn không cần gọt giũa, trau chuốt cầu kì mà vẫn mang vẻ đẹp thiên tính nữ Người phụ nữ ý thức được vai trò công dân của mình đối với đất nước, dân tộc Tuy nhiên, do yêu cầu sáng tác của thời đại nên hình ảnh người phụ nữ mới tập trung vào đời sống xã hội mà chưa đi khai thác sâu đặc trưng về giới
Đến khi đất nước được độc lập năm 1975, đặc biệt là thời kì đổi mới năm
1986, vai trò người phụ nữ mới thực sự được khẳng định mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực Văn học đương đại Việt Nam sau năm 1986 chính là địa hạt tập trung những tài năng và đội ngũ sáng tác nữ nhiều nhất từ trước đến nay Họ hoạt động trên nhiều lĩnh vực như văn xuôi, thơ ca, nghiên cứu, phê bình,… chiếm một số lượng thành viên lớn trong Hội nhà văn Việt Nam Những thế hệ nhà văn nữ tài năng trưởng thành sau chiến tranh đến những nhà văn thời kỉ đổi mới liên tiếp ghi dấu bạn đọc với những tác phẩm giá trị như: Lê Minh Khuê, Nguyễn Ngọc Tú, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Dạ Ngân, Trần Thùy Mai, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp,…
Sự xuất hiện liên tiếp những cây bút nữ tài năng đã thay đổi diện mạo của nền văn học Việt Nam đương đại trong quá trình vận động và phát triển không ngừng Họ
không chỉ nói lên tiếng nói của người phụ nữ mà còn đã phá vỡ vị trí “độc tôn”
những tưởng của chỉ nam giới trong xã hội Các nhà văn chú ý khai thác phần ý thức bản năng mạnh mẽ của người nữ và đặc trưng tính nữ Người phụ nữ hiện đại có nhận thức sâu sắc về sự tồn tại của bản thân và nhu cầu được thể hiện khao khát, tiếng nói chính đáng của phái mình Điều này đã khiến những tác phẩm văn học đương đại Việt Nam mang bản sắc phái nữ và thiên tính nữ nhiều hơn bao giờ hết Tác phẩm văn học giai đoạn này không chỉ nói lên tiếng nói thương cảm, đấu tranh cho thân phận người phụ nữ mà còn thể hiện những tâm tư nỗi niềm, khát khao thầm kín của
Trang 28người phụ nữ đương đại nói riêng, kể cả những rạn nứt, đấu tranh bên trong tâm hồn của con người nói chung với góc nhìn thiên tính nữ Nhà văn không chỉ đứng bên ngoài mà đã hóa thân vào nhân vật với những rung động, cảm xúc rất đàn bà Đó có thể là sự hồi hộp, chờ đợi hẹn hò; sự nhẹ dạ, ngây thơ trước lời nói đường mật của cánh mày râu; sự thấp thỏm, lo âu cho tình yêu bị đổ vỡ; sự dằn vặt trót ngoại tình; khát khao được thỏa mãn,… của riêng phái nữ Bằng sự tinh tế, yêu thương khi viết
về người cùng giới, những cây bút nữ đã thể hiện sự thông cảm trực tiếp trước nỗi đau và thân phận người phụ nữ trong xã hội đương đại Chính góc nhìn thiên tính nữ
đã góp phần thay đổi, sáng tạo hình tượng, tư duy nghệ thuật của các nhà văn Mỗi nhà văn sẽ chọn cho mình cách thể hiện thiên tính nữ qua nhiều yếu tố, chi tiết, hình tượng nghệ thuật trong các chủ đề, đề tài khác nhau
Thiên tính nữ chính là một đặc điểm nổi bật làm nên sự độc đáo trong các sáng tác văn học đương đại Việt Nam Đó là một mạch ngầm góp phần thể hiện sự phong phú, tinh tế những cảm xúc, thế giới nội tâm của người phụ nữ hiện đại Bên cạnh đó, thiên tính nữ đã góp phần lí giải những vấn đề của đời sống, xã hội, thời đại từ góc nhìn nữ giới đầy mới mẻ và thú vị
Trang 29TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Nguyễn Ngọc Tư là cây bút trẻ tài năng đã có nhiều đóng góp cho nền văn học đương đại Việt Nam sau năm 1986 Văn chương Nguyễn Ngọc Tư mang đậm dấu ấn của miền sông nước Nam Bộ với những mộc mạc, chất phác vốn có bao đời Trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại, Nguyễn Ngọc Tư vẫn tạo cho mình những dấu ấn riêng đặc sắc bên cạnh những nét chung của thời đại Thiên tính nữ trong văn học là một yếu tố, một đặc điểm tất yếu của văn học đương đại Việt Nam Đây chính là một đặc điểm đã xuất hiện từ cội rễ sâu xa trong văn hóa và đời sống của người Việt Bởi vậy, trong văn học đương đại Việt Nam mỗi nhà văn sẽ có một cách thể hiện tư duy nghệ thuật, phản ánh, tổ chức tác phẩm mang thiên tính nữ Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư vốn là một cây bút nữ nhẹ nhàng, tinh tế nên việc thể hiện đậm nét thiên tính nữ trong sáng tác của mình là điều dễ nhận thấy Việc tìm hiểu thiên tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đặt trong phạm vi văn học đương đại Việt Nam nói riêng và nền văn học nước nhà nói chung giúp chúng ta
