Luận văn Thạc sĩ Kiến trúc Giá trị kiến trúc nhà ở dân gian người Chăm Châu Giang - Tỉnh An Giang
Trang 2Đầu tiên, Tác giả xin kính gửi lời biết ơn chân thành và sâu sắc đến cán
bộ hướng dẫn TS.KTS PHAN HỮU TOÀN, đã tận tình hướng dẫn và giúp
đỡ trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Cám ơn quý Thầy/Cô tham gia giảng dạy lớp Cao học Khóa 21 và Phòng quản lý đào tạo Sau đại học đã giúp Tác giả hoàn thành chương trình đào tạo Thạc sĩ và hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình
Cuối cùng Tác giả cũng xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ Tác giả trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Học viên
Lưu Khánh Quang
Trang 32 AG: An Giang
3 VL: Vĩnh Long
4 ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
5 NONTVL: Nhà ở nông thôn Vĩnh Long
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Nội dung nghiên cứu 4
5 Đối tượng nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
PHẦN NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH - KIẾN TRÚC NHÀ Ở DÂN GIAN NGƯỜI CHĂM VÀ NGƯỜI CHĂM CHÂU GIANG 7
1.1 Tổng quan về dân tộc Chăm 7
1.1.1 Thời kỳ lập quốc đến giai đoạn phát triển hưng thịnh 7
1.1.2 Thời kỳ suy tàn của Chămpa 10
1.1.3 Các Cộng đồng người Chăm ở Việt Nam 12
1.2 Khái niệm và lịch sử phát triển của nhà ở 13
1.2.1 Khái niệm nhà ở 13
1.2.2 Lịch sử phát triển nhà ở 14
1.3 Kiến trúc nhà ở dân gian 18
1.3.1 Khái niệm kiến trúc nhà ở dân gian 18
1.3.2 Các loại hình kiến trúc dân gian 18
Trang 51.4 Tổng quan về làng và kiến trúc nhà ở người Chăm – Quá trình di cư của
người Chăm đến An Giang 22
1.4.1 Làng của người Chăm 22
1.4.2 Tổng quan về kiến trúc nhà ở người Chăm 23
1.4.3 Tên gọi và tự gọi của người Chăm 26
1.4.4 Quá trình di cư của người Chăm đến An Giang 27
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KIẾN TRÚC NHÀ Ở DÂN GIAN NGƯỜI CHĂM CHÂU GIANG – TỈNH AN GIANG 30
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến trúc nhà ở người Chăm Châu Giang – Tỉnh An Giang 30
2.1.1 Vị trí địa lý 30
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 30
2.1.3 Điều kiện văn hóa – kinh tế - xã hội nhân văn 32
2.2 Đặc điểm kiến trúc nhà ở nông thôn người Việt vùng ĐBSCL 42
2.2.1 Bố cục tổng thể 42
2.2.2 Bố cục ngôi nhà 44
2.2.3 Thực trạng nhà ở nông thôn ĐBSCL hiện nay 45
2.3 Đặc điểm quy hoạch làng - kiến trúc nhà ở người Chăm Châu Giang 47
2.3.1 Quy hoạch làng Chăm Châu Giang 47
2.3.2 Hình thức kiến trúc nhà ở dân gian người Chăm Châu Giang 48
2.4 Sự biến đổi kiến trúc nhà ở của người Chăm qua các thời kỳ 50
2.4.1 Phân kỳ kiến trúc nhà ở người Chăm Châu Giang 50
Trang 62.4.2 So sánh kiến trúc dân gian người Chăm Châu Giang với kiến trúc nhà ở
người Việt tại khu vực Châu Giang và nhà ở nông thôn Vĩnh Long 53
CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC NHÀ Ở DÂN GIAN NGƯỜI CHĂM CHÂU GIANG – TỈNH AN GIANG, BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ KHẢ NĂNG VẬN DỤNG 59
3.1 Giá trị đặc trưng kiến trúc 59
3.1.1 Giá trị về tổ chức công năng 59
3.1.2 Giá trị về kết cấu vật liệu 60
3.1.3 Giá trị nghệ thuật, trang trí thẩm mỹ 61
3.1.4 Thích ứng với môi trường tự nhiên 62
3.1.5 Thích ứng với môi trường xã hội 64
3.2 Khả năng vận dụng của loại hình kiến trúc nhà ở người Chăm Châu Giang 65
3.2.1 Định hướng phát triển và quảng bá hình thức kiến trúc nhà ở dân gian người Chăm Châu Giang 65
3.2.2 Định hướng bảo tồn loại hình nhà ở kiến trúc dân gian người Chăm Châu Giang … 67
3.2.3 Vận dụng các giá trị và bài học kinh nghiệm của người Chăm Châu Giang cho việc xây dựng các loại hình nhà ở vùng nông thôn chống ngập lũ trong giai đoạn hiện nay 70
PHẦN KẾT LUẬN 78
KIẾN NGHỊ 79
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với diện tích 331.698 km2 và dân số trên 90 triệu người, bao gồm 54 dân tộc khác nhau nên là một đất nước có nền văn hóa phong phú và đa dạng, những nền văn hóa này luôn có những bản sắc rất riêng tùy thuộc vào tính đặc thù của mỗi dân tộc, trong đó có dân tộc Chăm
Người Chăm có lịch sử phát triển rất lâu ở Việt Nam, hiện nay có khoảng trên 161.000 người Chăm sống rải rác ở khắp các tỉnh, thành phố như: Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận, Tây Ninh, TP Hồ Chí Minh, Bình Phước và AG Trong quá trình phát triển ồ ạt như hiện nay, tuy sống chung với người Việt nhưng người Chăm vẫn giữ được những bản sắc và tập tục văn hóa của riêng mình Với dân số trên 14.200 người, AG là khu vực chiếm tỷ lệ người Chăm sinh sống nhiều nhất ở Nam Bộ [1]
Khi nói đến Nam Bộ là nói đến ĐBSCL, một khu vực giữ vị trí rất quan trọng trong vấn đề đảm bảo lương thực quốc gia Tuy nhiên, ngoài việc thiên nhiên ban tặng khí hậu thuận lợi cho hoa màu, lương thực và gia súc thì thiên nhiên cũng đem lại cho ĐBSCL những mặt thách thức không hề nhỏ đối với việc xây dựng ngôi nhà ở của mỗi người dân, đặc biệt là đối với người dân vùng ngập lũ chịu ảnh hưởng của lũ lụt hàng năm
AG, một trong 13 tỉnh trực thuộc ĐBSCL, tỉnh mang nhiều đặc trưng riêng biệt so với các tỉnh khác, khu vực này vừa có đồng bằng vừa có đồi núi, rừng và những
di tích văn hóa lịch sử có giá trị rất lớn và những giá trị này giúp AG thu hút lượng lớn khách tham quan du lịch
Trang 9Sống ở vùng AG người Chăm ở đây chịu ảnh hưởng nhiều của lũ lụt nhưng họ đã thích nghi với lũ, họ không xa lánh lũ lụt mà ngược lại họ lại sống chung và hòa mình vào đó Từ đó hình thành nên những ngôi nhà ở dân gian người Chăm thích ứng với hiện tượng lũ lụt, loại hình nhà sàn độc đáo hay còn gọi là nhà cao cẳng với những nét đặc sắc rất riêng
Trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa như hiện nay, cùng với chính sách phát triển nông thôn mới kết hợp với các loại hình nhà ở hiện đại xây dựng mới cho vùng ngập lụt đã làm cho hình thái kiến trúc chung của một quần thể mất
đi sự thống nhất và những giá trị trong các làng Chăm truyền thống phai nhạt đi bản sắc riêng của tộc người
Từ những vấn đề nêu trên, đề tài “Giá trị kiến trúc nhà ở dân gian người Chăm Châu Giang – Tỉnh An Giang” hiện là một vấn đề cần thiết với mục đích giữ gìn
