CHƯƠNG 5 SỬA CHỮA CƠ CẤU TRUYỀN ĐỘNG QUAY VÀ CƠ CẤU BIẾN ĐỔI CHUYỂN ĐỘNG 5 1 Sửa chữa các chi tiết truyền động quay 5 1 1 Sửa chữa trục 5 1 1 1 Trục tâm và trục truyền Trong sửa chữa các trục tâm và t.
Trang 1CHƯƠNG 5: SỬA CHỮA CƠ CẤU TRUYỀN ĐỘNG QUAY VÀ CƠ CẤU BIẾN ĐỔI CHUYỂN ĐỘNG
5.1 Sửa chữa các chi tiết truyền động quay
5.1.1 Sửa chữa trục
5.1.1.1 Trục tâm và trục truyền
Trong sửa chữa các trục tâm và trục truyền chúng ta phân trục làm ba loại:Trục trơn, trục bạc và trục then hoa Khi nắn các trục cong, ta còn phân thành trụccứng và trục mềm Trục mềm là trục có chiều dài gấp năm lần đường kính trở lên.Tuy vậy đối với từng trục cụ thể trong sửa chữa cũng có thể phân loại khác với chếtạo trục mới
Kết cấu của trục tâm và trục truyền cơ bản giống nhau và đều dùng để đỡ chitiết quay Chúng chỉ khác nhau ở chỗ: Trục truyền ngoài chịu mômen còn chịumômen xoắn và thường quay cùng với chi thiết lắp trên nó
Khi chế tạo trục tâm và trục truyền người ta thường dùng thép 15, 20, 35,20X, 40X v.v có nhiệt luyện hoặc hoá nhiệt luyện
* Những hư hỏng thường gặp của hai loại trục này là:
+ Sửa chữa ngõng trục tới kích thước sửa chữa nhỏ hơn kích thước ban đầu (tức
là kích thước thiết kế hoặc kích thước trục còn mới): áp dụng dụng cho các ngõngtrục quay trong ổ trượt babít hoặc những ổ trượt sẽ được tráng lại hoặc thay mới khísửa chữa đồng thời với trục
Nếu ngõng mòn chưa tới 0,2÷0,3 mm thì chỉ cần mài để đạt độ côn, độ ôvan
và độ nhẵn cần thiết Còn bạc, sẽ được sửa chữa hoặc gia công mới và cạo cho đảmbảo độ chính xác lắp ghép với trục khi đẫ mài
1
Trang 2Hình 5-1 Cách mài trục trên máy tiện
Độ côn của ngõng trục không được vượt quá dung sai về độ côn, độ ôvan của ngõng trục, ở những chỗ lắp ghép phải nằm trong dung sai giới hạn cho phép:
• Độ côn và độ ôvan nhỏ hơn 0,2 mm cũng như những vết sây sát và vết xướcnông trên ngõng trục được loại trừ bằng cách mài bằng giấy nháp mịn hoặc bằngbột mài nhão trong vòng kẹp gỗ (hình 5-1)
• Khi sai lệch kích thước trên 0,4 mm thì tiện rồi mài Để bề mặt ngõng trục thậtnhẵn, ta tiện làm hai bước (thô và tinh)
với chiều sâu cắt nhỏ, tốc độ cắt lớn
(200-300m/ph) và lượng chay dao nhỏ
(0,065- 0,1 mm/vòng), dùng dao mài
thật tốt với góc trước γ lớn, và bán kính
đầu dao nhỏ Dao kiểu này sẽ làm cho
lực cắt hướng kính nhỏ, do đó trục ít bị
uốn Sau khi tiện đánh bóng bề mặt trục
bằng giấy giáp mịn trên máy tiện hoặc
bột mài trong kẹp gỗ
+ Những ngõng trục lắp với ổ lăn phải
phục hồi đến kích thước ban đầu:
Nếu ngõng trục mòn ít, ta mạ crôm rồi
mài Nếu mòn nhiều thì mạ thép, phun thép
hoặc hàn hồ quang dung sau đó tiện rồi mài Hàn bằng hồ quang rung, cần hànthành đường xoắn ốc giống như đường ren, còn hàn bằng hồ quang thường (quehàn bọc thuốc) thì hàn dọc theo đường sinh và phải bố trí thư tự các đường hàn saocho những đường hàn liên tiếp nhau phải đối xứng nhau qua tâm để giảm sự co củatrục (giống thứ tự khi hàn trục then hoa.) Sau khi hàn xong đều phải ủ, tiện rồi mài
Trang 3Hình 5-2 Gá trục để sửa lỗ tâm
1 đồng hồ so; 2 luynet
+ Ngừng cỏc trục then hoa: Cũng được phục hồi như ngừng trục trơn Nếu trục
then hoa bị mũn cả then hoa và ngừng trục, thỡ phải phục hồi phần then hoa trước,phần ngừng trục sau vỡ hàn đắp then hoa dễ gõy biến dạng cho trục Vớ dụ, nếu mộttrục then hoa bị mũn phần then hoa, phần ngừng trục mũn ớt, cú thể phục hồi theothứ tự cỏc nguyờn cụng sau:
• Chuẩn bị then hoa để hàn đắp;
• Mạ niken, crụm hoặc thộp;
• Gia cụng tinh then hoa và ngừng trục (mài, đỏnh búng)
+ Khi khụng thể hoặc khụng muốn chế tạo ổ trượt mới: Ta mạ hoặc hàn đắp ngừng
trục rồi gia cụng cơ lớn hơn kớch thước ban đầu, cũn bạc lút được tiện và doa khigia cụng cơ trục và bạc lỳc này khụng nhất thiết phải lấy dung sai kớch thước theo
hệ lỗ mà cú thể tuỳ ý chọn sao cho tiện lợi nhất, miễn là đảm bảo dung sai của mốighộp
+ Trường hợp ngừng trục bị mũn nhiều: Cú thể dựng bạc sửa chữa ộp vào ngừng
trục cũ (lắp chặt) rồi gia cụng bạc này đạt kớch thước và độ nhẵn bề mặt cần thiết.Thứ tự cụng việc được tiến hành như sau:
Ủ ngừng trục, tiện và ộp một bạc bằng vật liệu giống như vật liệu của ngừng trụcvào Hàn bạc với ngừng ở mặt đầu, rồi gia cụng bạc (tiện, nhiệt luyện, mài) Cũng
cú thể ộp bạc sửa chữa vào ngừng trục bằng keo dỏn, song ớt dựng
Túm lại khi phục hồi ngừng trục bị mũn ta luụn phải gia cụng cơ ngừng trướckhi gia cụng phải kiểm tra tỡnh trạng cỏc chuẩn cụng nghệ (lỗ tõm, lỗ cụn, gờ địnhtõm ) và khi cần thỡ sửa lại Sửa
chữa lỗ tõm hỏng bằng dao cắt, mũi
khoan tõm hoặc đỏ mài hỡnh bỳt,
Khi sửa chữa lỗ tõm (hỡnh 5-2)
ta cặp một đầu trục lờn mõm cặp,
3
Trang 4còn đầu kia để trong luynet, rồi kiểm tra chính xác gá đặt bằng đồng hồ so theo cácngõng trục không bị hư hỏng Sau đó gia công sửa lại lỗ tâm.
