I I MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Rau là một trong những sản phẩm thiết yếu không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày, là một trong những sản phẩm được sử dụng nhiều nhất nhưng đây cũng là sản phẩm có.
Trang 1I MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Rau là một trong những sản phẩm thiết yếu không thể thiếu trongbữa ăn hàng ngày, là một trong những sản phẩm được sử dụng nhiều nhấtnhưng đây cũng là sản phẩm có mức độ tồn dư thuốc bảo vệ thực vật cao(BVTV) do nông dân sản xuất ngày càng sử dụng nhiều các hóa chất trongsản xuất đặc biệt là thuốc BVTV
Cùng với nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế và vấn đề gia tăng thunhập của người dân, vấn đề sức khỏe con người, sức khỏe cộng đồng ngàycàng trở thành mối quan tâm chung của toàn xã hội Do đó, nhu cầu sử dụngrau an toàn ngày càng tăng nhanh trong cả thị trường trong nước đặc biệt vớithị trường nước ngoài Vấn đề an toàn thực phẩm ngày càng được quan tâm,sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm có tiêu chuẩn, có nhãn mácngày càng được nhiều người dân lựa chọn Sự lạm dụng thuốc bảo vệ thực vậtcủa người trồng rau về liều lượng và thuốc bảo vệ thực vật chứa nhiều chấtđộc hại sẽ mang lại rủi ro cao cho người sử dụng, ngày càng không đáp ứngnhu cầu của người dân và mâu thuẫn với tiến trình hội nhập của nền kinh tếđất nước
Xã Đặng Xá được coi là nơi chuyên rau của huyện Gia Lâm, nhưnghiện nay nông dân cũng đang ở trong tình trạng lạm dụng quá nhiều thuốcBVTV Nghiên cứu của GS.Đỗ Kim Chung (2008) đã chỉ ra rằng nơi đâyđang tồn tại một mức độ rủi ro lớn đối với con người và môi trường Ngườidân sử dụng thuốc quá liều làm tồn dư một lượng thuốc trong đất ngày càngtích lũy càng làm suy thoái nguồn đất, nguồn nước và các vi sinh vật…kĩnăng sử dụng thuốc chưa tốt, ý thức bảo vệ môi trường của người dân chưacao Đây là nguyên nhân tiềm ẩn mức độ rủi ro cao từ thuốc BVTV gây racho người sản xuất, người tiêu dùng và môi trường Trong đó, mức độ rủi rocủa thuốc BVTV cao hay thấp được đo bằng chỉ số tác động môi trường
Trang 2(EIQ) Đây là chỉ số giúp chúng ta định lượng mức độ rủi ro của thuốc BVTVđến con người và môi trường, là công cụ hữu ích giúp chúng ta có thể đánhgiá được mức độ rủi ro do thuốc BVTV gây ra đồng thời còn có ý nghĩa vôcùng quan trọng trong việc giúp nông dân lựa chọn được các loại thuốc antoàn, hiệu quả trong sử dụng để giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực của thuốcBVTV đến con người và môi trường sinh thái.
Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của thị trường về rau an toànthì vấn đề sử dụng thuốc BVTV cần được kiểm soát Do đó, trước những thựctrạng sản xuất rau của Đặng Xá cục bảo vệ thực vật Hà Nội phối hợp với chicục bảo vệ thực vật Hà Nội tổ chức triển khai chương trình giảm thiểu rủi rothuốc BVTV (PRR) tại Đặng Xá từ năm 2008 Mục tiêu cơ bản của chươngtrình là cung cấp những kiến thức, kỹ năng cơ bản để cho nông dân và cộngđồng sử dụng hợp lý thuốc BVTV, giảm thiểu được rủi ro thuốc BVTV chocon người và môi trường Đến năm 2009 chương trình PRR đã kết thúc vấn
đề đặt ra là liệu chương trình giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV có thực sự giúpcho nông dân giảm được mức độ rủi ro thuốc BVTV hay không, liệu rằng chỉ
số EIQ có thay đổi theo chiều hướng có lợi sau chương trình tập huấn haykhông? Đó là câu hỏi cần phải được giải quyết để có những biện pháp tiếptheo giúp nông dân giảm thiểu được rủi ro thuốc BVTV một cách hợp lý
Xuất phát từ lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá tác động của chương trình giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật thông qua chỉ số tác động môi trường trong sản xuất rau tại Đặng Xá - Gia Lâm - Hà Nội”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá tác động của chương trình giảm thiểu rủi ro thuốc BVTVthông qua chỉ số EIQ từ đó đề xuất những biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro
Trang 31.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về đánh giá tácđộng chương trình giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV thông qua chỉ số tác độngmôi trường EIQ
- Đánh giá được tác động của chương trình giảm thiểu rủi ro thuốcBVTV thông qua chỉ số EIQ ở Đặng Xá
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro thuốc BVTVtrong sản xuất rau tại Đặng Xá
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động sử dụng thuốc BVTV củangười dân Đặng Xá về loại thuốc, liều lượng phun và hoạt chất thuốc BVTV sửdụng cho rau bắp cải Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là người nông dântrực tiếp sử dụng, phun thuốc cho rau và tham gia chương trình tập huấn PRR
Rủi ro thuốc BVTV xác định từ nguy cơ tiếp xúc với thuốc và nguy
cơ độc hại của thuốc BVTV Trong phạm vi nghiên cứu đề tài chỉ tập trungchủ yếu vào nguy cơ độc hại của thuốc BVTV
Đề tài nghiên cứu tác động của chương trình PRR, sự chênh lệch vềmức độ rủi ro trước và sau tập huấn được coi là tác động của chương trìnhgtrong điều kiện giả định các yếu tố khác không đổi
Trang 4b) Về thời gian
Các số liệu được sử dụng trong đề tài gồm hai giai đoạn:
Giai đoạn 1; kế thừa số liệu ban đầu về tình hình hoạt động sản xuất,
sử dụng thuốc BVTV cho rau trong năm 2007 -2008 do GS.TS Đỗ KimChung tiến hành thu thập Đây là giai đoạn trước khi Đặng Xá triển khaichương trình giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV
Giai đoạn 2; tình hình sản xuất, sử dụng thuốc BVTV cho rau ở vụđông xuân năm 2009 – 2010 do đoàn nghiên cứu tiến hành thu thập dưới sựchỉ đạo của GS.TS Đỗ Kim chung Đây là giai đoạn sau khi Đặng Xá đã triểnkhai chương trình giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV
c) Về không gian
Nghiên cứu được thực hiện ở thôn Đổng Xuyên xã Đặng Xá thốngnhất cả hai lần số liệu trên một cánh đồng và cùng một nhóm nông dân
Trang 5II MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIẢM THIỂU RỦI RO THUỐC BẢO
VỆ THỰC VẬT THÔNG QUA CHỈ SỐ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
2.1 Rủi ro thuốc bảo vệ thực vật và chỉ số tác động môi trường
2.1.1 Rủi ro thuốc bảo vệ thực vật
2.1.1.1 Thuốc bảo vệ thực vật
Định nghĩa về thuốc bảo vệ thực vật
Thuốc bảo vệ thực vật là các hoá chất bảo vệ mùa màng khỏi sự xâmhại của côn trùng (thuốc BVTV), động vật gây hại (thuốc diệt chuột, thuốc trừmọt), cỏ dại (thuốc trừ cỏ) hay các loại bệnh thực vật được dùng trên cả ruộngkhô và ruộng nước (thuốc nấm và thuốc bệnh)
Thuốc bảo vệ thực vật thường là các hoá chất tổng hợp bao gồm rấtnhiều loại khác nhau, nhằm mục đích tiêu diệt hay ức chế sự phát triển củacác dịch hại Bản chất của thuốc bảo vệ thực vật thường là các hoá chất độchại dùng để giết chất một số loài sinh vật chuyên biệt nhưng vẫn có thể mangtiềm năng gây hại cho các loài khác bao gồm cả con người
Phân loại thuốc bảo vệ thực vật theo tổ chức sức khỏe thế giới (WHO)
Theo WHO thuốc BVTV được chia thành 4 loại với với các quy định
và thể hiện bằng ký hiệu như sau:
Nhóm I: rất độc, màu đen, phía trên, vạch màu đỏ, biểu tượngđầu lâu xương chéo trong hình thoi vuông
Nhóm II: độ độc cao, màu đen, phía trên,vạch màu vàng, biểutượng chữ thập chéo đen trong hình thoi vuông
Nhóm III: nguy hiểm, chữ màu đen, vạch màu xanh nước biển,biểu tượng đường chéo hình thoi vuông không liền nét
Nhóm IV: cẩn thận, màu đen, vạch màu xanh lá cây
Như vậy, theo cách phân chia này thì các loại thuốc có nhóm độc III vànhóm IV là các nhóm tiềm ẩn rủi ro thuốc BVTV thấp hơn
Trang 6Phân theo nguồn gốc
Phân theo nguồn gốc thuốc BVTV bao gồm có hai loại đó là thuốc hóahọc và thuốc sinh học