và phát huy giá trị kiến trúc mang tính lịch sử và góp phần vào sự phong phú đa dạng nền văn hóa Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay Đồng thời, rút ra được bài học kinh nghiệm dân gian để triển khai vào nhà ở chống lũ cho vùng ngập lũ ở Tây Nam Bộ
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay có rất nhiều đề tài, tạp chí kiến trúc và hội thảo bàn về tôn giáo tín ngưỡng và kiến trúc của các dân tộc, tùy vào từng mục tiêu cụ thể của đề tài đặt
ra mà mỗi đề tài sẽ có giá trị riêng cho từng khu vực nghiên cứu
Luận văn thạc sĩ “Định hướng xây dựng và phát triển làng Chăm trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận” của
tác giả Lê Văn Thanh Bình, tác giả chọn lọc và khai thác các kinh nghiệm truyền thống trong việc tổ chức xây dựng làng Chăm, từ đó đề xuất giải pháp xây dựng
Trang 10làng Chăm phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu kinh tế, phong tục tập quán của dân tộc Chăm vùng Bắc Bình tỉnh Bình Thuận, nhưng không đề cập về nhà ở dân gian Chăm
Luận văn thạc sĩ “Nhà ở ngập lụt nông thôn An Giang” của Nguyễn Văn Siêu
nghiên cứu thực trạng kiến trúc nhà ở vùng nông thôn An Giang nói chung và vùng ngập lụt nói riêng, từ đó đề xuất giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển
và từng bước hoàn thiện môi trường ở bền vững trong tương lai để tạo nên một diện mạo mới cho vùng nông thôn AG
Luận văn thạc sĩ “Tôn giáo của người Chăm ở Việt Nam” của tác giả Phan Văn
Dốp tìm hiểu về tôn giáo của người Chăm ở Việt Nam dưới gốc độ dân tộc học, vai trò của tôn giáo trong nền văn hóa truyền thống và trong đời sống của người Chăm
Luận văn thạc sĩ “Tính linh hoạt trong nhà ở dân gian nông thôn ĐBSCL” của
tác giả Ngô Hồng Năng, luận văn nêu lên tính dân tộc và những giá trị truyền thống trong hình thức kiến trúc và những cải tiến trong nhà ở dân gian nông thôn
Luận văn thạc sĩ “Giải pháp tổ chức không gian kiến trúc nhà ở trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới ở Vĩnh Long (lấy xã Long Mỹ, Mang Thít làm ví dụ)”
của tác giả Hà Xuân Thanh Tâm, luận văn phân tích các không gian kiến trúc trong
và ngoài nhà ở nông thôn hiện nay từ đó đề xuất giải pháp tổ chức các không gian trong nhà và xung quanh nhà phù hợp với điều kiện sống của người dân nông thôn Vĩnh Long trong thời đại mới
Công trình nghiên cứu “Nam Bộ vài nét lịch sử - văn hóa” của tác giả Trần Thuận
là công trình nghiên cứu về quá trình hình thành, các giá trị lịch sử văn hóa của
Trang 11người Nam Bộ Công trình nghiên cứu của tác giả chủ yếu thiên về các giá trị văn hóa lịch sử là chính nhưng chính những giá trị này đã tác động rất nhiều vào các hình thái và tạo nên đặc điểm kiến trúc riêng cho từng khu vực
Trong các công trình nghiên cứu trên, vấn đề về nhà ở và định hướng phát triển không gian kiến trúc có nói đến tuy nhiên vẫn còn chung chung, chưa tập trung trực tiếp vào một cộng đồng dân tộc nhất định vì ĐBSCL là nơi tập trung nhiều cộng đồng người có nền văn hóa khác nhau Trong đó tiêu biểu có cộng đồng người Chăm ở AG và những giá trị về kiến trúc nhà ở của người CCG chưa được
nghiên cứu một cách cụ thể, rõ ràng Do đó đề tài “Giá trị kiến trúc nhà ở dân gian người Chăm Châu Giang – Tỉnh An Giang” sẽ là phần nối tiếp theo các
nghiên cứu trên nhưng tập trung làm sáng tỏ giá trị trong kiến trúc nhà ở dân gian người CCG Song các tư liệu trên là những tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu để tạo tiền đề và cơ sở lý luận cho việc giải quyết những vấn đề mà luận văn
đã đặt ra
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài: “Giá trị kiến trúc nhà ở dân gian người Chăm Châu Giang – Tỉnh An Giang” hướng đến những mục tiêu cụ thể như sau:
o Xác định giá trị đặc trưng trong kiến trúc của người CCG
o Rút ra bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng nhà ở dân gian của người CCG
o Phân tích khả năng vận dụng những giá trị trong kiến trúc nhà ở của người CCG vào loại hình nhà ở xây dựng mới trong giai đoạn đổi mới hiện nay
4 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào các vấn đề sau:
Trang 12o Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của người Chăm
o Tìm hiểu quá trình biến đổi nhà ở của người CCG qua các thời kỳ
o Phân tích so sánh và đánh giá kiến trúc nhà ở của người CCG với kiến trúc nhà ở của người Việt tại khu vực và nhà ở nông thôn VL
o Nghiên cứu các đặc điểm kiến trúc nhà ở của người Chăm từ đó đưa ra giá trị và khả năng vận dụng của loại hình nhà ở này trong bối cảnh hiện nay
5 Đối tượng nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và giải quyết các vấn đề luận văn chủ yếu tập trung vào các đối tượng cần nghiên cứu như sau:
o Nghiên cứu các giá trị kiến trúc nhà ở dân gian người Chăm đang sinh sống
ở khu vực Châu Giang - AG
o Cách thức tổ chức không gian kiến trúc và đặc điểm văn hóa của người CCG
6 Phương pháp nghiên cứu
Dùng phương pháp khảo sát điền dã, vẽ ghi, chụp ảnh vả phương pháp hệ thống hóa tư liệu nhằm thu thập tư liệu thực tế về các phong tục tập quán, hình thức kiến trúc, hình thức kết cấu và cách thức trang trí nhà ở dân gian người CCG - AG
Sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, phỏng vấn và lấy ý kiến của người dân tại khu vực nghiên cứu nhằm đánh giá tình hình, xác nhận hiện trạng của loại hình nhà ở dân gian tại nơi họ sinh sống và ý thức bảo tồn và phát triển loại hình kiến trúc nhà ở dân gian của người dân
Sau khi thu thập được tài liệu thực tế sẽ dùng đến các phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp phân tích so sánh tài liệu nhằm tìm ra cơ sở khoa học để đánh
Trang 13giá, kết luận nhằm đưa ra nhận định và phương hướng giải quyết các vấn đề và các giá trị kiến trúc đã đặt ra ban đầu mà mục tiêu của luận văn muốn hướng đến
Trang 14PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH - KIẾN TRÚC NHÀ Ở DÂN GIAN NGƯỜI CHĂM VÀ NGƯỜI CHĂM CHÂU GIANG
1.1 Tổng quan về dân tộc Chăm
Người Chăm ở Việt Nam từng là một dân tộc phát triển hưng thịnh và có quốc gia độc lập của riêng mình với một nền văn hóa phát triển mạnh mẽ Tộc người Chăm
