CHƯƠNG 4 SỬA CHỮA CÁC MỐI GHÉP CỐ ĐỊNH 4 1 Mối ghép cố định không tháo được 4 1 1 Mối ghép đinh tán Loại mối ghép này tuy phổ thông nhưng rất ít dùng trong máy cắt kim loại Hư hỏng chủ yếu ở dạng mối.
Trang 1CHƯƠNG 4: SỬA CHỮA CÁC MỐI GHÉP CỐ ĐỊNH
4.1 Mối ghép cố định không tháo được
4.1.1 Mối ghép đinh tán
Loại mối ghép này tuy phổ thông nhưng rất ít dùng trong máy cắt kim loại Hư hỏng chủ yếu ở dạng mối ghép này là tụt đầu đinh, đứt thân đinh, rách các tấm ghép, thân đinh bị dãn dài không dảm bảo chắc chắn và kín cho mối ghép
Nói chung, khi các chi tiết của mối ghép bị hỏng, ta thay mới Chỉ khi thân đinh dãn dài thì có thể sửa bằng cách tán lại
Khi sửa chữa hoặc làm đinh tán mới phải chú ý chỉ được phép tán nguội những đinh bằng thép đường kính thân nhỏ đến 10 mm và những đinh bằng kim loại màu Nếu đinh tán bằng thép đường kính thân đinh > 10 mm thì phải tán nóng Khi tán nóng phải nung đinh đến nhiệt độ rèn của thép, khoảng 8500C để tránh nứt Thép dùng làm đinh tán phải có giới hạn bền kéo ít nhất là 340 N/mm2 (34 KG/ mm2) và giới hạn chảy ít nhất là 190
N/mm2 (19 KG/ mm2), thường dùng thép
CT2, CT3, 08, 10 làm đinh tán
Khi làm đinh tán mới phải chú ý đến
công dụng (đảm bảo mối ghép chắc chắn
hay kín) và hình dạng đầu đinh tán cũ để
thoả mãn điều kiện kỹ thuật của mối
ghép
Kiểm tra chất lượng mối ghép đinh
tán bằng cách quan sát bên ngoài, bằng
cách gõ búa và bằng dưỡng Mối ghép
đinh tán tốt thì khi gõ có tiếng kêu trong
như gõ kim loại nền Nếu khi gõ mà đinh
tán rung hoặc xê dịch thì chứng tỏ lực
căng đinh tán yếu hoặc chồn đinh chưa
tốt, đinh bị nghiêng Để khắc phục những
sai lệch trên cần phải chặt đinh cũ và tán
lại bằng đinh mới
Hình 4-1 Các dạng khuyết
0,2d c)
a)
e)
b)
d)
f)
Trang 2Hình 4-1 là các dạng khuyết tật phổ biến nhất của mối ghép đinh tán:
Nếu khi tán, đầu đinh tán ép nhẹ gờ vào mối ghép là do lực ép đinh (lực đánh búa) không đủ, hoặc khuôn đỡ không chắc chắn làm cho sự tiếp xúc không chặt của đầu tán vào chi tiết của mối ghép Khuyết tật này có thể ở cả vòng tròn (hình 4-1a) hoặc một phía (hình 4-1b) Khuyết tật này dễ dàng phát hiện bằng quan sát bên ngoài hoặc kiểm tra bằng căn lá có chiều dày 0.1 mm Nếu đinh không bị cong, nghiêng thì có thể là hoặc tán tiếp đối với đinh tán có đường kính nhỏ, nếu đường kính lớn phải loại bỏ đinh tán lại Đinh tán có vết nứt ở đầu (hình 4-1c), khuyết tật này xảy ra khi nung quá nhiệt hoặc nung quá lâu trong lò ở nhiệt độ cao Khuyết tật này cần phải loại bỏ đinh và tán lại
Khi nung đinh tán chưa đủ nóng, vật liệu có thể nguội trước khi tạo thành mũ đinh, do đó đầu đinh có dạng hình nấm (hình 4-1d) hoặc do đinh tán ngắn không đủ kim loại Số đầu đinh dạng nấm có thể dùng được, nếu diện tích tiếp xúc mũ đinh không giảm quá 0,2 d (d- đường kính đinh tán)
Đinh quá dài sẽ tạo thành vành kim loại thừa xung quanh đầu đinh (hình 4-1e) Vành thừa cho phép có chiều cao không quá 1,5÷3,0 mm và nếu đinh tán không có khuyết tật gì khác, muốn để hình dáng bên ngoài đẹp hơn thì nên chặt bỏ vành thừa
