1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Lý thuyết tài chính tiền tệ (LTTCTT) Trường NEU: Bài luận PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

17 13 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 505,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LTTCTTnhom6final docx TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN , LỚP QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP CLC 60 BÀI TẬP NHÓM MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ BÀI HỌC KINH NGHIỆM T.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-*** -BÀI TẬP NHÓM MÔN

LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

ĐỀ TÀI:

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH

TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ BÀI HỌC

KINH NGHIỆM THỰC TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA TỪ

MỐI QUAN HỆ NÀY

Hà Nội, 2020

Trang 2

MỤC LỤC

A Lời mở đầu……… 2

B Nội dung……… 4

I Khái niệm chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ……… 4

II Cơ sở lý luận về phối hợp CSTK và CSTT trong điều tiết kinh tế vĩ mô.5 III Tác động của CSTT lên CSTK……….6

IV Tác động của CSTK lên CSTT……….6

V Bài học kinh nghiệm của các quốc gia từ mối quan hệ này……… 7

C Kết luận……….11

D Trả lời câu hỏi……… 12

E Đánh giá hoàn thành công việc………16

Trang 3

A LỜI MỞ ĐẦU

Nền kinh tế không phải lúc nào cũng hoạt động trơn tru, đôi khi nền kinh tế quá nóng (nghĩa là gặp phải lạm phát), đôi khi lại rơi vào trạng thái suy thoái Trước thực trạng đó,

sự xuất hiện của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ giống như chất bôi trơn không thể thiếu đối với nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng Việc áp dụng hai chính sách này đã đem lại cho nền kinh tế những biến chuyển tích cực như: chặn đứng lạm phát, ngăn chặn cuộc đua lãi suất, đưa nền kinh tế ra khỏi khủng hoảng,… Nhưng mặt khác, do CSTK và CSTT sử dụng hệ thống các công cụ khác nhau và do hai

cơ quan khác nhau là chính phủ và ngân hàng trung ương điều tiết cho nên nếu không có

sự phối hợp thực hiện hai chính sách này sẽ đem lại những kết quả xấu cho kinh tế vĩ mô,

đi ngược lại mục đích ban đầu Do đó CSTK và CSTT cần được phối hợp nhịp nhàng để đạt được những mục tiêu vĩ mô và đem lại sự ổn định cho nền kinh tế

Trang 4

B NỘI DUNG

PHẦN 1: CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

Khái

niệm/

Định

nghĩa

Chính sách tài khóa (fiscal

policy) trong kinh tế học vĩ mô

là chính sách thông qua chế độ

thuế và đầu tư công để tác động tới

nền kinh tế

Chính sách tiền tệ (monetary policy) là quá

trình quản lý cung tiền (money supply) của

cơ quan quản lý tiền tệ (có thể là ngân hàng trung ương), thường là hướng tới một lãi suất mong muốn (targeting interest rate)

Người tạo

chính

sách

Chính phủ tạo chính sách (ví dụ:

Quốc hội Hoa Kỳ, Thư ký ngân

hàng)

Ngân hàng trung ương (ví dụ: Cục dự trữ

liên bang Hoa Kỳ hoặc Ngân hàng trung ương châu Âu)

Mục tiêu - Ổn định nền kinh tế ở mức

sản lượng tiềm năng

- Tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên

- Tỉ lệ lạm phát vừa phải

Ổn định và tăng trưởng kinh tế

- kiềm chế lạm phát,

- duy trì ổn định tỷ giá hối đoái,

- đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế

Công cụ - Về chi tiêu của chính phủ:

Chi mua hàng hoá dịch vụ là việc

chính phủ dùng ngân sách để mua

vũ khí, khí tài, xây dựng đường sá,

cầu cống và các công trình kết cấu

hạ tầng, trả lương cho đội ngũ cán

bộ nhà nước

Chi chuyển nhượng là các khoản

trợ cấp của chính phủ cho các đối

tượng chính sách như người nghèo

hay các nhóm dễ bị tổn thương

khác trong xã hội

- Thuế: Khía cạnh thứ hai

của chính sách tài khoá là thuế cũng có ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung theo hai cách

