1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết đoàn minh phượng

116 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó không gian và thời gian nghệ thuật là yếu tố cơ bản của thi pháp học hiện đại luôn phải cách tân, nhà văn phải luôn có những sáng tạo mới về cách xử lí không gian và thời gian n

Trang 1

NGUYỄN THU THẢO

KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT ĐOÀN MINH PHƯỢNG

Chuyên ngành:VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số: 8220121

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Quốc Khánh

Trang 2

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Không gian và thời gian nghệ thuật

trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chƣa từng đƣợc công

bố trong bất cứ công trình nào

Bình Định, ngày 30 tháng 08 năm 2022

Tác giả luận văn

Nguyễn Thu Thảo

Trang 3

Lời đầu tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, Phòng Sau đại học trường Đại học Quy Nhơn và các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập tại trường

Với tình cảm sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Nguyễn Quốc Khánh – người đã tận tình hướng dẫn, trợ giúp và động viên tôi trong thời

gian nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời tri ân tới gia đình, bạn bè đồng nghiệp là những người đã sát cánh cùng tôi, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua để tôi có thể thực hiện tốt mọi công viêc

Bình Định, ngày 30 tháng 08 năm 2022

Tác giả luận văn

Nguyễn Thu Thảo

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan đề tài nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của luận văn 4

6 Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT CHUNG 5

1.1 Khái quát về không gian nghệ thuật 5

1.1.1 Quan niệm về không gian nghệ thuật 5

1.1.2 Những biểu hiện của không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 6

1.2 Khái quát về thời gian nghệ thuật 9

1.2.1 Quan niệm về thời gian nghệ thuật 9

1.2.2 Những biểu hiện của thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 12

1.3 Đoàn Minh Phượng – Cuộc sống và văn chương 15

1.3.1 Vài nét về tác giả 15

1.3.2 Hành trình đến với văn chương 17

1.3.3 Tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng trong dòng chảy tiểu thuyết hiện đại 21 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 25

CHƯƠNG 2 KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT ĐOÀN MINH PHƯỢNG 26

2.1 Không gian đồng hiện 26

Trang 5

2.1.2 Đồng hiện nhiều không gian địa lý 37

2.2 Không gian tôn giáo 40

2.2.1 Không gian Phật giáo 41

2.2.3 Không gian Thiên chúa giáo 45

2.3 Không gian mang tính biểu tượng 47

2.3.1 Không gian sương mù, mưa 47

2.3.2 Không gian ngôi nhà, căn phòng chật hẹp 52

2.3.3 Không gian toa tàu 62

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 65

CHƯƠNG 3 THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT ĐOÀN MINH PHƯỢNG 66

3.1 Thời gian trần thuật 66

3.1.1 Đảo lộn dòng thời gian sự kiện 66

3.1.2 Tự sự dòng ý thức và đồng hiện thời gian 78

3.2 Nhịp điệu thời gian 87

3.2.1 Nhịp điệu thời gian nhanh gấp 87

3.2.2 Nhịp điệu thời gian chậm rãi, lặp lại 94

3.3 Thời gian mang tính biểu tượng 97

3.3.1 Thời gian buổi chiều 98

3.3.2 Thời gian đêm tối 102

TIẾU KẾT CHƯƠNG 3 105

KẾT LUẬN 106

QUYẾT ĐỊNH GIAO TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 6

Bảng 3.1: Thời gian giấc mơ trong tiểu thuyết Và khi tro bụi 83

Bảng 3.2: Thời gian giấc mơ trong tiểu thuyết Tiếng Kiều đồng vọng 84

Bảng 3.3: Thời gian giấc mơ trong tiểu thuyết Đốt cỏ ngày đồng 85

Bảng 3.4: Xác định thời gian sự kiện và thời gian nhân vật trong Và khi

tro bụi 88

Bảng 3.5: Xác định thời gian sự kiện và thời gian nhân vật trong Tiếng Kiều đồng vọng 92

Bảng 3.6: Thống kê lƣợt từ chỉ thời gian buổi chiều đƣợc sử dụng 98

Bảng 3.7: Thống kê lƣợt từ chỉ thời gian đêm tối đƣợc sử dụng 102

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tiểu thuyết được xem là thể loại có vị trí hàng đầu trong mỗi nền văn học và luôn có sự chuyển biến không ngừng theo sự vận động của hiện thực khách quan Trong đó không gian và thời gian nghệ thuật là yếu tố cơ bản của thi pháp học hiện đại luôn phải cách tân, nhà văn phải luôn có những sáng tạo mới về cách xử lí không gian và thời gian nghệ thuật để phản ánh được sự biến chuyển không ngừng của hiện thực khách quan, đi sâu khám phá thế giới phức tạp, giải mã tác phẩm nghệ thuật đầy những bí ẩn về cuộc sống con người, thể hiện bản lĩnh sáng tạo và tư tưởng của nhà văn

1.2 Trong dòng chảy sôi nổi và mạnh mẽ của văn học hậu hiện đại, các tác giả văn học Việt Nam đã tiếp thu những ảnh hưởng từ tiểu thuyết hậu hiện đại phương Tây và cùng với đó là tư duy nghệ thuật có điều kiện được đổi mới để phù hợp với nhu cầu tiếp nhận văn học mới Trong đó, tiểu thuyết được xem là thể loại năng động và linh hoạt nhất Tiểu thuyết Việt Nam sau

1986 đã có nhiều thay đổi về tư duy nghệ thuật, trong đó có cả sự thay đổi về không gian, thời gian nghệ thuật, nhằm đột phá và kiến tạo một “ thực tại mới” Trong đó Đoàn Minh Phượng là một trong những nhà văn tiêu biểu cho những cách tân của văn học hậu hiện đại Việt Nam

1.3 Sáng tác của Đoàn Minh Phượng chưa nhiều, tính đến nay có 3 cuốn

tiểu thuyết được xuất bản là Và khi tro bụi ( NXB Trẻ, 2006), Mưa ở kiếp

sau (NXB Văn học, 2007) ( sau này tái bản và đổi tên thành Tiếng Kiều đồng vọng) và Đốt cỏ ngày đồng ( NXB Hội nhà văn, 2020) Gia tài văn chương

của Đoàn Minh Phượng không nhiều, nhà văn coi trọng về chất lượng hơn cuộc chạy đua về số lượng Cả 3 cuốn tiểu thuyết đều thuộc loại ngắn nhưng lại tạo nên ấn tượng vô cùng mạnh mẽ trong lòng độc giả bởi nội dung và cách viết mới lạ Ảnh hưởng bởi bầu không khí văn chường hải ngoại và ra

Trang 8

đời trong lòng xã hội hiện đại những tác phẩm của Đoàn Minh Phượng đã mang lại sự cởi mở trong tư duy nghệ thuật và góp phần làm phong phú thêm văn chương đương đại Việt Nam

Đây là những lí do chúng tôi quyết định chọn vấn đề “Không gian và

thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng” làm nội dung

nghiên cứu luận văn của mình

2 Tổng quan đề tài nghiên cứu

Tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng luôn nhận được sự quan tâm của nhiều

nhà nghiên cứu, phê bình văn học Đoàn Minh Phương sáng tác chưa nhiều,

công chúng biết đến chị chủ yếu qua hai cuốn tiểu thuyết Và khi tro bụi và

Tiếng Kiều đồng vọng Ban đầu những đánh giá, nghiên cứu về tác giả, tác

phẩm chỉ là những bài báo, bài phê bình đơn lẻ xuất hiện trên các trang báo

Từ năm 2008 đến nay, những công trình nghiên cứu về tác phẩm của Đoàn Minh Phượng bắt đầu xuất hiện nhiều hơn như Bùi Thị Vân trong công trình

Đoàn Minh Phượng và khuynh hướng tiểu thuyết huyền ảo triết luận ở Việt Nam hiện nay đi sâu khám phá những triết luận về con người cội nguồn

đề tài Cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh

Phượng của Lê Thị Sáng đã khai thác phương diện nội dung và nghệ thuật

dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện sinh, Trần Tuấn Anh với luận văn Thi pháp

trong tiểu thuyết Thiên sứ của Võ Thị Hoài và Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng hay Lê Tuấn Anh trong luận văn Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng đã chỉ ra những nét bao quát về các yếu tố đặc

sắc của tiểu thuyết như không gian, thời gian, con người, người kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, và nhiều luận văn khác nghiên cứu sáng tác của Đoàn Minh Phượng dưới góc nhìn phân tâm học, thi pháp học,

Các công trình nói trên phần nào cho ta thấy được sự đánh giá của các độc giả và các nhà nghiên cứu với những đóng góp mới mẻ của Đoàn Minh Phượng Các nghiên cứu trước đó chỉ tập trung vào khai thác 2 cuốn tiểu

Trang 9

thuyết Và khi tro bụi và Tiếng Kiều đồng vọng và cũng có những nghiên cứu

đề cập đến vấn đề không gian, thời gian nghệ thuật, tuy nhiên tính đến nay, theo chúng tôi chưa có công trình nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và

chuyên sâu về Không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Đoàn

Minh Phượng Chúng tôi lựa chọn đề tài này để nghiên cứu với mong muốn

đóng góp thêm và khẳng định những tiếp thu, đổi mới, cách tân của văn học Việt Nam nói chung và tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng nói riêng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các tiểu

thuyết của nhà văn Đoàn Minh Phượng, cụ thể là những tác phẩm:

Đoàn Minh Phượng (2006) Và khi tro bụi, Nxb Hội Nhà văn, 2020

Đoàn Minh Phượng (2010), Tiếng Kiều đồng vọng, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2020

Đoàn Minh Phượng (2020), Đốt cỏ ngày đồng, Nxb Hội Nhà Văn,

Hà Nội, 2020

3.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu là không gian

và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu, nhưng chủ yếu là các phương pháp sau:

4.1 Phương pháp hệ thống – cấu trúc

Tôi quan niệm tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng là một chỉnh thể nghệ thuật trọn vẹn và mang tính hệ thống Vì thế khi nghiên cứu tôi đặt nó trong một hệ thống chung theo một trật tự nhất định

4.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp

Trên cơ sở những tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích, bình luận làm rõ những đặc điểm về không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng

Trang 10

4.3 Phương pháp so sánh – đối chiếu

Sử dụng phương pháp nằm nhằm so sánh đặc điểm không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng với các nhà văn khác, từ đó thấy được những điểm riêng biệt, những đóng góp và vị trí của nhà văn Đoàn Minh Phượng cho văn học Việt Nam đương đại

4.4 Phương pháp phân loại, thống kê

Sử dụng phương pháp nhằm phân tích một số hiện tượng lặp nhằm dụng ý nghệ thuật của tác phẩm

4.5 Phương pháp tiếp cận thi pháp học

Vận dụng lý thuyết của thi pháp học để nghiên cứu những đặc điểm nổi bật về không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng

5 Đóng góp của luận văn

5.1 Đề tài cung cấp một cách “đọc hiểu” tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng Từ đó, mở ra cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề không gian và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng

5.2 Trên cơ sở các cứ liệu nghiên cứu, các kết quả của luận văn sẽ góp phần khẳng định những giá trị độc đáo về nội dung và tư tưởng nghệ thuật của tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng Qua đó phần nào giúp bạn đọc tìm hiểu thêm

và có những đam mê riêng về tình hình phát triển của bộ phận văn học hải ngoại hiện nay

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu (8 trang), kết luận (2 trang) và tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của luận luận văn được cấu trúc như sau:

Chương 1: Giới thuyết chung

Chương 2: Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng Chương 3: Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng

Trang 11

CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT CHUNG

1.1 Khái quát về không gian nghệ thuật

1.1.1 Quan niệm về không gian nghệ thuật

Không gian – thời gian nghệ thuật luôn là một hình tượng nghệ thuật được các nhà văn sử dụng linh hoạt và chứa nhiều tầng bậc ý nghĩa trong các tác phẩm văn học từ trước đến nay Trong quá trình sáng tác nghệ thuật, nếu hiện thực cuộc sống là phương thức biểu hiện được coi là mặt triển khai của mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì không gian, thời gian nghệ thuật được các tác giả sử dụng như một quan niệm riêng để thể hiện quan hệ cụ thể giữa nhân vật và hoàn cảnh

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu

tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn

ra trong một trường nhìn nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảng tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần, rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian, nên mang tính chủ quan Không gian vật thể, có không gian tâm tưởng Do vậy không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối, không quy được vào không gian địa lý”

Theo Trần Đình Sử: “ Không gian nghệ thuật là mô hình thế giới của

Trang 12

tác giả Cụ thể, được biểu hiện bằng ngôn ngữ của các biểu tượng không gian Ngôn ngữ này tự nó ít cá thể và phần lớn thuộc về thời đại, xã hội và các nhóm nghệ sĩ khác nhau, nhưng cái điều àm nghệ sĩ ấy nói lại khác, đó chính là mô hình thế giới riêng của người nghệ sĩ.‟‟ [38, tr.117]

Từ những quan niệm trên cho ta thấy, mỗi loại hình nghệ thuật có

những cách chiếm lĩnh các chiều không gian khác nhau Nếu “hội hoa và điêu khắc miêu tả sự vật một cách tĩnh tại, nêu ra hàng đầu các nét và tỷ lệ không gian của chúng” thì “trong việc chiếm lĩnh không gian nghệ thuật, văn học lại

có những ưu thế riêng so với điêu khắc và hội họa Vận dụng từ ngữ để chỉ ra các sự vật, nhà văn có khả năng chuyển dịch từ bức tranh này sang bức tranh khác một cách nhanh chóng lạ thường, dễ dàng đưa người đọc vào những miền không gian khác nhau‟‟ [38, tr.26]

Như vậy, có thể khẳng định không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật Không gian nghệ thuật không những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học Nó cung cấp sơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật Vì vậy, không thể tách hình tượng ra khỏi không gian mà nó tồn tại

1.1.2 Những biểu hiện của không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

Sau năm 1975, đất nước thống nhất và bước vào thời kì khôi phục và phát triển Thời cơ thuận lợi để đưa đất nước đi lên đã đến, nhưng khó khăn

và thử thách thì nhiều và vô cùng phức tạp Đất nước chuyển mình và đổi mới một cách toàn diện, trong đó có văn học Những vấn đề cơ bản của quan niệm văn học trong ba mươi năm, từ năm 1945 – 1975 từng được xem là chân lí hiển nhiên, thì sau 1975 phải được xem xét lại, trở thành vấn đề tranh luận, bàn cãi khá sôi nổi trong và ngoài giới văn học Tiểu thuyết viết về đề tài

Trang 13

chiến tranh giai đoạn này quan tâm đến không gian bối cảnh lịch sử - xã hội

để làm nền xây dựng nên hình tượng con người mới trong tiểu thuyết viết về chiến tranh nhằm cho thấy cái nhìn chân thực hơn về cuộc sống trong và sau chiến tranh Không gian chiến trường bị đẩy lùi vào trong kí ức thông qua dòng hồi tưởng của nhân vật, vừa gợi ra kỉ niệm đáng nhớ những cũng muốn

đi trong tâm hồn người lính Trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, Bảo

Ninh đã xây dựng nên một không gian chiến trường không phải bằng cái nhìn

“sử thi” truyền thống mà bằng cái nhìn chân thực đến trần trụi, thô nhám như

nó vốn có Vì thế không gian chiến trận thấm đẫm bi thương, mất mát Với

Bảo Ninh “ Chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới bạt sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người!” [1, tr.59]

Thích hợp với cái nhìn đời tư, thế sự, không gian nghệ thuật của những tác phẩm giai đoạn này cũng có sự thay đổi đáng kể Nếu ở giai đoạn 1945 –

1975, chúng ta bắt gặp chủ yếu là kiểu không gian lịch sử rộng lớn, nơi diễn

ra những sinh hoạt cộng đồng thì sau 1975, không gian nghệ thuật phổ biến là không gian sinh hoạt đời thường, không gian mang tính cá nhân, riêng tư ( những căn phòng chật hẹp, bức bối, thế giới đồ vật chen lấn, chèn ép cuộc

sống tinh thần, môi trường sống nhàm chán, tẻ nhạt, đơn điệu, ) “Đó là khoảng không gian xác thực bắt buộc con người luôn phải bộc lộ đến tận cùng bản chất của mình, không có cơ hội bị lảng tránh trách nhiệm cá nhân, không gian đó làm cho mọi trò diễn đều bị lật tẩy.” [29, tr.81] Nó tham gia

vào cuộc đời của con người, nó bao bọc lấy những buồn vui trong cuộc sống

của con người Căn phòng “mười sáu mét vuông gạch men nấu”, “Bốn trăm ô vuông nâu và một khuôn chữ nhật biến ảo” của bảy thành viên trong gia đình

cô bé Hoài (Thiên sứ) là nơi chen chúc những dục vọng tầm thường, những

ảo tưởng thê thảm của một kiếp người bị hoàn cnar cùng quẫn nghèo khổ làm

cho tha hóa “Cuộc sống bị những cái mái lở và chân ghế long ấy xâu xé,

Trang 14

choáng ngợp, không dành chỗ cho những cái hôn, thứ xa xỉ phẩm gia đình tôi không kham nổi”

Ngoài ra, không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

cũng thấm đẫm cảm giác cá nhân Trong Cơ hội của Chúa ( Nguyễn Việt

Hà), chuyện kể về các nhân vật đều diễn ra trong một hoàn cảnh lịch sử là Hà Nội những năm cuối thế kỷ XX, song với mỗi nhân vật đều mang trong mình

sự ám ảnh riêng về một miền không gian đặc biệt mang màu sắc tính cách của họ: Tâm với không gian đô hội – thương trường – tiền bạc luôn thay đổi, Hoàng với không gian nhờ thờ trầm buồn, Thủy sống trong không gian của mối tình thơ mộng đã đi qua, của quá khứ với tuổi học trò rất đỗi dịu dàng và

cũng vô vàn day dứt Trong Chinatown của Thuận Cảm giác mang tính cá

nhân tạp ra những không gian ảo giác, không gian huyền ảo Không gian huyền ảo là một không gian không có trong hiện thực, nó mơ hồ, kì bí và

thậm chí kì quái Trong tiểu thuyết Tấm ván phóng dao ( Mạc Can) là sự xuất

hiện dày đặc của những giấc mơ nối tiếp nhau tạo nên không gian mở hồ,

huyền ảo: “tôi nhìn thấy một cột khói hình nấm, với ngọn lửa phủ trùm vạn dặm, quá nhiều người bị thiêu cháy, tàn độc”, “Nơi chân trời hiện ra chiếc cầu vồng, Pantra cỡi con lừa lùn qua tận bên kia chiếc cầu ( ) Bỗng xuất hiện một con rồng hút nước, hút anh ta lên tận mây, từ trên đó anh ta nhìn xuống trái đất nhỏ như trái cam, sau đó tất cả đều biến mất, như trước đó vốn không có gì”, “ tôi chộp lấy những lưỡi dao, chợt thấy đau nhói, một lưỡi dao cắm vào tim tôi, tôi thấy tôi chết, khi đó chung quanh rộ lên tiếng cười và nhiều tiếng vỗ tay Trái đất, anh tôi và em tôi biến mất, chỉ một mình tôi trơ trọi giữa không gian bao la vô tận, tôi nhẹ tênh, lạnh toát, chung quanh tôi không còn gì, không còn mặt trời, mặt trăng, các vì sao, kể cả những tiếng động, tất cả đều màu đen.”[23] Tất cả những hư ảo đến từ những giấc mơ

phản chiếu những ẩn ức, khao khát, hỗn độn trong đời sống hàng ngày của nhân vật khi phải chứng kiến thường xuyên những hành động độc ác của con

Trang 15

người ngay trước mắt Bên cạnh không gian huyền ảo, Nguyễn Bình Phương còn mở rộng hai miền không gian song song thực - ảo Trong tiểu thuyết

Những đứa trẻ chết già, Thoạt kỳ thủy, Người đi vắng, không gian “ngôi

nhà Linh Nham” trở đi trở lại nhiều lần với bầu không khí ảm đạm, bí ẩn Những sự việc, những hiện tượng kỳ dị, quái đản làm cho ngôi làng ngập tràn trong cảm giác ghê rợn, kì dị Đó là mùi trầm tỏa ra từ miếu thờ của dì Lãm, gốc si già đêm đêm cất tiếng nói, sông Linh Nam đêm ngày gào thét, Cách xây dựng kiểu không gian huyền ảo, không gian đan xen giữa thực - ảo đã góp phần thể hiện quan niệm mới của các nhà văn về những triết lý sâu xa, vô thường, khó nắm bắt của cuộc sống

1.2 Khái quát về thời gian nghệ thuật

1.2.1 Quan niệm về thời gian nghệ thuật

Trong nghệ thuật tự sự, thời gian là một nhân tố quan trọng Genette

quan niệm: “Tôi có thể kể một câu chuyện mà không cần nói chính xác địa điểm nó xảy ra, hoặc nó xa cách bao lăm so với với địa điểm phát ngôn của tôi, nhưng dường như tôi không thể nào loại bỏ việc xác định thời gian trong tương quan với hành động, kể chuyện của mình, bởi lẽ tôi cứ nhất thiết phải

kể lại câu chuyện trong một thì nhất định về hiện tại, quá khứ hoặc tương

lai” [35] Trong triết học, thời gian nghệ thuật là phương thức tồn tại của thế

giới vật chất Hình thức thời gian tự nhiên, khách quan này tồn tại với tính liên tục, đồ dài, hướng, nhịp độ, có ba chiều quá khứ, hiện tại và tương lai và

có tính chất không đảo ngược “Thời gian tự nhiên có một tính chất rất đặc biệt: không thể đảo ngược được Nó chỉ vận động một chiều” [39, tr.38] Nếu

như mọi hiện tượng của thế giới khách quan đi vào nghệ thuật được soi sáng bằng tư tưởng và tình cảm, được nhào nặn và sáng tạo để trở thành một hiện tượng nghệ thuật, phù hợp với một thế giới quan, phương thức sáng tác, phong cách, truyền thống và thể loại nghệ thuật nhất định, thì thời gian trong tác phẩm cũng thế Nó có thể được gọi là thời gian nghệ thuật như ta đã quen

Trang 16

gọi tính cách nghệ thuật, xung đột nghệ thuật, thế giới nghệ thuật, thế giới nghệ thuật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Thời gian nghệ thuật là hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chính thể của nó Khác với thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch, thời gian nghệ thuật có thể đảo ngược, quay về quá khứ, có thể bay vượt tới tương lai xa xôi, có thể dồn nén một khoảng thời gian trong chốc lát thành vô tận Thời gian nghệ thuật được đo bằng nhiều thước đo khác nhau, bằng sự lặp lại đều đặn của hiện tượng đời sống được ý thức tạo nên nhịp điệu trong tác phẩm Như vậy thời gian nghệ thuật gắn liền với tổ chức bên trong của hình tượng nghệ thuật Khi nào ngòi bút nghệ sĩ chạy theo diễn biến sự kiện thì thời gian trôi nhanh, khi nào dừng lại thì thời gian chậm lại ” [14, tr.322]