Khi chiều dài đinh tán không đủ hoặc đường kính của đinh tán nhỏ sẽ tạo thành mũ đinh đầu nhỏ (hình 4-1f) Nếu đầu nhỏ được tạo thành do chiều dài đinh tán không đầy đủ thì xung quanh nó có những vết rạch nhỏ do các mép chồn tạo ra Nhưng độ giảm kích thước đo bằng dưỡng không vượt quá 0,1d khe hở giữa đầu đinh và dưỡng và 0,05d khe hở chiều cao
4.1.2 Mối ghép hàn
Mối ghép hàn có thể bị bong trong quá trình sử dụng, vì không đủ sức chịu tải hoặc lâu ngày bị mỏi, gỉ, v.v Lúc này có thể sửa bằng cách hàn lại Trước khi hàn lại phải cọ sạch gỉ, tẩy mối hàn cũ hoặc vát mép cho đúng để hàn được ngấu Ngoài
ra còn phải chọn que hàn và chế độ hàn hợp lý để đảm bảo sức bền mối hàn Các vấn đề về kỹ thuật và công nghệ hàn có thể xem các tài liệu tham khảo về công nghệ phụ hồi chi tiết máy
Phương pháp kiểm tra khuyết tật đơn giản nhất của mối hàn là quan sát bên ngoài nhằm phát hiện khuyết tật này như lỗ rỗ, vết nứt, không ngấu, cháy thủng v.v bằng mắt thường hay kính lúp Độ kín của mối hàn có thể thử bằng dầu lửa,
để thử người ta quét lớp phấn pha loãng với nước ở mặt ngoài Sau khi sấy khô đặt
dẻ thấm ướt dầu lửa vào mặt bên trong, nếu sau 10÷15 phút trên lớp phấn xuất hiện
g) e)
Trang 3vết thấm (ẩm) thì chứng tỏ mối hàn không kín hoặc có vết nứt Khắc phục những khuyết tật này bằng cách hàn đắp thêm
Các mối hàn chịu tải trọng lớn có yêu cầu cao, ví dụ trong nồi hơi áp suất cao thì được kiểm tra bằng cách chiếu tia rơnghen (tia X), bằng từ và siêu âm
Các chi tiết phải phục hồi cần được chuẩn bị
theo quy định Nấu các chi tiết có dầu trong dung
dịch natri-hydrôxít (sút ăn da), sau đó rửa chúng
trong nước ấm Người ta còn rửa bề mặt các chi
tiết này trong dung môi hữu cơ (dầu lửa v.v ),làm
sạch bằng phun cát, bằng dũa và bằng các phương
pháp khác Sau đó xem xét chi tiết cẩn thận Nếu
có vết nứt thì chuẩn bị mối hàn như sau:
Làm sạch miệng vết nứt rồi khoan các lỗ Có
đường kính 3- 3,5 mm để vết nứt không lan rộng
tiếp (hình 4-2a) Đục các cạnh vát theo cả chiều
dài vết nứt bằng tay hoặc bằng máy (hình 4-2b)
Nếu chiều dày của chi tiết lớn hơn 12 mm, phải vát
cả hai mặt (hình 4-2c) Đôi khi để tăng độ bền của
mối hàn, người ta lắp một số vít cấy dọc theo mối
hàn (hình 4-2d) Hàn các vết nứt bằng hàn hồ
quang tay hay hàn khí Các vết nứt nhỏ ở những
chỗ không quan trọng được bịt kín bằng các mối
hàn ngang ngắn, khi chúng nguội sẽ kéo vết nứt lại
Khi sửa chữa các chi tiết bằng tấm đệm, người ta làm sạch bề mặt xung quanh vết nứt, sau đó hàn tấm đệm thép thế nào để mép của tấm đệm cách vết nứt từ
25-30 mm (hình 4-2e) Đặt tấm đệm một phía hoặc cả hai phía Bằng phương pháp này
có thể bịt các chỗ lõm trên chi tiết
4.1.3 Mối ghép bằng keo dán và mối ghép gấp mép