Công cụ chủ yếu để điều chỉnh mức cung tiền

như: tỉ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị

trường mở và lãi suất cho vay tái chiết khấu

Các công cụ chính sách này sẽ tác động vào cung tiền và lãi suất, rồi nhờ ảnh hưởng của lãi suất đến đầu tư mà tác động vào tổng cầu,

từ đó đưa nền kinh tế về trạng thái cân bằng Trong đó:

- Tỉ lệ dự trữ bắt buộc là tỉ lệ lượng tiền cần

phải dự trữ so với tổng số tiền huy động Đó

là tỉ lệ mà Ngân hàng trung ương yêu cầu các ngân hàng thương mại phải bảo đảm

Khi tỉ lệ dự trữ bắt buộc thay đổi thì cung tiền

sẽ thay đổi Trường hợp tỉ lệ dự trữ bắt buộc tăng, cung tiền sẽ giảm

Trang 5

● thuế làm giảm thu nhập khả dụng của cá nhân, dẫn đến chi cho tiêu dùng hàng hoá và dịch

vụ của cá nhân giảm xuống, khiến tổng cầu giảm và GDP giảm

● thuế tác động làm méo

mó giá cả hàng hoá và dịch vụ nên ảnh hưởng đến hành vi và động cơ khuyến khích của cá nhân

Do đó, bằng cách thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc, Ngân hàng trung ương có thể điều tiết được cung tiền

- Lãi suất cho vay tái chiết khấu là lãi suất

mà Ngân hàng trung ương cho các ngân hàng thương mại vay để đáp ứng những nhu cầu tiền mặt bất thường của các ngân hàng này

- Nghiệp vụ thị trường mở: Nghiệp vụ thị

trường mở hoạt động khi Ngân hàng trung ương mua vào hoặc bán ra các chứng khoán tài chính trên thị trường mở

Nguyên

tắc

Chính sách tài khóa thao túng mức

độ tổng cầu trong nền kinh tế để

đạt được mục tiêu kinh tế ổn định

giá cả, việc làm đầy đủ và tăng

trưởng kinh tế

- Khi nền kinh tế suy thoái :

Áp dụng chính sách tài khóa

mở rộng ( Giảm thuế tăng NS)

- Khi nền kinh tế lạm phát cao: Áp dụng chính sách tài khóa thu hẹp ( Giảm NS tăng thuế )

Chính sách tiền tệ thao túng cung tiền để ảnh hưởng đến kết quả như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, tỷ giá hối đoái với các đồng tiền khác và tỷ lệ thất nghiệp

PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ PHỐI HỢP GIỮA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA

VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG ĐIỀU TIẾT KINH TẾ VĨ MÔ:

Quan điểm chính sách tài chính nhà nước của Keynes:

+ Cần nghiên cứu những vấn đề quan trọng của nền kinh tế với quan điểm cầu + Chính sách tài khóa là công cụ quan trọng, chính sách tiền tệ là thứ yếu

+ Chi tiêu nhà nước là công cụ cơ bản, sự thiếu hụt ngân sách trở thành một phương thức điều chỉnh kinh tế

Trang 6

Sau khủng hoảng của điều chỉnh nhà nước, nền kinh tế thị trường dựa trên cơ sở học thuyết kinh tế của Kenyes( Keynes nhé) , năm 1980 học thuyết kinh tế mới ra đời:

+ Dựa trên cơ sở luận điểm của các nhà kinh tế trọng cung: giảm bớt sự can thiệp của nhà nước, khích thích sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân

+ Biện pháp đối lập: cắt giảm thuế, chi tiêu nhà nước, giảm lượng tiền trong lưu thông