Thuốc hóa học là các loại thuốc có nguồn gốc từ hóa học (vô cơ, hữucơ) Ưu điểm của loại thuốc này là có tác động nhanh đến sinh vật và rẻ tiền.Tuy nhiên đây là những loại thuốc rất độc với con người, động vật máu nóng,tồn dư lâu và tích lũy trong môi trường, dễ gây hại cho thực vật và quần thểsinh vật trong lòng đất
Thuốc sinh học là các loại thuốc có nguồn gốc chế xuất từ thảo mộc,sinh học các loài sinh vật và sản phẩm do chúng sản sinh ra Ưu điểm của nó
là có độ độc chuyên tính cao nhưng ít độc với các động vật máu nóng và bịphân hủy hoàn toàn trong môi trường, rất an toàn với thực vật thậm chí trongmột số trường hợp chúng còn kích thích cây phát triển Tuy nhiên, việc thuhái và bảo quản nguyên liệu khó khăn nên giá thành vẫn còn đắt hơn so vớithuốc hóa học
Theo bản chất các loại thuốc được quy định cho từng cây trồng cụ thể
do đó mỗi loại cây trồng đều có danh mục thuốc riêng được phép sử dụng
Tóm lại, căn cứ vào cách thức phân chia nhóm độ độc của thuốc BVTV theo WHO và đặc điểm về nguồn gốc xuất xứ của thuốc BVTV thì nếu nông dân sử dụng thuốc có nhóm độc III, IV hay sử dụng thuốc có nguồn gốc từ sinh học thì tốt hơn so với các nông dân sử dụng thuốc có nguồn gốc từ hóa học và thuộc nhóm độc I và II
2.1.1.2 Rủi ro thuốc bảo vệ thực vật
Bản chất của thuốc bảo vệ thực vật là chất độc Bản thân nó tiềm ẩnnhững nguy cơ gây ra ô nhiễm nông sản (có thể dẫn tới bị thị trường từ chốisản phẩm) hay hệ sinh thái và trước hết là người sử dụng thuốc Bản thânnhững nguy cơ này được tồn tại ở dạng tiềm năng chưa được biểu thị khi đó
Trang 7gây ra ô nhiễm môi trường nước, tích tụ vào cây trồng, vật nuôi làm thựcphẩm bị nhiễm độc.
Như vậy, rủi ro thuốc BVTV là: mọi tác dụng không mong muốn xảy rađối với con người và môi trường khi sử dụng thuốc BVTV
Về cơ bản rủi ro thuốc BVTV được thể hiện ở công thức sau:
Rủi ro thuốc BVTV = nguy cơ tiếp xúc * nguy cơ độc hại
Rủi ro chỉ xảy ra khi có nguy cơ tiếp xúc và nguy cơ độc hại, có nghĩa
là rủi ro xảy ra khi nông dân sử dụng thuốc BVTV
Nguy cơ tiếp xúc liên quan đến phương pháp sử dụng thuốc BVTV baogồm các vấn đề: cách pha, cách phun và bảo hộ lao động
Độc hại phụ thuộc vào loại thuốc (nhóm I, II, III, IV), phụ thuộc vàonguồn gốc của thuốc (thuốc sinh học, hóa học), liều lượng thuốc dùng và hìnhthức phun (phun phối trộn, phun đơn và đấu trộn đúng hay sai)
Rủi ro ảnh hưởng lớn đến người sản xuât, người tiêu dùng và môitrường Chính vì tính chất nguy hại của thuốc bảo vệ thực vật mà việc đánhgiá rủi ro có thể có là rất cần thiết để bảo vệ người phun thuốc, môi trường,người tiêu dùng cũng chính là nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩmtrong thị trường đặc biệt là thị trường thế giới đáp ứng nhu cầu và những đòihỏi khắt khe của thị trường trong nền kinh tế hội nhập
Để kiểm soát được những rủi ro đó nhất thiết cần phải có biện pháp hayphương pháp đo được mức độ rủi ro của từng loại thuốc bảo vệ thực vật đểxem xét tính nguy hại của nó trên cơ sở đó lựa chọn thuốc cho phù hợp vẫnđảm bảo được mục tiêu bảo vệ mùa màng và vấn đề sức khỏe môi trường
Để giảm thiểu được rủi ro từ thuốc BVTV thì đồng thời phải giảm nguy
cơ tiếp xúc và độc hại Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung vào nguy
cơ độc hại của thuốc BVTV
Trang 82.1.2 Chỉ số tác động môi trường
2.1.2.1 Nguồn gốc của chỉ số chỉ số tác động môi trường
Nguy cơ của thuốc bảo vệ thực vật đến sức khỏe con người và môitrường được công nhận rộng rãi Một trong những cách để giảm thiểu các rủi
ro liên quan đến thuốc BVTV là thông qua việc Quản lý dịch hại tổng hợp(IPM) Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng IPM giảm số lượng thuốc BVTVđược sử dụng và đóng góp vào sự lựa chọn các loại thuốc ít độc hại (van denBerg, 2004) Để đánh giá những tác động thực tế của những thay đổi về sứckhoẻ con người và môi trường đòi hỏi phải nghiên cứu xây dựng thước đotriệu chứng ngộ độc cấp tính và mãn tính trong một mẫu của con người bị ảnhhưởng Tuy nhiên, nghiên cứu như vậy là khó khăn, tốn kém và tốn thời gian
để tiến hành Đồng thời những phương pháp này không xem xét sự độc hạicho các sinh vật khác nhau, cũng như việc tiếp xúc của họ đối với thuốc bảo
vệ thực vật Vì vậy, định lượng giảm rủi ro thuốc BVTV cho nông dân, ngườitiêu dùng và môi trường dựa trên một chỉ số toàn diện hơn, sẽ là hữu ích đểđánh giá những thành tựu của các chương trình IPM
Thuốc BVTV chứa đựng các thành phần hoạt chất độc hại, yếu tố
cơ bản nếu tiếp xúc sẽ gây ra rủi ro Do đó, đánh giá rủi ro kết hợp các thôngtin độc tính của thuốc BVTV với thông tin về việc sử dụng thuốc, con đườngcủa thuốc tiếp xúc đến môi trường, và tỷ lệ hấp thụ của các sinh vật tiếp xúc
là xu hướng cơ bản hiện nay trong nghiên cứu rủi ro thuốc BVTV
Theo Levitan et al , 1995.; van Bol et al, 2002 trong 20 năm qua,nhiều chỉ số khác nhau về thuốc BVTV đã được phát triển trên toàn thế giới.Được thiết kế để phục vụ mối quan tâm theo địa chỉ cụ thể có liên quan đếncác quốc gia nơi thuốc BVTV được sử dụng, chẳng hạn như bảo vệ các ngànhsản xuất trọng điểm nhất định hoặc thị trường xuất khẩu (FAO,2008)
Hầu hết các chỉ tiêu trên đều có nguồn gốc bắt nguồn từ các nước
Trang 9thực hiện chặt chẽ Do đó, các mô hình giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV tậptrung vào môi trường
Tuy nhiên, khác với các nước phát triển, ở các nước đang phát triển
hệ thống pháp lý về quản lý và sử dụng thuốc BVTV vẫn chưa hợp lý dẫnviệc sử dụng ảnh hưởng nghiêm trọng đến người nông dân, ngộ độc nghiêmtrọng cho người sử dụng do tồn dư thuốc BVTV trên sản phẩm và ô nhiễmmôi trường
Để phát triển đất nước nâng cao chất lượng nông sản thì cần thiếtphải tiến tới các loại sản phẩm cần phải đạt được các chỉ tiêu của rau an toàn,
từ đó cần thiết phải có một công cụ lựa chọn thuốc BVTV hợp lí, dễ hiểu vàthân thiện với người sử dụng hệ thống đặc biệt là phải gần gũi với nông dân
để có thể ứng dụng rộng rãi là điều rất quan trọng Do đó một mô hình tươngđối đơn giản như EIQ đại diện cho một công cụ có thể cho đánh giá tác độngIPM ở các nước đang phát triển và đưa vào tập huấn cho nông dân sử dụng
Chỉ số tác động môi trường (EIQ) là một hệ thống phương pháp đểđánh giá tác động môi trường của thuốc BVTV đã được phát triển ở Đại họcCornell, Mỹ, vào năm 1992 Nó phổ biến một loạt các tác động tiềm năng vềnông dân sản xuất, người tiêu dùng và môi trường dựa trên dữ liệu độc hại,tính chất hóa học của thuốc BVTV Hệ thống Chỉ số Tác động Môi trường(EIQ) do các chuyên gia IPM thiết kế nhằm hỗ trợ những người trồng rau vàcây ăn quả ở New York lựa chọn được những phương án quản lý có tác độngthấp (Kovach et al., 1992)
Mỗi hoạt chất của thuốc BVTV được tính theo một thang điểm củaEIQ thông qua một phương trình đại số nhằm kết hợp với thang điểm bằng sốđược gán cho mỗi loại tác động Tiền đề cơ bản của phương pháp EIQ là cáctác động sinh ra từ sự tương tác giữa độc tính và sự xâm nhập của thuốcBVTV Rủi ro của các tác động được đánh giá thông qua tỷ lệ giữa các chỉ số
về sự xâm nhập và các chỉ số về độc tính, dựa trên các thang điểm được sắpxếp theo tầm quan trọng của các bộ phận khác nhau
Trang 10Chỉ số tác động môi trường (EIQ) đã được phát triển để tổ chức cácthông tin được công bố tác động môi trường của thuốc BVTV thành một dạng
có thể sử dụng để giúp đỡ người trồng rau trong lựa chọn và sử dụng và đểđánh giá kết quả của các chương trình IPM và giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV
2.1.2.2 Khái niệm về chỉ số tác động môi trường
Theo Kovach et al ( 1992) EIQ là một phương pháp để tính toán khả năng tác động môi trường và sức khỏe của thuốc BVTV và địa chỉ của một loạt các mối quan tâm về môi trường và sức khỏe đang gặp phải trong hệ thống nông nghiệp, bao gồm các tác động về người sản xuất,, người tiêu dùng, động vật hoang dã, sức khỏe và an toàn (FAO,2008).