Hiện tượng hư hỏng của mối ghép bằng keo dán là bong lớp dán Sửa chữa bằng cách dán lại Nếu không có keo dán, có thể sửa chữa bằng cách dùng đinh tán, hàn v.v , tuỳ theo hình dạng và đặc điểm của các chi tiết trong mối ghép Nếu dùng keo dán lại thì phải tẩy sạch lớp keo cũ bằng cách đốt cháy (đốt bằng ngọn lửa, đèn xì hay ngọn lửa ôxi-axêtylen đều được) rồi dùng chổi sắt, giấy giáp đánh
ỉ3-3,5mm
4-6mm
70-900
b 3
a)
b)
c)
e)
25-30mm
˚
b 2
Hình 4-2 Sơ đồ chuẩn bị các chi tiết để hàn vết nứt, gẫy
d)
Trang 4trơ lớp kim loại nền, sờ tay thấy nhẵn là được Sau đó làm mọi công việc chuẩn bị
bề mặt, pha chế keo và dán các chi tiết
Mối ghép gấp mép thường hỏng vì mòn, gỉ do đó chỗ gấp bị gẫy hoặc bong Sửa chữa bằng cách hàn vẩy hoặc hàn hơi tuỳ theo vật liệu và chiều dày các chi tiết của mối ghép
4.2 Mối ghép cố định tháo được
4.2.1 Mối ghép ren
Ren được tạo thành trên cơ sở đường xoắn ốc trục hoặc xoắn ốc côn, tương ứng ta có ren hình trụ hoặc ren hình côn
Các mối ghép ren trong thiết bị cơ khí thường dùng ren hình trụ theo chiều xoắn ốc của ren, ta có ren phải và ren trái, những chi tiết ren trái thường có ký hiệu riêng (có rãnh ở đầu vít hay ngấn vòng quanh đầu bulông, đai ốc) Tất cả các ren dùng trong lắp ghép đều là ren một đầu mối Ren nhiều đầu mối chỉ dùng chỉ dùng trong các vít nâng và vít me (vít truyền động)
Theo công dụng và hình dáng mặt cắt ren, ren được chia thành: Ren kẹp chặt (mặt cắt ren là hình tam giác) có đặc tính ma sát lớn, có tác dụng đề phòng đai ốc
và bulông tự tháo lỏng; Ren truyền động (mặt cắt ren là hình vuông, hình thang cân); đây là loại ren có ma sát nhỏ, được sử dụng trong bộ truyền trục vít me đai ốc hoặc trục vít bánh vít; Ren tròn (mặt cắt ren là hình bán nguyệt), đây là loại ren dùng trong các bộ truyền trục vít đai ốc bi Phạm vi sử dụng chủ yếu trong cơ cấu chạy dao của máy công cụ NC, CNC
Các dạng hư hỏng thường gặp nhất của mối ghép ren là:
- Mòn profin ren theo đường kính trung bình;
- Giảm diện tích bề mặt làm việc của ren;
- Thân bulông dãn dài vì biến dạng dẻo;
- Bước ren thay đổi;
- Thân bulông hoặc vít cấy bị uốn hoặc đứt;
- Các vòng ren bị cắt đứt do lực kéo hoặc nén dọc trục tăng đột ngột
Có nhiều phương pháp sửa chữa mối ghép ren bulông hoặc vít cấy khác nhau Nếu vít cấy hoặc bulông gẫy thì phải lấy đoạn gẫy trong lỗ đó ra (xem chương 2 mục 2.1.2.) Sau đây là một số biện pháp sửa chữa cụ thể mối ghép ren:
a) Ren bị mòn, mẻ hoặc đứt ren trên trục
Trang 5Nếu ren bị mòn, mẻ hoặc đứt ren trên trục mà ren không đủ số vòng cần thiết nữa, có thể sửa chữa bằng một trong các biệm pháp sau đây:
- Tiện hết ren cũ trên trục (nếu điều kiện bền cho phép) rồi cắt ren mới có kích thước nhỏ hơn ren cũ, nhưng phải thay thế đai ốc mới Nếu ren cũ đã được tôi cứng thì trước khi tiện cần phải ủ
- Nếu không cho phép giảm kích thước ren thì phục hồi bằng cách hàn đắp hoặc phun kim loại rồi gia công cơ
b) Ren bị mòn, mẻ hoặc đứt ren trong lỗ