Theo Trần Đình Sử: “Thời gian nghệ thuật là thời gian mà ta có thể thể nghiệm được trong tác phẩm nghệ thuật với độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với chiều thời gian là hiện tại, quá khứ hay tương lai Thời gian nghệ thuật là hình tượng nghệ thuật, sản phẩm sáng tạo của tác giả bằng các phương tiện nghệ thuật nhằm làm cho người thưởng thức cảm nhận được: hoặc hồi hộ đợi chờ, hoặc thanh thản vô tư, hoặc đắm chìm vào quá khứ Thiếu sự cảm thụ, tưởng tượng của người đọc thì thời gian nghệ thuật không xuất hiện Nhưng thời gian nghệ thuật cũng không phải là một hiện tượng của tâm lý cá nhân người đọc, muốn cảm thụ nhanh chậm thế nào cũng được Thời gian nghệ thuật là một sáng tạo khách quan trong chất liệu Nếu như một tác phẩm có thể gây hiệu quả hồi hộp đợi chờ thì đối với ai, lúc nào, khi cảm thụ, thời gian ấy đều xuất hiện” [38, tr 62-63] Nhà nghiên cứu này cũng cho rằng thời gian nghệ thuật: “có độ dài, nhịp điệu, tốc độ, có ba chiều quá khứ, hiện tại, tương lai khác với thời gian thực tại” [38, tr.85-86] Theo đó,

thời gian được hiểu là phương thức tồn tại của thế giới vật chất và thời gian di vào nghệ thuật cùng với những vấn đề cuộc sống như là một tất yếu phản ánh

Trang 17

Thời gian cùng với phương pháp sáng tác góp phần tạo nên thế giới nghệ thuật

Theo Phương Lựu: “ Thời gian nghệ thuật của văn học không phải giản đơn chỉ là quan điểm của tác giả về thời gian mà là một thình tượng thời gian sinh động, gợi cảm, là sự cảm thụ, ý thức về thời gian được dùng làm hình thức nghệ thuật để phản ánh hiện thực, tổ chức tác phẩm” [33, tr.242] Thời

gian nghệ thuật là một phạm trù mang tính chủ quan, ước lệ thể hiện cảm quan của tác giả về thế giới và con người, thể hiện tính thẩm mỹ trong cách cảm nhân cuộc sống và tư tưởng tác giả Nó không đồng nhất với thời gian khách quan mà được sáng tạo nhào nặn cho phù hợp với ý đồ sáng tác, thể loại, phong cách nhà văn Điều này tạo nên sự đa dạng, sinh động cho thời gian trong tác phẩm Thời gian nghệ thuật là yếu tố không thể thiếu trong kết cấu tác phẩm, đồng thời giúp cho việc liên kết các yếu tố trong tác phẩm được chặt chẽ hơn

Trong sáng tác văn học, thời gian nghệ thuật được đo bằng nhiều kích thước khác nhau và biểu hiện khá đa dạng tạo nên nhịp điệu cho tác phẩm Nó gắn liền với tổ chức bên trong của hình tượng nghệ thuật và như một hệ quy chiếu mang tính chất ẩn để phản ánh hiện thực, thể hiện tư duy của tác giả

“Thời gian nghệ thuật là thời gian do nhà văn sáng tạo ra, vừa thể hiện trạng thái con người trong thời gian, sự cảm thụ thời gian, vừa mở ra lộ trình để người đọc đi vào thế giới tác phẩm” [39, tr.86]

Với tư cách là sản phẩm sáng tạo riêng, độc đáo của người nghệ sĩ bằng các phương tiện nghệ thuật, phạm trù thời gian nghệ thuật có vai trò quan

trọng trong hệ thống thi pháp học: “là một biểu tượng, một tượng trưng, thể hiện một quan niệm của nhà văn về cuộc đời và con người.”[39, tr.86] Từ

những quan niệm trên cho thấy thời gian nghệ thuật là phẩm chất định tính quan trọng của hình tuợng nghệ thuật, đảm bảo cho việc tiêp nhận thực tại nghệ thuật và tổ chức nên kết cấu của tác phẩm, là một phạm trù nghệ thuật

có vai trò quan trọng trong việc thể hiện tính cách nhân vật, tư tưởng chủ đề

Trang 18

của tác phẩm Việc tìm hiểu phạm trù thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng có ý nghĩa quan trọng, giúp ta hiểu rõ hơn quan niệm của nhà văn về cuộc đời và con người

1.2.2 Những biểu hiện của thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

Thời gian nghệ thuật luôn có sự biến đổi theo dòng chảy văn học Ở mỗi thời kỳ, giai đoạn văn học, thời gian nghệ thuật mang những đặc trưng riêng làm nên dấu ấn thời đại trong thời gian nghệ thuật Và thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết cũng không ngoại lệ Tiểu thuyết Việt Nam đương đại

có những điểm khác biệt so với giai đoạn trước Số lượng nhà văn tăng lên đáng kể, những sáng tác của học mang hơi thở thời đại, có cá tính riêng Họ viết về vấn đề giới tính, số phận con người, quyền lợi vật chất và tinh thần, quyền bình đẳng và sự tự do Vì vậy thời gian nghệ thuật trong tác phẩm của

họ cũng thể hiện đậm nét những vấn đề thời đại: con người sau chiến tranh, vấn đề gia đình, sự đối lập tuổi thơ với cuộc sống người lớn, sự tìm tòi ý nghĩa cuộc đời, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội Chỉ đến văn học hiện đại, thời gian nghệ thuật mới thực sự gần gũi với cuộc sống cá nhân con người, đi sâu phản ánh hiện thực cuộc sống nhiều biến động, phức tạp và tiểu thuyết đã hóa nhập vào bối cảnh văn học đương đại nói chung Chúng ta có thể nhận thấy những dạng biểu hiện chính của thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết

Việt Nam sau 1975 đó là thời gian phi tuyến tính, đi sâu vào thế giới nội tâm

con người và thời gian huyền ảo

Nếu trước năm 1975, kiểu thời gian tuyến tính vẫn chiếm ưu thế trong tiểu thuyết Việt Nam thì sau năm 1975, thời gian phi tuyến tính trở thành một trong những đặc điểm cho thấy sự đổi mới tư duy tiểu thuyết khi cảm nhận về hiện tại, khát vọng làm chủ thời gian cũng trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết Với lối trần thuật này, thời gian bị đảo lộn, không còn theo trật tự tuyến tính của thời gian đời sống, một trong những hình thức tổ chức lại trình tự trần

Trang 19

thuật trong tiểu thuyết đương đại là từ hiện tại, quay ngược về quá khứ để kể chuyện Có thể thấy được lối trần thuật này xuất hiện trong một số tiểu thuyết

như Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, T mất tích của Thuận, Đi tìm nhân

vật, Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh, Mưa ở kiếp sau của Đoàn Minh

Phượng, Trong Nỗi buồn chiến tranh, thời gian trần thuật được thể hiện rõ,

từ hiện tại tác giả quay ngược về quá khứ để kể chuyện Nhân vật Kiên – một cựu chiến bình trở về sau ngày hào bình đã kể lại cuộc chiến đã qua, những sự kiện đã thuộc về quá khứ từ điểm nhìn của nhân vật chính Và thông qua Kiên, người đọc có thể hình dung sự ám ảnh của chiến tranh, những mất mát

mà cuộc chiến đã mang lại cho Kiên và những đồng đội của anh Từ đó, ta

thấy được dòng chảy số phận của từng con người trong chiến tranh “khổ sở vì đói, vì sốt rét triền miên, thối hết cả máu, vì áo quần bục nát tả tơi và vì những lở loét cùng người như phong hủi, cả trung đội chẳng còn ai trông ra hồn thằng trinh sát nữa Mặt mày ai nấy như lên rêu” [1, tr.23] Chúng ta

thấy rằng trong câu chuyện của mình Bảo Ninh đã xử lý yếu tố thời gian rất linh hoạt Nếu mạch trần thuật sự kiện được đẩy lùi về quá khứ thì mạch biểu hiện cảm xúc cứ trôi dạt, lan tỏa từ quá khứ đến hôm nay Dường như, những chuyện của quá khứ không hề khép lại mà tiếp tục sống cùng với Kiên trong những ngày tháng của hiện tại

Mang khát vọng nhận diện chân thực cái hôm nay, tiểu thuyết Việt Nam luôn tìm cách tiếp cận quá khứ từ góc nhìn hiện tại nhằm lí giải về nguồn gốc của cuộc sống hiện tại Hình thức đảo thuật thời gian đã góp phần làm cho những chuyện của ngày hôm qua như không hề khép lại mà vẫn tiếp tục sống cùng các nhân vật trong dòng trôi của hiện tại Ngoài kiểu thời gian trần thuật trên, tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 còn diển tả chiều đi từ hiện tại,

kể trước những chuyện của tương lai Trong tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê

Lựu kể về tình yêu giữa Giang Minh Sài với Châu, tình yêu mê đắm của một con người nửa đời mới được yêu cái không phải của mình, tác giả đã dự thật

Trang 20

việc chia tay tất yếu của họ Đến lúc Châu cầm bút kí vào bên cạnh chữ ký của Sài ở phần cuối tờ giấy đơn xin li hôn để rồi quẳng bút sang giường anh, nhanh chóng chui vào giường của mình nhưu chưa hề có chuyện gì xảy ra đã trên dưới năm năm Cách kể dự thuật này càng làm rõ thêm tính cách của nhân vật Sài và bi kịch hôn nhân

Một trong những hình thức mở rộng giới hạn thời gian tiểu thuyết sau

1975 là đồng hiện thời gian Tổ chức đồng hiện được xem như một chiến lược trần thuật cảu tác giả nhằm soi chiếu cặn kẽ con người với nhiều chiều kích Nhờ hình thức đồng hiện này, người kể chuyện có thể kết nối những chuyện thuộc về những khoảng thời gian khác nhau, rút ngắn được thời gian kể

Trong Thoạt kì thủy của Nguyễn Bình Phương đã thể hiện được sự đồng hiện

hai tuyến thời gian, hai cuộc đời: Cuộc đời của con cú kéo dài trong 45 phút, được kể theo thời gian tuyến tính và cuộc đời Tình: từ trong bụng mẹ cho đến khi tự sát, chủ yếu được kẻ lại theo thời gian tâm tưởng của nhân vật với những hoảng loạn, bất định của giấc mơ, vô thức Nhiều yếu tố, sự kiện chỉ được người kể chuyện đề cập ngẫu nhiên, thông qua những chuỗi kí ức, những giấc mơ của nhân vật

Ở tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, sự đồng hiện được thể hiện rõ, đặc biệt là tiểu thuyết có kết cấu “dòng ý thức” – là một trong những nguyên tắc

tổ chức tác phẩm nghệ thuật của người nghệ sĩ, tái dựng thế giới bên trong của con người một cách chân thực bằng việc tạo ra thời gian trần thuật chỉ phụ thuộc vào thười gian tâm trạng, vào dòng tâm tư của nhân vật Thời gian truyện lại là một dòng chảy liền mạch (thời gian mang tính hiện tại), không phụ thuộc vào các sự kiện cho dù rời rạc hay nối tiếp mà chỉ phụ thuộc vào những mảnh vỡ của dòng tâm trạng, dòng liên tưởng Những yếu tố mang tính

tự sự, những hành động bên ngoài thường được giảm thiểu nhường chỗ cho những mạch cảm xúc, những dòng suy nghĩ triền miên Với kĩ thuật đồng hiện, các chiều thời gian đã đồng loạt hiện ra Hiện tại, quá khứ lồng ghép vào