Phương pháp chỉ số EIQ đưa ra một dấu hiệu sơ bộ các rủi ro tiềmnăng tổng thể của một loại thuốc Vì vậy, chỉ số EIQ có thể được dùng để ướctính tác động môi trường và sức khỏe của thuốc BVTV khác nhau và so sánhvới những rủi ro tiềm năng tương đối của các chiến lược quản lý dịch hại khácnhau trong nông nghiệp
Chỉ số EIQ dùng để đánh giá tác động đến tám lĩnh vực bao gồm:tác động của thuốc bảo vệ thực vật đến người sử dụng thuốc, đến người chămsóc và thu hoạch, đến người ăn rau, đến mạch nước ngầm, đến cá, đến chim,đến ong mật và các loài côn trùng chân đốt bắt mồi có ích (gọi là thiên địch)
2.1.2.3 Phân loại chỉ số EIQ
Chỉ số EIQ bao gồm có 2 loại cơ bản đó là : chỉ số EIQ lý thuyết vf chỉ
số EIQ đồng ruộng
Thứ nhất : chỉ số EIQ lý thuyết
EIQ lý thuyết là chỉ số được xây dựng trên cơ sở các thông số kỹ thuậtcủa thuốc BVTV Phản ánh mức độ rủi ro tiềm năng của thuốc BVTV hoàntoàn dựa trên hoạt chất tức là tiềm năng độ độc của mỗi loại thuốc có thể gây
ra những tác động tiêu cực
Trang 11Chỉ số này được tính toán dựa trên 11 tham số kỹ thuật được tổng hợp
để tính toán cho 8 chỉ số cho tác động môi trường (chiết tiết tinh toán mờixem phụ lục A)
Thứ hai : chỉ số EIQ đồng ruộng
EIQ đồng ruộng là chỉ số đo mức độ rủi ro của thuốc BVTV dựa trênnền tảng là EIQ lý thuyết kết hợp với liều lượng phun được tính cho cả kỳnghiên cứu và nồng độ hoạt chất có trong đơn vị thành phẩm
Các yếu tố cấu tạo nên chỉ số EIQ đồng ruộng bao gồm 3 chỉ số đơn đó là :
EI người sản xuất : chỉ số độ độc của thuốc BVTV đến người sản xuất
EI người tiêu dùng : chỉ số độ độc của thuốc BVTV đến người tiêu dùng
EI sinh thái : là chỉ số độ độc của thuốc BVTV đến sinh thái (trong đócác yếu tố mà hệ thống EIQ nghiên cứu cho hệ sinh thái bao gồm các yếu tố :
cá Chim, ong mật, thiên địch)
2.1.2.4 Ưu điểm, nhược điểm của chỉ số EIQ
a) Ưu điểm của chỉ số EIQ
Như chúng ta đã biết rủi ro từ thuốc bảo vệ thực vật gây ra cho conngười và môi trường bắt đầu xuất phát từ hoạt chất của nó nghĩa là tiềm năngvốn có của nó gây ra thiệt hại, và khả năng tiếp xúc với hóa chất để thực sựgây ra thiệt hại Do đó, để giảm thiểu rủi ro trong sử dụng thì cần thiết phảilựa chọn được các loại thuốc chứa hàm lượng ít gây độc hại Chỉ số EIQ chỉ
ra hay có thể cung cấp một dấu hiệu những rủi ro tiềm năng của thuốc BVTV.Như vậy thông qua việc xác định chỉ số EIQ có thể xác định được hay xếp thứbậc cho mức độ độc hại cho các loại thuốc BVTV
EIQ là một chỉ số tương đối đơn giản do đó được sử dụng rộng rãi vìđơn giản và gần gũi với người sử dụng
Như vậy, sử dụng EIQ sẽ giúp nông dân và cán bộ kỹ thuật để hiểu rõhơn về tiêu cực tác dụng của thuốc BVTV, trong đó có thuốc diệt nấm, sứckhỏe con người và môi trường Nông dân hiểu tám mục tiêu các khu vực bịảnh hưởng bởi thuốc BVTV và các cấp có hiệu lực cho những mục tiêu: Nông
Trang 12dân, người tiêu dùng, nước ngầm (những người sử dụng nước ngầm) và sinhthái (cá, chim, ong mật, thiên địch)
b) Nhược điểm của chỉ số EIQ
Chỉ số EIQ chỉ ra mức độ rủi ro của một thành phần hoạt chất cụ thể,
do đó nó không là một phương pháp chính xác để xác định mức độ rủi ro thực
tế của người sản xuất bởi vì mức độ rủi ro thực tế của nông dân còn phụ thuộcvào nhiều yếu tố ví dụ : mức độ bảo hộ lao động
2.1.2.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số tác động môi trường
a) Yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số EIQ
Chỉ số EIQ ảnh hưởng bởi các yếu tố : hoạt chất của các loại thuốc,nồng độ hoạt chất và phụ thuộc vào liều lượng phun
Hoạt chất của thuốc có mức độ tiềm ẩn rủi ro càng cao thì mức độ rủi
ro càng cao(điều này được coi như là bản chất của thuốc thể hiện qua cácthông số kỹ thuật)
Nồng độ hoạt chất của thuốc : nếu nồng độ hoạt chất của thuốc càng
cao tức là hàm lượng hoạt chất của thuốc có trong một đơn vị thành phẩmcàng cao thì mức độ rủi ro càng cao và ngược lại
Liều lượng khi phun : liều lượng phun càng cao thì mức độ rủi ro càng
cao, điều này phụ thuộc vào quyết định khi phun của nông dân
b) Yếu tố ảnh hưởng đến kết quả tính toán chỉ số EIQ
Kết quả tính toán chỉ số EIQ có chính xác hay không phụ thuộc vào độchính xác của các yếu tố cấu thành nên nó Điều đó có nghĩa là nó sẽ phụ thuộcvào quá trình thu lượm thông tin, thông tin càng chi tiết và đầy đủ thì chỉ số tácđộng môi trường của thuốc BVTV sẽ phản ánh càng chính xác cho vùng nghiên
cứu Tuy nhiên, trong thực tế thường gặp phải những khó khăn sau :
- Tên chung( tên hoạt chất) : là khó khăn đối với nông dân vì nông dân
không thể đọc nhãn hiệu, đặc biệt là thuốc BVTV thường được viết bằng
Trang 13- Có trường hợp nông dân không sử dụng dụng cụ đong đếm cẩn thận
nên liều lượng cung cấp và ghi chép mang tính chất tương đối làm ảnh hưởngđến kết quả tính toán
- Một khó khăn tiếp theo gặp phải đó là EIQ lý thuyết chưa được tính sẵn trong danh sách thì việc tính toán nó là tương đối thiếu dữ liệu dẫn đến
khó khăn trong việc xác định chỉ số này
- Trường hợp không thể tính toán được người ta giả định rằng EIQ lýthuyết của hoạt chất đó = 27.3 tuy nhiên điều này sẽ cho một kết quả khôngchính xác trên thực tế
2.1.3 Vai trò của chỉ số EIQ
a) Chỉ số EIQ dùng để lượng hóa rủi ro tiềm năng của thành phần hoạt chất thuốc BVTV cho con người và môi trường
Việc ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật có thể gây ra những tác độngkhông mong muốn cho môi trường và ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe conngười bao gồm cả người tiêu dùng và nông dân sản xuất Bản thân của cácloại thuốc bảo vệ thực vật là chất độc Do bị lạm dụng, thiếu kiểm soát, dùngsai thuốc, nên nhiều mặt tiêu cực của thuốc bảo vệ thực vật ngày càng biểuhiện nhiều: ô nhiễm môi trường, để lại dư lượng trên nông sản, gây độc chongười và động vật có ích bị suy giảm ngày càng nhiều
Tuy nhiên, mỗi một loại thuốc khác nhau thì bản thân nó tiềm ẩn rủi
ro cho người sử dụng ở những mức độ khác nhau Chỉ số EIQ chỉ ra một mốinguy hiểm vốn có của một thành phần hoạt chất thuốc BVTV bằng cách tíchtoán tác động của từng loại thuốc dựa vào liều lượng phun của nông dân vànồng độ hoạt chất có trong sản phẩm