Nền kinh tế hiện đại có xu hướng xích lại gần nhau giữa hai trường phái: tư tưởng trọng cung được lồng vào lý thuyết của Kenyes, tư tưởng của Kenyes được đưa vào lý thuyết trọng cung để hình thành lý thuyết kinh tế học hiện đại

PHẦN 3: TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LÊN CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA:

(đoạn này thêm dấu – để cho đồng đều nhé) Nếu Ngân hàng trung ương thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ làm lãi suất ngân hàng tăng lên dẫn đến nhu cầu đầu tư giảm, doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, khi đó làm giảm nguồn thu ngân sách nhà nước từ thuế

- Nếu Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách làm giảm giá đồng nội tệ, tăng tỉ giá hối đoái sẽ làm gia tăng khoản nợ Chính phủ bằng đồng ngoại tệ quy đổi

- Nếu Ngân hàng trung ương sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt, điều chỉnh tăng lãi suất sẽ làm giá trái phiếu giảm, làm ảnh hưởng đến khả năng cân đối ngân sách nhà nước của Chính phủ

PHẦN 4: TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA LÊN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ.

Chính sách tài khóa được Chính phủ thực hiện thông qua công cụ thuế và chi tiêu công

Do đó ảnh hưởng của thuế và chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế cho thấy tác động của chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế

Tác động của CSTK đến CSTT: Xét về nguyên lý, CSTK có thể tác động đến CSTT

thông qua kênh tác động trực tiếp và kênh tác động gián tiếp:

Trang 7

+ Kênh tác động trực tiếp: CSTK có thể tác động đến CSTT thông qua CSTK mở rộng

dẫn đến thâm hụt NS, đẩy Chính phủ đến việc phải yêu cầu NHTW tạm ứng để tài trợ thâm hụt NS - tức là CSTK mở rộng đã vô tình thúc đẩy CSTT cũng phải mở rộng theo, làm gia tăng nguy cơ lạm phát và cũng sẽ gây khó khăn cho cán cân thanh toán

+Kênh tác động gián tiếp: CSTK có thể tác động đến CSTT thông qua sự tác động đến

kỳ vọng thị trường Trong trường hợp NS bị thâm hụt nhưng Chính phủ không yêu cầu NHTW tạm ứng bù đắp thâm hụt NS, mà Chính phủ đi vay trên thị trường trong nước, thì hành động vay mượn đó cũng sẽ gây ra các quan ngại về hiệu ứng “hút cạn nguồn vốn”

và tác động làm tăng lãi suất trên thị trường Điều này đến lượt nó, lại gây ra tác động tiêu cực tới TTKT và làm khó khăn trong thực hiện các mục tiêu CSTT của NHTW Trong trường hợp Chính phủ tăng cường vay nợ nước ngoài, thì sẽ tác động đến cán cân thanh toán quốc tế và chính sách tỷ giá của NHTW sẽ bị tác động thông qua các kỳ vọng của nhà đầu tư về sự thay đổi của tỷ giá thị trường

Chính các mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa 2 công cụ chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng đặc biệt trên đây đối với sự ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô, nhất là đối với sự

ổn định của thị trường tài chính, đòi hỏi phải tăng cường phối hợp giữa 2 công cụ này trong kiểm soát an toàn vĩ mô nói chung cũng như thị trường tài chính nói riêng

Chính phủ cần điều hành 2 công cụ CSTK và CSTT độc lập để đạt được các mục tiêu TTKT ổn định và kiểm soát lạm phát ở mức vừa phải Các công cụ này có thể là công cụ CSTT như: lãi suất, tín dụng, tổng phương tiện thanh toán (thường do NHTW điều hành); nhưng cũng có thể là công cụ CSTK như thuế hay chi tiêu Chính phủ (thường do Bộ Tài chính điều hành) Việc phối hợp CSTK và CSTT sẽ trở nên phức tạp hơn trong điều kiện một nền kinh tế mở khi có thể biến mục tiêu là cán cân thanh toán quốc tế - Mục tiêu này đòi hỏi phải điều hành thêm công cụ chính sách tỷ giá