có nguồn gốc từ Malayo-Polynesian họ di cư đến Đông Nam Á vào thời đại nền văn hóa Sa Huỳnh Người Chăm có lịch sử phát triển rất thăng trầm và được biểu hiện cụ thể qua từng giai đoạn sau:
1.1.1 Thời kỳ lập quốc đến giai đoạn phát triển hưng thịnh [2]
Do không chịu được sự thống trị và đàn áp hà khắc của Trung Hoa nên nhân dân
ở huyện Tượng Lâm đã đứng lên chống lại và giành lấy chủ quyền cho riêng mình Dưới sự lãnh đạo của Khu Liên cuộc khởi nghĩa đã thành công, sau khi khởi nghĩa kết thức Khu Liên được tôn lên làm vua để lãnh đạo nhân dân và lập ra một quốc gia mới với địa bàn hoạt động chính ở Quảng Nam và Quảng Bình hay còn gọi là Lâm Ấp vào năm 192 (cuối thế kỷ II sau công nguyên)
Khu Liên trị vì vương quốc Chămpa được mấy chục năm thì nhường ngai vàng lại cho cháu ngoại của mình là Phạm Hùng trị vì đến cuối thế kỷ thứ III Tiếp theo đó
là Phạm Dật lên nối ngôi của Phạm Hùng, khi Phạm Dật chết thì tướng của ông
đã đứng lên cướp ngai vàng và trị vì được 12 năm (từ năm 337-349) rồi lại nhường ngôi cho Phạm Phật sau đó Phạm Tu Đạt hay còn gọi là Bhadravarman I lên cai trị vương quốc Chămpa vào cuối thế kỷ thứ IV đến đầu thế kỷ thứ V Giai đoạn
Trang 15này đất nước phát triển mạnh mẽ, kinh đô được xây dựng và đặt tại Trà Kiệu cách
có công trong việc đẩy lùi được cuộc xâm lược của tướng Trung Hoa đánh vào Trà Kiệu để đem lại thái bình và hạnh phúc cho dân tộc mình
Sang thời trị vì của Prakasadharman đất nước được thái bình, ấm no Ông cho xây dựng một thánh đường lớn để làm nơi thờ cúng tổ tiên và các vị thần, về mặt tôn giáo thì ngoài việc thờ thần Shiva thì thần Visnu cũng được tôn thờ Sau khi lên ngai vàng thay thế cho Prakasadharman thì Vikrantavarman II đã cho tu bổ và xây dựng thêm nhiều đền đài để thờ cúng các vị thần và tổ tiên
Từ năm 758 đến năm 859 thay vì với tên là Lâm Ấp thì được đổi thành Hoàn Vương, trong thời kỳ này ngoài thánh địa chính ở Mỹ Sơn thì còn có một thánh địa của vương quốc Chămpa phát triển đó là thánh địa Pô Nagar ở Nha Trang, thánh địa ở Nha Trang này thờ vị nữ thần của vương quốc Chămpa Trong giai đoạn này khi thủ đô của vương quốc Chămpa dời vào phía Nam củng là thời gian vương quốc này bắt đầu xuất hiện các cuộc chiến tranh với các nước láng giềng
và các cuộc chiến tranh này đã dần dần làm cho vương quốc Chămpa bị suy yếu
Trang 16Khi Lê hoàn lên ngôi vào năm 980 lúc này kinh đô của Đại Việt được đặt ở Hoa
Lư Giai đoạn này việc quan trọng và khẩn cấp là phải đối phó với nhà Tống, tuy nhiên sau khi đánh bại được các cuộc xâm lược của nhà Tống, để giữ vững được đất nước bắt buộc Lê Hoàn phải tiếp tục đối phó với quân đội Chămpa ở phía Nam
Lê Hoàn sau khi lên ngai vàng đã cử hai sứ giả sang Chămpa, tuy nhiên khi sang hai sứ giả đã bị vua Chiêm bắt giữ Trước hành động này để tự vệ và phản kháng lại, vào Năm 982 Lê Hoàn đã phát quân tiến đánh Chămpa Cuộc chiến diễn ra thắng lợi buộc vua Chiêm phải bỏ chạy, sau khi thất bại để giữ được hòa bình vua Chiêm phải xưng thần và cống hiến cho Đại Việt Cũng bắt đầu từ đây nước Chiêm ngày càng suy yếu
Giai đoạn từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XI là giai đoạn đen tối của vương quốc Chămpa, các cuộc chiến tranh đã mang lại nhiều tổn thất to lớn nhiều đền đài bị tàn phá Mãi đến triều Harivarman IV thì đất nước mới được thanh bình trở lại và phát triển hưng thịnh hơn các triều đại trước
Từ năm 1145 đến năm 1149 quân đội Khơme đã nhiều lần gây xung đột và chiếm được kinh đô Chămpa, sau đó tiến hành đàn áp và bốc lột vơ vét tài sản của người dân gây ra bao nỗi oán hận trong lòng người dân Bắt đầu từ đây lại diễn ra nhiều cuộc đấu tranh chống lại sự áp bức Vào năm 1177 người Chăm đã tổng khởi binh chống lại quân Khơme, thành Angkor bị đánh bất ngờ và vua Khơme bị giết Tuy nhiên vui mừng của người Chăm kéo dài không được bao lâu thì quân đội Khơme lại tiếp tục đánh chiếm, từ năm 1203 đến năm 1220 vương quốc Chămpa tiếp tục
bị lệ thuộc vào Khơme
Vào nữa cuối thế kỷ X quân Nguyên Mông sau nhiều lần chiếm đánh Đại Việt nhưng không thành đã chuyển hướng sang đánh chiếm Chămpa nhưng do có sự
Trang 17ngăn cản của Đại Việt nhờ đó mà Chămpa thoát được sự xâm chiếm của quân Nguyên Mông
Vào năm 1306 để mở rộng lãnh thổ của Đại Việt vua Trần Nhân Tông đã gả con gái của mình là Huyền Trân cho Chế Mân để đổi lấy Châu Ô và Châu Lý nay là Quảng Trị và Thừa Thiên Năm 1307 sau khi vua Chế Mân mất thì Chămpa lại tiếp tục xảy ra các cuộc chiến tranh với Đại Việt
Từ năm 1342 đến năm 1390 đất nước Chămpa với sự xuất hiện của Chế Bồng Nga một vị vua trẻ tài ba đã ra sức phục hồi đất nước của mình đồng thời mở nhiều cuộc tấn công đánh phá Đại Việt, quân đội Chămpa dưới sự lãnh đạo của Chế Bồng Nga đã bao vây cả kinh thành Thăng Long Tuy nhiên cuộc tấn công không được thành công do trong nội bộ thân tín có người âm mưu tạo phản đã làm cho
vị vua bị giết trong trận chiến thuyền
Sau khi Chế Bồng Nga chết do sự phản bội trong nội bộ, quân đội Chămpa trở nên suy yếu và gần như tan rã Đại Việt do các cuộc kháng chiến chống lại Chămpa nên cũng suy yếu sau cùng phải nhường quyền lại cho nhà Hồ, với lực lượng hùng hậu nhà Hồ đã mở ra những cuộc chiến tranh tiến đánh vào trung tâm của Chămpa
và chiếm lấy vùng đất Chiêm Thành, để tránh những tổn thương do chiến tranh nên Chămpa đã nhường lại Mỹ Sơn và Đồng Dương cho nhà Hồ và lùi dần về phía Nam để sinh sống
1.1.2 Thời kỳ suy tàn của Chămpa [2]
Trải qua nhiều cuộc chiến tranh làm cho Chămpa từ nửa sau thế kỷ XV trở về sau ngày càng suy yếu, mở đầu cho giai đoạn này là sự thất bại của Chămpa ở Thành
Đồ Bàn đây là thất bại nặng nề tuy không phải là sau cùng nhưng đây là sự thất bại mang tính quyết định cho sự tan rã của Chămpa sau này Sau thất bại này lãnh
Trang 18thổ Chămpa lại một lần nữa bị thu hẹp và chỉ còn chủ quyền từ Phú Yên đến Bình Thuận
Từ năm 1471 đến năm 1543 giai đoạn này Chămpa được thái bình Tuy nhiên thời gian thái bình không tồn tại được bao lâu do chịu ảnh hưởng của các cuộc nội chiến của Trịnh Nguyễn
Cuộc nội chiến Trịnh Nguyễn ngày càng diễn ra ác liệt, để có hậu phương vững chắc buộc lòng chúa Nguyễn phải tiến dần về phía Nam Năm 1653 vương quốc Chămpa dưới sự trị vì của Nhân Bà Tấm đã đem quân đánh chiếm Phú Yên, lúc này chúa Nguyễn Phúc Tấn đã đưa quân đánh chặn, Bà Tấm chống cự không lại