Nói cách khác đây là phương pháp định lượng mức độ rủi ro của cácloại thuốc bảo vệ thực vật Lượng hóa độ rủi ro của thuốc BVTV đến người
sử dụng thuốc, người chăm sóc và thu hoạch, người ăn rau, đến mạch nướcngầm, đến cá, đến chim, đến ong mật và các loài côn trùng chân đốt bắt mồi
có ích (thiên địch)
Trang 14Như vậy, trước tiên chỉ số EIQ cho biết sự độc hại tương ứng với từnghoạt chất cụ thể ở mức độ hoàn toàn là lí thuyết, là cơ sở để xác định khảnăng gây hại đến môi trường và con người và tiếp đó là cơ sở để xác định chỉ
số EIQ đồng ruộng mang lại những hiệu quả thiết thực hơn: tập huấn chonông dân và là công cụ để đánh giá tác động của các chương trình giảm thiểurủi ro thuốc bảo vệ thực vật
b) EIQ là cơ sở cho lựa chọn hợp lý thuốc BVTV trong sản xuất để giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV
Các giá trị thu được từ những tính toán của chỉ số EIQ có thể được sosánh với các loại thuốc khác nhau, từ việc xác định mức độ gây hại tiềm năngcủa thuốc bảo vệ thực vật đến các yếu tố môi trường và con người chỉ ranhững loại thuốc nào, hoạt chất nào gây ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe, môitrường, các loại thuốc ít độc hại
Chỉ số EIQ đồng ruộng cho biết mức độ rủi ro tương ứng với từng hoạtchất cụ thể và liều lượng sử dụng thực tế của nông dân đối với từng loạithuốc Từ đó có thể kiểm soát được mức độ rủi ro do thuốc bảo vệ thực vậtgây ra từ những nhân tố nào, trên cơ sở đó lựa chọn thuốc bảo vệ thực vật ítđộc hại cũng như khuyến cáo nông dân trong sử dụng thuốc trong sản xuấtđảm bảo mục tiêu bảo vệ mùa màng và các vấn đề về an toàn và hiệu quả
Đưa vào tập huấn cho nông dân về những mặt tiêu cực và mối nguyhiểm của thuốc bảo vệ thực vật, chỉ ra những loại thuốc tiềm ẩn rủi ro mạnh(độ độc cao) làm họ thay đổi nhận thức, đồng thời đưa ra phương thức hướngdẫn nông dân lựa chọn thuốc bảo vệ thực vật từ đó làm thay đổi thói quen tậpquán sử dụng của họ để hạn chế tối đa những tiêu cực của thuốc bảo vệ thựcvật gây ra dựa trên nông dân và cán bộ cộng đồng địa phương
Một ví dụ đơn giản ta có thể thấy được độ hữu ích của chỉ số EIQ là : việctính toán tác động môi trường cho một loại thuốc nào đó chỉ ra rằng loại thuốc
Trang 15cho rau ở nhà thì không nên lựa chọn loại thuốc này vì có thể nó sẽ làm đàn ong
bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nếu cứ tiếp tục phun cho rau với liều lượng cao thìrất có thể sẽ dẫn đến đàn ong bị tử vong hoặc không cho mật
c) EIQ là cơ sở đánh giá tác động của các chương trình tập huấn giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV
Chương trình tập huấn giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV với mục đích chủyếu là cung cấp những kiến thức cơ bản cho nông dân về thuốc BVTV đểnông dân có thể hiểu rõ hơn về các loại thuốc, rủi ro của các loại thuốc từ đólàm thay đổi nhận thức, hành vi của nông dân trong lựa chọn và sử dụngthuốc BVTV dẫn đến làm thay đổi chỉ số EIQ
Kết quả của của chỉ số EIQ là những con số thể hiện độ rủi ro cho conngười và môi trường sinh thái, nó là những con số định lượng cụ thể khắcphục tính định tính qua đó khi xác định được chúng ta có thể đánh giá đượcchương trình áp dụng có hiệu quả hay không và hiệu quả bao nhiêu bằng cách
so sánh chỉ số EIQ trước và sau chương trình tập huấn Nói cách khác thì chỉ
số EIQ chỉ ra rằng chương trình tập huấn đã tác động đến nhận thức củangười sử dụng thuốc như thế nào và ứng xử của họ ra sao trong việc lựa chọn
và phun thuốc, cuối cùng là được tổng hợp lại bằng chỉ số EIQ phản ánhchính xác điều đó Do đó có thể coi EIQ là công cụ hữu ích dùng để đánh giátác động của chương trình
Ý nghĩa trong nghiên cứu: Xác định chỉ số EIQ nhằm đánh giá tác độngcủa chương trình tập huấn giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật dựa vàocộng đồng đã được thực hiện tại Đặng Xá cụ thể là nông dân trồng rau BắpCải, nói cách khác nó là một công cụ để đánh giá kết quả đạt được
Ý nghĩa thực tiễn: Việc tính toán chỉ số EIQ sẽ trở thành một công cụhữu ích, tài liệu quan trọng để tập huấn cho nông dân về khả năng gây độc từthuốc BVTV Bằng những con số rõ ràng có thể giúp nông dân so sánh chínhxác mức độ rủi ro của những loại thuốc có cùng chức năng như nhau qua đó
có thể lựa chọn được các loại ít gây hại cho con người và môi trường sinh
Trang 16thái Hơn nữa, việc tập huấn cũng giúp nông dân thay đổi thói quen trong sửdụng thuốc bằng cách lựa chọn thuốc hợp lí và phun đúng liều lượng, đúngcách giúp nông dân giảm chi phí và tăng năng suất chất lượng.
Tóm lại: Mục tiêu và ý nghĩa của việc xác định chỉ số EIQ là đưa ra được những con số cụ thể mô tả mức độ rủi ro của các loại thuốc BVTV, điều này sẽ thuyết phục hơn so với cách mô tả rủi ro một cách định tính từ đó tác động nhanh hơn, sâu hơn tới nhận thức của nông dân làm thay đổi thói quen
tư duy của họ trong việc sử dụng thuốc BVTV đảm bảo mục tiêu chăm sóc sức khỏe cộng đồng, vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường phục vụ mục tiêu phát triển bền vững sản xuất nông nghiệp.
2.2 Tác động của chương trình giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật thông qua chỉ số tác động môi trường
2.2.1 Chương trình giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật
2.2.1.1 Xuất xứ của chương trình
Nghiên cứu của FAO chỉ ra rằng : việc sử dụng thuốc BVTV ngày càngnhiều trong nông nghiệp Do đó, càng làm tăng nguy cơ rủi ro thuốc BVTV.(Dada Abubakar, 2009) Dưới sự hỗ tợ của Thụy Điển, FAO đã tiến hànhchương trình giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV ở tiểu vùng Mekong mở rộngsang Campuchia, Lào, Việt Nam, Vân Nam và Quảng Trị Trung Quốc
2.2.1.2 Mục tiêu của chương trình
- Đẩy mạnh hoạt động tập huấn để giảm thiểu được rủi ro từ thuốcBVTV
- Tăng cường và mở rộng hệ thống quản lý dịch hại tổng hợp của nôngdân và giảng viên thông qua IPM dựa vào cộng đồng
2.2.1.3 Các hoạt động của chương trình
Tổ chức tập huấn kiến thức giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV nông dânNội dung cơ bản của tập huấn: rủi ro thuốc BVTV, các quy định về
Trang 17Tổ chức tập huấn cho lãnh đạo cộng đồng và rủi ro thuốc BVTV dựavào cộng đồng, các hoạt động cộng đồng được xây dựng vùng rau an toàn.