Trang 21

nhau, hiện tại cay đắng, quá khứ vui buồn đang cài với nhau Trong China

town của Thuận, suốt hai giờ kẹt tài, thời gian hiện tại và quá khứ cứ níu kéo

nhau và đan cài chồng chéo lên nhau Hồi ức về chuyện tình dang dở của nhân vật “tôi” luôn xuất hiện chồng chéo với câu chuyện thực tại ngổn ngang của đời sống các đô thị hiện tại, các toan tính cá nhân, nỗi lo sợ

Ngoài ta, một vấn đề nổi bật trong các tiểu thuyết đương đại chính là vấn đề “cá nhân hóa” và thời gian trong tác phẩm cũng đi sâu vào thế giới nội tâm của con người, hầu hết tác giả đều hướng đến những thời gian riêng tư, nhỏ bé của các cá nhân, hơn là những thời gian mang tính cộng đồng, tính xã hội rộng lớn Ở một khía cạnh khác, thời gian cụ thể và khắc nghiệt của cuộc mưu sinh đời thường không ngừng giao tranh với thời gian tâm lí trĩu nặng những kỉ niệm và suy tư, buồn đau và nhớ thương Thế giới được tái hiện ở những góc hẹp, góc lặng, góc khuất hơn là bằng những đại cảnh, trường cảnh – vốn là thế mạnh của tiểu thuyết truyền thống

Thời gian nghệ thuật là một phạm trù quan trọng của thi pháp học bởi văn học là nghệ thuật của thời gian Thời gian là đối tượng, chủ thể, là công

cụ miêu tả, là sự tự ý thức và cảm giác về sự vận động và thay đổi của thế giới trong các hình thức đa dạng của tác phẩm Thời gian trong tác phẩm văn học nói chung, trong văn xuôi và tiểu thuyết nói riêng là một yếu tố quan trọng, và

là phương tiện hữu hiệu nhất để tổ chức nội dung của tác phẩm Đó là lí do giải thích tại sao mà trong những sáng tạo nghệ thuật hiện đại, các nhà văn thường quan tâm đặc biệt tới thời gian nghệ thuật trong tác phẩm Bởi lẽ làm tốt điều đó đồng nghĩa với việc đóng góp to lớn vào sự đổi mới kĩ thuật viết

và tạo nên sắc thái độc đáo của tiểu thuyết thời kì đổi mới

1.3 Đoàn Minh Phượng – Cuộc sống và văn chương

1.3.1 Vài nét về tác giả

Đoàn Minh Phượng sinh năm 1956 tại Sài Gòn, cha mẹ gốc miền Trung Rời quê hương sang Đức định cư năm 1977 lúc chưa đầy 20 tuổi theo

Trang 22

diện đoàn tụ gia đình, bỏ lại quá khứ phía sau là quê hương của những tháng ngày bom đạn, chết chóc, đau thương của một thời tuổi trẻ luôn trốn mình trong những trang sách, chuyện phim và những bản tình ca Chính những điều

đó đã nuôi sống tinh thần của chị trong suốt những năm dài sau này trên đất khách Thưở nhỏ, chị từng theo đuổi con đường âm nhạc, sang Cologne, chị tiếp tục học âm nhạc nhưng con đường này dừng lại dở dang.Những năm đầu

ở Đức, bắt nhịp với cuộc sống mới đầy khắc nghiệt để có thể tồn tại và trụ được nơi trời Âu, chị đã học rất nhiều thứ, làm rất nhiều việc Vượt qua những rào cản về văn hóa, chị trở thành phóng viên cho các đài truyền hình lớn ở Đức và trở thành nhà báo, nhà sản xuất phim và sau này là nhà văn Để

có được công việc đó chị đã đối diện với nhiều áp lực công việc nặng nề Chị

từng tâm sự “Thực ra, khi đó tôi không nghĩ nhiều đến Tổ quốc hay dân tộc Nhu cầu lớn nhất của tôi là làm việc, khẳng định mình và ổn định được cuộc sống ở đó – một cuộc sống khắc nghiệt với người châu Á Phải đến sau này, khi mọi chuyện đã ổn, tôi mới ngồi nghĩ lại, mới chợt nhận ra mình thiếu cả một quê nhà” [37]

Nhưng chính những ngày tháng lăn lộn với công việc truyền hình, chị

đã bắt được những tín hiệu của quê hương để rồi trở thành động lực thôi thúc chị quay về Được phụ trách mảng văn nghệ Á châu cho Đài truyền hình, chị

đã tìm đọc sách và có những chuyến đi tìm hiểu đời sống văn hóa các nước châu Á, trong đó có Việt Nam Chính công việc này đã gắn với nối tâm hồn lưu lạc nơi chị lần tìm về lại với cuộc nguồn Chị nhận ra mình là một người lưu lạc Chị quyết định trở về quê hương, tìm về mối dây ràng buộc mạnh mẽ nhất với con người và cuộc đời Bởi chị đã nhận ra sau hai mươi năm xa xứ rằng chị chẳng có gì hết, chẳng có nổi một mảnh đất làm nhà, để trồng xới, để

ra đi và trở về, để giã từ nó khi cuộc sống buộc ta giã từ

Hành trình trở về quê hương của Đoàn Minh Phượng không dễ dàng,

chị nói “Trở về không dễ như người ta nghĩ, nó chẳng giản đơn là xách vali

Trang 23

về lại mái nhà xưa” [37], chị phải mất hai năm xin visa vào Việt Nam Trở về

quê hương, chị muốn cùng gia đình khôi phục lại xưởng mộc, xưởng may vốn

là nghề truyền thống của gia đình Tuy nhiên, điện ảnh và văn học mới chính

là nỗi đam mê dai dẳng của chị Mặc dù, những trang viết ra đời bắt nguồn từ nhu cầu giãi bày hơn nhu cầu viết văn, nhưng ngay sau đó nó đã định vị trong lòng người đọc về chân dung của một cây bút nữ tài hoa, giàu cảm xúc

Tạo dấu ấn trong đời sống văn nghệ nước nhà với bộ phim Hạt mưa rơi

bao lâu (2004), một năm sau, chị cho ra mắt cuốn tiểu thuyết đầu tay Và khi

tro bụi Cuốn sách nhanh chóng được đón nhận và khẳng định trên văn đàn

khi được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải thưởng văn xuôi duy nhất vào năm

2007 Cuốn tiểu thuyết thứ hai Mưa ở kiếp sau ( sau đổi tên thành Tiếng Kiều

đồng vọng) và Đốt cỏ ngày đồng, cũng với một giọng văn đầy day dứt và ám

ảnh là sự tiếp nối và định hình phong cách viết cho cây bút nữ hải ngoại Đoàn Minh Phượng Hiện nay, chị là nhà sản xuất phim, đồng thời là nhà kinh doanh đồ gốm và dệt may Tuy nhiên, có thể thấy, điện ảnh và văn học là đam

mê và mơ ước mà chị quyết tâm theo đuổi

1.3.2 Hành trình đến với văn chương

Đến với văn chương, mỗi nhà văn đều có những trải nghiệm riêng trong hành trình đi tìm cái tôi của mình Mặc dù có những tiêu chí chung cho văn học ở mỗi nền văn hóa, mỗi thời đại, nhưng rõ ràng có những tác phẩm văn học khi đọc nó ta nhận ra bức chân chung của nhà văn Đoàn Minh Phượng là một trong những chân dung nổi bật của nền văn học hiện đại Việt Nam

Văn học hiện đại Việt Nam đón nhận không ít những gương mặt nhà văn nữ hải ngoại tiêu biểu Song ai đã từng diện kiến với bộ phận văn học này, hẳn sẽ không thể quên ấn tượng về tác giả Đoàn Minh Phuợng với ba cuốn tiểu thuyết mang giọng văn trầm lắng, miên man nhưng đầy khắc khoải

về thân phận con người trong cõi nhân sinh Cuộc sống nơi xứ người với nỗi buồn li hương, khao khát cội nguồn để lại nhiều ám ảnh trong những sáng tác

Trang 24

của chị Đọc văn Đoàn Minh Phượng, ta luôn nhận ra nỗi cô đơn, lạc loài của

con người luôn dằn vặt trước câu hỏi: Mình là ai? Mình từ đâu đến? Ý nghĩa

sự tồn tại của mình? Nỗi buồn ly hương, ám ảnh, khát khao nguồn cội, tâm

trạng phức hợp, giằng kéo khi bị dằn vặt giữa hai nền văn hóa Đông – Tây luôn day dứt và trào dâng trong văn chị Quá nặng nợ với quá khứ, cuộc sống

ở trời Âu không làm chị quên được cội nguồn, nó vẫn được nuôi sống trong

chị bằng “sợi dây tình cảm mơ hồ”, “bằng những dòng chữ Việt” Có lẽ chính

bở những thứ mơ hồ, mỏng manh nhưng dai dẳng, bền chặt và khó dứt bỏ ấy

đã giúp chị tìm đến văn chương như một sự trải lòng, một lời thổ lộ, một cách

tự vỗ về mà như chị đã từng nói – một nhu cầu được giãi bày

Trở về quê hương sau cuộc hành trình dài của một con người tha hương

để tìm lại mình sau những năm tháng lạc loài nơi đất khách, giữa guồng quay khốc liệt của xã hội hiện đại Tây Âu, quê hương gặp lại đứa con lưu lạc trong bóng dáng quen thương ở giọng văn sâu lắng, trầm buồn với nhiều những hoang mang, ray rứt về thân phận Với Đoàn Minh Phượng, đó chính là dấu

ấn của sự trở về Như là sự thu hẹp khoảng cách giữa mình với quê hương, để minh chứng rằng mình không xa lạ, Bởi theo chị, làm cái gì đó để đánh dấu

sự trở về luôn “ám ảnh tôi như một món nợ phải trả Mà nợ ai? Có lẽ là nợ chính mình” [37] Mang tâm trạng của con người tha phương nhớ về quê

hương để luôn biết mình là ai, ở chị quê nhà không đơn giản là một quá khứ

mơ hồ của những kí ức ấu thơ, mà đó còn là tình yêu máu thịt đối với ngôn

ngữ dân tộc Chính nó đã giúp chị “ cảm nhận được cái hay, cái đẹp mà ngôn ngữ này chuyên chở Tôi muốn đọc thêm, thêm nữa, thậm chí muốn viết

ra những điều mình nghĩ” [37]

Có thể nói, cuộc gặp gỡ của Đoàn Minh Phượng với văn chương không phải là một sự tình cờ mà nó khởi phát âm ỉ từ rất lâu trong nỗi niềm của người con xa xứ luôn mặc cảm về thân phận tha hương Tìm đến với văn chương trở thành nỗi thôi thức, thành nhu cầu mãnh liệt hơn khi chị tìm gặp

Trang 25

mạch ngầm truyền thống văn hóa phương Đông trong những ngày phụ trách mảng văn nghệ Á châu cho đài truyền hình Đức Những chuyến đi thực tế dài, những bộ phim tài liệu về văn hóa và đời sống của người dân châu Á, trong