đã tháo chạy tuy nhiên chỉ đến được Phan Rang thì xin hàng Chúa Nguyễn bắt phải chia địa giới và chiếm lấy đất từ phía Đông sông Phan Lang ra khu vực tỉnh Phú Yên đặt làm thủ phủ Thái Khang và Diên Ninh (nay là tỉnh Khánh Hòa) Năm 1692 Bà Tranh thống lĩnh quân đội Chămpa đánh chiếm ra phủ Diên Ninh (Khánh Hòa), để chống lại sự xâm nổi loạn của Bà Tranh chúa Nguyễn Phúc Chu
đã sai tổng binh Nguyễn Hữu Kính thống lĩnh binh lính chống lại sự nổi loạn và bắt được Bà Tranh đưa về Phú Xuân, từ lúc này đất nước Chămpa chỉ còn lại từ Phan Rang đến Bình Thuận nhưng thực chất chỉ còn lại hư danh chứ không còn chủ quyền
Vương quốc Chămpa kể từ khi được thành lập từ năm 192 đến năm 1697 đã trải qua nhiều thăng trầm và cuối cùng là sự tan rã của Chămpa, dân số còn lại sống rải rác ở một số tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa nhưng tập trung chủ yếu là ở Phan Rang - Phan Rí
Trang 19Từ năm 1822 trở về sau, giai đoạn này Chămpa đã trở thành một phần đất của Việt Nam Vương quốc Chămpa kể từ khi thành lập đến nay đã gần 2000 năm tồn tại, trong suốt thời gian tồn tại và phát triển ấy đã trải qua nhiều thăng trầm, trong quá trình đó người Chăm đã để lại nhiều di sản văn hóa vô cùng quý báu đã góp phần làm phong phú thêm cho kho tàng văn hóa của nhân loại nói chung và nền văn hóa của Việt Nam nói riêng
1.1.3 Các Cộng đồng người Chăm ở Việt Nam
Giai đoạn trước người Chăm sống chủ yếu tập trung ở vùng duyên hải miền Trung
họ từng là chủ nhân của vương quốc Chămpa hùng mạnh từ thế kỷ thứ II đến cuối thế kỷ XVII Tuy nhiên do những biến động trong lịch sử đó là các cuộc xung đột với các nước làng giềng cộng với xung đột trong nội bộ, điều này đã làm cho đất nước Chămpa ngày càng suy yếu để rồi mất hẳn đất nước
Do những biến động bắt buộc họ phải đi tìm một vùng đất mới để sinh sống Với những phong tục, văn hóa tín ngưỡng, đặc điểm cư trú nên trong quá trình chuyển
cư đến nhiều vùng phía Nam đã tạo nên các cộng đồng riêng biệt và hiện nay cộng đồng người Chăm ở Việt Nam được chia làm 3 nhóm chính [1]
o Chăm Hroi: bao gồm tất cả những người Chăm đang sinh sống rải rác từ Bình Định đến Khánh Hòa, họ sống chủ yếu tập trung ở Phú Yên Người Chăm ở đây có nguồn gốc từ người Chăm cổ và họ theo đạo Bàlamôn
o Chăm Ninh Thuận – Bình Thuận: bao gồm những người Chăm đang sinh sống ở Ninh Thuận và Bình Thuận và bộ phận này là bộ phận chiếm phần lớn tổng số ngời Chăm sinh sống tại Việt Nam Người Chăm ở đây theo Hồi giáo Bani và đạo Bàlamôn
Trang 20o Chăm Nam Bộ: bao gồm những người Chăm đang sinh sống ở Thành Phố
Hồ Chí Minh, một số tỉnh Đông Nam Bộ và tập trung chủ yếu ở AG Người Chăm ở đây có nguồn gốc từ Chăm Hroi và Chăm Ninh Thuận – Bình Thuận, tuy nhiên do những nguyên nhân lịch sử một số bộ phận người Chăm
đã rời bỏ quê hương và sang các nước bạn như Campuchia, Thái Lan, Malaysia…Từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX một số bộ phận người Chăm
đã quay về Việt Nam cư trú và định cư ở Nam Bộ, những người Chăm ở đây đa số theo Hồi giáo chính thống hay còn gọi là Chăm Islam
1.2 Khái niệm và lịch sử phát triển của nhà ở
1.2.1 Khái niệm nhà ở
Nhà ở là loại hình kiến trúc được hình thành và xuất hiện từ rất sớm Đây là loại hình bao gồm tất cả những không gian với nhu cầu phục vụ cho đời sống sinh hoạt hằng ngày của con người [7]
Giai đoạn vừa mới xuất hiện thì nhà ở theo quan niệm chỉ là nơi giúp con người trú thân để tránh lại những ảnh hưởng, bất lợi từ thiên nhiên và động vật hoang dã Sau đó loại hình này tiếp tục phát triển thêm với mục đích tạo điều kiện thuận lợi hơn cho đời sống hằng ngày của con người
Trong giai đoạn hiện nay, nhà ở là nơi mà mỗi gia đình làm nơi hưởng thụ và được mỗi gia đình trang bị đầy đủ các tiện nghi, các sản phẩm của khoa học công nghệ Một xã hội tiến bộ và phát triển thì phải tạo điều kiện cho tất cả mọi người có được chỗ ở ổn định Vì vậy loại hình kiến trúc nhà ở từ lâu đã được giới chuyên môn quan tâm rất nhiều Cái nhìn đầu tiên khi nhìn vào loại hình kiến trúc nhà ở chúng
ta tưởng chừng như rất đơn giản nhưng thực chất chúng rất phức tạp sự phức tạp
Trang 21này do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau sở thích, lối sống và điều kiện kinh
tế của từng cá nhân và từng gia đình
1.2.2 Lịch sử phát triển nhà ở
Nhà ở thời xã hội nguyên thủy (Hình 1.01)
Giai đoạn thời kỳ đồ đá, con người sống và sinh hoạt chủ yếu trong các hang động, thời kỳ này con người xem những hang động như là ngôi nhà của mình
Tiếp tục quá trình phát triển nhà ở của con người giai đoạn này bắt đầu có hình thức che chắn nhưng chỉ ở mức độ thô sơ với những tán lá trên cao để tạo nên không gian ẩn náo giúp tránh được những nguy hiểm do thú dữ, mưa gió, lũ lụt và các ảnh hưởng bất lợi của điều kiện thiên nhiên gây ra
Sau khi bắt đầu xuống mặt đất để sinh sống con người cảm thấy thoải mái và tiện nghi hơn, để đỡ bất tiện nên những ngôi nhà được xây dựng rất đơn giản với mặt bằng hình tròn kết hợp với đá hay những lá và những cành cây kết lại với nhau tạo thành hình thức kiến trúc nhà ở dạng lều với mái nhọn hay mái dạng vòm
Khi con người bắt đầu chuyển sang sống định cư, giai đoạn này bắt đầu hình thành gia đình, để có nơi sinh sống cả thị tộc cùng chung sức với nhau xây dựng một ngôi nhà để ở chung tất cả mọi người, do ở chung với nhau nên loại hình nhà ở giai đoạn này rất dài Tiêu biểu cho loại hình này đến nay vẫn còn tồn tại là loại hình kiến trúc nhà dài ở vùng Tây Nguyên [7]
Nhà ở thời kỳ chiếm hữu nô lệ (Hình 1.02)
Giai đoạn này con người đã chuyển hoàn toàn sang cuộc sống định cư tại những vùng điều kiện thuận lợi, đất đai màu mỡ để ổn định Thời điểm này ngoài săn bắt hái lượm còn xuất hiện thêm hình thức lao động sản xuất, lúc này con người bắt
Trang 22đầu có nhu cầu cao hơn về không gian ở, nhà ở của con người bắt đầu có biến đổi
rõ rệt Sự biến đổi này dễ thấy nhất là những ngôi nhà ở của các giai cấp thống trị
và giai cấp bị trị