Xây dựng vùng rau an toàn, cơ sở hạ tầng mương máng, kênh, bể chứa,nguồn nước
Triển khai các hoạt động như: lập kế hoạch, hình thành nhóm sở thíchcủa nông dân trong sản xuất rau Giám sát, kiểm tra, tuyên truyền và vận độngnhân dân làm theo chương trình giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV
2.2.2 Tác động của chương trình giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật
thông qua chỉ số EIQ
Cũng như Lào, Campuchia, Việt Nam triển khai chương trình giảmthiểu rủi ro thuốc BVTV với mục tiêu là giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV
Các hoạt động chính của chương trình bao gồm tập huấn cho nông dân
và xây dựng các hoạt động cộng đồng Nông tham gia tập huấn có đượcnhững kiến thức, kỹ năng trong sử dụng thuốc BVTV, cùng với đó các hoạtđộng cộng đồng được xây dựng, triển khai xây dựng các quy chế, có đầu tưxây dựng hạ tầng phục vụ cho chương trình sẽ là nhân tố tác động làm thayđổi thói quen của người sử dụng thuốc BVTV theo hướng tích cực Tác độngcủa chương trình này sẽ được phản ánh cụ thể thông qua chỉ số EIQ
Chuỗi tác động của chương trình giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV thựchiện theo sơ đồ sau :
Sơ đồ 2.1: Chuỗi tác động của chương trình PRR thông qua chỉ số EIQ 2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tác động của chương trình giảm thiểu
- Các hoạt động cộng đồng
Nhận thức
và hành vi trong lựa chọn và sử dụng thuốc BVTV của nông dân
Tác động của chương trình thông qua chỉ số EIQ
Trang 18rủi ro thuốc bảo vệ thực vật
Thiết kế và cấu trúc của chương trình
Thiết kế và cấu trúc của chương trình PRR phù hợp với đặc điểm địa
bàn, tình hình sản xuất tại địa phương thì tác động của chương trình tốt
Mức độ tuân thủ các nội quy và hoạt đồng của chương trình đã thiết kế
Mức độ tuân thủ các nội quy và các hoạt động của chương trình tốt thì hướngtác động sẽ tốt và ngược lại nếu mức độ tuân thủ các nội quy của chương trìnhkém, ý thức thực hiên nội quy của nông dân không cao, quản lý, giám sátkhông chặt chẽ thì chương trình triển khai sẽ kém hiệu quả dẫn đến tác độngcủa chương trình không rõ nét
Năng lực của cán bộ cộng đồng: thể hiện ở công tác xây dựng các quy
chế cho chương trình giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV, khả năng áp dụng, triểnkhai và giám sát quá trình thực hiện nội quy trong sử dụng và buôn bán thuốcBVTV
Nhận thức và hành vi của nông dân: thể hiện thông qua việc chấp hành
các nội quy của chương trình trong lựa chọn và sử dụng thuốc BVTV, xử lýbao bì, cất giữ thuốc
Nguồn lực của chương trình: cụ thể là kinh phí đầu tư cho công tác xây
dựng cơ sở hạ tầng (các bể thu gom vỏ bao bì, hệ thống hóa cơ sở kênhmương), kinh phí cho chương trình tập huấn là yếu tố quan trọng đầu tiênquyết định đến kết quả của chương trình
Các hoạt động cộng đồng: bao gồm các hoạt động tổ chức vùng rau an
toàn, xây dựng các nội quy cho chương trình về sử dụng và xử lý bao bì sau khiphun thuốc, hoạt động tuyên truyền vận động nông dân hưởng ứng làm theo,thực hiện tốt các nội quy định đề ra là cơ sở để chương trình có tác động tốt
Trang 19ở Hoa Kì và quốc tế Hầu hết các báo cáo EIQ đã được ứng dụng trong cácnghiên cứu đánh giá tác động của IPM hoặc đánh giá các chiến lược quản lídịch hại khác nhau.
Cụ thể chỉ số EIQ đã được ứng dụng trong chương trình sản xuất Bông
Từ năm 2000 đến năm 2004, FAO-EU Chương trình IPM cho bông ởchâu Á thực hiện khoảng 3.600 lớp học đào tạo cho nông dân về chươngtrình IPM (FFS) cho hơn 90.000 nông dân ở Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ,Pakistan, Philippines và Việt Nam Để đánh giá ảnh hưởng của các hoạt độngđào tạo, nghiên cứu đánh giá tác động được tiến hành tại bẩy trang web, tức làmột trong mỗi quốc gia có một trang và ba trang tại Trung Quốc Chươngtrình tác động của thuốc BVTV giảm được giám sát về số lượng các ứng dụng
và liều lượng áp dụng Ngoài ra, nó đã quyết định thử nghiệm EIQ như mộtphương tiện để đánh giá rủi ro môi trường của các chiến lược quản lý dịch hạikhác nhau
Các chương trình trên thế giới đã ứng dụng chỉ số EIQ trong lựa chọn
và sử dụng thuốc BVTV được tập hợp ở bảng 2.1
Trang 20Bảng 2.1: Lựa chọn của Toàn cầu Công dụng của EIQ ngoài Châu Á
Thuốc BVTV Giảm thiểu rủi ro trên Cây trồng ở tỉnhbang Ontario
Đánh giá các tác động môi trường của các ứng dụngtrong Thuốc BVTV Chế biến cà chua
Giảm rủi ro của thuốc BVTV ở Georgia đào, 2001
1991-tác động môi trường thương tích của thuốc BVTV sửdụng ở Bắc
Trung Ohio - 1999 & 2003 Đánh giá tác động môi trường của các thay đổi trong
sử dụng thuốc BVTV trên biến đổi gen cây trồng
England toàn Biểu của một Integrated PestManagement
(IPM) Hệ thống cho Táo Giáo dục và tiêu dùng trongIPM như là một Chiến lược phòng, chống ô nhiễm
Ảnh hưởng của thuốc diệt cỏ chịu cải dầu trên các tácđộng môi trường của weed quản lý
Cây trồng GM toàn cầu 2005: Kinh tế toàn cầu và tácđộng môi trường - Chín năm đầu tiên 1996-2004Central Coast Vineyard đội của Chiến lược 2005 Môi trường tác động của bông Bt thường và côn
Trang 21thể hiện một và hai gen Cry tại Úc Công nghệ sinh học như một công cụ cho các giốngcây trồng
Organic vs tích hợp sản xuất của các Táo trong ĐôngBắc Bắc
Mỹ: Kết quả đo của hai cách tiếp cận khác nhau chogiảm tác động môi trường của thuốc BVTV
Nguồn : FAO,2008
b) Nghiên cứu đánh giá tác động
Trong khi nông dân lĩnh vực nghiên cứu trường học cho thấy việc giảmrủi ro tiềm năng thông qua IPM, nghiên cứu tác động đánh giá thực tế giảm
do kết quả của FFS đào tạo Để đánh giá tác động, FFS của dự án người thamgia được so sánh với nông dân không FFS từ các làng cùng (tiếp xúc với nôngdân) và nông dân trong làng mà không có FFS đã diễn ra nông dân điềukhiển Trong quá trình khảo sát cơ sở trong Năm 2002 sau sự hình thành củacác nhóm FFS, nông dân được đề nghị tái sản xuất bông của họ thực hành từnăm 2001 Năm năm sau khi đào tạo FFS, tức là vào năm 2003, tất cả cácnông dân đã được truy cập nhiều lần trong mùa bông để thu thập dữ liệu tácđộng trên post-FFS thực hành
Tại Pakistan, kết quả EIQ được báo cáo là tổng số trường EIQ sử dụng,cũng như phân nhóm cho EI nông dân, EI Môi trường / Sinh thái và EI tiêudùng Số liệu cho thấy trung bình Giảm 50% nguy cơ tương đối về FFS trangtrại so với mức tăng 75% trên các trang trại kiểm soát (Phuong, 2001)
c) Tại Thái Lan
Một nghiên cứu đánh giá tác động trên phân tích lúa IPM trong một tậphợp các dữ liệu thu thập trong một khoảng thời gian hơn 4 năm trên các trang
Trang 22web dự án thí điểm FFS Lĩnh vực sử dụng EIQ đã được sử dụng để địnhlượng rủi ro của thuốc BVTV cho môi trương và sức khỏe con người.