đó có Việt Nam đã trở thành nhịp cầu nối tâm hồn chị với nơi thân thược mà

từ đó nó đã bắt đầu Nó như phù sa cứ tích bồi vào miền đất của kí ức luôn đau đáu nỗi niềm cội nguồn Tự nhận mình là người “nặng nợ với quá khứ”, thế giới tâm hồn chị chưa bao giờ dứt ra khỏi mảnh đất mà từ đó chị ra đi và luôn khao khát được quay về Vậy nên, khi bắt gặp những tín hiệu của quá khứ, chị bám vào nó như một chiếc phao, giữ cho chị không bị chìm xuống trong một không gian xa lạ mà hằng ngày chị vẫn quay cuồng với nó để tồn tại, và để cho chị biết mình là ai Tiểu thuyết của chị ra đời như một tất yếu

cảu như cầu được giãi bày, bộc bạch Chị tâm sự: “Ở trong cái thế giới mơ hồ của tri thức và sự phân công mạnh mẽ của người xã hội hiện đại, chị thấy người ta xa lạ nhiều, chẳng ai phải chịu trách nhiệm cho ai Mà cái sự chịu trach nhiệm đó, theo chị, đó mới là cơ sở bắt đầu của tình thương yêu, là sợi dây ràng buộc mạnh mẽ nhất giữa người với người Chị không muốn sống mãi trong cảm giác đi siêu thị, mua những trái chanh về xài mà quên mất nó đến từ đâu, ai trồng tưới cho nó, Ở vòng xoáy quá mạnh đó, về mặt tình cảm, chị đã bị văng ra xa Một nhà văn Đức có nói, người ta rất dễ bỏ chạy, chạy

cả cuộc đời, để lại mọi thứ sau lưng, chỉ việc dừng lại là gian khó”.[37]

Xuyên suốt các tác phẩm của Đoàn Minh Phượng đều bắt gặp những con người cô đơn, lạc lõng, đi tìm bản ngã của mình và sự bất lực trước thực tại hỗn mang Các nhân vật đều mang trên mình những ký ức, quá khứ đau thương, họ vừa muốn quên đi nhưng lại vừa muốn truy tìm nó như cách xác định căn cước bản thân Mạch văn của Đoàn Minh Phượng thường trầm buồn

và chậm rãi, đôi lúc lại vô cùng nồng nhiệt và thiết tha Đề tài sáng tác của bà thường xoay quanh những vấn đề về nguồn cội, nhân sinh và bản thể con người Là một nhà văn hải ngoại, có lẽ nguồn cội quê hương chính

Trang 26

là một nỗi ám ảnh thường trực trong tâm hồn bà Để rồi khi trở về Việt Nam

chị “luôn tự nhủ, mình phải làm gì đó để đánh dấu sự trở về này Nó ám ảnh tôi như một món nợ phải trả Mà nợ ai? Có lẽ là nợ chính mình” Đoàn Minh

Phượng tự nhận mình là một người có lối viết khá lạnh Phong cách sáng tác

của bà cũng vô cùng độc đáo “Tôi thường nghĩ ra cốt truyện, dựng dàn bài

và viết từng chương rời rạc Tôi không viết theo trật tự nào hết mà nhảy cóc

từ chương này sang chương nọ Sau khi viết xong rồi tôi mới quay lại và kết nối chúng lại với nhau Thường thì khi lắp ráp, tôi chọn lọc và bỏ đi rất nhiều chương Cũng giống như trong điện ảnh, người ta quay rất nhiều cảnh rồi lựa chọn những cảnh đẹp nhất, đạt nhất” [20] Sự phân mảnh, rời rạc của

cốt truyện và nghệ thuật đa điểm nhìn có lẽ cũng ảnh hưởng và xuất phát từ đây Như mạch nguồn của dòng chảy, chất triết lý suy ngẫm xuyên suốt trong tác phẩm của Đoàn Minh Phượng và trở thành nét đặc trưng trong tiểu thuyết của bà Với kỹ thuật dòng ý thức đã đưa câu chuyện diễn tiến tự nhiên theo dòng cảm xúc Đoàn Minh Phượng không chỉ nhận diện những đổ vỡ trên bề mặt đời sống xã hội mà còn đi sâu vào những đổ vỡ trong tâm hồn con người Tác giả đã đưa vào tiểu thuyết những mảnh vụn của hiện thực ngổn ngang, ê chề Không có hiện thực nào được hoàn nguyên, hiện thực là những điều phi

lý, vụn vỡ, đứt đoạn Do vậy, có nhiều cách để lý giải, mô tả khác nhau về những sự kiện và không có sự lí giải nào có thể nắm bắt được chính xác sự kiện Chỉ qua những sự việc hay cảnh huống nào đó, một đoạn nhỏ trong ký

ức mới hiện ra khiến cho nhân vật cảm thấy mình như kẻ lạc loài với thế giới Không chỉ thế, sự đan xen giữa thực tại – quá khứ; hiện thực - ảo ảnh khiến cho sự rời rạc của câu chuyện tăng thêm, người đọc càng khó nắm bắt được diễn tiến câu chuyện ấy Cả giấc mơ – “những mẩu chuyện chợp chờn, vô lí

và rời rạc” hiện ra đã làm gián đoạn hiện thực đang được kể bằng ý thức Đó

là biểu hiện của phương phức phản ánh mang cảm quan hậu hiện đại trong sáng tác của Đoàn Minh Phượng Với tiết tấu chậm rãi, nhà văn đã gợi mở rất

Trang 27

nhiều cung bậc cảm xúc, một thể giới nội tâm sinh động và sâu lắng của nhân vật Những suy tư, triết lý về sự thật, về bản thể con người mà Đoàn Minh Phượng gợi ra trong tác phẩm của mình cũng vì thế mà tìm được sự đồng điệu trong lòng nhiều người đọc Mỗi người đọc đều khắc khoải, hoài nghi, trăn trở khi tiếp xúc với tác phẩm Họ không chỉ là người thưởng thức mà còn là người đồng sáng tạo với tác giả

1.3.3 Tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng trong dòng chảy tiểu thuyết hiện đại

Văn học Việt Nam từ sau đổi mới đã cho thấy sự hòa nhập sâu rộng từ quan niệm về văn chương, tư duy nghệ thuật đến nhà văn và cái nhìn hiện thức về con người, cuộc sống Trong dòng chảy đầy năng động ấy, đóng góp của những cây bút hải ngoại là không thể phủ nhận Sự chào đón nồng nhiệt của độc giả trong nước đối với sáng tác của họ không chỉ dừng lại ở nhu cầu giải trí mà rõ ràng đã cho thấy việc khẳng định vị trí bền chặt của họ trong dòng văn học nước nhà Điều đó được thể hiện bằng sự ghi nhận những sáng

tác của họ qua những giải thưởng danh giá: năm 2006, tác phẩm Paris 11

tháng 8 của nhà văn Thuận đạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam; năm

2007, tiểu thuyết Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng được Hội nhà văn

trao giải văn xuôi duy nhất Bên cạnh cái nhìn cuộc sống già dặn, tính triết lý

và sự khao khát những giá trị nhân bản trong cuộc đời nhiều biến động, chúng

ta đều dễ nhận thấy ở tác phẩm của họ một điểm chung với những cảm thức, hoài niệm về đất nước, về thân phận của những người xa xứ và những cú sốc

về văn hóa Đó chính là đặc tính rõ nét của một nền “văn học di dân”

Bị tách ra khỏi nền văn hóa cội nguồn, các nhà văn luôn đau đáu nỗi niềm quê hương Đọc các tác phẩm của học, ta luôn nhận ra một mạch ngầm

kí ứ ức, nó là thứ khó dẫn dắt nhưng sự rạch ròi của nó đôi khi lí trí cũng phải chịu khuất phục Bởi dường như các nhân vật dù đặt trong hoàn cảnh nào, rẽ theo con đường nào cũng luôn đối diện với nỗi ám ảnh về sự xa lạ trước thực tại, sự thiếu hụt điểm tựa quê hương , nỗi cô đơn luôn đeo bám và ẩn hiện

Trang 28

đằng sau là một hoài niệm, một kí ức chập chờn vẫy gọi Tràn ngập trong những trang viết là nỗi ưu tư, trăn trở về cuộc đời qua những biến động của số phận mỗi người Ẩn sau tất cả điều đó là một khát khao được giãi bày, một ước vọng sống mãnh liệt

Bên cạnh những cây bút hải ngoại quen thuộc với độc giả như Thuận Linda Lê, Đoàn Minh Phượng như là mảnh ghép không thể thiếu để tạo nên một gương mặt hoàn chỉnh cho văn học Việt Nam đương đại Sự nhạy cảm của tâm hồn người phụ nữ, cảm thức về con người với ý nghĩa đích thực của

sự tồn tại, nỗi âu lo ám ảnh trước cuộc sống của thân phận lưu lạc Sự lưu lạc

đó bắt đầu từ năm nào? “Ngày trước tôi sống ở thành, tôi không hiều chiến tranh, tôi tìm mọi cách không nhìn thấy nó, tìm mọi cách đặt mình bên ngoài câu chuyện chung của đất nước mình Sự lưu lạc bên trong đã bắt đầu trước khi tôi rời Việt Nam và theo tôi hết phần lớn cuộc đời.” [20] Có lẽ chính vì

vậy mà những câu chuyện về nhân vật luôn là trăn trở của chính chị, chị chia

sẻ về nhân vật trong Và khi tro bụi: “Nhân vật tôi – người phụ nữ nghĩ đến

cái chết và lựa chọn cuộc hành tình đi tìm cái chết trên những chuyến tài bình thường nhưng tưởng như vô định Tâm trạng nhân vật mơ hồ, hoang mang và luôn tự vấn “mình là ai?‟‟ [37]

Tưởng chừng chỉ là cảm xúc tràn ngập những trang văn, nhưng không, đọc văn của Đoàn Minh Phượng là cả một hành trình của tư duy, của những suy tưởng mang tầm triết lý, là cuộc vận hành của trí tuệ đến cõi nhân sinh Đoàn Minh Phượng đã dẫn cả nhân vật lẫn người đọc đi từ vô thức, tiềm thức đến nhận thức bằng một con đường rất giản đơn qua giọng điệu tâm tình với người kể chuyện ở ngôi thứ nhất Rõ ràng, văn chương của chị không khiêm tốn như chị vẫn chia sẻ, là mục đích ghi lại tâm sự, để còn biết mình đang sống mà nó cho thất một cây bút tài hoa, sâu sắc và nhiều trải nghiệm Đọc tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, chúng ta bắt gặp nỗi buồn triền miên, day dứt Nỗi buồn như một ám ảnh của kiếp nhân sinh Cũng như các nhà văn xa

Trang 29

xứ khác, trải qua những ngày tháng dài trong thân phận tha hương, những va chạm giữa hai nền văn hóa và sự hời hợt của sợi dây nối mình vào hiện tại khi vừa bị bứt khỏi cội nguồn, nỗi cô đơn và cảm thức hiện sinh tồn tại như một tất yếu Khi ý thức về bản thể mất đi cùng sự bất lực của con người vì không

thể hòa nhập với xã hội, cuộc sống trở nên phi lí Nhân vật “tôi” trong Và khi

tro bụi bỏ lại tất cả để đi tìm lại cội nguồn bản thể của mình “Tôi muốn biết

mình là ai để ngày tôi chết tôi biết rằng ai đã chết”

Cuộc sống nơi xứ lạ đã đẩy con người vào cuộc sống vào cô đơn Ở đó,

họ thấy sự tồn tại của mình mong manh, bất định và dễ vỡ Với nhà văn Thuật, nhân vật của chị cô đơn ở bất cứ nơi đâu trên thế giới này Liên trong