- Sửa tới kích thước sửa chữa (kích thước quy định) bằng cách tiện, khoan, khoét hết ren cũ rồi làm ren mới có kích thước lơn hơn, nhưng phải thay bulông (vít cấy) mới, đôi khi phải thay bằng vít cấy có bậc tức là vít cấy một đầu to, một đầu nhỏ Đầu to vặn vào lỗ ren vừa sửa, đầu bé lắp với chi tiết bị lắp và vặn với đai ốc (hình 4-3a)
Bảng 4-1 là các kích thước ren hỏng và kích thước ren sau khi sửa chữa
Cắt ren theo kích thước sửa chữa Bảng 4-1
Kích thước ren hỏng Đường kính lỗ khoétrộng ra, mm Kích thước ren mới
- Để sửa chữa tạm mối ghép ren trong trường hợp điều kiện lỗ ren khó khăn phức tạp, có thể làm bulông, vít cấy hơi nhỉnh hơn lỗ cũ để lắp với lỗ ren mòn Khi nào có dịp thuận lợi phải sửa chữa chính thức lại ngay
- Trong nhiều trường hợp lỗ ren được sửa chữa bằng chi tiết bổ sung: Khoan hoặc khoét rộng lỗ có ren hỏng thêm 5÷6 mm nữa, cắt ren mới rồi vặn một nút hoặc bạc có ren ngoài vào lỗ ren Bạc này có lỗ nhỏ hơn hoặc bằng lỗ cần thiết để cắt ren có kích thước theo yêu cầu (kích thước ren ban đầu) Sau đó làm ren ở nút hay bạc này với kích thước ban đầu (kích thước ren ban đầu là kích thước ren lúc còn mới) hình 4-3b
Trang 6- Có thể phục hồi lỗ ren trên chi tiết bằng cách: khoan, khoét hết phần ren cũ, hàn đắp, khoan lỗ rồi cắt lại ren, trường hợp này chỉ dùng cho lỗ ren có
đường kính
trong lỗ một
dàng
Khi lắp nút
gian cần
sau:
+ Chiều dài nút hoặc bạc không nhỏ hơn chiều dài phần ren cũ trong lỗ,
+ Nút hay bạc có thể ép chặt hoặc vặn ren,
+ Đầu ngoài của nút hoặc bạc không nên thò ra ngoài bề mặt chi tiết,
+ Để đề phòng nút hoặc bạc xoay, có thể dùng vít hãm hoặc hàn mặt đầu
+ Những chi tiết có lỗ ren cần sửa chữa dù bằng gang hay thép, thì bạc hoặc nút trung gian cũng phải làm bằng thép để tăng tuổi thọ cho lỗ ren cần sửa chữa
+ Để đảm bảo vị trí chính xác của lỗ ren hoặc vị trí tương quan giữa các lỗ trên chi tiết, ta dùng bạc dẫn khi khoan lỗ để cắt ren (bạc dẫn dùng ngay các chi tiết đối tiếp như nắp, mặt bích v.v )
c) Thân bulông bị cong
Nắn bằng bàn ép kiểu vít me hoặc êtô, để tránh hư hại ren khi nắn phải dùng đệm mềm lúc kẹp chặt chi tiết Thông thường các vít cấy bị cong hoặc có ren bị hỏng đều được thay mới mà không cần sửa chữa
d) Đầu bulông đai ốc bị méo, biến dạng
Hàn đắp rồi gia công cơ, hoặc chỉ gia công cơ rồi dùng chìa vặn cỡ nhỏ hơn để vặn ra
e) Chết ren
Sửa chữa bằng cách ngâm trong xăng, dầu hoả từ vài giờ đến vài ngày rồi dùng chìa vặn 6 cạnh nối dài tay đòn để vặn (chìa vặn phải tiếp xúc với 6 cạnh)
Hình 4-3 Sửa chữa mối ghép ren
a lắp vit cấy mới có bậc; b lắp bạc có ren trong
Trang 7f) Lỗ sâu chốt chẻ ở thân bulông và đai ốc không trùng nhau
Đôi khi do thân bulông bị dãn dài mà lỗ sâu chốt chẻ ở thân bulông và đai ốc không trùng nhau, ta phải sửa chữa lại bằng cách khoan lại cho trùng nhau
Nói tóm lại khi sửa chữa mối ghép, ta thường phải gia công lại bề mặt ren Có thể áp dụng công thức sau để tính đường kính lỗ để cắt ren hệ mét:
Trong đó:
d - kích thước danh nghĩa của ren Ví dụ ren M10 thì d = 10,
S - bước ren (tra bảng theo tiêu chuẩn)
Cũng có thể áp dụng công thức sau:
4.2.2 Mối ghép then
Mối ghép then được dùng nhiều trong các máy cắt kim loại Vật liệu làm then thường bằng thép CT5; CT3; 40; 45
Khi then và rãnh then bị mòn hoặc hư hỏng thì khi máy làm việc có tải sẽ phát sinh tiếng gõ hoặc tiếng ồn
Mối ghép then thường bị hỏng ở bề mặt làm việc của then và rãnh then trên trục và lỗ, các hiện tượng hư hỏng thường gặp là:
- Mòn hai mặt bên của rãnh trong các mối ghép then trượt (rãnh then dẫn hướng),
- Bề mặt của then bị sứt mẻ hoặc vỡ (rãnh then trên trục hoặc moayơ),
- Mặt làm việc của then bị vỡ hay sứt mẻ,
- Then bị cắt đứt do mômen xoắn quá lớn
Các biện pháp sửa chữa:
a) Then bị mòn, cắt đứt hay sứt mẻ (nói chung là hư hỏng then): Thay mới b) Rãnh then trên trục hoặc sứt mẻ:
- Làm rộng và sâu rãnh tới kích thước tiêu chuẩn (bảng 9-1a, b và c: Tính toán thiết kế hệ dẫn động cơ khí - Tập I, tác giả: Trịnh Chất và Lê Văn Uyển) kế tiếp để lắp then mới Song chiều rộng tăng lên của rãnh then không vượt quá 15% so với rãnh then cũ Khi định vị gia công lại rãnh then, phải định vị theo đường tâm chi tiết hoặc theo đường sinh của trục ở phần không bị mòn Vì các rãnh then thường mòn không đối xứng và không cân;
Dlỗ = d - S
Dlỗ = 0,8 d
Trang 8- Khi rãnh then bị mòn, chỉ có vài chỗ sứt, mẻ lớn hơn, nếu gia công toàn bộ rãnh cho hết sứt mẻ để đạt tới kích thước sửa chữa thì chiều rộng rãnh tăng quá nhiều Do vậy có thể hàn đắp chỗ sứt mẻ rồi gia công cơ tiếp theo, có thể hàn điện hàn hơi đều được (hình 4- 4a)
- Khi rãnh then trên trục bị mòn nhiều, nhưng cần giữ kích thước rãnh then trên moayơ theo tiêu chuẩn quy định, thì cũng có thể sửa bằng cách làm rãnh rộng
và sâu thêm rãnh then trên trục hết các vết mòn Sau đó chế tạo then bậc theo rãnh (hình 4- 4b)
- Những rãnh then bị hỏng nặng thì không sửa chữa, mà hàn đắp rồi làm rãnh then mới ở vị trí cách rãnh cũ 900, 1350, hoặc 1800 theo chu vi (nếu kết cấu hoặc điều kiện bền cho phép)
c) Rãnh then trong lỗ moayơ bị mòn hoặc sứt mẻ Cách sửa chữa tương tự như khi sửa chữa rãnh then trên trục Những chi tiết đã tôi cứng thì phải ủ sơ bộ trước khi gia công
Khi sửa rãnh, phải đảm bảo rãnh then có mặt phẳng đối xứng đi qua tâm lỗ Mặt đáy rãnh then được gia công đối với then lăng trụ hoặc bán nguyệt phải song song với đường tâm lỗ, đối với then vát thì mặt đáy rãnh làm nghiêng 1 : 100
4.2.3 Mối ghép then hoa
Hiện nay mối ghép then hoa được sử dụng rất rộng rãi trong các máy cắt kim loại, vì nó có nhiều ưu điểm so với mối ghép thường
Tuy vậy, việc chế tạo và kiểm tra then hoa phức tạp, nên các xí nghiệp sửa chữa và sản xuất nhỏ khó gia công then hoa đạt độ chính xác cấp 2 (độ chính xác thông thường của mối ghép trong các máy cắt kim loại)
a)
Hình 4- 4 Sửa chữa mối ghép then bằng hàn; b bằng cách lắp then bậc;
c gia công rãnh then mới theo chu vi.