Tất cả các ngõng trục được phục hồi bằng mạ hoặc hàn đắp, khi mài nên dùng đámài có rãnh động nhân tạo có độ cứng MV2 và độ hạt 46 - 60 (theo tiêu chuẩn nhàmáy đá mài Hải Dương)
Chế độ mài ngõng trục trên máy mài tròn đối với các trường hợp phục hồi đượcnêu trong bảng 1-5
Khi mài bằng đồ gá trên máy tiện, có thể dùng chế độ mài cho trong bảng 5-1,nhưng tốc độ của đá phải giản đi 15 - 20%
Chế độ mài ngõng trục trên máy mài tròn Bảng 5-1
Các trường hợp mài trục
Tốc độ của trục, m/ph
Tốc độ của đá mài, m/s
Chiều sâu mài, m/s
Lượng chạy dao của chi tiết, mm/vg
Mài trục đến kích thước sửa
Mài trục được hàn đắp 11 - 12 25 - 30 0,02 7 - 9Mài trục được mạ, phun kim loại 10 - 11 20 - 25 0,015 5Mài trục được mạ crôm 6 - 8 25 - 35 0,015 5 - 6
b) Trục bị biến dạng vì xoắn
Chỉ có trục truyền mới có dạng hỏng này Trước tiên phải kiểm tra, xác định
độ sai lệch về xoắn của trục rồi đưa lên đồ gá chuyên dùng, và xoắn trục theo chiềungược lại Phải thao tác từ từ để lực xoắn truyền đến toàn bộ trục, tránh không pháhuỷ các cữ tỳ dùng xoắn trục (thường là rãnh then) Khi sửa chữa biến dạng xoắncủa trục, chắc chắn sẽ tạo ứng suất trong trục, có thể làm trục bị xoắn trở lại trongquá trình làm việc sau này Để đảm bảo chắc chắn ta nung nóng đến nhiệt độ ramthấp, giữ ở nhiệt độ này 3 - 4 h rồi làm nguội chậm Sau khi nhiệt luyện, nếu trụcvẫn không xoắn trở lại thì kết quả này sẽ được duy trì lâu dài
c) Trục bị cong
Sửa chữa bằng cách nắn hoặc nung nóng cục bộ:
• Nắn trục: Nắn trục có thể ở trạng nguội hoặc nóng, nhưng khi nung nóng trục dễ bị
ôxy hoá và biến dạng xấu thêm, nên chỉ dùng nắn nóng khi nào không thể nắnnguội Những trục "mền hoặc có đường kính < 50 mm đều được nắn nguội Chỉ cónhững trục có đường > 50 mm và bị cong nhiều mới nắn nóng Ở đây, khi đánh giá
Trang 51 2 3
ép vít hoặc máy ép thuỷ lực được dùng tiện lợi và phổ biến nhất
Hình 5-3a giới thiệu đồ gá nắn trục kiểu trục vít có mũi chống tâm để kiểm trasau khi nắn Hình 5-3b giới thiệu máy ép thuỷ lực gồm: bàn nắn 4, khối V 3, đầu ép
1 và chi tiết (trục) nắn 2 Đặt phần cong của trục vào giữa hai khối V và điều chỉnh
sao cho phần cong nhất lên phía trên chính giữa đầu ép Cho đầu ép chuyển độngxuống để nắn trục và kiểm độ thẳng của trục bằng khe sáng trên bàn máp Nếu trục
có hai lỗ tâm, độ thẳng của trục sẽ được kiểm tra trên hai mũi tâm và đồng hồ so
• Nung nóng cụ bộ để nắn trục:
Song song với phương pháp nắn trục bằng cơ khí phương pháp nắn trục bằng nung nóng cụ bộ trục đang được sử dụng rất có hiệu quả để nắn thẳng trục có hai mặt
vuông hoặc tròn Khi trục bị cong sẽ có những thớ vật liệu bị kéo dài và những thớ
bị co lại Nung nóng phần lồi ở những đoạn cong tới một nhiệt độ xác định, rồi đểnguội thì kim loại ở phần này bị chồn, làm cho các thớ co lại, do đó trục thẳng ra
So với phương pháp cơ khí phương pháp này có ưu điểm là rất chắc chắn
Bằng nung nóng cụ bộ có thể nắn trục có kích thước và lực nắn yêu cầu lớn,
mà các máy nắn cơ khí không đáp ứng được Đối với các chi tiết không phải là họtrục (như tấm hộp ), những chi tiết gang đúc v.v chỉ có một biện pháp làm thẳng
51
Trang 6Hình 5-4 Sơ đồ nắn trục bằng phương pháp nung nóng cục bộ
Đồng hồ so
Amiăng
Mỏ hàn hơi
duy nhất là nung nóng cục bộ Đặc điểm của phương pháp này là rất vạn năng, nó
có thể áp dụng để nắn các loại chi tiết thuộc đủ mọi hình dáng, kích thước khácnhau có sai lệch từ vài milimét đến vài phần trăn minimét
Việc nung nóng các chi tiết để nắn, ngọn lửa phải đủ nhiệt và tập trung Ngọnlửa ôxy- axêtylen đáp ứng được yêu cầu này Ngọn lửa ôxy- dầu hoả, ôxy- xăngcũng dùng được nhưng hiệu quả kém hơn
Khi nắn trục, trục được gá lên hai mũi chống tâm hoặc cặp trong mâm cặp và
luynét tĩnh trên máy tiện, phần cong lồi của trục hướng lên trên Xác định chỗ lồinhất của trục rồi đánh dấu bằng một đường dọc theo đường sinh trục Đặt hai đồng
hồ so ở mép dưới của trục gần chỗ cần nắn để quan sát kết quả (hình 5-4)
Nung nóng tới 800 - 9000C Nhiệt độ nung được xác định bằng nhiệt ngẫu(nhiệt kế làm bằng hai thanh kim loại có hệ dãn nở vì nhiệt khác nhau) Khi đã cókinh nghiệm có thể nhìn màu để xác định nhiệt độ Để tập trung nhiệt vào chỗ cầnnung, dùng một tấm amiăng để hở chỗ cần nung Khoảng hở có kích dọc trục bằng0,12d và theo chu vi là 0,3d, trong đó d là đường kính trục Như vậy sẽ hạn chếđược nhiệt truyền vô ích sang các vùng xung quanh
Các hiện tượng xảy ra khi nắn trục bằng cách nung nóng cục bộ là: Do bị nungnóng, các lớp kim loại ở chỗ nung dãn dài ra, trục lại bị cong hơn nữa làm cho lớpkim loại ở phía đối diện càng bị co lại Nhiệt độ càng tăng thì sự biến dạng của trụccàng tăng, tới khi nhiệt độ đạt tới 8000C thì kim loại ở phần nung trở nên dẻo, bắtđầu bị co lại, đồng thời kim loại ở phía đối diện chỗ nung (nửa dưới) có xu hướngdãn dài trở lại vì lúc này ứng suất nén dư ở đây thắng lực biến dạng do nhiệt tácdụng vào các thơ ở phần được nung nóng Vì vậy nếu giữ nhiệt độ 8000C hoặc tiếttục tăng lên gần 9000C thì trục lại dần dần thẳng ra Quá trình trục thẳng dần được
Trang 7phản ánh rất rõ bằng chỉ số trên mặt đồng hồ so Nếu sau một lần nung trục chưathẳng hẳn, có thể nung thêm vài lần nữa, nhưng không nên nung chi tiết hai lầncùng một chỗ, mà lần sau có thể lệch một chút so với lần nung trước Quá trình làmnguội của trục có thể làm nguội nhanh bằng cách thổi khí nén hoặc tưới nước.Nhưng cần chú ý chỉ được làm nguội nhanh khi nhiệt độ đã hạ xuống 300 - 4000C(để tránh bị tôi, tạo nên tổ chức không cân bằng và ứng suất dư lớn trong chi tiết).