Paris 11 tháng 8 cô đơn không chỉ khi sang Pháp mà cô đơn ngay chính trên

quê hương mình Người phụ nữa trong Chinatown như kẻ lạc loại ám ảnh bởi

người chồng đã rời xa và luôn lo sợ rằng đến một ngày đứa con trai cũng để

cô lại một mình Từ khi sinh ra đến lúc đã là người phụ nữ trưởng thành, cái tôi của cô là cảu ba người: cô và bố mẹ Suốt dòng hồi tưởng về cuộc đời không phẳng lặng trên chuyến tàu bị kẹt, cô chỉ đau đáu, miên man trở đi trở lại những câu hỏi vô nghĩa như chính cuộc sống vô nghĩa bởi bản ngã của cô

chưa từng thuộc về cô: “ Tôi chỉ muốn gặp Thụy để hỏi Những ngày ấy Thụy

ở đâu, gặp ai, làm gì ” [37, tr 56] Cuộc sống nghịch lý đến nực cười khiến

con người đánh mất luôn bản ngã dù không phải là chưa từng ý thức về nó

Đến T mất tích, nỗi cô đơn của con người vượt ra khỏi bên giới người Việt,

không phân biệt giới tính, quốc tịch – những người đàn ông Pháp cũng cô đơn

và dửng dưng trong xã hội Pháp hiện đại Ở đó, ta luôn thấy nỗi cô đơn, xa lạ,

vô nghĩa của tồn tại được đẩy đến cực hạn

Dường như luôn ám ảnh chị là nỗi buồn tha hương, mất đi nguồn cội, Đoàn Minh Phượng đã tiếp tục viết về một cuộc hành trình tìm kiếm khác với

Mưa ở kiếp sau (2007, đến 2010 đổi tên thành Tiếng Kiều đồng vọng) Lần

này bối cảnh câu chuyện hoàn toàn ở Việt Nam Nhân vật chính là Mai, sinh

Trang 30

ra và lớn lên với mẹ Liên ở Hà Nội, Từ nhỏ, Mai không biết cha mình là ai và luôn mong muốn được gặp lại cha Từ đây, Mai phải lựa chọn rời xa mẹ để một mình tìm đến chốn đi thị phồn hoa, nhiều cám dỗ với mong ước được gặp

cha Nội dung cơ bản của Tiếng Kiều đồng vọng có nhiều yếu tố tương tự bộ phim Hạt mưa rơi bao lâu do chính chị làm đạo diễn và biên kịch năm 2005

Ở tiểu thuyết này, Đoàn Minh Phượng vẫn tiếp tục suy trì lối kể chuyện tuyến tính, tác giả cho phép dòng tự sự của nhân vật chạy miên man tự do, đi đi về

về giữa quá khứ và hiện tại Tiểu thuyết đã được nhiều nhà phê bình và độc giả đón nhận một cách nồng nhiệt và giúp người đọc có hình dung rõ ràng hơn về bức chân dung riêng biệt của Đoàn Minh Phượng trong vô vàn những cây bút trẻ Và mãi đến gần 13 năm sau, Đoàn Minh Phượng mới trở lại với

Đốt cỏ ngày đồng – tiểu thuyết đến “như một cơn mưa rào làm thỏa nguyện

những khát khao đợi chờ” Tác phẩm được thai nghén trong một thời gian tương đối dài, vẫn là một cuốn tiểu thuyết ngắn giống với hai sáng tác trước

đó nhưng ở Đốt cỏ ngày đồng đã để lại ấn tượng hết sức khác lạ với hơi thở

lãng mạn nồng nàn và thấm đẫm tính triết lý Vẫn với thế mạnh là viết theo kỹ thuật dòng ý thức nhưng lần này người đọc dường như khá khó khăn trong việc nắm bắt cốt truyện bởi sự mơ hồ, chung chung, không rõ ràng từ cốt truyện, bối cảnh, góc trần thuật, Và người đọc cũng dễ dàng nhận ra, lần trở lại này, Đoàn Minh Phượng đã ít đi phần nào sự lạnh lùng trong lối kể chuyện của mình mà đã viết mềm mại hơn, tha thiết và giàu xúc cảm hơn Tuy nhiên, tác phẩm không phải là một áng văn trữ tình dạt dào, nồng nàn mà lại đậm màu sắc hiện sinh Thông qua câu chuyện của nhân vật chính - là cô gái xưng

“tôi” mà mãi đến cuối tác phẩm người đọc mới biết được tên thât của cô là Mây – bị chia cắt người mình yêu, bị đẩy vào con đường bán thân, Đoàn Minh Phượng đã gửi gắm những tư tưởng về sự tự do, sự ê chề của kiếp người, hoài nghi và ám ảnh về thực tại

Nhân vật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng đi qua nhiều biến cố để

Trang 31

tìm lại chính mình, từ sự vô minh đến sự minh triết Và chị, qua nhân vật, chị cũng làm một cuộc hành hương như thế Chị dẫn dắt người đọc bằng cách kể chậm rãi, nhiều cảm xúc Với ba tiểu thuyết ngắn nhưng chị đã dồn chứa trong đó tất cả những bể dâu của cuộc đời qua một lối văn đẹp nhưng buồn và giàu triết lý Đó cũng chính là dấu ấn riêng trong bức chân dung của những cuộc đời lưu lạc Những nhà văn hải ngoại trong đó có Đoàn Minh Phượng đã tạo nên mạch ngầm đầy năng lượng của dòng văn học xa xứ

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Văn học Việt ngày càng cho thấy sự đổi mới và hòa nhập sâu rộng về mọi mặt Trong đó, tín hiệu rõ nhận thấy nhất là sự xuất hiện ngày càng nhiều của những cây bút trẻ hải ngoại Quan trọng hơn là sự ghi nhận của bạn đọc nước nhà đối với lực lượng sáng tác này trong thời gian gần đây, điều này thể hiệ rõ qua các giải thưởng danh giá của Hội nhà văn Việt Nam và sự đón đọc của độc giả Đoàn Minh Phượng rời xa quê hương hơn 20 năm, tưởng chừng như đã quên đi những kí ức, dấu ấn văn hóa về Việt Nam nhưng trái lại những nỗi niềm tâm sự thiết tha đối với quê hương luôn hiện diện trong sáng tác của chị Số lượng sáng tác văn chương của Đoàn Minh Phượng hiện nay vẫn còn khá khiêm tốn nhưng đã cho thấy được sự già dặn và táo bạo trong lối viết

Với ba tiểu thuyết là Và khi tro bụi, Tiếng Kiều đồng vọng và Đốt cỏ ngày

đồng , Đoàn Minh Phượng đã tạo nên được dấu ấn độc đáo, riêng biệt qua

những trang viết giàu cảm xúc và giá trị nhân văn

Trang 32

CHƯƠNG 2 KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT

ĐOÀN MINH PHƯỢNG

2.1 Không gian đồng hiện

2.1.1 Không gian đồng hiện thực - ảo

Nhân vật trong tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng dường như đều đánh mất sợi dây liên kết với xung quanh, với cộng đồng, với không gian văn hóa – sinh tồn Họ là những con người mang bi kịch tha hương, số phận bị đánh mất, tướt đoạt, họ đau khổ, tổn thương và mắc kẹt trong cuộc sống của chính mình Một mặt họ luôn nhung nhớ da diết quá khứ và khát khao đi tìm quá khứ nên trong chính thực tại, các nhân vật của Đoàn Minh Phượng luôn tồn tại trong nhiều miền không – thời gian phức tạp đan xen chồng chéo Không gian đồng hiện là toàn bộ cấu trúc không gian giống như những bức tranh, những thước phim tách rời, chắp vá, sắp xếp lộn xộn, chồng chéo lên nhau, thường được tái hiện đầy đủ bởi các yếu tố: ánh sáng, âm thanh và màu sắc Đồng thời không gian đồng hiện được thể hiện thường tạo ra “những khoảng trống” để người đọc tự chiêm nghiệm về thế giới của tác phẩm

Không gian đồng hiện thực - ảo thể hiện cách nhìn của nhà văn với hiện thực cuộc sống hỗn độn Nhìn chung tiểu thuyết của Đoàn Minh Phượng là

sự xuất hiện dày đặc về các kiểu không gian đan cài nhau Muốn hiểu rõ và lí giải được các yếu tố ấy người đọc phải thâm nhập vào tâm lý tâm tưởng, ý thức của người kể chuyện và cảm xúc của nhân vật Cả ba tiểu thuyết đều ẩn chứa những cuộc đời riêng, những bí mật riêng, và điểm chung của cả ba là hành trình của những những con người đang đi tìm lại sự thật, tìm lại ý nghĩa của sự tồn tại Trên phông nền của hiện tại, người kể chuyện thường xuyên đang xen những sự kiện thuộc về quá khứ, thuộc về một miền không gian mơ

hồ khó xác định

Trang 33

Chương đầu tiên của tiểu thuyết đầu tay Và khi tro bụi là Sau ngày

sương mù, tức là sau ngày chồng chết, An Mi rơi vào trạng thái hoang mang,

cảm thấy cô đơn và trống trải đang bủa vây lấy tâm hồn mình Chị muốn khép kín đời mình, muốn thành một “kẻ xa lạ” giữa đồng loại nên quyết định “lưu lạc” trên những chuyến tàu để hiểu ý nghĩa của cái chết trước khi chết Bởi rong ruổi theo những chuyến tàu trên khắp nước Đức và châu Âu, nên sự đan xen giữa không gian thực và ảo của đời sống nhuốm đầy tâm trạng của An

Mi Không gian thực ở đây là không gian rộng lớn theo hành trình của An Mi Trong tâm trạng cô đơn và con tim như “đóng băng” tình cảm, An Mi cảm thấy thời gian và không gian sống của loài người như lùi xa, nhạt nhoà và bất

định, “Quê hương của loài người bây giờ lại lùi xa bên ngoài khung cửa kính, lúc nào cũng chỉ lướt qua, nhạt nhoà và không tiếng động”[7, tr.20] Không

còn người quen, không còn nơi chốn nào để tìm về, chị quyết định đặt dấu chấm hết cho đời mình Không gian lúc này tưởng chừng như bị chùng

xuống, quánh đặc lại rồi vỡ ra như số phận bi kịch của An Mi “Tôi nhìn ra cửa sổ, nhìn cánh đồng, nhà cửa và bầu trời chạy lui mãi, tôi biết mình sắp ra đi” [7, tr.20] Chuyển dịch trên những chuyến tàu từ Đức qua Pháp, An Mi

đã xuống ga Paris với hy vọng tìm một thành phố thật xa trên miền Bắc Âu rồi mua vé tàu đến đó Xen giữa không gian thực là những khoảng không gian

ảo tràn về trong tiềm thức và vô thức của An Mi Hình ảnh người chồng quá

cố cùng với đoạn đường đèo ẩn hiện trong sương mù được tái hiện như một

nỗi nhớ khôn nguôi trong tâm hồn An Mi “Chồng tôi mất vì xe rơi xuống núi, ở một đoạn đèo, trong một đám sương mù, khoảng 5 giời một buổi chiều tháng 11 Anh ấy đi đâu qua đoạn đường ấy, không một ai biết Anh không có công việc gì cần làm hoặc người quen ở vùng con đường ấy dẫn tới Tôi không hoàn toàn hiểu cái chết của anh” [7, tr.7] Trên hành trình đi tìm sự

thật về cái chết của Anita, không gian ảo, mông lung, ma quái luôn xuất hiện trong vô thức của An Mi Anita xấu số luôn ám ảnh chị trong những giấc mơ