hiểu hơn về những đóng góp và tài năng của Nguyễn Ngọc Tư - “đặc sản Nam Bộ”
đối với nền văn học nghệ thuật nước nhà cũng như sự vận động, phát triển của nền văn chương đương đại
Trang 30CHƯƠNG 2: THIÊN TÍNH NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ NHÌN TỪ ĐỀ TÀI VÀ NHÂN VẬT
2.1 Đề tài
Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi (đồng chủ biên) đề tài được định nghĩa như sau: “Đề tài là khái niệm chỉ loại các hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học Đề tài là khách quan của nội dung tác phẩm” [18, tr.110] Vì vậy, xác định đề
tài được xem là khâu quan trọng đầu tiên của người sáng tác Thông qua việc lựa chọn đề tài trong sáng tác cũng thể hiện tư tưởng, tư duy nghệ thuật của mỗi nhà văn Với tư duy hướng nội và khả năng quan sát đời sống một cách tỉ mỉ, tinh tế, các nhà văn nữ thường có xu hướng lựa chọn những gì rất gần gũi với đời sống của chính họ Vì thế đề tài về quê hương tình yêu, hôn nhân, gia đình được xem là những đề tài quen thuộc thể hiện bản sắc nữ bị chi phối bởi chính các yếu tố thuộc
về thiên tính nữ Thiên chức làm mẹ, làm vợ cùng khao khát được yêu thương, che chở khiến những cây bút nữ không thể không biết về những vấn đề gần gũi trong cuộc đời mình
Cũng như những cây bút nữ khác, truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư cũng không ngoại lệ khi hướng ngòi bút của mình với các đề tài quê hương, tình yêu, hôn nhân, gia đình của con người vùng Nam Bộ Tất cả đều được nhìn nhận bằng đôi mắt yêu thương, sẻ chia, trân trọng vẻ đẹp nữ giới của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư
2.1.1 Quê hương – tình yêu máu thịt của người phụ nữ
Quê hương chính là nơi mỗi người sinh ra, lớn lên, là mảnh đất chúng ta chôn rau cắt rốn, gắn bó suốt một quãng thời gian dài với những kỉ niệm khó quên của tuổi thơ Ai cũng có một quê hương cho riêng mình để yêu thương, gắn bó Mỗi người sinh ra và lớn lên ở mỗi quê hương khác nhau mà mỗi quê hương có một bản sắc khác nhau nuôi dưỡng nên những tâm hồn con người vô cùng phong phú Chính
vì vậy, trong tâm hồn mỗi người “Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi” (Đỗ Trung Quân) Tình yêu quê hương xứ sở luôn là tình cảm diệu kì trong
Trang 31mỗi người nên quê hương trở thành đề tài quen thuộc đối với người nghệ sĩ Nhưng với đặc trưng về giới, quê hương qua những trang văn của các nhà văn nữ và nhà văn nam cũng có sự khác biệt tương đối Là những con người giàu tình cảm cộng với thiên hướng thường chú ý đến những cái nhỏ bé, dung dị, quê hương thường được các nhà văn nữ thể hiện từ những điều gần gũi, quen thuộc, những điều dễ làm lay động trái tim của người phụ nữ Chính vì thế, quê hương là một phần máu thịt
và là tình yêu tha thiết của người phụ nữ Đề tài quê hương là một biểu hiện của thiên tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Quê hương được cảm nhận, khám phá đầy đặc sắc qua đôi mắt giàu nữ tính
Sinh ra và lớn lên ở Cà Mau, Nguyễn Ngọc Tư yêu cái miền sông nước ở cực Nam của Tổ quốc với một tình yêu bình dị, tự nhiên như hơi thở của chị Nói đến Nguyễn Ngọc Tư, điều đầu tiên và trước hết khi nói đến văn của chị chính là cuộc
sống và con người Nam Bộ Đó chính là “dấu vân tay” chị đã khắc in trong tâm