Giai cấp thống trị thường sống và sinh hoạt trong những ngôi nhà rất khang trang, nhà ở là một quần thể ngang, dãy dọc nhà bao gồm những không gian chức năng khác nhau tất cả cùng quây quanh một sân trong Còn những người thuộc giai cấp
bị trị thường sống trong những ngôi nhà rất đơn sơ và tạm bợ với các loại vật liệu
có sẵn trong tự nhiên
Ở Việt Nam loài người cũng chuyển từ cuộc sống trong các hang động xuống các vùng trung du và đồng bằng để sinh sống và phát triển, do định cư giữa thiên nhiên nên những ngôi nhà kiên cố và ổn định trở thành cấp thiết Khi đến giai đoạn nền văn hóa Đông Sơn những ngôi nhà bắt đầu hoàn chỉnh hơn, với hình thức những ngôi nhà tên sàn không có tường bao quanh chỉ có kiến trúc mái cong hình con thuyền chạy từ trên xuống sát sàn nhà, hình thức mái lúc bấy giờ bao gồm cả hai chức năng là che mưa và che nắng Ngoài kiến trúc ngôi nhà chính để ở còn có thêm nhà kho với mái cong
Loại hình nhà sàn giai đoạn nền văn hóa Đông Sơn thể hiện sự thích nghi của con người với thiên nhiên và hòa mình vào thiên nhiên Vật liệu để xây dựng những ngôi nhà này thường được lấy từ các vật liệu có sẵn trong tự nhiên như tranh, tre
và gỗ với hệ kết cấu cột-kèo-xà, hình thức kiến trúc bên ngoài bắt đầu xuất hiện thêm các chi tiết trang trí để làm đẹp thêm cho ngôi nhà [7]
Nhà ở thời kỳ phong kiến (Hình 1.03)
Trang 23Thời kỳ này xã hội bắt đầu có sự phân hóa sâu sắc, sự phân hóa này được thể hiện
rõ nhất là hình thức những ngôi nhà ở của những người nông dân và hình thức những ngôi nhà của giai cấp vua chúa, quan lại
Những ngôi nhà ở của giai cấp thống trị rất kiên cố thường là kiến trúc những tòa lâu đài, những trang trại, với hệ thống không gian nội thất rất đa dạng Vật liệu dùng để xây dựng loại hình nhà ở này rất kiên cố và đắt tiền [7]
Ở Việt Nam, ngoài hình thức kiến trúc những ngôi nhà gỗ, tường đất, tường xây bằng gạch Trong xã hội phong kiến những vật liệu để xây dựng các công trình ở Việt Nam chủ yếu được lấy từ gỗ và gạch đất nung, tuy nhiên đối với những loại
gỗ quý hiếm không được dùng cho việc xây dựng nhà ở cho nông dân, những loại
gỗ này chỉ được sử dụng cho việc xây dựng nhà ở cho vua chúa và giai cấp quan lại
Giai đoạn này kiến trúc coi trọng bố cục tổng thể trong toàn bộ khuôn viên ngôi nhà, hay địa thế để lựa chọn cho việc xây dựng Hình thức bố cục tổng thể bao giờ cũng theo trục thần đạo, cách thức này làm cho các công trình hòa nhập nhau và hòa nhập với thiên nhiên tạo thành một thể thống nhất
Nhà ở thời kỳ tư bản chủ nghĩa
Đây là thời kỳ mà vấn đề nhà ở rất được quan tâm, giai đoạn này xã hội bắt đầu xuất hiện thêm các tầng lớp mới như tư bản sản xuất, các nhà khoa học, thương nhân và tầng lớp nông dân phá sản Do những vấn đề này nên nhiều hình thức kiến trúc nhà ở mới được hình thành, trong thành phố bắt đầu xuất hiện các loại hình nhà ở biệt thự sang trọng, các kiểu nhà liên kề nhau và các kiểu nhà chung cư [7]
Trang 24Giai đoạn này ngoài xuất hiện những ngôi nhà mới với hình thức kiến trúc thay đổi rõ rệt, bên cạnh đó về nội dung và phân khu chức năng cũng rõ rệt hơn, các thành viên trong gia đình đòi hỏi không gian riêng tư hơn, các ngôi nhà được trang
bị đầy đủ các thiết bị khoa học công nghệ tiên tiến nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt ngày càng cao của con người như: điện thoại, tivi, máy quạt, hệ thống sưởi ấm…
Do nhu cầu ngày càng cao và sự phát triển của nền kinh tế thị trường nên sự thích dụng và mỹ quan được đặt ra, chính vì thế con người bắt đầu chú ý đến các công nghệ xây dựng, phát triển các vật liệu mới phục vụ cho xây dựng
Nhà ở giai đoạn xã hội tư bản phát triển cao (Hình 1.04)
Nhà ở giai đoạn này về nội dung và hình thức có sự mâu thuẩn, phân hóa rõ rệt giữa các tầng lớp khác nhau trong xã hội Đối với những ngôi nhà của tầng lớp giàu sang ngoài hình thức những ngôi nhà sang trọng với đầy đủ các trang thiết bị hiện đại, thì bên trong khuôn viên nhà còn xuất hiện thêm bể bơi, sân quần vợt, khu vực vui chơi giải trí ngoài trời Tuy nhiên loại hình nhà ở cho giai cấp này chỉ chiếm số ít, phần lớn cư dân đa số sống trong các chung cư cao tầng với mức độ tiện nghi trung bình
Khi tin học, công nghệ kĩ thuật cao, công nghệ sinh học bắt đầu phát triển, nhà ở lúc này sẽ trở thành nơi ở và không gian sáng tạo Sự phát triển của những loại hình khoa học công nghệ này sẽ giúp cho việc giao tiếp được tiện lợi hơn, tuy nhiên nó cũng làm cho xã hội phân hóa rõ rệt hơn làm cho khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng xa hơn
Trang 251.3 Kiến trúc nhà ở dân gian
1.3.1 Khái niệm kiến trúc nhà ở dân gian
Nghệ thuật tạo hình dân gian là một loại hình rất đa dạng và phong phú Trong đó kiến trúc dân gian là một trong những phần của nghệ thuật tạo hình
Kiến trúc dân gian được biểu hiện đầy đủ nhất qua kiến trúc nhà ở của người dân lao động do đó kiến trúc dân gian là những công trình kiến trúc do chính người dân lao động sống tại một khu vực nào đó làm ra và những công trình đó gắn bó trực tiếp với đời sống của họ Kiến trúc dân gian còn thể hiện được sự nhận thức của người làm ra nó về thẩm mỹ và những yêu cầu về công năng sử dụng của công trình
Kiến trúc dân gian là một loại hình kiến trúc tự phát tại một khu vực, loại hình kiến trúc này được con người tích lũy và đúc kết qua nhiều thế hệ Ưu điểm của loại hình kiến trúc này là thể hiện rõ nét và đầy đủ được các phong tục tập quán, bản sắc của từng dân tộc, từng địa phương, từng khu vực
Đặc điểm của kiến trúc dân gian được biểu hiện rõ nét nhất ở tính kế thừa và phát huy, loại hình kiến trúc dân gian được kế thừa và truyền từ đời này sang đời khác với nhiều cách thức khác nhau như: hình thức gia truyền, truyền nghề trực tiếp trong quá trình lao động hay bằng những câu chuyện kể, ca dao, tục ngữ… [8] 1.3.2 Các loại hình kiến trúc dân gian
Kiến trúc dân gian rất đa dạng và phong phú loại hình này được biểu hiện đầy đủ qua các hình thức kiến trúc như: làng xóm, nhà ở, kiến trúc công cộng, kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng và kiến trúc vườn – công viên Những thể loại kiến trúc dân gian này mang nhiều đặc tính và sắc thái khác nhau tất cả được biểu hiện cụ thể như sau: [8]