Trang 34

Anita hiện về ngồi trên chiếc ghế hướng nhìn ra một không gian chết “Những cây thông màu xanh thẫm, gần như đen, đứng yên trong một ngày không gió Bầu trời giăng đầy mây màu xám bất động, chỉ còn một chút vàng yếu ớt ở một góc xa mờ nhạt Đóng khung trong cái khung cửa sổ bằng kính hình chữ nhật, bầu trời và rừng thông đã mất đi không gian” Không những vậy, cả

trong khi thức dậy nằm nhớ lại giấc mơ, An Mi vẫn không kiểm soát được trí nhớ mông lung, chập chùng của mình An Mi thấy Anita đứng bên cạnh cửa

sổ, gương mặt không nét đằng sau một làn sương An Mi đã nói chuyện với

Anita về lẽ sống chết, về tình thương trong một không gian ma quái “Em sẽ không thương thân nữa, để có thể chết được Chị Anita ơi, nếu bây giờ có ai cho chị sống lại, chị có muốn sống lại không?” “Sống lại? Có lại da thịt để biết ấm lạnh? Có lại đôi tay để chơi đàn? Và con tim để buồn thương?” [7,

tr 131] An Mi sau câu trả lời bằng những câu hỏi đã bàng hoàng đi ra khỏi

căn nhà, tan vào bóng đêm huyền ảo, “vừa đi vừa kêu những tiếng kêu lạ lùng vừa như tiếng sói gọi trăng, vừa như tiếng hồ cầm lạc giọng”.[7, tr 132] Sự

đan xen giữa không gian thực và ảo trong tác phẩm tạo nên một thế giới song trùng Đó là thế giới của An Mi và thế giới của gia đình Anita tồn tại bên nhau và gắn bó mật thiết với nhau Đây là một đặc trưng của kết cấu văn học hiện đại và hậu hiện đại Hai trục không gian thực và ảo cùng với hai trục thời gian hiện tại – quá khứ đan xen và phối kết với nhau trong chương cuối của tiểu thuyết đã hoá giải những xung động trong tâm lý của An Mi và nêu bật chủ đề của truyện Khi đã rất gần với cái chết thì ý thức đưa An Mi về quá khứ cùng một ấn tượng tuổi thơ kinh hoàng khắc sâu trong đáy tim giờ đây

sống lại An Mi thấy rõ hình ảnh quê hương, thấy mẹ, thấy em gái “Nhà tôi ở gần một chiếc cầu bắc qua một con sông nhỏ Cạnh nhà có một con lạch chảy

ẩn dưới đám cỏ hoang và lau sậy, chúng tôi chỉ nghe tiếng nước chứ ít có chỗ nhìn thấy dòng nước Nhưng tôi đã biết vạch lau cỏ để đặt những chiếc lờ cá dưới lạch Cha tôi đi lính ba năm không có nhà Nhà chỉ có mẹ và hai đứa

Trang 35

con gái nhỏ” [7, tr.167] An nhớ những lần phụ mẹ nhổ lát, chẻ lát, đan chiếu

hai bàn tay lúc nào cũng sưng, nhớ những trò chơi với em gái khi mẹ vắng nhà… Đó là miền không gian ký ức mà An Mi không thể nào xoá được Giờ đây An nghe thấy tiếng vọng từ xa xôi và chợt hiểu đó là tiếng gọi của đứa em gái bé nhỏ tội nghiệp Chị khao khát được sống, được trở về quêu hương gặp

lại em gái “Cho tôi gặp lại em tôi dù chỉ một lần, một lần thôi là ơn trời vô tận ” [7, tr.172]

Giống với nhân vật An Mi trong Và khi tro bụi, Mai trong Tiếng Kiều

đồng vọng rơi vào bi kịch cô đơn khi từ khi sinh ra không biết gì về nguồn

cội của mình, không cảm thấy mình gắn kết và thuộc về căn nhà, thành phố mình đang sống Mai có mẹ nhưng không có cha, Mai khao khát tình yêu thương và mong muốn chạm vào sự thật mà mẹ đã chôn giấu hơn hai mươi

năm Mở đầu chương Con thuyền bên cửa sổ nơi Mai lớn lên và sống hơn hai mươi năm qua được tái hiện Đó là “căn hộ một gian của chúng tôi ở Hà Nội mẹ tôi xin được một tấm ván ngang sáu tấc, dài một mét tám từ một bộ phản xưa người ta bỏ đi về để chật nhà Trên đường đi học về, tôi đi quanh những con đường có người sửa nhà để khi xếp cạnh nhau chúng vừa vặn hơn

và ít chông chênh Gần hai tháng tôi có đủ gạch để dựng hai chân bàn thấp cạnh cửa sổ để tôi gác miếng ván lên Ban ngày tấm ván làm nơi ăn cơm, là quần áo, học bài, ban đêm tôi ngủ trên đó Dù tôi đã mài những viên gạch, đã gấp giấy chêm vào những khe hở, tâm ván gác lên những viên gạch vẫn chông chênh khi tôi trưởng thành”.[8, tr.7] Trong không gian sống chật hẹp

của mình, Mai gắn bó với một góc nhỏ bé và chông chênh, trong suy tư của

cô bé mới lớn ấy tưởng tượng chính tấm phản mà hằng ngày cô và gia đình dùng để sinh hoạt kia chính là một con thuyền, xung quanh chính là những dòng nước để cô mơ mộng, để chìm đắm vào thế giới trong giấc mơ của cô bé mới lớn khỏi những chật chội, tù túng nghèo khổ hằng ngày

Và những biến cố của cuộc đời Mai thực sự đến khi cô chọn cách đi

Trang 36

khỏi căn nhà chật chội, khỏi thành phố nơi cô không thuộc về để đi tìm sự thật về cuộc đời mình, về sự im lặng bí ẩn suốt hơn hai mươi năm của mẹ cô Trong hành trình truy tìm bản thể, nhân vật của Đoàn Minh Phượng sẽ bước khỏi cùng không gian quen thuộc của chính mình, biên độ của không gian lúc này cũng được mở rộng hơn Đôi khi nhân vật đang hiện diện ngay trong thực tại, sống cuộc sống của một con người bình thưởng nhưng trong thế giới nội tâm của họ lại phức tạp với những suy tư miên man vô định nhưng một giải pháp chạy trốn khỏi hiện thực Ngày Mai chọn rời xa mẹ, trong căn nhà nhỏ

“chỉ cách nhau một cái cầu thang, đôi ba bức vách giờ đây trở thành một đại dương yên lặng đã tràn về che khuất người thân yêu”[8, tr.15], Mai ra đi, đại

dương ấy cuốn cuộc đời Mai đi xa, đó là lần cuối Mai gặp mẹ

Khi không thể trở về Hà Nội, Mai ở lại Sài Gòn, bỏ học, đi làm, ở một căn nhà trọ cùng mấy đứa con gái tỉnh lẻ khác Mai che giấu sự thật về hoàn cảnh của mình, trong lá thư viết cho dì Lan và kể về một viễn cảnh mà cô

tưởng tượng “cha mừng vì được gặp lại con gái Phòng cháu ở trên gác, những cửa sổ bằng kính phủ hai lớp màn, một bằng voan trắng mỏng, một bằng vải dày và mềm, tựa như nhung”.[8, tr.51] Viễn cảnh sống trong không

gian hạnh phúc là do Mai tự tô vẽ để xoa dịu chính bản thân mình và người thân Rời xa gia đình và bươn chải ở thành phố hoa lệ, những ngày đầu Mai gục ngã trong sự cô đơn và đau ốm Cái ồn ào, chật chội của dãy trọ nhiều người qua lại vang lên buốt đầu lẫn vào cơn mê sảng đang hành hạ Mai, trong đêm tối tĩnh mịch, trong sự rã rời không phân biệt được thực hư, Mai nghe

thấy âm thanh nhỏ gọi mình, “âm thanh không có thực, êm ái” Âm thanh

phát ra từ linh hồn nhỏ bé của Chi, ngọn đèn dầu nhỏ được thắp lên, lần này Mai cảm nhận rõ ràng về sự hiện diện của một con người khác – ngoài cô

Không gian căn phòng lúc bấy giờ rơi vào hư ảo, Mai chỉ thấy sợ hãi “những thứ lạ thường ở chung quanh, những thứ không có thật, những hình ảnh, tiếng nói của ảo giác, vang lên từ tâm tưởng hoảng loạn cô đơn của tôi” [8, tr.53]

Trang 37

và cũng khát khao ảo giác kia là có thật, cô vừa muốn la hét để thoát ra, vừa

muốn buông xuôi để “nghe tiếng nói của ai đó mặc dù những ấm êm đó không có thật” Trong nỗi đau đớn về thể xác và tinh thần, tại ranh giới giữa

hai bờ thực - ảo mà Mai đang vùng vẫy, mai thấy ngọn đèn dầu nhỏ được thắp lên, Mai gặp linh hồn của Chi

“Có những người chỉ khi chết đi mới trở về được với mình Chỉ khi trái tim không còn đập, nó mới thuộc về cái lồng ngực của người mang nó Khi họ còn sống, trái tim học lặng lẽ, không được phép có tình yêu” [8, tr.65] Sau

hơn 20 năm chìm sâu trong nỗi im lặng và chập chờn trong mọi ngóc ngách , linh hồn bé nhỏ của Chi trở về, hiện hữu xung quanh của Mai để dẫn lối Mai

về với sự thật và trả mối thù oan nghiệt của Chi với cha Từ sau khi Chi xuất hiện trong căn phòng của Mai thì cô đã hiểu, Chi luôn bên cạnh Mai, Chi ở trong Mai và Chi là một phần của Mai Cuộc trò chuyện trực tiếp, gián tiếp của Mai với em mình là cuộc trò chuyện giữa một con người với một linh hồn chưa siêu thoát, không ai thấy Chi, không ai nghe thấy Chi ngoài Mai Chi tồn

tại trong tâm tưởng của Mai, Chi “đi ở trên cao, bên trên những bức tường cao rào quanh nhữn tòa nhà lớn Trên những bức tường đó có cắm những thanh sắt nhọn để ngăn kẻ trộm, những chẳng hề làm vướng áo nó lúc nào xung nhìn thấy nó từ một khoảng cách, chứ không ở gần ”[8, tr.80-81] Và

Mai thấy được Chi, nghe được giọng nói của Chi trong những giấc mơ, trong những giấc mơ dó Chi dẫn lối Mai dần dần đến sự thật Bừng tỉnh khỏi những giấc mơ bí ẩn nhưng cảm giác về Chi vẫn luôn đeo đuổi Mai rất chân thật

Trong không gian tiềm thức của Mai, Chi xuất hiện dẫn dắt Mai hành động trong vô thức, Chi đưa Mai đến với Muôn Hoa Khi tỉnh giấc, trở về với thực tại, Mai biết đó không phải là mơ, địa chỉ đó, cuốn sổ đó là dự báo cho vòng xoáy của những khổ đau thù oán sắp sửa cuốn Mai vào không lối thoát Công ty Muôn Hoa không phải là hãng phim hay hãng quảng cáo

đó là nơi những gã đàn ông thượng lưu đến để mua vui trên thân xác của

Trang 38

các cô gái trẻ, Mai tìm đến Muôn Hoa, chợt cảm nhận nơi chốn này đã được báo trước, trong mơ của mình Muôn Hoa là nơi Chi dẫn dắt bằng điềm báo để Mai đến tìm một công việc, để kiếm tiền, kiếm sự thật, mà để gặp cha và trả thù Tác giả không mô tả Muôn Hoa tồn tại cụ thể ở một địa chỉ nào cả, không được xây trên một miếng đất cụ thể nào cả, nó ở khắp

mọi nơi mà những cô gái trẻ ở đây “không bao giờ biết địa chỉ của những phòng khách lớn và kín mà chúng tôi được đưa đến để làm việc.” Chỉ có thể biết đặc trưng của không gian nơi đây là mùi: “những căn phòng có mùi

lạ, thứ mùi tôi chưa bao giờ ngửi thấy được ở nơi nào Mùi đó có từ nệm

da và thứ sơn quét trên tường; từ rượu, đồ ăn, khói xì gà, dầu thơm; từ mồ hôi, hơi thơm, những thứ thuộc về những người đàn ông giàu có” [8, tr.102] Cha Mai là một trong số những người đàn ông đó