Kết quả cho thấy FFS-IPM nông dân đã giảm đáng kể việc sử dụngthuốc BVTV trong hoạt động sản xuất của họ sau khi đào tạo trong khi đó cácnhóm không tham gia đào tạo không quan sát được giảm đáng kể Giá trị EIQ
đã cho thấy sự khác biệt rõ rệt này Sau đào tạo nông dân tham gia đã chịu ítảnh hưởng từ thuốc BVTV hơn
Tuy nhiên, việc thiếu EIQ lý thuyết là một trong những hạn chế quantrọng trong việc xác định chỉ số EIQ đồng ruộng, điêu này có thể ảnh hưởngđến tính chính xác
d) Tại Campuchia
Hai nghiên cứu đánh giá tác động đã được tiến hành ở Campuchia, một
là của DANIDA trên lúa trong năm 2003 và một của FAO Chương trình IPMtrên cây trồng rau trong năm 2003 và 2004 Mặc dù đánh giá rủi ro thông quaEIQ đã không được bao gồm trong các nghiên cứu, nỗ lực đã được được thựchiện để tính EIQ đồng ruộng sau đó EIQ dựa trên dữ liệu hiện tại từ những tácđộng trước đó đánh giá công việc
Tuy nhiên, tính toán của trường EIQ sử dụng đã được hạn chế bởi thực
tế là các thuốc BVTV khảo sát dữ liệu không phải luôn luôn xác định rõ ràng.Không chỉ là nhiều nông dân mù chữ mà nhiều nông dân đã làm không biếttên của các loại thuốc BVTV đã được sử dụng, nhiều thuốc BVTV có nguồngốc từ các quốc gia lân cận và các thông tin nhãn được viết bằng tiếng Thái,Việt Nam hoặc Trung Quốc Nỗ lực để ghi tên của các thuốc BVTV được sửdụng bởi người nông dân thường dẫn đến sai lỗi chính tả và không thể hiểutên Ngoài ra, một số trong những sản phẩm không tương ứng với được quốc
tế biết đến các sản phẩm cùng tên, và trong trường hợp khác, tên như
Trang 23Với sự trợ giúp của một cuốn sách tham khảo có chứa hình ảnh củanhãn thuốc BVTV được tìm thấy tại Campuchia, nó đã có thể xác định hoặcđoán hầu hết các thuốc BVTV được sử dụng bởi các nông dân được khảo sát
Kết quả sơ bộ cho IPM trên lúa chỉ ra rằng lĩnh vực sử dụng EIQ giảmđược tương tự như giảm liều lượng và chi phí nhưng không phải là quá lớnnhư sử dụng sản phẩm độc tính loại I theo WHO, đó là một trong những mụctiêu chính của chương trình IPM
2.2.2 Tại Việt Nam
a) Nhiều nghiên cứu về tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đã khẳngđịnh tính độc hại của thuốc bảo vệ thực vật
Ở nước ta tính từ năm 2000- 2006đã có 667 vụ ngộ độc do có độc tốtrong sản phẩm với 11.653 người bị hại trong đó 683 người bị chết riêng năm
2006 đã có 69 người bị tử vong trong số 8.900 người bị ngộ độc thực phẩm,một số loại thuốc bị cấm sử dụng vẫn còn tồn dư trên sản phẩm (Hoàng BáThịnh, 2007)
« Nghiên cứu ảnh hưởng của các hóa chất độc hại dùng trong nôngnghiệp tới sức khỏe con người và các giải pháp khắc phục » được triển khainghiên cứu với mục tiêu đánh giá thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật vàtác hại của thuốc đến người sử dụng Từ đó phổ biến rộng trong sản xuất vàkiến nghị với nhà nước các chủ trương chính sách tạo điều kiện thúc đẩy bảo
vệ môi trường và nâng cao sức khỏe cộng đồng nông thôn và toàn xã hội Nghiên cứu đã rút ra kết luận : thuốc bảo vệ thực vật ảnh hưởng đến sức khỏecon người như sau :
- Tính rộng ra trên cả nước có khoảng 11,5 triệu hộ nông dân, mỗi hộ
có ít nhất một người trực tiếp phun thuốc bảo vệ thực vật, số người tiếp xúcvới thuốc bảo vệ thực vật ước khoảng 11.500.000 Như vậy, số người nhiễmđộc mãn tính trong cả nước khoảng trên 2 triệu người Đây là một con số rấtđáng lo ngại và rất đáng quan tâm Các nhà phân tích y học ở nhóm ngườinhiễm độc mãn tính thuốc bảo vệ thực vật cho thấy những biến đổi sinh học
Trang 24và sinh hóa theo chiều hướng xấu Những bệnh nghề nghiệp bảo vệ thực vậtdẫn đến suy giảm sức khỏe nông dân và cộng đồng.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến chất lượng sảnphẩm : Chỉ tiêu đnáh giá ảnh hưởng này là định mức dư lượng thuốc bảo vệthực vật trong sản phẩm so sánh với mức cho phép của FAO
- Kết quả thu được cho thấy trong quả nho có chứa nhiều dư lượngthuốc bảo vệ thực vật nhất, tiếp theo là đến bắp cải và đậu đũa
- Nghiên cứu các phương tiện bảo vệ các nhân khi sử dụng, tiếp xúcvới thuốc bảo vệ thực vật cho thấy nông dân không có phương tiện bảo vệ cánhân đầy đủ
Nghiên cứu đã kết luận rằng thực trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vậttrong sản xuất rau, chè , lúa, nho vẫn còn nhiều tồn tại Nhiều loại thuốc cónồng độ độ độc cao vẫn được sử dụng trong đó bao gồm cả thuốc cấm sửdụng vẫn được dùng phổ biến với số lần phun và liều lượng phun mỗi lần đềuvượt quá quy định Người phun thuốc thì không có bảo hộ đầy đủ sau khiphun thì không thu gom xử lí bao bì đựng thuốc Không có nơi rửa bình riêng,không có nơi cất giữ thuốc riêng do đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏecon người , ảnh hưởng xấu đến chất lượng sản phẩm và môi trường
Do đó, việc triển khai các mô hình về sử dụng an toàn thuốc bảo vệthực vật trên rau, chè, lúa cần phải được đưa vào sản xuất để nâng cao dântrí về bảo vệ thực vật hiểu biết về độc hại của thuốc và cách dùng thuốc,chuyển giao đến nông dân các biện pháp phòng BVTV bệnh và lựa chọnthuốc bảo vệ thực vật ít độc hại
b) Việt Nam ứng dụng chỉ số EIQ trong sản xuất để lựa chọn thuốc bảo vệthực vật ít độc hại
Tại đại hội Thế giới thứ tư, Ngày 25 thường niên tại Bắc Mỹ: WA8 toàncầu : những quan điểm: Thuốc BVTV đánh giá rủi ro trong nước đang phát
Trang 25Trong bốn tỉnh của Việt Nam (Hà nội, Hải Phòng, Hà Tây, LâmĐồng) nguy cơ thuốc BVTV chỉ số mô hình tác động môi trường (EIQ) đãđược giới thiệu Mục tiêu của dự án là :
(1) để hướng dẫn nông dân sử dụng chỉ số EIQ để giúp nông dân trong việcchọn một loại thuốc BVTV ít gây hại cho con người và môi trường trong sảnxuất rau sản
(2) để giúp nông dân sử dụng chỉ số EIQ để đánh giá tác dụng của thuốcBVTV trên sức khỏe con người và môi trường