Trang 26 Làng xóm (Hình 1.05)
Ở Việt Nam cơ chế tổ chức xã hội theo chế độ gia tộc đã có từ lâu đời, trong cơ chế tổ chức xã hội này bao gồm những người có liên hệ với nhau về dòng máu Những người có liên hệ với nhau này sống tập trung gom lại tạo thành thôn xóm trong làng
Làng là một đơn vị dân cư sống tập trung lại và hợp thành trong quá trình lao động
và sản xuất Tính cộng đồng trong cơ cấu tổ chức làng rất cao, những người trong làng sẽ cùng nương tựa và giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình lao động sản xuất, đấu tranh chống lại kẻ thù Từ những đặc điểm đó đòi hỏi loại hình kiến trúc này mang tính tổng thể cao, loại hình này thể hiện cách bố trí các thành tố tạo nên làng, các hình thức giao thông đối nội và đối ngoại và khả năng chống lại những nguy cơ xâm nhập từ bên ngoài để tự bảo vệ bản thân mình của dân làng
Làng là nơi bảo tồn những giá trị văn hóa, tín ngưỡng và phong tục tập quán của người dân một khu vực nhất định Trong mỗi làng thường có khu trung tâm, khu hành chính và chỗ để thờ cúng như chùa hay các đình làng, đền thờ Trong mỗi làng sẽ có nơi thờ cúng thành hoàng đây là vị thần che chở cho dân làng có được cuộc sống bình yên và thịnh vượng, nơi này được gọi là đình làng, ngoài ra đình làng còn được dùng để làm nơi tập hợp mọi người và hội họp để giải quyết hầu hết các việc trong làng
Đặc điểm không gian trong làng mang tính chất phòng thủ thường có lũy tre bao bọc quanh làng, làng có cổng chính nhìn hướng ra đường lớn với chòi canh và cửa rất chắc chắn Các làng thường dọc theo sông nước, các kênh rạch hoặc dọc theo các đường chính
Trang 27 Nhà ở (Hình 1.06)
Nhà ở của người dân hiện nay đa số là những ngôi nhà trên nền đất nhưng ở các giai đoạn trước hình thức của những ngôi nhà này thường là những ngôi nhà sàn với chân cao lên nhằm mục đích tránh lũ lụt và thú dữ Trong tiến trình phát triển của lịch sử ông cha ta đã trải qua nhiều nơi cư trú khác nhau từ hang động ở vùng núi, qua trung du sau đó về đồng bằng cư trú Trong quá trình di cư đó tùy theo từng vùng miền mà hình thức ngôi nhà ở sẽ phù hợp với vùng miền đó và dần dần hình thức nhà sàn chuyển thành hình thức như những ngôi nhà hiện nay mà chúng
ta đang sinh sống
Những ngôi nhà ở nông thôn thường gắn bó với sân vườn và thiên nhiên, ngôi nhà thường được đặt ở giữa Bố trí không gian trong nhà ở thường chịu ảnh hưởng của nho giáo phong kiến thể hiện rõ nét trong chế độ gia trưởng phụ quyền
Trong nhà chính có không gian lớn và chính giữa giành cho việc thờ cúng, chỗ tiếp khách ở phía trước và không gian hai bên là nơi dành cho khách đến có thể nghỉ ngơi và là nơi sinh hoạt của gia đình
Phía trước mỗi nhà ở thường có hiên, hình thức hiên trước nhà ở có nhiệm vụ làm không gian chuyển tiếp, có thể làm nửa kín nửa hở Hiên nhà còn có tác dụng dùng
để đón khách và người trong nhà có thể sử dụng để nghỉ ngơi
Kiến trúc nhà ở dân gian bao gồm tất cả các loại hình nhà ở cùng với các công trình phụ trợ như nhà bếp, nhà kho… Khi nghiên cứu loại hình kiến trúc này cần chú ý đến cách thể hiện không gian kiến trúc, hình thức kiến trúc, bố trí cảnh quan sân vườn trong một căn nhà sẽ biểu hiện được toàn bộ các yếu tố văn hóa trong
Trang 28mỗi xóm làng Loại hình nhà ở này có nhiều cách phân loại và phương thức sắp xếp khác nhau:
o Phân loại theo vùng kinh tế và phương thức sản xuất bao gồm nhà ở nông thôn và nhà ờ thành thị
o Phân loại theo các mặt bằng không gian kiến trúc
o Phân loại theo kết cấu chịu lực của công trình và vật liệu xây dựng cho công trình
o Phân loại theo cộng đồng các dân tộc cùng với các phong tục tập quán
o Phân loại theo các vùng miền địa lý khác nhau
Kiến trúc vườn – công viên (Hình 1.07)
Kiến trúc vườn cảnh dân gian thể hiện rõ nét sự mô phỏng môi trường thiên nhiên khu vực mà người dân sinh sống bằng việc sử dụng các thành phần như: mặt nước, cây xanh… Đây là loại hình nghệ thuật kiến trúc đã có từ lâu đời và được kế thừa cho đến ngày nay
Khi thiết kế và bố cục vườn và công viên thường dùng một số thủ pháp sau:
o Sử dụng những thành phần đặc trưng của tự nhiên như núi non, vách đá Địa hình luôn được sử dụng tạo các đường nét cao thấp luôn thay đổi tạo cảm giác cho con người sống hòa vào thiên nhiên
o Sử dụng các yếu tố tự nhiên hay nhân tạo để làm cho không gian sống thêm sinh động
o Dùng các yếu tố thực vật như cây cối, hoa lá với tác dụng trang trí và làm phong phú thêm bố cục không gian trong vườn
o Sử dụng các yếu tố kiến trúc ở đây những công trình kiến trúc này được gắn
và hòa mình vào các điều kiện địa hình của tự nhiên Trong đó các công
Trang 29trình phụ góp phần làm phong phú cho tổng thể công trình còn vị trí trung tâm là các công trình lớn và được bố trí cân xứng và đều đặn dọc theo các trục chính
1.4 Tổng quan về làng và kiến trúc nhà ở người Chăm – Quá trình di cư
của người Chăm đến An Giang
1.4.1 Làng của người Chăm
Làng của người Chăm hay còn gọi là Paley, trong làng của người Chăm bao gồm nhiều gia đình có quan hệ gần gũi với nhau và có cùng tôn giáo, tín ngưỡng Theo tập tục của người Chăm thì vị trí tốt nhất để xây dựng một ngôi làng cần phải có những tiêu chí như: phải có sông ở phía Bắc, có núi ở phía Nam, cao ở phía Tây
và thấp về phía Đông [9]
Trong mỗi làng của người Chăm thường khoảng 50 đến 70 hộ gia đình cùng tập trung lại tổ chức thành nhóm Đa số các làng của người Chăm thường chọn ở vị trí cách xa trục đường giao thông chính, trục đường chính để vào làng của người Chăm thường từ 5-7m và theo hướng Bắc-Nam Các đơn vị ở trong làng Chăm được quy hoạch và tổ chức theo dạng ô cờ (Hình 1.08)
Các khuôn viên được tổ chức trong các dạng ô cờ là nơi tập trung sinh sống của các hộ gia đình Điểm dễ chú ý của người Chăm là trong làng rất ít cây xanh, nếu
có thì chỉ trồng ở đầu làng hoặc xa nhà vì theo quan niệm người Chăm cho rằng cây là nơi thu hút và tập trung nhiều ma quỷ do đó việc trồng nhiều cây trong làng
sẽ không tốt cho đời sống của cộng đồng người Chăm