Dù sao, nắn bằng nhiệt cũng vẫn tạo ra ứng suất trong chi tiết Để đảm bảoduy trì dạng thẳng của đường tâm trục vừa nắn, tốt nhất là phải ủ sau khi nắn Cách
ủ như sau:
Cho trục quay chậm Chỗ cần ủ được đốt nóng trên toàn bộ chu vi bằng ngọnlửa ôxy- axêtylen tới 300 - 5000C Tốc độ nung không quá 150 - 2000C trong mộtgiờ Sau đó nhanh chóng dùng vải amiăng cách nhiệt bọc quanh chỗ vừa đốt để giữnhiệt và để nguội chậm dần đến nhiệt độ bình thường Ủ xong lại kiểm tra độ thẳngcủa trục bằng đồng hồ so Sau khi ủ trục vẫn giữ nguyên hình dạng như sau khi nắnthì chắc chắn là tốt
Khi nắn trục có kinh nghiệm (cường độ và thời gian nung, giữ nhiệt và làmnguội) có thể đạt độ thẳng của trục tới 0,03 mm (tức là độ đảo của tâm trục khôngquá 0,03 mm)
d) Trục bị nứt hoặc gẫy
Những trục không quan trọng nếu bị sứt nhỏ thì hàn vá Khi trục bị nứt lớnhoặc gẫy có thể hàn nối hai phần trục với nhau Có thể dùng hàn hơi, hàn điện hoặchàn rèn đều được, phổ biến nhất vẫn là hàn điện Trước khi hàn cần xác định vậtliệu trục để chọn que hàn, chuẩn bị mối ghép hàn, rồi tiến hành hàn như sau:
+ Trục bị nứt gẫy tạo thành mặt phẳng cắt ngang vuông góc với đường tâm trục:
7
Trang 8Hình 5-5 Sửa chữa trục bị gẫy, nứt thẳng tâm
Mối hàn
Chốt
Tiện vát mặt đầu cả hai nửa trục gẫy thành góc 90÷950 (hình 5-5) Đỉnh cácđầu côn góc 90÷950 có khoan lỗ đường kính 5÷10 mm, sâu 18÷20 mm Lắp mộtchốt vừa khít vào hai lỗ này để ghép sơ bộ và định tâm hai phần trục Đặt trục lênkhối V để kiểm tra độ đồng tâm bằng đồng hồ so
Nếu trục làm bằng thép hợp kim, có thể nung nóng hai đầu hàn nối của nóbằng ngọn lửa ôxy- axêtylen tới 2000C Hàn trục từ từ, vừa quay trục vừa hàn, vừaquan sát đồng hồ so xem có bị biến dạng (uốn) không Nếu thấy trục cong phải tăngthêm lớp kim loại về phía thích hợp để sửa chữa Sau khi hàn, thường hoá chỗ hàn
ở nhiệt độ 8500C như sau:
Nung nóng trục dần dần đến 8500C có thể nung nóng bằng ngọn lửa, bằng lò,bằng dòng điện Sạch sẽ và tiện lợi nhất là bằng dòng điện, bọc chỗ hàn bằng cáctông amiăng, rồi quấn ra ngoài cáctông dây đồng mền có bọc cách điện Số lượngvòng dây đồng phụ thuộc vào công suất biến thế hàn Nếu cần dòng điện lớn (khiđường kính trục lớn) thì đấu nhiều biến thế song song với nhau Thời gian để nung
Trang 9Mối hàn Đoạn trục phụ thêm
Hình 5-6 Phục hồi trục gẫy có đoạn phụ thêm
nóng trục tới 8500C khoảng 2h rồi giữ ở nhiệt độ này 3h, sau đó để nguội dần đếnnhiệt độ trong phòng (thời gian để nguội thường trên 3h)
+ Trục bị nứt gẫy kèm theo sứt mẻ:
Những trục bị nứt gẫy kèm theo sứt mẻ nếu nối như trên (hình 5-5) sẽ bị hụtchiều dài Do vậy ta phải dùng một đoạn phụ thêm để đảm bảo chiều dài ban đầucủa trục sửa chữa (hình 5-6) Sau khi hàn, nếu trục bị cong thì phải nắn sửa, đồngthời phải ủ để khử ứng suất dư rồi gia công để đạt độ chính xác và độ nhẵn bề mặtcần thiết Quá trình sửa loại trục này cần thực hiện các bước công việc sau:
• Tiện mặt đầu, khoan lỗ chốt định vị và vát mặt đầu góc 450 trong một lần gá,nhưng cần chú ý rà gá đường tâm trục ngay từ đầu cho cả hai nửa trục;
• Tính toán chiều dài đoạn trục phụ, để sau khi hàn xong phải bằng chiều dài đoạntrục ban đầu;
• Tiện hai đầu chốt trên đoạn trục phụ và vát mặt đầu góc 450, nhưng phải chú ý
độ đồng tâm của chốt định vị;
9
Trang 10• Định vị trục lên đồ gá có các khối V, độ cao các khối V bằng nhau, rồi kiểm tra
và kẹp chặt;
• Hàn đính đối xứng quanh chu vi mối hàn, nới lỏng đồ gá và hàn hoàn thiện
• Gia công cơ phần mối hàn (tiện, mài…)
• Nhiệt luyện
* Trên đây chúng ta đã xét tất cả các trường hợp hư hỏng và biện pháp sửachữa, phục hồi các loại trục và trục tuyền Ta có thể tổng kết các vấn đề trên thànhbảng cho dễ sử dụng (bảng 5-2)
Bảng 5-2 Các dạng hư hỏng và biện pháp phục hồi trục tâm và trục truyền
Trang 112 1 3
Chú thích: dấu + chỉ những biện pháp nên dùng.
dấu 0 chỉ những biện pháp có thể dùng được nhưng không tốt.