(3) để đạt được kinh nghiệm từ việc sử dụng thực tế của những nguy cơ chỉthị các mô hình như một công cụ cho nông dân Mỗi chương trình đều doGiảng viên Bảo vệ thực vật từ Chi cục (PPSD) tại mỗi tỉnh đã chịu tráchnhiệm về việc giới thiệu các mô hình nông dân EIQ tại trường
Kết quả đạt được
Trường (FFS) với 30 nông dân tham gia vào mỗi FFS Tại các tỉnhđược lựa chọn, lĩnh vực lô trong hai loại cây trồng từ 15 IPM-nông dân (nôngdân được đào tạo) và 15 nông dân không được đào tạo đã được tiếp theo trongmùa trồng, tháng 9- 12 năm 2002
Trong FFS, giảng viên và nông dân thảo luận về các đối tượng bị ảnhhưởng bởi việc sử dụng thuốc BVTV và giới thiệu các công thức và phươngpháp để tính toán EIQ Giảng viên đã hướng dẫn bà con nông dân để thựchành bảng EIQ để tính toán và sử dụng trường EIQ để đánh giá tác dụng củathuốc BVTV được sử dụng trên con người và môi trường, và để hướng dẫnthực hành phương pháp thu thập dữ liệu
Các kết quả chính từ chương trình cho thấy sản lượng của nông dânđược đào tạo, tập huấn đã cao hơn nông dân không được tập huấn Các EIQtại các nông dân tập huấn thu được thấp hơn so với nông dân không được tậphuấn Do đó đã tiết kiệm được cả chi phí và ít ảnh hưởng đến môi trường Saukhi đào tạo với nông dân IPM và EIQ, nông dân thu được kiến thức mới; đổi
Trang 26mới tư duy của họ khi sử dụng thuốc BVTV và giảm tải về môi trường và rủi
ro trong sản xuất rau (FAO,2008)
2.3 Bài học kinh nghiệm
Từ thực tế các nước trên thế giới đã ứng dụng chỉ số EIQ cho thấy rằng,chỉ số có vai quan trọng trong việc định lượng mức rủi ro để đánh giá các tácđộng của chương trình IPM, cũng như tập huấn cho nông dân cách thức lựachọn thuốc BVTV an toàn cho sức khỏe và môi trường Nhiều nước đã sửdụng chỉ số EIQ để lựa chọn được các loại thuốc an toàn và hiệu quả, từ đógiảm thiểu được rủi ro cho con người và môi trường, tiếp kiệm chi phí, cônglao động nâng cao được hiệu quả sản xuất
Tuy nhiên, hạn chế thường xuyên gặp phải là nông dân không nhớđược tên các loại thuốc mình đã dùng, do hạn chế về trình độ : tên thuốc ghibằng tiếng nước ngoài, hoặc chủ quan dùng theo thói quen làm ảnh hưởng đến
bộ dữ liệu và tính chính xác khi đánh giá ảnh hưởng của thuốc đến sức khỏe
và môi trường
Do đó, chúng ta nên lấy mẫu vỏ bao bì tập huấn cho nông cách nhậndạng các loại thuốc ngay từ ban đầu có thể khắc phục khó khăn cho ta một kếtquả chính xác khi đánh giá tác động của chương trình
Trang 27III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
- Phía Nam giáp xã Trâu Quỳ
- Phía Tây giáp xã Cổ Bi
- Phía Đông giáp xã Phú ThịĐịa bàn xã có các tuyến đường giao thông chính chạy qua địa phận: Đêsông Đuống, đường 181 và đường 179 (đường Ỷ Lan) với các hướng đi: CầuĐuống - Phú Thị - Quốc Lộ 5, Dốc Lời đi Phú Thị - Quốc lộ 5, Dốc Lời đicầu Đuống, Dốc Lời đi Đình Tổ - Bắc Ninh Trong đó Cảng Dốc Lời trênđoạn sông Đuống thuộc địa phận xã là nơi chu chuyển hàng hóa rất thuận lợicho việc lưu thông sản phẩm rau các loại đi các nơi
Như vậy có thể thấy Đặng Xá là khu vực gần đường quốc lộ hơn nữalại nằm ven các con sông lớn nên rất thuận lợi về trao đổi hàng hóa theo cáchướng bao gồm cả đường bộ lẫn đường sông ở Huyện Gia Lâm
3.1.1.2 Đặc điểm khí hậu và thuỷ văn
Trang 28mm) Độ ẩm không khí trung bình năm 83%, tháng có độ ẩm cao nhất làtháng 3, tháng 4 lên tới 87 - 89%, tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 11 độ ẩmvào khoảng 68%.
- Thuỷ văn:
Chạy qua địa phận xã Đặng Xá là 2 con sông: Sông Đuống và sông ThiênĐức Đây là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất cũng như đời sống sinhhoạt của nhân dân trong toàn xã và vùng Nam Đuống
Nhìn chung với điều kiện khí hậu và thuỷ văn trên Đặng Xá là nơi thíchhợp cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp cụ thể đối với cây lúa và nhiềuloại cây rau, màu
3.1.1.3 Đặc điểm về đất đai
Đặng Xá là một xã nằm ven sông Đuống đất đai màu mỡ do hàng nămđược bồi đắp bởi một lượng phù sa rất lớn đặc biệt thuận lợi cho sản xuất rau.Địa hình nơi đây tương đối bằng phẳng, toàn bộ diện tích đất đai của xã đượcphân ra thành 2 vùng rõ rệt:
- Vùng đất trong đê: là diện tích đất phù sa sông Đuống không được bồihàng năm, địa hình tương đối bằng phẳng, nơi cao nhất so với mặt nước biển
là 5,8 m, nơi thấp nhất là 4,8 m Diện tích của vùng là 539,5 ha chiếm 91,9%diện tích đất tự nhiên, trong xã đất rất thích hợp cho việc trồng lúa nước vàcác loại cây rau, màu
- Vùng đất ngoài đê: là đất phù sa được bồi hàng năm của sông Đuốnggồm cả hai phần tả và hữu sông Đuống, độ cao trung bình so với mặt nướcbiển là 6,9 m Diện tích là 47,7 ha chiếm 8,1% diện tích tự nhiên, thích hợpcho việc trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày như đậu, đỗ, lạc, các loạirau màu trong thời gian không bị ngập
Số liệu đất sản xuất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp của toàn xãtrình bày ở bảng 3.1
Trang 2912,8229,90
(Nguồn: Phòng Quản lý đất đai xã Đặng Xá)
Trong tổng số đất tự nhiên của xã là 587,2 ha thì diện tích đất nôngnghiệp hiện có là 321,6 ha chiếm tỷ lệ lớn nhất là 54,77 %, diện tích đất phinông nghiệp là 258,2 ha chiếm 43,97%, đất chưa sử dụng 7,3 ha chiếm tỷ lệthấp nhất là 1,24%
Từ con số thống kê trên cho thấy diện tích nông nghiệp của xã là tươngđối lớn chính tỏ nền sản xuất nông nghiệp ở đây hiện nay còn đang rất pháttriển, là nguồn thu chủ yếu của nông dân trong xã
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Dân số và lao động
Theo số liệu thống kê của xã năm 2008 thì tổng dân số toàn xã là 8428người với 2104 hộ, trong đó số khẩu nông nghiệp là 6742 người chiếmkhoảng 80% Tổng số lao động của xã là 5056 người chiếm 59,9% tổng dân
số, trong đó số lao động nông nghiệp là 4536 người chiếm 89,71% tổng số laođộng toàn xã, lao động phi nông nghiệp là 520 người chiếm 10,28% tổng số
Trang 30lao động của toàn xã.