thức người đọc yêu mến văn chương của mình Nam Bộ hiện lên trên những trang văn viết của chị bình dị, chân chất, mộc mạc lại chan chứa yêu thương Đọc truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư như mở ra trước mắt cảnh sắc miền quê Nam Bộ có kênh, rạch, xuồng, ghe, cánh đồng, nhánh lục bình, trái mù u, vườn ổi, mùa nước nổi,… mang đậm bản sắc vùng miền nơi đây Đó là những xóm nghèo, lạc hậu và đời sống con người còn nhiều vất vả Ngay cách đặt tên địa danh xóm làng trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư không những phần nào nói lên đặc điểm nơi cư trú mà còn thể
hiện sự chân chất, giản dị người quê như: cù lao Mút Cà Tha (Thương quá rau răm), Thổ Sầu (Thổ Sầu), xóm Rạch (Ngọn đèn không tắt), xóm Kinh Cụt (Huệ lấy chồng), Đất Cồn (Khói trời lộng lẫy), xóm Miễu (Lương),… Làng xóm nghèo với
những lối đi vào nhà, cây trái miền quê như đượm tình trong mỗi truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư thời kì đầu sáng tác Trong truyện ngắn Thổ Sầu, cuộc sống miền
quê nơi đây còn vắng vẻ, hoang sơ nhưng cảnh sắc thiên nhiên giản dị, bình yên lạ
thường “Dọc triền sông, cỏ kết dày, từ trên bờ thò xuống nước như đất đang gục đầu gội tóc, những cây bần de xa khỏi mé sông, những cây sộp rũ rượi xõa chùm rễ nâu, những thân cau lẻ đâm thẳng lên trời, vài tiếng gà nhói lên xa xa… tất cả những thứ đó làm nên vẻ mặt của Thổ Sầu buồn thiu” [53, tr.84] Những xóm cù lao
Trang 32đảo cách biệt bờ đi lại khó khăn, thưa thớt người sinh sống “Cù lao Mút Cà Tha nằm gần cuối sông Dài, trên nó một chút có một nhánh sông khác rẽ về phía mặt trời, rộn rịp được đoạn đó rồi thôi Mút Cà Tha nằm hiu hắt, lâu lâu mới thấy bóng dáng một con tàu lớ ngớ chạy vào rồi lại tẽn tò quay ra vì lầm đường, vì không biết đằng sau cù lao, sông cụt” [56, tr.18] Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện sự am hiểu
cảnh sắc vùng quê Nam Bộ khi từng con đường, lối đi vào nhà qua mỗi kênh rạch
được chị khắc họa sống động, chân thực qua trang viết “Lối vô nhà trải đất đỏ, người đi ra đi vô đã mòn mấy hòn tròn tròn trọc lóc Lối nầy đổ ra con đường dài tới Vịnh Dừa Đi chút nữa là tới đám trâm bầu, chỗ con đập vào xóm Kinh Cụt, bẹ dừa kéo xuồng nằm vảnh cổ, có bẹ đã khô quắt, có bẹ còn tươi thơm Xóm kinh ăn sâu vô đồng, từ vườn nhà Huệ dòm xéo về phía tây, bỏ cánh đồng lúa lơ thơ gốc rạ
là một vệt xanh rờn của dừa, của chuối” [56, tr.44]
Dù cuộc sống còn nghèo khó nhưng cảnh thanh bình cũng làm lòng người quê bình yên, hiền lành đến lạ thường Họ gắn bó với ruộng vườn, con nước suốt đời mãn kiếp nên cũng hiền hòa như đất nơi đây Đọc truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư, ta không khó bắt gặp cảnh sinh hoạt thân quen của người miền quê sông nước
“Sáng nay, má tôi lại ra đứng tần ngần ở chợ Ba Bảy Chín, một hồi, biểu con nhỏ chèo đò chèo dài dài chợ nổi Chợ rao bán rau trái dậy động cả một khúc sông”
[56, tr.128] Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư còn đưa những cảnh sinh hoạt mua bán trên ghe thuyền là nét đặc trưng chỉ có ở miền tây sông nước Nam Bộ vào trang viết Người phụ nữ phải có sự quan sát, gần gũi với cuộc sống hằng ngày bằng sự yêu mến vô cùng thì mới có sự hiểu biết đầy đủ, chân thực về nét đẹp của quê hương
“Dài từ ngã ba vàm đến đây, nước chảy êm, khuất gió, những chiếc ghe đi đêm hay đậu lại, nghỉ ngơi Lâu lâu, có chiếc ghe hàng bông lặng lẽ neo lại ngoài bến nhà tôi, treo ngọn đèn chong lên cây đước chơm chởm những cái nhánh con, mỗi nhánh lủng lẳng trái khóm, trái bầu dầm nắng mưa đã teo héo Không thấy bóng người, chỉ nghe tiếng gàu tát nước cọ vô xuồng xao xác Hừng đông chạy xuống bến thì ghe đã đi rồi” [56, tr.132] Người nông dân Nam Bộ hầu như cả cuộc đời gắn bó với đồng ruộng và sông nước “Mùa gặt năm nào anh cũng xuôi ghe chở bầy vịt đổi đồng về xóm Rạch Giồng này Rồi cất cái chòi lợp bằng lá chuối, quây lưới cầm vịt