Mai làm việc ở Muôn Hoa, như một định mệnh đau đớn đã được sắp đặt, Mai dùng thân xác để kiếm tiền, Mai ý thức được sự nhục nhã, nhưng vẫn làm

như “Ma đưa lối quỷ dẫn đường – Lại tìm đến chỗ đoạn trường mà đi”, rồi

một ngày nọ cô bị người phụ nữ là chủ của Muôn Hoa – cô Tâm lừa bán đi sự trong trắng Nhưng lần đó Mai thoát được, cô bị bịt mắt, tay chân bị trói chặt,

dù cố gắng vùng vẫy nhưng không thể thoát được, cô rơi vào tuyệt vọng , mất

đi những sức lực cuối cùng nhưng bỗng chốc căn phòng bừng sáng lên, không khí nóng hừng hực bốc cháy Linh hồn của Chi ở trong Mai, và nó mạnh mẽ đến mức có thể trỗi dậy điều khiển Mai trong hiện thực, chính Chi

đã hất đổ ngọn đèn làm cho căn phòng bốc cháy, Chi cứu Mai khỏi nanh vuốt của người đàn ông xa lạ để bảo vệ sự trong trắng của Mai, đưa Mai về quỹ đạo trả thù của mình Mai không nhớ gì về buổi tối đó, ký ức về buổi tối đó rất mơ hồ, Mai bỏ trốn và nhốt mình trong căn phòng trọ Sự nhục nhã đau đớn khiến Mai muốn thoát khỏi hiện thực, Mai vùi mình trong không gian của giấc mơ, cô chọn ngủ vùi để linh hồn của mình có thể lắng xuống, lặng chìm vào một cõi xa xôi miễn không phải đối diện với những ê chề mà cô vừa vùng

Trang 39

thoát khỏi Mai sống trong chiêm bao của chính mình, thấy mình của đêm qua, đêm trước và muôn nghìn đêm trước nữa, những giấc mộng chập chờn,

mơ hồ không có ngôn ngữ, không có hình ảnh rõ ràng và trong những giấc mộng đó, xuất hiện vạch ra lằn ranh giữa sự sống và cái chết , ý thức của Mai loãng đi, không biết rằng mình có đang tồn tại không, mọi thứ đều mông lung Nhưng con người không thể nào trốn tránh thực tại bằng cách vùi mình vào những giấc mộng mãi được, bằng một sức mạnh vô hình nào đó, Mai hiểu mình phải vượt qua, phải ngồi dậy, phải tiếp tục sống và để vật lộn với những

xô bồ hoa lệ ở thành phố xa lạ này, Mai chỉ có một con đường, quay về Muôn Hoa Sau đó, Chi không còn xuất hiện trong giấc mơ của Mai nữa, sức sống

từ linh hồn của Chi mạnh hơn, Chi kể chuyện của mình trong những trang giấy mà Mai bỏ dở, Chi dần dần chiếm lấy cơ thể Mai, dẫn lối Mai đi đúng theo con đường trả thù mình đã vạch ra Chi đã đưa Mai quay về Muôn Hoa, Mai quyết định chỉ làm bốn tháng và sẽ không quay lại nơi đây Lúc này Chi

sẽ phải để chị của mình yên

Trong Tiếng Kiều đồng vọng, Đoàn Minh Phượng để nhân vật của mình

nói rất ít, có lẽ vì thế mà thế giới nội tâm của Mai rất phức tạp, trong Mai luôn đầy rẫy những sự mâu thuẫn, đang ở ngay trong thực tại nhưng dường như tâm hồn Mai không tồn tại cùng với thân xác ấy, thứ neo đậu tâm hồn Mai là những giấc mơ về sự sống và cái chết, về những lần bị dẫn dắt qua những cánh cửa, là những con người không rõ mặt mũi chập chùng xuất hiện, không gian trong giấc mơ của Mai là cõi mà cô gọi là địa ngục Ở đó chưa có lần nào Mai nhìn thấy quê hương, thấy mẹ và những ngày tháng ấu thơ Mai là người thiếu thốn ý chí, cô độc và thiếu những sợi dây liên kết với cuộc đời Có lẽ bởi những mất mát ấu thơ mà vô tình Mai không biết là khoảng khuyết để lại trong tâm hồn của Mai, sự thật về người em của Mai đến vào lúc Mai mong muốn biết được cội nguồn và thèm thuồng tình thân nhường nào

Từ ngày thấy và nghe được linh hồn của Chi, Mai nằm giữa hai bờ thực -

Trang 40

ảo Ngay trong chính không gian sống của mình Mai nằm mơ, trong giấc mơ luôn có Chi, Mai không là chính mình trọn vẹn, trong thân xác tâm tưởng này luôn có một ý chí khác đang hiện diện, thậm chí khi tỉnh giấc Mai vẫn nghĩ về Chi, vẫn bị Chi dẫn lối Càng về sau tiểu thuyết, những bí ẩn bắt đầu được hé

lộ cũng là lúc những rạn vỡ của cuộc đời hiện lên rõ nét nhất Khi Mai trở về Huế, Mai đã tìm cách đuổi Chi đi, tìm cách xóa bỏ nỗi hận thù người cha mà Mai không dám cưu mang, Chi không bên cạnh Mai thấy cuộc đời mình như mất mát, Mai cảm thấy mình không thực sống thực trong cuộc đời này Sau những ngày tháng trốn tránh hiện thực ở nơi cửa chùa, Chi quay lại, nỗi buồn

và sự thù hằn của Chi đem Mai về lại Sài Gòn để thực hiện bước cuối cùng trong con đường rửa hận với người cha Chi không còn hiện về trong giấc mơ, Chi đã tách ra khỏi Mai, không gian hiện thực lúc bấy giờ trở nên mờ ảo – linh hồn của Chi đối diện cùng Mai, nhập vào Mai, Mai thấy thân xác của mình đang cùng ở, cùng trò chuyện với Quỳnh – người con gái khác của cha, lần cuối cùng Chi chiếm lấy cơ thể của Mai để đưa Quỳnh đến Muôn Hoa gặp cha, Mai bất lực tuyệt vọng rơi vào cõi ảo giác Khi tỉnh giấc và tỉnh lại trong căn phòng, thân xác Mai đã trở về, Chi đã rời đi mãi mãi như lời hứa, không gian đêm tối tĩnh mịch còn lại chỉ mình Mai với nỗi cô đơn, buồn khổ vô hạn

Không gian nghệ thuật ở những phân đoạn cuối cùng trở là sự đan xen giữa thực - ảo rất khó phân định, đó là không gian của con người đang sống hay không gian của linh hồn người mất đang chiếm hữu, đó là hiện thực mà chính Mai đã trải qua hay là ảo giác của Mai trong giấc mộng, tất cả bị xóa

mờ đi như làn sương giăng, sự thật là ánh chớp đi qua Từ khi đặt chân vào Sài Gòn Mai luôn gặp Chi trong giấc mơ, Mai luôn đứng trong hai bờ thực –

hư Những giấc mơ hé lộ góc khuất bị chôn vùi bao nhiêu năm qua dần hiện lên, Mai càng sợ, càng trốn tránh thì càng mơ thấy nhiều hơn Giấc mơ phản ánh sự dồn nén những ẩn ức trong thế giới nội tâm của con người, không gian

trong xuyên suốt tiểu thuyết Tiếng Kiều đồng vọng là sự đồng hiện hai cõi

Ngày đăng: 31/10/2022, 21:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi. Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Việt Nam, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2007
15. Lê Thị Hường. “Không” trong Đốt cỏ ngày đồng của Đoàn Minh Phượng, nguồn: http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p4/c18/n31428/Khong-trong-Dot-co-ngay-dong-cua-Doan-Minh-Phuong.html, ngày truy cập 21/07/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Không” trong Đốt cỏ ngày đồng của Đoàn Minh Phượng
Tác giả: Lê Thị Hường
Nhà XB: Tap chi Song Huong
16. Lê Thị Mai Chi. Tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng – nhìn từ phức cảm phân tâm học, Đại học Quy Nhơn, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng – nhìn từ phức cảm phân tâm học
Tác giả: Lê Thị Mai Chi
Nhà XB: Đại học Quy Nhơn
Năm: 2012
17. Lê Thị Sáng. Cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng, Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm quan hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà và Đoàn Minh Phượng
18. Lê Tuấn Anh. Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, Đại học Đà Nẵng, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng
Tác giả: Lê Tuấn Anh
Nhà XB: Đại học Đà Nẵng
Năm: 2011
19. Lê Tuấn Anh. Thi pháp tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài và Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng, Đại học Quy Nhơn, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài và Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng
Tác giả: Lê Tuấn Anh
Nhà XB: Đại học Quy Nhơn
Năm: 2010
20. Lưu Hà. Nhà văn Đoàn Minh Phượng: “Tôi viết khá lạnh”, nguồn: https://vnexpress.net/nha-van-doan-minh-phuong-toi-viet-kha-lanh-1895245.html, truy cập ngày 20/07/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Đoàn Minh Phượng: “Tôi viết khá lạnh”
Tác giả: Lưu Hà
Nhà XB: VnExpress
21. Lưu Thị Tuyết. Đặc điểm nhân vật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, Đại học Đà Nẵng, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm nhân vật trong tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng
Tác giả: Lưu Thị Tuyết
Nhà XB: Đại học Đà Nẵng
Năm: 2012
22. Lý Lan, Tiểu thuyết đàn bà, Nxb Văn hóa – văn nghệ, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết đàn bà
Tác giả: Lý Lan
Nhà XB: Nxb Văn hóa – văn nghệ
Năm: 2008
24. Nguyễn Bình Phương, Người đi vắng, Nxb Trẻ, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người đi vắng
Tác giả: Nguyễn Bình Phương
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2010
27. Nguyễn Thái Hòa. Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Nhà XB: Nxb Giáo dục
28. Nguyễn Thị Bình. Văn xuôi Việt Nam 1975 -1995, những đổi mới căn bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 -1995, những đổi mới căn bản
Nhà XB: Nxb Giáo dục
29. Nguyễn Thị Bình. Văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nxb Đại học Sƣ phạm, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2015
30. Nguyễn Việt Hà. Cơ hội của Chúa, Nxb Trẻ, 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ hội của Chúa
Tác giả: Nguyễn Việt Hà
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2021
33. Phương Lựu, Lý luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
34. Phương Lựu. Lí luận và phê bình văn học phương Tây Thế kỷ XX, Nxb Văn học Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và phê bình văn học phương Tây Thế kỷ XX
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
Năm: 2001
35. Thái Phan Vàng Anh. Thời gian trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Tạp chí khoa học Đại học Huế, số 54.2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời gian trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Nhà XB: Tạp chí khoa học Đại học Huế
Năm: 2019
37. Thuận. Chinatown, Nxb Trẻ, Nxb Nhã Nam, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chinatown
Tác giả: Thuận
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2014
38. Thúy Nga. Đoàn Minh Phượng và tác phẩm mới nhất: “Tôi bắt đầu từ sự trở về”, Báo Tuổi trẻ số 30/04, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn Minh Phượng và tác phẩm mới nhất: “Tôi bắt đầu từ sự trở về”
Tác giả: Thúy Nga
Nhà XB: Báo Tuổi trẻ
Năm: 2006
42. Trần Thị Yến Minh. Đặc sắc nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng, Đại học Đà Nẵng, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc sắc nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Minh Phượng
Tác giả: Trần Thị Yến Minh
Nhà XB: Đại học Đà Nẵng
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w