Hình thức quy hoạch dạng ô cờ trong làng của người Chăm được hình thành dựa theo nguyên tắc là các trục đường chính sẽ dọc theo trục Bắc – Nam, các trục đường phụ sẽ dọc theo hướng Đông – Tây
Trang 30Tóm lại làng của người Chăm là một đơn vị xã hội mang tính tự quản cao, trong quá trình phát triển của xã hội hình thức tự quản của cộng đồng Chăm đã hình thành nên những giá trị văn hóa đặc sắc và rất riêng
1.4.2 Tổng quan về kiến trúc nhà ở người Chăm [10], [11]
Do những nguyên nhân lịch sử và các cuộc tỵ nạn, người Chăm ngày nay không còn sống tập trung mà họ sống xa nhau nhưng khu vực tập trung đông nhất là Ninh Thuận Theo phong tục tập quán thì các ngôi làng của người Chăm được lập trên các vùng đất có núi và nằm ở phía Nam, có sông ở phía Bắc, có gò cao ở phía Tây
và thấp dần về phía Đông Trong các làng người Chăm sinh sống thường rất ít trồng cây nên vào ban ngày rất nóng
Điểm tiêu biểu trong các ngôi làng Chăm là tất cả các công trình công cộng đều nằm ở đầu làng, trong mỗi đại gia đình của người Chăm đều có một khuôn viên hình chữ nhật với các cạnh hướng về 4 hướng chính Đông – Tây – Nam – Bắc Hầu hết trong các khuôn viên của gia đình người Chăm đều có đủ năm ngôi nhà chính như: Nhà tục (thang Yơ), nhà cặp đôi (thang MưuYau), nhà bếp (thang King) nhà của ông bà (thang Tôn), nhà của bố mẹ (thang Lâm) Ngoài ra đối với một số gia đình khá giả thì trong khuôn viên còn có thêm hai ngôi nhà phụ dùng để xay lúa và để nông cụ (Hình 1.09) [24]
Trong các nhà chính thì Nhà tục là nhà truyền thống của người Chăm, nhà này thường được người Chăm dựng đầu tiên, nhà tục được xây dựng phải trên nền đất cao Nhà tục có 3 gian: gian sâu trong cùng là nơi dầm lúa, gian giữa là phòng ngủ của vợ chồng chủ nhà, gian ngoài cùng là nơi để tiếp khách đến thăm, sinh đẻ, rước dâu và làm tang lễ Ngoài ra ở gian ngoài cùng này có thể kéo dài mái ra để tận dụng làm không gian phụ để làm nơi ăn uống và lao động sản xuất
Trang 31Trong nhà tục thì gian giữa là gian tối nhất do loại nhà này là không có cửa sổ để lấy sáng, ở gian ngoài nơi tiếp khách cửa được đặt ở hướng Tây nhưng không ở chính giữa mà lệch về phía bên trái để thẳng hàng với cửa vào các gian trong nhà
và cửa phụ là cửa tử nên được người Chăm đặt ở hướng Nam để khi nhà có tang thì xác người chết được rước ra khỏi nhà bằng cửa này
Nhà tục của người Chăm không có kèo, các vì chia gian tính theo hàng cột Do nhà có hai gian và một chái nên có ba vì đủ cột cái và hai cột con kích, còn vì mặt trước gian khách chỉ có ba cột chái Thước dùng trong xây dựng và làm nhà của người Chăm được lấy từ chiều dài khủy tay đến mút ngón tay của chủ nhà
Chiều cao sàn của nhà tục cao bằng bàn chân dựng đứng, sàn của gian tiếp khách
và gian ngủ của vợ chồng chủ nhà được lót bằng ván hoặc ghép tre nguyên thân
to bằng tay của chủ nhà, sàn của gian trong cùng sau khi ghép tre còn phải được
đổ đất nện nhẵn Toàn bộ sàn của nhà tục được đặt trên những dầm sàn làm bằng
gỗ dài 9 mét và được kê trên tảng đá cao bằng bàn chân dựng đứng Trong nhà tục tùy vào từng gian sẽ có số dầm khác nhau, đối với gian ngoài và gian giữa sẽ có 3 dầm sàn còn đối với gian trong sẽ có 4 dầm sàn Nhà tục được bao che bằng các vách được đan phên rồi sau đó trát vữa từ đà lên tới đòn tay, dưới gầm sàn được
để trống nên trong nhà sẽ không bị ẩm ướt và thông thoáng (Hình 1.10)
Đặc điểm của nhà tục là gỗ để làm nhà là không được xẻ ra mà phải để nguyên đoạn chỉ cần bốc bỏ lớp vỏ bên ngoài và không được xẻ, các cấu kiện được lắp ghép và kết nối với nhau bằng dây rừng Với kết cấu đơn giản này, loại hình nhà tục này chỉ thích hợp với vùng ít chịu ảnh hưởng của lũ lụt
Theo phong tục người Chăm, sau khi con gái lớn trong gia đình lấy chồng về sẽ được cha mẹ nhường cho nhà tục Đối với nhà nghèo có thêm chái gắn vào nhà
Trang 32tục để cho cha mẹ sinh sống, tuy nhiên để thể hiện tình cảm vợ chồng luôn gắn bó, người ta thường làm nhà áp sát vào sườn phía Nam nhà tục để hình ảnh cặp đôi của vợ chồng luôn ở cạnh nhau, nhà tục tượng trưng cho hình ảnh người vợ, còn nhà cặp đôi tượng trưng cho hình ảnh người chồng nên thường cao hơn nhà tục một chút
Nhà bếp của người Chăm được xây ở gốc Tây Bắc Hình thức kiến trúc theo hình thức của nhà tục, tuy nhiên diện tích hai gian nhà bếp được thu nhỏ lại và không
có chái
Nhà kho trong khuôn viên của người Chăm nhỏ như cái chòi Tuy nhiên, sàn nhà kho thường rất cao, nhà được dựng ở phía Tây trong khuôn viên và hướng mặt về phía Đông để nhìn xuống sân
Nhà ngang được người Chăm dựng trước nhà tục nhưng khi dựng nhà thì sẽ xoay ngang thước thợ với nhà tục Nhà ngang được dựng lên dùng để chứa đồ vật, còn làm không gian để giã gạo Kết cấu nhà ngang rất đơn giản không có cột và tường vách
Đó là những ngôi nhà mà cơ bản trong khuôn viên nhà của người Chăm đều có, tuy nhiên đối với một số gia đình giàu có thì sẽ có thêm nhà lớn, cửa trước của nhà nhìn về hướng Nam theo hướng cửa tử nên nhà này chỉ giành cho những người
từ 50 tuổi trở lên
Kiến trúc dân gian của người Chăm được tuân thủ theo những quy định nghiêm ngặt nhưng hình thức kết cấu đơn giản và được xây dựng với kỹ thuật nguyên thủy Tuy nhiên hình thức kiến trúc truyền thống của người Chăm tùy theo từng khu vực mà những quy định và hình thức kiến trúc truyền thống này có nhiều thay
Trang 33đổi nhằm phù hợp với điều kiện khí hậu của khu vực mà họ sinh sống So với người Chăm sống ở các khu vực khác, thì hình thức bố trí kiến trúc mặt bằng sinh hoạt của người Chăm ở Châu Giang tỉnh AG hoàn toàn khác hẳn
Khuôn viên trong công trình nhà ở của người CCG không còn nhiều mà chỉ còn nhà chính và nhà phụ kết hợp lại thành một, so với kiến trúc truyền thống của người Chăm thì kiến trúc nhà ở dân gian của người CCG có thay đổi đôi chút về hình thức kết cấu, vật liệu sử dụng, hình thức kiến trúc để phù hợp với vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ lụt Sự thay đổi này góp phần tạo nên một hình thức kiến trúc mới mang tính bản địa rõ rệt được thể hiện qua những ngôi nhà sàn mang đậm phong cách của miền sông nước và đó là hình thức những ngôi nhà sàn với chân rất cao của người CCG khu vực AG