Trang 33trên khúc đê trồng so đũa Từ chỗ này, mỗi ngày anh lang thang lùa vịt đi ăn khắp các vạt đồng, qua tới vườn Xóm Lung” [54, tr 145] Sau ngày dài vất vả, người quê nghỉ ngơi thảnh thơi, tìm niềm vui trong tiếng đàn câu hát “Chiều đi ruộng về nằm võng nghe đài Hậu Giang ca cải lương, tối ra đầm đặt lú Trời thanh, mây tạnh” [52, tr.30] hay “Những khi cho vịt đi ăn xa, chạng vạng không kịp về, Sáng cũng hay cầm vịt giữa đồng, hai đứa tôi ôm rơm tụm lại nhóm lửa, đánh bài tiến lên, uống ít ly cho ấm người Xong rồi ca khơi khơi vài câu vọng cổ” [54, tr.145] Đối
với người miền tây sông nước Nam Bộ, câu hò tiếng hát vọng cổ như giúp họ xua tan nhọc nhằn, muộn phiền Nguyễn Ngọc Tư cũng đã rất khéo léo khi khắc họa đầy
đủ nét mộc mạc trong tâm hồn người quê
Yêu quê hương nên Nguyễn Ngọc Tư cũng lo âu, trăn trở cho biết bao điều ở nơi chốn ấy Chị trăn trở bởi cái nghèo, cái đói đang đẩy con người nơi đây vào những bất hạnh, đổi thay Vì sống ở nơi tách biệt, xa xôi đất liền nên những người quê thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần Lớn lên ở vùng quê nghèo, xa xôi hẻo lánh đã có biết bao đứa trẻ phải chịu cảnh thất học hay bỏ học từ rất bé trong truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tư Trong truyện ngắn Cánh đồng bất tận, chị em Nương và Điền lớn lên trong không gian “Và chiếc ghe, cánh đồng, dòng sông thênh thang mãi…” [56, tr.183] đã buộc hai đứa trẻ “tự học lấy cách sống” Chính không gian
sống tù túng và thời gian hiện thực đời sống khắc nghiệt khiến nhân vật Nương phải
thốt lên trong sự đau khổ, tuyệt vọng “tiếc là sự thất học khiến tôi không diễn đạt được bằng lời” [56, tr.199] Một vùng quê nghèo cù lao Mút Cà Tha trong truyện ngắn Thương quá rau răm còn thưa thớt dân cư chỉ với bốn mươi ba nóc nhà, đời sống buồn vắng, người dân lạc hậu “Bên đường thấp thoáng nhiều nấm đất con con của những đứa trẻ kiệt sức vì bị đẹn mà chỉ được rơ miệng bằng cỏ mực; những đứa trẻ bệnh sốt xuất huyết chỉ chữa bằng cạo gió, uống nước mía lau, rễ tranh; những đứa trẻ mắc thương hàn bị thủng ruột vì tự do chạy ra vườn ăn ổi chua, ổi chát…” [56, tr.18-19] Bởi vậy, những bác sĩ nơi khác đến với vùng quê nghèo này
dù tâm huyết và thương mến cũng “Năm người trước ra đi, đi vì không chịu nổi thiếu thốn Và buồn” [56, tr.18] Điều đáng buồn hơn, chính những người sinh ra từ mảnh đất cù lao Mút Cà Tha cũng rời đi “đám trẻ cù lao đã được học hành nhưng
Trang 34chẳng đứa nào chịu quay về” [56, tr.19] Bên cạnh đó, Nguyễn Ngọc Tư cũng khắc họa một vùng quê nghèo và đìu hiu như chính cái tên nó mang là Thổ Sầu “Khi tôi
ra đời, Thổ Sầu đã buồn thâm căn cố đế Đến nỗi những người nơi đây không còn cảm giác để nhận biết buồn nữa” [53, tr.84] Những người dân quê nghèo còn phải đối diện với mất mùa, dịch bệnh, sự khắc nghiệt của thiên tai Truyện ngắn Cánh đồng bất tận là bức tranh hiện thực nhiều ngổn ngang, phức tạp của đời sống Gia
đình ông Út Vũ cùng đàn vịt đưa nhau đi hết cánh đồng này đến cánh đồng khác,
không sống cố định một chỗ vì họ phải đối diện với “Những cánh đồng chúng tôi qua, lúa chết khô khi mới trổ bông Người ta không thể trồng đậu, trồng dưa vì thiếu nước Bầy con nít giỡn nhoi trên những con kinh khô trơ lòng” [56, tr.171],
“Và dịch cúm gia cầm nghe đâu vẫn còn bùng phát khắp đồng bằng Để bầy vịt khỏi
bị chôn sống (điều đó đồng nghĩa với việc đứt vốn cho mùa sau), bọn tôi quyết định vẫn cầm chúng ở đây Chúng được nuôi trong sự mòn mỏi” [56, tr.171] Dịch bệnh
khiến cuộc sống của người dân quê Nam Bộ trở nên càng khó khăn hơn Trong
truyện ngắn Giữa mùa chán chết, cả xóm Nhơn Thành tiêu điều, xơ xát “Chừng hai tháng ròng giữa lúc lúa no đòng đòng cho đến khi lúa chín, dịch chán lây lan đến từng nóc gia trong xóm Ngoài đồng hết chuyện cho người làm, lúa đã có trời tưới mưa, hong nắng” [48, tr.109] Bên cạnh đó, nhà văn còn lo âu cho sự tác động của
công cuộc hiện đại hóa đang làm mất dần những gì là bản sắc, là nét riêng của vùng