b) c) Hàn đắp rãnh then cũ
Gia công rãnh then mới cách rãnh cũ góc 900 Lắp then bậc
Hàn đắp
Trang 9Then hoa có ba loại: Then hoa răng hình chữ nhật, răng thân khai và răng hình tam giác
Có ba phương pháp định tâm trục với lỗ khi lắp ghép bằng then hoa, đó là:
- Định tâm bằng đường kính ngoài của trục,
- Định tâm bằng đường kính trong của trục,
- Định tâm bằng các mặt bên của then
Then dùng trong các máy cắt kim loại thường là then hoa răng chữ nhật, định tâm bằng đường kính ngoài hoặc đường kính trong
Những hư hỏng thường gặp của mối ghép then hoa là:
- Mòn then trên trục và rãnh then trong lỗ,
- Dập, vỡ, sứt mẻ then hoa,
- Sây sát hoặc tróc bề mặt làm việc của then hoa do tác dụng của tải trọng động
Khi mòn, các then có chiều dày khác nhau do đó làm việc không đồng đều, dẫn đến hiện tượng quá tải cho một vài then hoa, gây sứt mẻ những then này
Các biện pháp phục hồi:
a) Nếu then hoa và rãnh then mòn ít mà mối ghép định tâm theo đường kính trong của trục, cách sửa chữa tốt nhất là:
Sửa lỗ then hoa tới kích thước sửa chữa và làm tăng kích thước then hoa trên trục theo kích thước của rãnh then trong lỗ sau khi sửa chữa Nếu then và rãnh then
đã tôi cững thì phải ủ trước khi sửa chữa
Làm tăng kích thước then hoa trên
trục bằng cách xấn từng then một theo
chiều dọc then (hình 4-5) Cách xấn như
sau:
Dùng một đĩa bằng thép 3 làm hằn
thành các vết trên bề mặt dọc theo then
hoa 2 (bề mặt then hoa theo đường kính
ngoài) Sau khi xấn kim loại của then bị
dồn sang hai bên làm tăng chiều rộng và
đường kích ngoài của then Quá trình xấn
làm kích thước chiều rộng then tăng lên
9
Hình 4-5 Nong rộng then hoa
1
2 3 4
Trang 10vượt quá kích thước chiều rộng rãnh trong lỗ sau khi sửa chữa một lượng dư để gia công cơ 0,1- 0.2 mm thì sang then khác
Các rãnh được tạo ra trên then hoa do chồn ép được hàn đắp rồi gia công cơ Sau đó đem tôi và ủ trục, cuối cùng mài và kiểm tra
Hình dáng và kích thước của đĩa xấn phụ thuộc vào chiều rộng then, được nêu trong bảng 4-2
Bảng 4-2 Kích thước đĩa xấn then hoa
3 - 6
6 - 10
> 10
0,3 - 0.4 0,4 - 0,7 0,7 - 0,9
10 - 15
10 - 20
20 - 30
Máy tiện ren vít vạn năng được dùng phổ biến để xấn then hoa trên trục bị mòn Trục then hoa sau khi ủ xong, được cặp lên mâm cặp hoặc hai mũi chống tâm máy tiện Trục lắp đĩa xấn 3 được kẹp vào bàn xe dao (hình 4-5)
Máy tiện dùng để xấn then hoa phải ngắt xích truyền động từ động cơ tới trục chính Như vậy trong quá trình xấn, trục then hoa đứng yên còn đĩa xấn lăn trên then hoa nhờ chuyển động chạy dao dọc của bàn dao, chiều sâu rãnh xấn được thực hiện nhờ chuyển động chạy dao ngang của bàn dao và điều khiển bằng tay
Cũng có thể làm tăng kích thước của then hoa bằng đĩa xấn trên máy bào ngang Lúc này trục then hoa được kẹp trong khối V hoặc đầu phân độ lắp trên bàn máy Trục lắp đĩa xấn kẹp vào giá dao của đầu trượt máy bào
b) Trục nong lỗ có hai, ba then dẫn hướng (dạng then hoa) Then của trục nong lỗ
có chiều rộng nhỏ hơn rãnh then của lỗ 0,5 - Nếu then hoa và rãnh then mòn ít
và mối ghép được lắp định tâm theo đường kính ngoài của trục thì sửa chữa như sau:
40 - 450 R