=> Khẳng định rằng ngay cả khi tính bền vững của CSTK không phải là vấn đề cấp thiết,

thì CSTT và CSTK vẫn cần có sự phối hợp Tuy vậy, do các CSTK và CSTT có sự độc lập tương đối, nên để sự phối hợp đạt hiệu quả thì phải đáp ứng được các điều kiện

nhất định về thể chế và hoạt động.

Trang 8

PHẦN 5: BÀI HỌC KINH NGHIỆM THỰC TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA TỪ MỐI QUAN HỆ NÀY.

Như đã phân tích ở trên, cho dù CSTT và CSTK sử dụng hệ thống các công cụ khác nhau thì cả hai chính sách đều nhằm mục đích vĩ mô là ổn định và tăng trưởng Điều đó cũng

có nghĩa là nhiều chỉ tiêu kinh tế vĩ mô muốn thực hiện được cần phải có sự phối hợp giữa hai chính sách này Do đó mỗi quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều cần kết hợp thực hiện một cách phù hợp cả hai chính sách này để đem lại nhưng hiệu quả tích cực cho kinh tế vĩ mô

Đối với nền kinh tế Việt Nam từ năm 2010 đến 2020, việc sử dụng cũng như kết hợp cả hai chính sách này đã đem lại nhiều tác động đáng kể Có thể chia thành nhiều giai đoạn:

Giai đoạn 2010-2012: kiềm chế lạm phát

Do khủng hoảng tài chính năm 2008-2009 và khủng hoảng nợ công ở châu Âu mà nền kinh tế thế giới gặp nhiều bất ổn tác động không ít tới nền kinh tế Việt Nam, khiến cho giá cả tăng cao, tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô ở nước ta Năm 2011, lạm phát tăng cao đến hơn 18%, các năm 2012-2014 tăng trưởng GDP giảm xuống dưới 6% Trước

sự bất ổn định đó, ưu tiên hàng đầu chính là ổn định kinh tế vĩ mô, sử dụng kết hợp các chính sách tài khóa và tiền tệ một cách có hiệu quả để kiềm chế lạm phát

Ngày 24/02/2011, Chính phủ đã ban hành nghị quyết số: 11/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội Cụ thể:

+ Thực hiện CSTT chặt chẽ, thận trọng: tăng lãi suất cơ bản; hạn chế tăng trưởng tín dụng

và cung tiền; điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường; tăng cường quản lý ngoại hối;…

+ Thực hiện CSTK thắt chặt: tăng thu ngân sách nhà nước 7-8%; giảm bội chi ngân sách nhà nước năm 2011 xuống dưới 5% GDP; thêm 10% chi thường xuyên của 9 tháng còn lại trong dự toán năm 2011;…

Trang 9

Tuy sự phối hợp sử dụng hai chính sách này đã được tăng cường để kiềm chế lạm phát nhưng tỷ lệ lạm phát tiếp tục tăng lên đến 18,1% (năm 2011) trong khi tăng trưởng suy giảm xuống 5,89% trong năm 2011 và thậm chí chỉ còn 5,03% trong năm 2012

Giai đoạn 2012-2015:

Trước tình hình đó, sự kết hợp hai chính sách này được hướng tới mục tiêu tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh

Theo Nghị quyết số 13/NQ-CP về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường:

+ Về CSTK: Thực hiện nhiều biện pháp về gia hạn nộp thuế và giảm thuế như gia hạn nộp

thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp; giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ

+ Về CSTT: Tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng; sử dụng chủ động,

linh hoạt các công cụ của chính sách tiền tệ, bảo đảm tốc độ tăng trưởng tín dụng, tổng phương tiện thanh toán hợp lý để thực hiện kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra và giảm được mặt bằng lãi suất, bảo đảm phù hợp với diễn biến lạm phát Biện pháp cụ thể là: tiếp tục hạ mặt bằng lãi suất tín dụng phù hợp với mức giảm của lạm phát, các mức lãi suất chủ đạo cũng đã liên tục được điều chỉnh giảm nhằm tạo điều kiện hạ mặt bằng lãi suất hỗ trợ cho các doanh nghiệp và nền kinh tế; có biện pháp hỗ trợ, đơn giản hóa thủ tục cho vay; tăng tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn, DN vừa và nhỏ, DN sản xuất hàng xuất khẩu, DN công nghiệp hỗ trợ

Với những nỗ lực điều hành chính sách này cùng với những tác động tích cực của sự phục hồi kinh tế thế giới thì nền kinh tế trong nước đã có sự khởi sắc đáng ghi nhận: mức tăng trưởng trong năm 2015 đạt 6,68%, vượt 0.48 điểm phần trăm so với kế hoạch đề ra

Giai đoạn 2016-2019:

Có thể thấy trong 2 giai đoạn trước, sự phối hợp áp dụng CSTT và CSTK đã đem lại những hiệu quả nhất định nhưng vẫn chưa rõ rệt Đến giai đoạn này, sự phối hợp này càng được chú trọng hơn nhằm đem lại sự ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng

Trang 10

+ Về CSTK: Tập trung cơ cấu lại thu, chi ngân sách nhà nước, tăng cường quản lý nợ công, bảo đảm an toàn và bền vững nền tài chính quốc gia Thực hiện nghiêm nguyên tắc vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước chỉ được sử dụng cho đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên; cải thiện cân đối ngân sách nhà nước, từng bước tăng tích lũy cho đầu tư phát triển và trả nợ vay; tiếp tục hạ thuế suất phổ thông thuế TNDN xuống còn 20% từ năm 2016; miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp; đồng thời, tiếp tục thực hiện hiện đại hóa công tác quản lý thu (mở rộng thực hiện hóa đơn điện tử, khai thuế qua mạng cho các DN, triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử ), đơn giản thủ tục, vừa tạo thuận lợi tối

đa cho người nộp thuế, vừa tập trung đầy đủ, kịp thời nguồn thu vào NSNN

+ Về CSTT: NHNN đã điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ để kiểm soát tổng phương tiện thanh toán và tín dụng ở mức hợp lý, đảm bảo duy trì lạm phát cơ bản ổn định Đặc biệt, trong điều kiện tăng mua ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối nhà nước, NHNN đã kịp thời sử dụng linh hoạt các công cụ tín phiếu, điều chỉnh kỳ hạn phát hành để kịp thời trung hòa lượng tiền đưa ra mua ngoại tệ một cách phù hợp, qua đó vừa đảm bảo thanh khoản cho các TCTD, vừa kiểm soát tốc độ tăng M2 theo định hướng

đề ra từ đầu năm nhằm góp phần kiểm soát lạm phát

Kết quả đạt được: tín dụng được kiểm soát theo chỉ tiêu định hướng, một mặt giúp kiểm soát lạm phát, một mặt hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế ngày càng được cải thiện (năm 2016: 6,21%, năm 2017: 6,81%, năm 2018: 7,08%)

Quý I năm 2020:

Do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dịch bệnh COVID-19, tăng trưởng kinh tế quý I năm 2020 của nước ta đạt 3,82%, đây là mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 10 năm 2011-2020 với

sự sụt giảm tăng trưởng ở cả ba khu vực

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng, mới nhất ngày 26/3, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng đã ký Tờ trình số 47/TTr-BTC trình Chính phủ dự thảo Nghị định gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuê đất nhằm hỗ trợ các đối tượng bị tác động trực tiếp bởi dịch COVID-19

Ngày đăng: 31/10/2022, 14:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w