sông nước Nam Bộ Trong truyện ngắn Khói trời lộng lẫy, anh Nhứt bạn của Di cảm thấy đau xót trước cảnh thay đổi cảnh vật quê hương mình “Họ có thể giẫm lên những mầm cây vì tin rằng những cái cây này không bao giờ sống xót được mười năm tuổi, khi cái xóm nghèo đang chực hờ gần đó Họ có thể nhấm nháp rượu rắn với chim sẻ nướng dù biết đó là những con cuối cùng, họ đã giữ cuộc đời chúng bằng tiếng chim hót, bằng hình ảnh chúng sà xuống sân như một bầy lá rụng và ddm cất trong Viện, là xong” [51, tr.107] Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã khắc họa
hiện thực vùng đất Nam Bộ đầy đủ, chân thực qua từng trang viết của mình Nhà văn không cố né tránh, che mờ đi hiện thực tăm tối mà đối diện, suy tư để thấu cảm nỗi đau của nhân vật và gởi đến bạn đọc những thông điệp sâu xa
Trong những truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, không gian hiện thực đời sống
Trang 35nhiều vất vả, lo toan nhưng tình người, tình yêu quê hương vẫn còn rất ấm nóng Vì nghèo khổ nên nhiều người đã rời quê đi tha hương cầu thực Bên cạnh đó, cũng có
những con người quê bám đất bám quê “Tôi cúi mặt nhìn đôi bàn chân đang ngập trong bùn, không, tôi không bỏ Thổ Sầu được, vì tía tôi không đời nào chịu đi Vì sau vườn, cỏ lại đang mon men bò lên mộ má tôi, ông bà tôi” [53, tr.91] Họ luôn tự
hào về những truyền thống đấu tranh, tấm gương hi sinh anh dũng vì Tổ quốc
Trong truyện ngắn Ngọn đèn không tắt, ông Hai qua đời, con cháu ông thay nhau kể tiếp truyền thống lịch sử cha anh hào hùng mà không bao giờ chán “Cái khởi nghĩa
đó xảy ra đã lâu lắm rồi Dân xứ này, có người nhớ, người không Cái người không nhớ thì cũng nhớ được hai ngày Ngày thứ nhất là ngày giỗ chung những người khởi nghĩa bị giặc bắn ngoài chợ Ngày thứ hai là cái ngày kỷ niệm khởi nghĩa”
[52, tr.6] Người quê chân chất, thật thà sống gắn bó với quê nghèo như ông Tư Mốt
trong truyện ngắn Thương quá rau răm “vì cái đất nầy cần mình” [56, tr.22]
Những người dân quê luôn dành tình yêu tha thiết, trìu mến với từng tấc đất quê hương nhưng cũng lo lắng về những đổi thay của thiên nhiên, thời tiết, xã hội tác động làm ảnh hưởng đến quê hương thanh bình của họ
Đề tài quê hương là một trong những biểu hiện của thiên tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư bởi tình yêu ấy là máu thịt, là một phần không thể cắt rời trong con người của nữ nhà văn này Mỗi nhà văn đều có một thế giới nghệ thuật riêng của mình Đó có thể là quê hương, là nơi chôn nhau cắt rốn của họ nhưng cũng có thể chỉ là một vùng đất họ đi qua Nhưng với các nhà văn nữ, cảm hứng sáng tạo của họ phải bắt nguồn từ những gì họ yêu thương, gắn bó Có lẽ vì thế nên
Đỗ Bích Thúy gắn bó với mảnh đất Hà Giang, Trần Thùy Mai gắn bó thiết tha với Huế và nói đến Nguyễn Ngọc Tư là nói đến vùng sông nước Nam Bộ Tất cả đều là một phần yêu thương, là nơi gắn bó thiết thân của các nhà văn nữ để từ đó làm rung cảm ở họ những tiếng lòng tha thiết trên những trang văn
2.1.2 Hôn nhân, gia đình – những lo âu, dự cảm về sự rạn nứt, đổ vỡ
Đối với mỗi người, gia đình là nơi mình được sinh ra, nuôi dưỡng, trưởng thành và là điểm tựa tinh thần lớn lao Do đó, dù nhà văn viết về đề tài gì nhưng ít nhiều trong tác phẩm của họ cũng có đề cập về đời sống gia đình Để xây dựng
Trang 36được gia đình phải xuất phát từ tình yêu rồi đến hôn nhân Đề tài hôn nhân – gia đình chưa bao giờ cũ trong văn chương từ xưa đến nay Bên cạnh vấn đề tình yêu, hạnh phúc gia đình luôn là điều khiến Nguyễn Ngọc Tư trăn trở, ám ảnh và dành nhiều tâm huyết Vấn đề hôn nhân – gia đình trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư được khám phá bằng đôi mắt mang thiên tính nữ Chính vì vậy, vấn đề sẽ được nhìn nhận, quan niệm khác với người đàn ông Đối với người phụ nữ, cả đời họ luôn gắn