5.1.1.2 Trục chính
Trục chính là một trong nhưng chi tiết quan trọng nhất của máy cắt kim loại
Ở máy tiện, trục chính lắp trực tiếp với chi tiết gia công Ở máy phay, khoan, doa,mài, đánh bóng trục chính mang dụng cụ cắt và quay cùng với chúng Vì vậy độchính xác, độ cứng vững và độ ổn định chuyển động của trục chính có ảnh hưởngquyết định đến chất lượng sản phẩm gia công trên máy
Trong đa số các máy cắt kim loại, trục chính là chi tiết gia công rất phức tạp
và đắt tiền Vì vậy khi sửa chữa máy, người ta hết sức tránh thay trục chính và tìmcách phục hồi nó
Để sửa chữa tốt, cần nắm vững những đặc điểm cơ bản về cấu tạo của trụcchính
Tuỳ theo mức độ quan trọng và yêu cầu kỹ thuật trục chính được làm bằng cácloại thép: 45, 40X, 20X, 12XH3, 13XHBA, 40XMO, 35XHOA, hoặc gang có độbền cao (gang grafit cầu) qua nhiệt luyện hoặc hoá nhiệt luyện
Hình 5-7 giới thiệu cấu tạo trục chính của các loại máy tiện thông dụng chínhxác thường Ngõng sau và ngõng trước để lắp ổ trục, thân trục có rãnh then dàihoặc then hoa để lắp các chi tiết di trượt hoặc cố định như bánh đà hoặc bánh răng,bánh đai, lỗ côn để lắp mũi tâm, đồ gá v.v
11
Trang 12Hình 5-8 Sơ đồ sửa chữa trục chính
của máy tiện; b Của máy khoan
Trục chính máy tiện có yêu cầu kỹ thuật rất cao, các ngõng 2 và 4 được mài vàđánh bóng Độ đồng tâm của hai ngõng trục cho phép 0,01 mm, độ ôvan cho phép0,01 mm Độ côn từ 0,003÷ 0,005 mm, lỗ côn 5 và 1 phải đồng tâm với ngõng trục,
độ đảo cho phép 0,01÷0,02 mm trên chiều dài 300 mm
Những bộ phận có thể bị hư hỏng của các loại trục chính là: Ngõng lắp ổ trục,
lỗ côn, ren, then hoa, rãnh đóng chêm ở trục chính máy khoan, ngõng côn ở trụcchính máy mài, máy tiện v.v
* Các dạng hỏng và biện pháp sửa chữa
a) Ngõng lắp ổ trượt
Thường bị hư hỏng vì mòn Nếu mòn ít (dưới 0,02 mm) có thể mài trên máytiện bằng kẹp gỗ với bột mài nhão Nếu mòn quá 0,02 mm thì mài tới kích thướcsửa chữa Sau khi mài phải kiểm tra độ cứng xem có còn lớp thấm than tôi cứngkhông, nếu mài mất lớp cứng phải nhiệt luyện hoặc hoá nhiệt luyện lại Khi giacông ngõng trục tới kích thước sửa chữa phải thay bạc lót ổ trục Nếu ngõng trụcmòn tới 0,1 mm thì phải mạ crôm, phun kim loại, hoặc hàn hồ quang rung Phảidáp kim loại đủ cả lượng dư gia công cơ Sau khi mạ crôm thì mài, sau khi phunkim loại hoặc hàn hồ quang rung thì cần phải tiện và mài đạt kích thước ban đầucủa chi tiết
Nếu ngõng trục mòn quá nhiều thì có thể tiện nhỏ đi rồi ép bạc sửa chữa,giống như biện pháp phục hồi
trục tâm và trục truyền
Hình 5-8 giới thiệu sơ đồ
sửa chữa trục chính máy công
cụ dùng cách gắn bạc bù thêm
bằng keo êpôxit Trục chính
máy tiện hình 5-8a cần phục
hồi ngõng sau 1 chỗ lắp ổ lăn,
Trang 13Lắp trục lên các mũi chống tâm của máy tiện, tốc độ quay của trục vào khoảng
50 - 70 m/phút Đá đánh bóng là một miếng gang perlit hạt nhỏ có bôi bột mài nhão
để đánh bóng ngõng trục Khi thao tác, tay cầm miếng gang, áp nhẹ mặt có bột màivào ngõng trục và đưa đi đưa lại theo chiều dài ngõng trục khoảng 3 - 5 phút Trongquá trình đánh bóng thỉnh thoảng lại rửa bột mài dính vào ngõng trục và miếnggang bằng xăng, sau đó tiếp tục bôi lớp bột mài mới vào miếng gang rồi lại tiếp tụccông việc cho đến khi bề mặt ngõng trục bóng như gương thì được
Gần đây khi ngõng trước trục chính máy tiện hoặc bạc lót lắp với ngõng trục
bị mòn quá kích thước giới hạn, người ta sửa chữa bằng cách đắp ngõng trục bằnghợp kim chịu ma sát (loại hợp kim làm bạc lót ổ trượt), còn bạc lót làm bằng thép40XH tôi bề mặt đạt độ cứng HRC 55-62 Ưu điểm của biện pháp phục hồi này lànăng suất cao, chất lượng tốt, kết cấu mối ghép hợp lý hơn trước, tuổi thọ của mốighép được kéo dài và giá thành sửa chữa rẻ
b) Lỗ côn
Lỗ côn của trục chính các máy cắt kim loại thường bị hỏng vì mòn, kiểm tra
độ mòn này bằng vết bột màu tiếp xúc giữa lỗ với calíp côn
- Nếu lỗ mòn ít có thể đưa lên máy mài tròn trong để sửa chữa; khi đó đặt ngõngtrước của trục chính có lỗ côn cần mài lên giá đỡ chuyên dùng (luynét), đầu sautrong mâm cặp máy mài Sai số gá đặt cho phép là 0,005 mm Khi mài chú ý đảmbảo độ côn ban đầu Nếu lỗ côn cần mài
của trục chính máy tiện có thể để nguyên
trục trên máy ở dạng lắp, dùng đồ gá mài
kẹp trên bàn dao để mài lỗ côn
- Nếu lỗ côn mòn nhiều có thể phục hồi
bằng cách ép bạc sửa chữa như sau:
Tiện sẵn một bạc côn bằng thép các
bon thấp (chi tiết 2, hình 5-9) dày 4-5 mm,
có kích thước phù hợp để ép vào lỗ côn
trục chính sau này Để đảm bảo độ đồng
tâm giữa đường tâm lỗ côn sau khi sửa
13
Trang 14chữa với đường tâm trục chính, cần để nguyên trục chính lắp trên máy (nếu là sửachữa lỗ côn trục chính máy tiện) mà tiện lỗ côn theo đường kính ngoài của bạc 2sao cho chiều dài của bạc khi lắp khít vào lỗ côn đã tiện của trục chính, lúc chưa épbạc thì đầu bạc thò ra mặt ngoài đầu trục chính 5 mm Thấm than lỗ bạc sâu 0,5-0,8 mm, tôi đạt độ cứng HRC58-60, tẩy sạch gỉ sắt và các chất bẩn bán ở bạc, bôi
mỡ măt ngoài bạc và đặt nó vào lỗ côn trục chính Dùng một đồ gá kiểu trục rút để
ép chặt bạc vào lỗ côn trục chính Đồ gá là một bulông dài xâu qua lỗ trục chính.Đầu sáu cạnh của bulông tỳ vào đầu thò ra của bạc thông qua một đệm trung gian.Đầu có ren của bulông thò ra ở đuôi trục chính Khi vặn đai ốc vào đầu ren bu lông,bạc sẽ được ép dần vào trong lỗ côn đến khi mặt đầu của bạc ngang bằng với mặtđầu trục chính Sau khi ép, mài lỗ bạc để đạt độ nhẵn bề mặt và độ chính xác yêucầu
c) Ren và then của trục chính
Có thể phục hồi bằng các biện pháp đã nêu đối với các loại này trong chương