Bảng 3.2: Dân số và lao động của xã Đặng Xá
1 Số nhân khẩu
- Số khẩu nông nghiệp
- Số khẩu phi nông nghiệp
ngườingườingười
842867421686
100,0080,00
21041904200
100,0090,49
9,51
3 Tổng số lao động
- Số lao động nông nghiệp
- Số lao động phi nông nghiệp
ngườingườingười
50564536520
100,0089,72
10,28
(Nguồn: Phòng thống kê xã Đặng Xá)
Tỷ lệ tăng dân số hàng năm của xã khoảng 1,2% Toàn xã được chiathành 10 thôn và 7 cơ quan đơn vị, trong đó các thôn sản xuất rau chủ yếu là:Hoàng Long, Đổng Xuyên, Lở, Lời, Viên Ngoại, Nhân Lễ, các thôn sản xuấtlúa chủ yếu là:Kim Âu, Viên Ngoại, Nhân Lễ, An Đà, Cự Đà, Đặng Như vậy,
về dân số và lao động xã Đặng Xá rất dồi dào thuận lợi cho việc phát triểnkinh tế xã hội trong tương lai, đặc biệt trong việc thâm canh xây dựng cơ cấucây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa
Trang 315 Thu nhập bình quân/ người/năm Triệu đồng/người 5,4
Nhìn chung, Đặng Xá đang trong đà phát triển nền kinh tế toàn xã,thương mại, dịch vụ ngày càng được ưu tiên phát triển bên cạnh đó nền sảnxuất nông nghiệp truyền thống cũng ngày càng tăng trưởng và phát triển theoquy mô số lượng và chất lượng dẫn đến đời sống nông dân ngày càng đượcnâng cao
Trang 323.1.2.3 Tình hình cơ sở vật chất của xã Đặng Xá
Bảng 3.4: Cơ sở vật chất của xã Đặng Xá
I.Công trình thủy lợi
II.Đường giao thông
1,11100
3111
Trang 33Xã đã có 1,11 km đường nhựa, và 100% bê tông hóa liên thôn, và 3,97
km đường cấp phối với điều kiện như vậy thì giao thông của xã cũng đã tươngđối thuận tiện cho việc trao đổi, giao lưu giữa các thôn các xã và liên tỉnh
* Hệ thống trường, trạm y tế
Hiện trong xã đã có 3 ngôi trường với diện tích tương đối rộng, cơ sở
hạ tầng của trường cũng rất khang trang Trường tiểu học có khoảng 2025 m2,trường cấp I có khoảng 2600m2, nhà hai tầng với 16 phòng học Trường cấp II
có khoảng 5000m2 với 20 phòng học Các khu trường này đều nằm tập trungtrong khu dân cư thuận tiện cho bố, mẹ đưa đón và quan sát trẻ học tập
Trong xã có 1 trạm y tế với diện tích 1782m2 nhà hai tầng, tương đốisạch sẽ và thoáng mát thuận tiện cho nông dân chữa trị và cấp cứu kịp thời
Đặc biệt trong năm 2008 qua được sự hỗ trợ của FAO và chi cục bảo vệthực vật Hà Nội xã đã xây thêm 13 bình chứa thuốc bảo vệ thực vật để nôngdân có nơi để bao bì, vỏ thuốc tập trung nhằm hạn chế ô nhiễm nguồn nước
và môi trường sinh thái
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Khung phân tích tác động của chương trình giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật thông qua chỉ số EIQ
Để đánh giá tác động của chương trình PRR thông qua chỉ số EIQ,chúng tôi xây dựng khung phân tích để áp dụng Mục đích là để đánh giá tácđộng của chương trình đến nhận thức và hành vi của người sản xuất trước vàsau khi tập huấn chương trình PRR trên cơ sở đồng nhất cánh đồng và ngườisản xuất
Trang 35Sơ đồ 3.1:Tác động của chương trình PRR đến đầu ra thông qua chỉ số EIQ 3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và chọn mẫu điều tra
Căn cứ vào đặc điểm địa bàn nghiên cứu và đối tượng sản xuất rautiến hành chọn ra một khu vực đồng ruộng chuyên sản xuất bắp cải qua cácnăm Do đó chúng tôi tiến hành lựa chọn cánh đồng của khu vực thôn ĐổngXuyên vì lí do sau:
Hoạt động của chương trình
- Tập huấn cho nông dân
- Các hoạt động cộng đồng
Đầu raNông dân được tập huấnQuy định của xã về PRR
Tác động đến môitrườngEIQ đồng ruộng
Trang 36Cánh đồng thôn Đổng Xuyên là vùng có diện tích trồng rau lớn nhất
xã Đặng Xá 100% nông dân của thôn đều tham gia sản xuất rau cung ứngcho thị trường, do đó đây là vùng rau mang tính chất điển hình trong sản xuất
rau tại địa phương Tuy nhiên đây cũng là khu vực cánh đồng có vị trí địa lý
có khả năng gây rủi ro cao từ phía nông dân sử dụng thuốc BVTV cho nguồn
nước, tôm, cá được mô tả như sau:
Hộp 1: Cánh đồng tiềm ẩn rủi ro cao
Cánh đồng thôn Đổng Xuyên đã được GS Đỗ Kim Chung lựa chọn
để đánh giá về khả năng nhận thức và ứng xử của nông dân về rủi ro thuốcbảo vệ thực vật Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nơi đây đang tiềm tàng một mức
độ rủi ro khá cao, đây là nguyên nhân dẫn đến có chương trình PRR
Qua đó, xác định đối tượng nghiên cứu cho đề tài chúng tôi lựa chọnnhững người thuộc khu vực thôn Đổng Xuyên và đã được phỏng vấn, tậphuấn trong lần 1 để đánh giá tác động của chương trình đảm bảo cho mẫu cótính thống nhất trong so sánh để thấy rõ tác động
3.2.3 Phương pháp thu thập thông tin
3.2.3.1 Thông tin đã công bố
Các số liệu về thông tin thứ cấp bao gồm các thông tin về điều kiện vịtrí địa lí, dân số và lao động, tình hình kinh tế xã hội, diện tích gieo trồng, ….được thu thập từ các báo cáo văn bản của xã
Tình hình thuốc BVTV ở Việt Nam và trên thế giới được thu thập thôngqua các văn bản báo cáo, internet
Cánh đồng Đổng Xuyên nằm cách khu dân cư khoảng 20 m, cách trường học, nhà trẻ mẫu giáo khoảng 50 m Cách khu chăn nuôi: cá, vịt 20 m Cách nguồn nước 0 m.
Từ những nhân tố này cho thấy khu vực này rất thuận lợi cho việc tưới tiêu của nông dân, nông dân làm đồng không phải tốn thời gian đi xa, thuận tiện cho chăm sóc nhưng cũng là mối nguy tiềm ẩn rủi ro cao cho con người, ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến gia súc, gia cầm, ô nhiễm không khí (kết quả PRA)
Trang 373.2.3.2 Thông tin mới
Các số liệu thu thập từ người tham gia tập huấn được thể hiện ở bảng 3.5 Các số liệu này được thực hiện thông qua điều tra bằng phiếu câu hỏi (phụ lục)
Các số liệu sử dụng trong đề tài được tiến hành thu thập ở hai thời điểm: Giai đoạn 1: kế thừa số liệu về tình hình hoạt động sản xuất, sử dụngthuốc BVTV cho rau trong năm 2007 - 2008 do GS.TS Đỗ Kim Chung tiếnhành thu thập Đây là giai đoạn trước khi Đặng Xá triển khai chương trìnhgiảm thiểu rủi ro thuốc BVTV
Giai đoạn 2: tình hình sản xuất, sử dụng thuốc BVTV cho rau ở vụđông xuân năm 2009 – 2010 do đoàn nghiên cứu tiến hành thu thập của tácgiả và nhóm nghiên cứu Đây là giai đoạn sau khi Đặng Xá đã triển khaichương trình giảm thiểu rủi ro thuốc BVTV
Phương pháp thu
- Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu câu hỏi
Đề tài sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu bằng phiếu câu hỏi đối vớingười trực tiếp sử dụng thuốc BVTV cho rau để xác định các loại được sửdụng, liều lượng và hoạt chất của từng loại
Trang 38Bảng 3.5: Các thông tin sơ cấp cần thu thập
Thông tin cơ bản của hộ - Độ tuổi
- Liều lượng phun
- Số lần phun của từng loại
- Số lần phun/vụ
- Kĩ thuật phun
- Kỹ thuật xử lí sau khi phun
- Tình hình bảo hộThông tin về thuốc BVTV do
người bán thuốc cung cấp
Thông tin về thuốc bảo vệ thực
vật do chi cục BVTV Hà Nội
cung cấp
- Tên thường gọi của nông dân
- Tên thương mại của thuốc
- Các thông tin liên quan đến tìnhhình sử dụng thuốc của nông dân
- Tên thương mại của thuốc
- Tên hoạt chất của thuốc
- Phương pháp quan sát thực tế
Phương pháp này được áp dụng khi tiến hành khảo sát đồng ruộng.Mục đích của hoạt động này là quan sát tình hình thực tiễn tại địa phương vềcác hoạt động của nông dân trong việc phun thuốc, kỹ thuật pha chế thuốc
Trang 39xem họ có pha trộn thuốc hay không, kỹ thuật phun thuốc và cách xử lí bao
bì, các triệu chứng sau khi phun của nông dân
Trang 40- Phương pháp đánh giá có sự tham gia:
Phương pháp này được sử dụng khi tiến hành thảo luận với nông dânnhằm trao đổi, lắng nghe ý kiến của nông dân về các loại thuốc đang sử dụng,cách sử dụng thuốc cũng như những vấn đê họ gặp phải sau khi phun…
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: đề tài sử dụng phương pháp chuyên gia
để xin ý kiến các chuyên gia trong ngành BVTV về các loại thuốc, độ độc củathuốc, hoạt chất của thuốc, kiểm định các công thức phối trộn của thuốc đúnghay sai
3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Mã hoá số liệu: mục đích là để quy chuẩn những thông tin định tínhthành những con số cụ thể để thuận tiện cho nhập số liệu và dễ dàng trong xử
lí, đề tài mã hoá các thông tin: thôn, xã, tên thuốc…
- Vào số liệu: đề tài tiến hành nhập và xử lí số liệu trên phần mềmSPSS 15.0, một phần được bóc tách xử lí trên EXCEL cho đơn giản thuận tiệnphù hợp với đề tài
3.2.3.2 Chỉ tiêu phân tích và phương pháp tính
a) Nhóm chỉ tiêu phân tích đặc điểm của nông dân tham gia chương trình bao
gồm các chỉ tiêu:
- Thông tin về độ tuổi của người được phỏng vấn: max, min, bình quân
- Giới tính: số lượng học viên tham gia chương trình được mô tả