bó, chăm sóc, yêu thương và vun vén cho tổ ấm gia đình Với thiên chức làm mẹ, làm vợ hơn ai hết họ khao khát về một tổ ấm hạnh phúc nhưng cũng chính với bản tính nhạy cảm thiên phú của người phụ nữ, họ dường như vẫn thường nhạy cảm hơn đàn ông ở việc nhận ra những bất ổn, những nguy cơ của hạnh phúc gia đình trước những tác động xung quanh đặc biệt là áp lực của thời hiện đại Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư luôn hướng về vấn đề xoay quanh phạm vi nhỏ bé, vụn vặt đôi khi
là tủn mủn của đời sống gia đình thời hiện đại Những mái nhà Nam Bộ sông nước gần như cách biệt với đô thi xa hoa cũng một phần nào chịu những tác động của nền kinh tế thị trường sau năm 1986 Bên cạnh đó, chính sự suy đồi đạo đức, lối sống ích kỉ, tha hóa của con người là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những xung đột, mâu thuẫn trong gia đình Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư thấu hiểu những khao khát hạnh phúc về một mái ấm gia đình đơn sơ của người miền tây sông nước Nam Bộ mà họ hướng đến Chính lối viết nhẹ nhàng, sự chia sẻ cảm thông đã khiến người đọc vui buồn theo hạnh phúc của mỗi gia đình trong tác phẩm của chị
Trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư không thiếu những câu chuyện cảm
động về một gia đình hạnh phúc như: tình bà cháu (Rượu trắng), tình cha con (Thổ Sầu, Nỗi buồn rất lạ, Nhớ sông), tình anh em (Nhà cổ),… Họ yêu thương, gắn bó,
thấu hiểu và hy sinh cho nhau Nhưng trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhiều hơn vẫn là những câu chuyện dở dang, tan vỡ của những gia đình nhỏ trước áp lực tiền tài, vật chất và sự đổi thay của lòng người Điều này, Nguyễn Ngọc Tư đã đề
cập trong nhiều truyện ngắn của mình như: Lời yêu, Nước như nước mắt, Hiu hiu gió bất, Gió lẻ,… Trong truyện ngắn Lời yêu, Nhí lấy anh chồng ngoại quốc Hi -ếc
để thay đổi số phận nghèo khó “củ chuối luộc hóa bánh mì kẹp thịt quay, áo vá thành áo đầm, vạc tre là giường nệm, chỉ cần rắc chút xíu bột ảo tưởng lên là
Trang 37được” [48, tr.114] của mình nhưng cũng từ đây Nhí bước vào cuộc hôn nhân đầy nước mắt “Những buổi tối anh chồng tài tử xi nê nồng rượu gạo trở về, đôi lúc dịu dàng nựng nó bằng mấy cú thoi” [48, tr.115] và cuối cùng chết vì “bị chồng nắm tóc dìm vào bồn tắm đầy nước cho đến lúc thôi sủi tăm” [48, tr.116] Đây cũng là nỗi niềm của chị Sáo trong truyện ngắn Nước như nước mắt Chị Sáo không thể lấy người mình yêu mà phải “Lấy người má nó chọn, lý do “thằng đó có tới chục ngoài công đất” [56, tr.15] Hôn nhân không có tình yêu dẫn đến sự lạnh lùng, nhạt nhòa
trong quan hệ vợ chồng vì tất cả chỉ là nghĩa vụ Và khi lòng tham vật chất con người nổi lên thì tình cảm vợ chồng gắn bó, giá trị đạo đức đều được phá bỏ dễ
dàng Chẳng hạn như trong truyện ngắn Một trái tim khô Hậu đã vô cùng đau đớn
“Chết ngay ở cua Bún Bò, ngay sau khi thằng cha giết mướn run rẩy bảo, “Đừng oán tôi nghen, có oán hận thì oán chồng bà” Trong một thoáng Hậu xâu chuỗi các
sự kiện lại Chồng mình Khoản tiền thất thoát Cô kế toán trưởng chi nhánh miền Tây Những lời đồn đại (mà trước giờ Hậu chẳng tin)… Hậu nghe tim mình vỡ bục
ra, giãy đành đạnh rồi nín luôn” [56, tr.157] Sau kế hoạch giết vợ không thành,
Thường chồng Hậu leo lên chức tổng giám đốc và vẫn tỏ ra ân cần, yêu thương vợ Chính điều đó, đã khiến Hậu cảm thấy ghê tởm anh Khi vật chất che mờ lí trí, niềm
tin bị đổ vỡ chỉ là điều tất yếu Vợ chồng yêu thương nhau “hai người cùng nhau nấu bữa cơm chiều, cùng nhau sơn lại đôi cánh cửa, sửa hàng rào, cụm nụm trồng hành quanh chậu ớt Buổi sớm chung xe đến công ty, vào đấy thì mỗi người một phòng nhưng ngang qua lần nào cũng búng vô cửa kính chóc chóc, để ngẩng lên ngó nhau cười” [56, tr.155] chỉ vì đồng tiền mà giờ “nghe mình lạnh ngắt, khóc cho một trái tim đã chết ngoẻo cù nèo” [56, tr.157] Đồng thời, trước áp lực của vật chất
tiền tài khiến mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình trở nên rời rạc Họ không còn quan tâm, yêu thương nhau mà lại tính toán, ích kỉ hơn thua vì tiền bạc Gia đình mất đi ý nghĩa khi những đứa con chỉ biết sống tham lam, ích kỉ và bất hiếu với cha mẹ Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng phản ánh hiện thực này trong truyện