4, chỉ cần chú ý những mối ghép này ở trục chính rất chính xác và trục chính là chitiết quan trọng, không nên vì sửa chữa ren và then hoa hoặc rãnh then mà ảnhhưởng đến độ chính xác của toàn bộ trục
Thông thường, phần ren của trục chính bị mòn được sửa chữa bằng mạ điện,hàn đắp hoặc hàn hồ quang rung, rồi gia công cơ đạt kích thước ban đầu Nếu cắtren mới với kích thước nhỏ đi thì phải thay đĩa bắt mâm cặp vặn vào ren này, cáchnày rất ít được dùng vì kích thước phần ren trở lên không tiêu chuẩn
d) Lỗ đóng chêm
Để tháo dụng cụ cắt (mũi khoan) ở trục chính máy khoan cũng hay hỏng vìmòn Công nghệ sửa chửa như sau (hình 5-10):
Trang 15Hình 5-10 Phục hồi lỗ đóng chêm ở trục chính máy khoan
a
Hình 5-11 Ngõng côn trục chính
Gia công rộng lỗ đóng nêm thành hình
chữ nhật trên máy xọc để chuẩn bị ép
bạc bổ sung vào Theo kích thước lỗ
vừa gia công và đường kính trục chính,
chế tạo một bạc có kể đến lượng dư
kết cấu ngõng trục trước
của máy mài, dùng để lắp
với mayơ của chi tiết đối
tiếp như bích kẹp đá mài,
bạc, mâm cặp v.v
Trong các máy tiện
giữa trục để lắp bánh răng Lắp ráp bằng ngõng côn có ưu điểm là khử được khe hởhướng kính
Các dạng hỏng của mối ghép bằng ngõng côn thường là:
- Mòn mặt côn, làm chi tiết lắp ghép trên trục bị rơ lỏng chiều trục và hướngkính;
Trang 165-12a) để đệm 1 tỳ được vào
chi tiết 2 khi lắp
Nếu để nguyên chiều
dài phần côn của trục thì phải
dùng đệm hình cốc (hình
5-12b) thay cho đệp phẳng khi
lắp ráp Cách này tốn nhiều công hơn vì phải chế tạo đệm hình cốc, nhưng có ưuđiểm là không phải động chạm gì đến trục
Cách sửa chữa trên đây có khuyết điểm là: Chi tiết 2 bị xê dịch dọc theo chiềutrục Nếu chi tiết 2 là bánh răng thì điều đó nguy hiểm vì làm ngắn chiều dài làmviệc trên mỗi răng, rễ gây mẻ răng vì quá tải
Khi không cho phép chi tiết lắp trên trục dịch chuyển dọc chiều trục, thì cầnphục hồi mặt côn đến kích thước ban đầu, tức là vừa phải sửa cả lỗ và trục Lỗđược phục hồi bằng cách lắp bạc sửa chữa, chồn, hàn đắp rồi gia công cơ Trụcđược mạ crôm hoặc hàn đắp rồi gia công cơ, có trường hợp phải thay hẳn phần bịmòn bằng đoạn trục mới
Nhưng việc sửa chữa lỗ còn rất phức tạp, nên chủ yếu là áp dụng biện phápphục hồi đến kích thước sửa chữa tăng lên của cả trục và lỗ Bằng cách này chỉ cầndoa mài hoặc tiện rộng lỗ, còn trục sẽ mạ crôm, mạ thép hoặc hàn đắp, rồi gia công
cơ tới kích thước sửa chữa phù hợp với kích thước lỗ côn Sao cho khi lắp ghép, chitiết có lỗ côn như bánh răng, bánh đai được định vị chính xác theo chiều trục
5.1.2 Sửa chữa bánh răng
5.1.2.1 Các dạng hư hỏng của bánh răng:
- Mòn bề mặt làm việc của răng: do ma sát giữa các răng ăn khớp với nhau trongquá trình làm việc, nhất là đối với các bánh răng di trượt;
- Gẫy răng: vì quá tải đột ngột hoặc vì chịu mômen uốn với chu kỳ nhỏ;
- Tróc rỗ bề mặt răng: vì tiếp xúc mỏi;
- Vỡ vành răng
5.1.2.2 Cách sửa chữa:
Trang 17a) b)
Hình 5-13 Sửa chữa bánh răng bằng hàn đắp và đảo moayơ
a hàn đắp trong dưỡng đồng (1 răng hàn đắp,2 dưỡng đồng
b đảo moayơ (1 bánh răng; 2 moayơ hàn thêm)
1
2
a) Sửa chữa bánh răng trụ răng thẳng bị mòn
- Nếu mòn ít (Lượng mòn vượt quá giới hạn cho phép ít) thì có thể hàn răng Đối với
bánh răng không quan trọng, độ mòn cho phép đến 0.2 mm với môđun từ 1-3 mm;mòn đến 0,3 mm với môđun 4 mm; mòn đến 0,5 mm với môđun trên 4 mm
Phương pháp hàn đắp vào bề mặt làm việc của răng bằng hàn hơi, hàn điện rấtthích hợp cho bánh răng có môđun lớn, chính xác thấp và dùng trong các bộ truyền
hở hoặc nửa kín Đối với bánh răng quan trọng thì không nên dùng phương phápnày vì lớp hàn đắp có sức bền tiếp xúc thấp và khó gia công chính xác Những bánhrăng có môđun nhỏ bị mòn ít có thể đắp bằng hàn điện hồ quang rung (xem phầnphục hồi then hoa bị mòn)
Khi hàn phục hồi răng, tốt nhất là dùng kim loại hàn đắp tương tự kim loại nền(kim loại của bánh răng)
5-13a Dưỡng đồng 2 được
gia công theo hình dáng rãnh
răng, có kích thước sao cho
răng sau khi hàn đủ lượng dư
gia công cơ Vì đồng có tính
dẫn nhiệt tốt nên kim loại hàn
không bán vào dưỡng Sau
khi hàn xong để nguội ta dễ dàng tháo dưỡng đồng rồi gia công răng vừa hàn
- Bánh răng mòn một phía
Do bánh răng làm việc một chiều, có thể dùng lại bằng cách lắp đảo chiều bánhrăng Nếu moayơ bánh răng có hình dáng đối xứng (đối xứng qua mặt phẳng vuônggóc với đường tâm và chia đôi chiều rộng vành răng) thì không phải đảo moayơ,
mà chỉ việc đảo cả bánh răng (hình 5-13b)
- Nếu bánh răng bị mòn nhiều
Nếu bánh răng bị mòn nhiều thì có thể tiện hết răng cũ rồi ép bạc sửa chữa,sau đó gia công răng Trước khi tiện hết răng cũ phải ủ để gảim độ cứng, nếu khôngrất dễ mẻ dao Lắp bạc có thể bằng keo dán, ép nóng, ép nguội Nếu răng được sửa
17
Trang 18Hình 5-14 Sửa chữa bánh răng bậc
chữa không qua nhiệt thì có thể ghép bằng keo dán Nếu có có nhiệt luyện thì phải
ép Dùng phương pháp ép nóng tốt hơn ép nguội Khi nhiệt luyện răng nên dùngphương pháp tôi bề mặt bằng dòng điện cao tần hoặc bằng ngọn lửa ôxy-axêtylen
Để chống xoay cho bạc có thể dùng vít hãm hoặc hàn theo chu vi lắp ghép
- Một bánh răng trong khối bánh răng nhiều bậc bị mòn
Cách sửa chữa như bánh răng bị mòn nhiều (xem hình 5-14)
- Lỗ bánh răng bị mòn
bạc có vít chống xoay, sau đó gia công lỗ
bạc đạt yêu cầu Đối với bánh răng đã tôi
cứng, trước khi tiện phải ủ Nếu lỗ bánh
răng mòn ít, có thể hàn đắp rồi gia công cơ,
nhưng trước khi hàn đắp cũng phải tiện
rộng lỗ để chiều dày lớp kim loại đắp đủ
lớn để khỏi bị bong khi gia công lỗ
- Rãnh then trong lỗ bánh răng bị hư
b) Sửa chữa bánh răng trụ răng thẳng có răng bị gẫy.