ngắn Núi lở Trong kí ức của Vĩnh cảnh “cha mẹ nó nháo nhác tìm những món đồ mà lúc tỉnh táo họ không bao giờ cần đến” [53, tr.79] rồi thoát thân bỏ rơi ông nội khi
núi lở Vật chất là điều cần thiết trong cuộc sống nhưng chưa bao giờ là tiền đề cho
Trang 38một cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, gia đình bền vững Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư
đã có cái nhìn cảm thông, thấu cảm trước lựa chọn hôn nhân thời hiện đại Hầu như các nhân vật đều bị ép buộc, dằn vặt và thậm chí phải đánh đổi bằng cả tính mạng Nguyễn Ngọc Tư đã chỉ ra nguyên nhân sâu xa dẫn đến cuộc hôn nhân này đều là
do cái nghèo đói, lạc hậu, thiếu hiểu biết Nếu đời sống xã hội tốt đẹp, bình đẳng thì
số phận người phụ nữ đã không bị bất hạnh, chịu nhiều đớn đau như thế
Điều Nguyễn Ngọc Tư hay đề cập trong đời sống gia đình hiện đại có lẽ là sự thiếu vắng niềm tin Niềm tin và sự tin tưởng nhau khiến mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình thêm gắn kết, bền chặt và ngược lại nếu thiếu sự tin tưởng nhau thì con người luôn cảm thấy buồn và cô đơn trong chính ngôi nhà của mình
Trong truyện ngắn Chuồn chuồn đạp nước, người bố luôn cảm thấy mất tự tin, mất
mát sau khi trả lời sai câu hỏi trợ giúp cho con gái trong một chương trình truyền hình Điều ông cảm thấy buồn nhất, cô đơn nhất khi vợ và con gái không còn tin
tưởng mình “Mẹ hứ một tiếng, trong mắt không hiện ra nể trọng gì, chỉ ánh lên mấy chữ, ông chồng ngớ ngẩn, ăn nói không giống ai” [53, tr.28 – 29] Bên cạnh đó, sự
đổ vỡ trong một cuộc hôn nhân còn là do một trong hai phía không biết trân trọng yêu thương nhau dẫn đến ngoại tình Ngoại tình đã khiến một gia đình đổ vỡ và những đứa trẻ chính là những người chịu nhiều tổn thương nhất Trái tim người phụ
nữ khiến Nguyễn Ngọc Tư không thôi day dứt trước thân phận của những đứa trẻ
trước biến động của gia đình Trong truyện ngắn Cánh đồng bất tận, người vợ vì sự
thiếu thốn vật chất, nghèo đói cùng với sự lạc hậu của cuộc sống lênh đênh sông nước đã không vượt qua cám dỗ của tiền bạc, mấy tấm vải đỏ nên đã ngoại tình Người vợ bỏ đi theo cuộc sống yên ấm giàu sang bỏ lại hai đứa con thơ với nỗi ám ảnh, tổn thương khi chứng kiến mẹ ăn nằm với người đàn ông khác Mảng kí ức đen
tối này luôn hằn sâu trong tâm trí Nương “Suốt nhiều năm sau đó, tôi không dám nhớ má, bởi ngay vừa khi nghĩ tới má, lập tức hình ảnh ấy hiện ra”[56, tr.177] Ông
Út Vũ trở về nhà “cười cay đắng” và “đem đốt tất cả đồ đạc” vì “nó cho thấy người
ra đi chẳng suy nghĩ, đắn đo, đã không một chút trù trừ, chỉ rũ mình cái rột, sạch trơn, vậy thôi”[56, tr.180] Vì sự phản bội của vợ nên Út Vũ cũng trở thành người
khác Nương dần chấp nhận sự đánh đập, khó chịu, cục mịch của cha như một sự
Trang 39cam chịu “Sau nầy chị em tôi không day dứt cho mệt, vì hiểu thấu ra, mình bị đòn chỉ vì là con của má, vậy thôi”[56, tr.183] Ngoại tình đẩy một gia đình hạnh phúc
trở thành một gia đình ba người phiêu bạc trên những cánh đồng rày đi mai đó theo những đàn vịt Họ như trốn chạy khỏi cuộc sống của những con người bình thường
sau tổn thương về gia đình “Đôi khi không hẳn vì cuộc sống, chúng là cái cớ để chúng tôi sống đời du mục, tới những chỗ vắng người” [56, tr.180] và “có lẽ vì cuộc sống của họ ngày càng xa lạ với chúng tôi Họ có nhà để về, chúng tôi thì không
Họ sống giữa chòm xóm đông đúc, chúng tôi thì không Nằm cheo queo, co rúm, chen chúc nhau trên sạp ghe, chúng tôi đánh mất thói quen chiêm bao Điều nầy làm tôi và Điền buồn biết bao nhiêu, vì cách duy nhất để được nhìn lại hình bóng
má cũng tan rồi” [56, tr.185] Từ khi gia đình đổ vỡ, Nương và Điền đã không được lớn lên và phát triển như những đứa trẻ khác “chúng tôi chấp nhận để cho người ta nhìn mình như những kẻ điên (miễn là tạm quên nỗi buồn của cõi – người)” [56,