- Trường hợp gẫy một răng
Có thể hàn đắp theo dưỡng đồng như đã nêu ở trên hoặc cây răng Cấy răngđược áp dụng có hiệu quả cho những bánh răng môđun lớn quay chậm Quá trìnhcông nghệ cấy răng như sau: Làm các bulông đầu trơn, cấy vào các lỗ ren gia côngtrên bánh răng (xem hình 5-15a) Số lượng bulông cây phụ thuộc vào chiều rộngvành răng, cấy thưa quá thì răng mới sẽ yếu, cấy dày quá thì vành răng sẽ yếu đinhiều Sau khi cấy xong ta hàn liền các đầu bulông thành một giải dài rồi mới giacông cơ bằng cách phay hoặc dũa để đạt được hình dáng và kích thước răng
Phương pháp trên làm yếu vành răng vì phải khoan quá nhiều lỗ Đối với cácbánh răng bằng gang hoặc bánh răng có vành mỏng, phương pháp này không được
Trang 19Hình 5-15 Sửa chữa bánh răng gẫy một răng
a cấy răng bằng các bulông đầu trơn; b ghép răng bằng bulông; c ghép răng mới bằng hàn.
dùng Khi đó phải ghép răng mới bằng bulông như hình 5-15b Đặt một đoạn thépvào rãnh đuôi én đã gia công ở răng bị gẫy của bánh răng (theo chế độ lắp trunggian hoặc lắp chặt có độ dôi nhỏ), rồi lắp chặt bulông hai đầu Sau đó gia côngđoạn thép thành răng đúng quy cách
Người ta cũng có thể hàn răng mới vào chỗ răng gẫy đã gia công thành rãnhchìm xuống (hình 5-15c) Cách ghép này làm cho mối hàn không chịu được ứng
suất nguy hiểm do hàn khi răng làm việc (ứng suất xuất hiện ở chân răng)
- Trường hợp gẫy vài răng cạnh nhau
Trường hợp gẫy vài răng cạnh nhau, dùng phương pháp ghép một đoạn vànhrăng (hình 5-16) Để chuẩn bị mối ghép, ta bào hoặc phay chỗ răng gẫy thành mộtrãnh đuôi én 750 rồi gia công một miếng thép đặt khít vào rãnh này Dùng các vítchìm đầu để bắt chặt miếng thép vào bánh răng (cũng có thể hàn), sau đó gia côngtiếp miếng thép
- Trường hợp gẫy nhiều răng
Thay bánh răng mới, hoặc tiện hết răng cũ rồi ép bạc sửa chữa, sau đó tiệnbạc, gia công răng như đã nêu ở phần sửa chữa bánh răng mòn bằng phương pháp
ép bạc
a) Sửa chữa bánh răng nứt vành hoặc mayơ
Nếu nứt ở vành thì hàn hoặc táp một miếng đệm vào chỗ nứt Tấm táp đượchàn hoặc bắt vít vào vành bánh răng Nếu nứt ở moayơ (Hình 5-17) thì hàn hoặctiện xấn mặt ngoài moayơ một đoạn ngắn rồi ép đai vào để ngăn ngừa vết nứt phát
19
Trang 20Hình 5-16 ghép một đoạn vành răng Hình 5-17 Chống nứt ở moayơ
* Các bánh răng sau khi sửa chữa phải thoả mãn các số liệu trong bảng 5-3
và các yêu cầu kỹ thuật sau:
- Các yêu cầu kỹ thuật cơ bản của chi tiết mới (nêu trong bản vẽ chi tiết)
- Độ bán tốt của lớp đắp nối với kim loại nền Mặt răng không có vết xước hoặc
có vết gia công cơ
- Độ đảo mặt mút của vành răng không vượt quá 0,1- 0,2 mm
Tốc độ vòng giới hạn và độ chính xác của bánh răng trụ Bảng 5-3
Dạng bộ
truyền
Tốc độ vòng giới hạn vmax, m/s, ứng với cấp chính xác
của bộ truyền theo TCVN 1067-71
200-500
320-800
Trang 21Hư hỏng trong các bộ truyền bánh răng trụ Bảng 5-5
Tróc bề mặt làm
việc
Vật liệu bánh răng bị mỏi
vì làm việc lâu với tảitrọng lớn Bề mặt làm việccủa răng bị quá tải Không
đủ dầu bôi trơn hoặc dầukhông đủ độ nhớt
Thay bánh răng, kiểm tra độnhớt của dầu, nếu cần thìphải thay dầu Nếu thiếu dầuthì phải bổ sung
Xước bề mặt làm
việc của răng
Răng làm việc trong điềukiện ma sát khô
Bôi trơn bộ truyền theo đúngcác chế độ quy định
Răng mòn nhanh
quá, chóng mất
hình dáng hình học
của profin răng
Có bụi bẩn, hạt mài hoặcmạt sắt lọt vào bộ truyền
Lau chùi sạch và bôi trơnhợp lý
Gẫy răng Răng bị quá tải hoặc có
Giảm khoảng cách trục (nếu cóthể), điều chỉnh bộ truyền Nếucần đảm bảo khoảng cách trục
và tỷ số truyền thì thay bánhrăng mới
Bộ truyền bị kẹt và
nóng quá
Khe hở cạnh răng béquá, thậm chí bằngkhông
Giảm chiều dày răng hoặc thaybánh răng mới (nếu cần giữnguyên khoảng cách trục).21
Trang 22a) Trường hợp ống lót mòn ít, áp dụng một trong những biện pháp sau:
- Chồn cho ngắn lại, do đó lỗ ống lót sẽ nhỏ đi (áp dụng khi chiều dài ống lótkhông quá hai lần đường kính và lượng mòn của lỗ không quá 1% đường kính
lỗ ban đầu) Phải chồn ống lót trong khuôn thép để lỗ đạt độ chính xác và độnhẵn cần thiết Khuyết điểm chủ yếu của phương pháp này là đối với từng loạikích thước ống lót, phải có một bộ chày, cối, khuôn riêng để chồn Như vậykhông phù hợp cho sản suất đơn chiếc (Nhiều chủng loại)
- Gia công ống lót (tiện, doa) tới kích thước sửa chữa lớn kích thước ban đầu,khi đó phải hàn đắp trục rồi gia công cơ theo kích thướclỗ ống lót để đảm bảochế độ lắp ghép đã cho
- Khi ống lót lắp vào lỗ thân máy bị lỏng, phải tăng cường đường kính ngoàibằng cách hàn đắp, mạ crôm, mạ thép hoặc phun kim loại rồi gia công cơ
- Rãnh chứa dầu bị kẹt, tắc thì khơi thông, khơi thông lau sạch hoặc băng giacông sâu thêm bằng mũi cạo
- Nếu ống lót bằng babít có thể tráng một lớp babít mớí rồi gia công cơ
- Nếu ống lót lớn (đường kính > 100 mm), có thể cắt ống lót thành hai nửa, dũamặt vát và vát mép rồi hàn hai nửa lại, sao cho lỗ ống lót sau khi hàn nhỏ hơnkích thước cần thiết để gia công cơ Như vậy đường kính ngoài của ống lótchắc chắn sẽ nhỏ đi Ta phải hàn đắp hoặc phun kim loại vào mặt ngoài ống lótrồi gia công cơ theo kích thước lỗ thân ổ lượng dư gia công ống lót là 0,5- 0,7
mm theo bán kính Có thể dùng thép cacbon thấp phun vào mặt ngoài của ốnglót Chế độ phun như sau:
Điện áp 30V; cường độ dòng điện 80-90A; áp suất không khí nén 5-6 at; tốc
độ của chi tiết 8-10 m/ph, tốc tịnh tiến của thiết bị phun: 2 mm/vg.
- Nếu đường kính ống lót nhỏ hơn 100 mm, không nên cắt đôi mà có thể phunhợp kim chịu ma sát ngay vào lỗ ống lót Trước khi phun kim loại, phải rửasạch dầu mỡ, ủ ống lót ở nhiệt độ 250-3000C, rồi tiện rộng lỗ sao cho chiều
Trang 23Hình 5-18 Lắp bạc lót vào lỗ ở thân máy
1 ống lót; 2 vỏ máy; 3 trục dẫn hướng; 4 bạc dẫn; 5, 6 đệm bảo vệ.
2
3 4
5
6
2 2
2 3
Phải thay ống lót mới ống lót
mới phải chế tạo bằng vật liệu
giống như ống lót cũ Đường kính
ngoài của ống lót phải đảm bảo độ
dôi lắp ghép với thân ổ hoặc lỗ ở
thân máy, còn đường kính trong
phải đủ lượng dư gia công cơ sau
khi ép ống lót vào lỗ Để lắp ống
vào lỗ dễ dàng và đảm bảo điều
kiện kỹ thuật sửa chữa phải dùng
Loại ổ nay có thể điều chỉnh được khe hở giữa trục và ống lót bằng cách giảm
chiều dày căn đệm giưã hai máng lót Tuy vậy lượng điều chỉnh rất hạn chế Khi đã
điều chỉnh hết mức, phải sửa chữa bằng cách cạo Dùng dao cạo tam giác hay mũi
cạo chuyên dùng Trình tự công việc cạo như sau:
Lắp mặt ngoài và gờ máng lót vào thân và lắp ổ (paliê) Kiểm tra độ kín khít
bằng căn lá và độ tiếp xúc trên một bề mặt bằng bột màu (phải có 6-8 vết màu tiếp
23
Trang 24xúc bất kỳ trên bề mặt kích thước 25x25mm) Máng lót lắp vào thân và lắp ổ thôngthường có độ dôi nhỏ (0,02- 0,06) Khi lắp phải dùng đệm gỗ và búa gõ nhẹ trướckhi lắp phải lau chùi máng lót kể cả rãnh bôi trơn và rãnh làm mát.
Tiến hành cạo máng lót, trước tiên cạo sơ bộ tất cả các máng lót phía dướitheo vết bột mầu tiếp xúc giữa máng lót và ngõng trục Nên cạo máng lót dưới của
ổ trước và ổ sau trên trục cùng một lúc nếu cả hai loại ổ đều là ổ trượt Sau đó cạománg lót trên theo cách tương tự như cạo máng lót dưới Sau đó cạo tinh cả haimáng lót Trước khi cạo tinh phải lắp trục với máng lót vào ổ như khi lắp chínhthức Ngõng trục được bôi một lớp bột mầu mỏng Sau khi lắp và vặn đều cácbulông thì quay trục đi vài vòng rồi tháo trục và máng lót ra khỏi ổ và trục để cạotinh Cứ làm như vậy đến khi đạt số vết mầu tiếp xúc trên một đơn vị diện tích thìngừng cạo (Các điểm tiếp xúc phải phân bố đều và chiếm trên 75% bề mặt làm việccủa máng lót) Sau khi cạo cần lắp ráp và kiểm tra khe hở màng dầu giữa trục vàmáng lót Có thể kiểm tra bằng căn lá hoặc dây chì (ép dây chì vào khe hở giữatrục và máng lót khi lắp ráp, chiều dày dây chì bị cán mỏng chính là khe hở cầnđo) Nếu khe hở lớn quá cần rút bớt hoặc thay đệm điều chỉnh của ổ, chiều dày cácđệm điều chỉnh ở hai bên ổ phải đều nhau Nếu khe hở nhỏ quá cần tiếp tục cạo
Khi máng lót mòn nhiều quá thì phải thay Lúc này có thể phân làm hai loại
máng lót: Loại máng lót một lớp được chế tạo bằng một thứ vật liệu, thường là hợp kim đồng; Loại máng lót hai lớp được chế tạo bằng hai thứ vật liệu: vỏ ngoài bằng
thép cácbon thấp, bên trong là lớp hợp kim đồng chì, hợp kim nhôm hoặc babít
* Thứ tự công việc thay máng lót một lớp như sau:
- Gia công ống lót mới trên máy tiện rồi cắt thành hai nửa Sửa tinh rồi kiểm tra
độ phẳng của các mạch cắt trên bàn lấy dấu (bàn máp)
- Ghép hai nửa lại, gia công tinh mặt trụ ngoài và trong
- Tách hai nửa ra, cạo mặt lắp ghép hai nửa đạt tới 4-6 điểm bột mầu tiếp xúctrên diện tích 25x25 mm và cạo mặt ngoài đạt 6-8 điểm mầu tiếp xúc
- Khoan lỗ lắp chốt chống xoay ở máng lót dưới, phải lấy dấu để chỗ lắp chốttrùng với chốt của vỏ máy Lỗ lắp chốt chống xoay của máng lót là lỗ khôngthông
- Khoan lỗ dầu bôi trơn ở máng lót trên rồi gia công rãnh dầu giống như hìnhdáng và vị trí rãnh dầu ở máng lót cũ