tr.201] Còn người cha mất niềm tin vào phụ nữ và xem việc tạo niềm tin và phản
bội họ là một thứ vui để trả thù cuộc đời “trong cha tôi không còn một chút cảm xúc nào, nét mặt tràn ngập những rắp tâm, chưa gặp mặt đã tính chuyện phụ phàng”
[56, tr.197] Như vậy, chỉ vì sự ham muốn nhất của con người dẫn đến ngoại tình đã khiến một gia đình tan nát, bất hạnh, tổn thương đến với những người thân yêu Thế nhưng, Nguyễn Ngọc Tư đã thấu hiểu nỗi lòng, sự tổn thương của người vợ, người
mẹ vì bản chất của họ bao đời nay đều thương chồng yêu con, hi sinh vì gia đình
Người vợ trong truyện ngắn Một chuyện hẹn hò đã ngoại tình vì cô phải sống bên
cạnh người chồng vũ phu, hay say và coi thường vợ con Sống bên người chồng như
vậy khiến “chị héo hắt, lam lũ, lúc nào cũng khô quắt, cả lúc chồng không đánh, chị cũng gồng lên như gánh một gánh vô hình” [53, tr.108] Sự dịu dàng, sức sống
mãnh liệt của người phụ nữ bị thiêu hủy bởi người chồng vô tâm Do đó, việc chị khao khát một hạnh phúc là điều dễ hiểu Nguyễn Ngọc Tư dành nhiều sự trân
trọng, thương cảm cho những nhân vật như thế này Bởi vậy, đọc truyện ngắn Một chuyện hẹn hò, ta thấy nhân vật đáng thương nhiều hơn đáng trách Điều tinh tế của
ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư là diễn tả được sự phân vân, day dứt, khó xử của nhân vật trước việc ngoại tình Điểm chung của các nhân vật đều nghĩ đến những đứa
Trang 40con Chính điều này, cho thấy họ ngoại tình không phải phần lớn vì bản năng mà do
sự thiếu thốn về tinh thần Trong truyện ngắn Vực không đáy, chính sự ngờ vực,
nghi ngờ của người chồng nghĩ vợ đã lừa dối mình xuất thân nên khiến gia đình hạnh phúc đổ vỡ Người vợ cảm thấy sụp đổ, tổn thương khi bởi lòng tốt của mình
“bắt đầu từ một bà già ăn xin ghé đụt mưa trước hàng ba nhà mình, mẹ rủ vào trong ngồi cho đỡ lạnh, rồi thấy bà dơ và đói, mẹ dắt đi tắm và cho ăn” [48, tr 14] khiến chồng ngờ vực đủ điều “Những câu hỏi không thành lời khoét thành một lỗ sâu hoắm trong lòng ba, dần rộng như một cái vực không nhìn thấy đáy” [48, tr.12
– 13] Tổn thương dâng trào đỉnh điểm khi người vợ nhìn thấy tờ xét nghiệm huyết thống của con gái trong túi quần chồng Trang văn của Nguyễn Ngọc Tư cũng khiến người đọc phải trăn trở về cuộc sống của gia đình hiện đại không những cần vật chất mà còn phải chú trọng đến đời sống tinh thần của con người
Hôn nhân cần xây dựng trên sự yêu thương, tự nguyện của cả hai thì mới hạnh phúc bền chặt Nếu chỉ sống với nhau vì trách nhiệm thì không phải là một gia đình trọn vẹn đúng nghĩa Điều này, Nguyễn Ngọc Tư cũng đã tinh tế, sâu sắc thể hiện
trong truyện ngắn Dòng nhớ Để viết được những câu văn thể hiện nỗi niềm của
người vợ khi sống cạnh chồng mà cả đời ông đem lòng nhung nhớ người phụ nữ khác, Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện thiên tính nữ rất rõ Dường như, chỉ nhà văn nữ mới hiểu rõ nỗi lòng, tâm tư của những nhân vật nữ trong hoàn cảnh oái ăm này
Người vợ trong truyện ngắn vừa “vì ba tôi quên không được, má tôi mới thương ông nhiều” [56, tr.133] vừa “không ngừng tìm kiếm dì, hỏi để làm gì, má tôi nói để cho dì hay và nói với dì, nếu sống mà không gần được, chừng nào chết, mời dì lên nằm trên đất vườn nhà tôi Đó là nỗ lực cuối cùng má tôi làm để chấm dứt cái cảnh ba nằm bên má mà hồn vẫn hướng về những dòng sông miên man chảy” [56, tr.140] để rồi cả đời “không sống được mấy ngày vui, vui thật, vui đúng nghĩa” [56, tr.131] Chính người vợ và những đứa con trong gia đình sẽ chịu những tổn thương vì “cả nhà tôi lúc nào cũng cảm thấy không vui, dù hạnh phúc (hai thứ nầy sao lại không thể đi chung)” [56, tr.134]
Từ những truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư về đề tài hôn nhân – gia đình, ta nhận thấy mối quan hệ lỏng lẻo, mờ nhạt giữa những thành viên trong gia đình ngày