- Cạo mặt trong của máng lót (giống như phần trên đã trình bày)
Trang 25* Đối với máng lót hai lớp: Khi hư hỏng, người sửa chữa chỉ cần lĩnh máng
lót mới ở kho thay thế Nếu là máng lót babít, có thể phục hồi bằng cách tráng lạinhư sau:
- Đặt máng lót thẳng đứng, dùng đèn khò (đèn xì) nung phía ngoài vỏ thép cholớp babít cũ chảy hết
- Kiểm tra tình trạng vỏ thép: tẩy, rửa sạch sẽ trong dung dịch10% xút natri, sau
đó rửa cẩn thận trong nước nóng rồi lau khô
- Bôi một lớp clorua kẽm đều vào mặt trong của vỏ thép rồi nung mặt ngoàinhưng không để lớp clorua kẽm đạt tới điểm sôi Đặt thiếc lá lên trên lớpclorua kẽm, thiếc sẽ chảy ra và dùng bàn chải, chải cho thiếc bám đều lên bềmặt bên trong của vỏ thép
- Nấu chảy babít trong lò điện Nhiệt độ chảy của babít là 232÷2400C Sau khi
ba bít chảy hết cứ tiếp tục tăng nhiệt tới 240÷5000C Trong khi nấu, rắc mộtlớp than hoa (than củi) dày 20÷30 mm lên mặt babít để tránh ôxy hoá babít.Đặt vỏ thép vào khuôn tráng babít Lõi khuôn có đường kính nhỏ hơn đườngkính trong của vỏ thép một lượng bằng chiều dày lớp babít cần tráng Sau khiđịnh vị vỏ thép và lõi khuôn, trát đất sét chịu lửa pha cát vào một đầu giữa vỏthép và lõi khuôn, rồi nung nóng toàn bộ khuôn trước khi tráng Khi tráng, rótbabít đều đặn từ từ và liên tục từ đầu đến cuối quá trình, không được đứt đoạn.Muốn vậy lượng babít phải nấu đủ cho một lần tráng
- Kiểm tra chất lượng bằng cách nhìn bên ngoài và gõ nhẹ xem có bám tốtkhông Sau đó đem gia công, rãnh dầu, lỗ dầu rồi cạo máng lót theo trục đểđạt độ tiếp xúc làm việc tốt (như đã nêu ở phần cạo sửa chữa)
5.1.2.3 Ổ có ống lót nhiều mảnh (ổ trượt mảnh)
Trong những máy cắt kim loại hiện đại, cao tốc (trục chính quay tới 10.000vg/ph) chính xác cao, ổ trược trục chính thường có kết cấu theo kiểu ống lót nhiềumảnh bôi trơn bằng dầu lưu thông có áp suất cao Hình 5- 20 nêu một loại kết câucủa loại ổ này Các mảnh ống lót có thể dịch chuyển hướng kính một cách độc lập,không phụ thuộc vào nhau, nhằm điều chỉnh khe hở hướng kính và dịch tâm ổ rấtchính xác Khi máy còn mới, không nên điều chỉnh loại ổ này chỉ khi nào trụcchính quay không vững, chuẩn đoán đúng là mòn các mảnh lót ổ thì mới tiến hànhđiều chỉnh ổ Khi dùng lâu, các mảnh lót mòn nhiều không đảm bảo độ chính xáccần thiết về hình dáng, bề mặt làm việc thì có thể mài hoặc đánh bóng (chú ý: độ
25
Trang 26Hình 5-20 ổ trượt có ống lót ba mảnh
1 trục; 2 mảnh lót; 3 vít điều chỉnh; 4 đai ốc hãm; 5 vỏ (thân ổ)
3 4
5 Dầu vào
nhiều, mặt cắt ngang của nó mất
dạng tròn thì phải cạo Sau khi
lắp ráp với trục Khi ống lót chuyển hẳn sang
phải không vặn được đai ốc 2 nữa thì phải thay
ống lót
1 Cụm ổ đỡ trục chính
Dù là ổ lăn hay ổ trượt, các ổ đỡ và chặn
của trục chính hợp thành một cụm có tầm quan trọng đặc biệt trong kết cấu máy Vìvậy xét các hiện tượng hư hỏng của từng ổ riêng lẻ, phải xét đến cả cụm ổ đỡ trụcchính để có biện pháp xử lý kịp thời các hư hỏng nhỏ nhằm đảm bảo độ chính xáclâu dài của máy Những hư hỏng thường gặp của cum ổ đỡ trục chính và cách khắcphục được nêu trong bảng 5-6
5.1.4 Sửa chữa ổ lăn
Hầu hết các máy cắt kim loại đều dùng ổ lăn Kể cả các máy đặc biệt chínhxác Theo hướng tải trọng tác dụng, ổ lăn được chia thành:
- Ổ lăn đỡ: chịu tải hướng kính,
- Ổ lăn đỡ - chặn: chịu tải hướng kính và chiều trục,
- Ổ lăn chặn: chịu tải chiều trục
Ma sát trong ổ lăn rất nhỏ, nên hiệu suất làm việc cao (η = 0,995)
Điều chỉnh khe hở chiềutrục và hướng kính Khi
Trang 27máy dung theo mức.
không thể điều chỉnh đếntrị số không cho phép thìthay ổ
1 Tăng khe hở lên;
2 Tháo cụm ổ trượt, cạolại ổ, điều chỉnh khe hở;
Thay ổ ,Kiểm tra lại chế
độ làm việc của máy,tránh để máy bị quá tải
Ổ bi ăn mòn nhanh
Có axit hoặc nước lọt vào
ổ Chất lượng dầu bôi trơnxấu (không trung tính)
Thay ổ Kiểm tra vòng lótkín, thay dầu
Vòng cách bị hỏng ở các
lỗ chứa bi Bôi trơn không đủ
Điều chỉnh lượng dầu bôitrơn
Khe hở hướng kính của ổ
lăn vượt quá 0,25 mm
Mặt lăn của các vòng ổ bimòn, cả viên bi cũng mòn Thay ổ mới.
Ngõng trục và ổ bị nóng
trong khi vẫn đủ dầu bôi
trơn
Vòng lót kín ôm vàongõng trục quá chặt
Thay lò xo của vòng lótkín hoặc thay toàn bộvòng lót kín
Sai hỏng thường gặp của ổ lăn Bảng 5-7
Khe hở hướng
kính và hướng
trục quá lớn
Mòn các chi tiết của ổ Điều chỉnh cho khe hở nhỏ đi
Sau khi điều chỉnh đối với các
ổ bình thường, khe hở cho phép27