1.4.3 Tên gọi và tự gọi của người Chăm
Đồng bào Chăm trước đây được mọi người gọi với nhiều tên khác nhau như: Chàm, Chà Và, Chà, Chà Và Ku, Khmer Islam, Chămpa Đối với đồng bào thì được gọi là: Chăm, Chăm Bàni, Chăm Islam, Chăm Chuk, Chăm Kaphir, Chăm Jet
Tên gọi của người Chăm rất phong phú và đa dạng, tùy theo từng khu vực sẽ có tên gọi khác nhau, từng tên gọi có thể được giải thích như sau: [12], [28]
o Tên Chàm: tên gọi này có thể nói là bắt nguồn từ cách gọi của người Kinh, trong thời kỳ Pháp thuộc tên gọi Chămpa được dùng trong công văn và giấy
tờ lâu dần được biến âm thành tên Chàm Tên gọi này được sử dụng phổ biến trong cộng đồng người Chăm
o Chà Và: tên gọi này được người Kinh phiên âm từ tiếng “JaVa” nghĩa là thủ
đô của Inđônêxia ra thành tên gọi là Chà Và Trước kia người Campuchia
Trang 34gọi là Cavia Tuy nhiên khi gọi theo tên này làm người Chăm không thoải mái và làm cho họ có thành kiến
o Chà: đây là danh từ dùng để chỉ cách xưng hô, “Chà” có nghĩa là “thằng” Người Kinh thường gọi là: người Chà, xóm Chà, với ý nói đến người và xóm Chăm
o Chà Và Ku: ở đây “Chà Và” có nghĩa là người Chăm, còn “Ku” là danh từ được người Chăm dùng để gọi người Khmer Gom lại thì “Chà Và Ku” có thể hiểu là người đàn ông Chăm có vợ là người Khmer
o Khmer Islam: tên gọi này dùng cho những người Khmer theo Hồi giáo Trong giai đoạn hiện nay hầu hết các cộng đồng Chăm ở Việt Nam đều thống nhất chung một cách gọi đó, họ tự gọi mình là người Chăm và dân tộc Chăm
1.4.4 Quá trình di cư của người Chăm đến An Giang [12]
Sau khi thống nhất lãnh thổ, nhà Nguyễn cai trị người Chăm với những chính sách rất chặt chẽ Do không chịu nổi sự cai trị cùng với những chính sách nghiêm ngặt của nhà Nguyễn nên vị vua cuối cùng của người Chăm là PoChơnChan đã rời bỏ ngai vàng cùng tùy tùng thân tính và gia đình của mình trốn sang Campuchia để sinh sống
Vào năm 1833 Lê Văn Khôi nổi dậy chống lại nhà Nguyễn nhờ được sự ủng hộ của người Chăm nên đã dễ dàng chiếm được Phan Rang, Phan Rí và Phan Thiết Tuy nhiên cuộc nổi dậy chống lại nhà Nguyễn của Lê Văn Khôi không tồn tại được bao lâu thì bị triều Nguyễn dẹp tan, sự nổi dậy này lại càng làm cho vua Minh Mạng thẳng tay hơn đối với việc dẹp loạn và tàn sát người Chăm
Trang 35Trong những năm của thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII tình hình chiến tranh ở Chân Lạp phức tạp làm cho đời sống của người dân khó khăn và đặc biệt là đối với những người di cư đến đây sinh sống
Năm 1841 Lâm Sâm lãnh đạo mọi người khởi nghĩa ở Trà Vinh, để chống lại sự nổi dậy của Lâm Sâm, vua Thiệu Trị ra lệnh cho Trương Minh Giảng đang đóng quân ở Chân Lạp rút quân về nước Lúc bấy giờ những người Chăm đang sinh sống ở Chân Lạp được tuyển vào làm binh lính để rút quân về nước chống lại sự nổi dậy của Lâm Sâm Trong khi rút quân về những người Chăm gia nhập vào đội quân của triều Nguyễn đã đưa gia quyến của mình theo cùng, sau khi rút quân về chống sự nổi loạn thì những binh lính được tuyển chọn vào đã định cư cùng gia đình theo dọc sông Hậu và Khánh Bình cho đến ngày nay
Vào năm 1858 ở Chân Lạp, do không chịu được sự thống trị của triều đình phong kiến Tuôn Sết It đã đứng lên lãnh đạo nhân dân chống lại triều đình phong kiến, cuộc nổi dậy chống lại chính quyền này đã thu hút nhiều người Chăm tham gia Tuy nhiên cuộc khởi nghĩa này nhanh chống bị thất bại Sau đó, để tránh sự đàn
áp của chính quyền những người Chăm tham gia trong cuộc khởi nghĩa đã chạy
về Nam Bộ để tránh nạn Tất cả những người chạy nạn này tập trung cư trú và định cư ở AG, đây được coi là cuộc di cư đông nhất của người Chăm ở Chân Lạp
về AG
Do những tác động và hệ quả của lịch sử diễn ra từ nửa sau thế kỷ XVIII đã tạo nên các cuộc di cư của người Chăm đến vùng đất Nam Bộ để sinh sống Trong quá trình đó thì các cuộc di cư của người Chăm không chỉ ngoài việc chiến tranh
mà còn vì tiếng gọi khẩn hoang mở rộng ruộng đất của nhà Nguyễn lúc bấy giờ
Trang 36Bên cạnh đó còn có thêm một bộ phận không nhỏ thương nhân người Chăm do muốn thử thời vận đã tìm đến vùng đất Nam Bộ để trao đổi, buôn bán
Từ những vấn đề trên ta thấy, cộng đồng người Chăm sống ở Nam Bộ và AG nói riêng được hình thành từ các cuộc chuyển cư từ Miền Trung vào và một phần từ Chân Lạp trở về
Đối với AG, do quá trình định cư và thích ứng với điều kiện tự nhiên đã hình thành nên một cộng đồng Chăm mang một bản sắc rất riêng và độc đáo, góp phần làm phong phú và đa dạng cho vùng đất AG cho đến ngày nay
Kết luận chương 1
Từ những vấn đề trên ta thấy người Chăm từng là một dân tộc hùng mạnh, có tôn giáo tín ngưỡng riêng biệt cùng với những hình thức kiến trúc rất đặc sắc Tuy nhiên trong quá tiến trình phát triển của lịch sử đã làm cho người Chăm phân tán
và rải rác đến nhiều khu vực khác nhau để lập nghiệp và sinh sống Trong quá trình di cư này tùy vào những khu vực và vùng miền khác nhau mà người Chăm
có những tên gọi địa phương khác nhau
Điển hình trong quá trình di cư này là các cuộc di cư của người Chăm đến AG một trong 13 tỉnh thuộc ĐBSCL để sinh sống và lập nghiệp, khi đến với vùng đất này người Chăm đã góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa của khu vực với những tín ngưỡng tôn giáo khác hẳn với người Việt nơi đây cũng như các dân tộc anh em khác
Trang 37CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KIẾN TRÚC NHÀ Ở DÂN GIAN NGƯỜI CHĂM CHÂU GIANG – TỈNH AN GIANG
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến trúc nhà ở người Chăm Châu Giang –
Tỉnh An Giang
2.1.1 Vị trí địa lý
Tỉnh AG nằm ở khu vực Tây Nam Bộ, là tình biên giới có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống với nhau, thuộc vùng ĐBSCL, được bao bọc bởi hệ thống sông ngòi dày đặc, nằm giữa khu vực sông Tiền và sông Hậu thuộc hệ thống sông Mê- Kong
Tỉnh AG có diện tích tự nhiên là 3.424 km2, dân số toàn tỉnh là 2.151.000 người với mật độ dân số là 608 người/km2 [26]
Phía Bắc Tây Bắc của AG giáp với nước bạn Campuchia, phía Nam giáp với Thành Phố Cần Thơ, phía Đông giáp với tỉnh Đồng Tháp, Tây Nam giáp với tỉnh Kiên Giang
Khu vực người Chăm sinh sống tại AG chủ yếu tập trung ở Phú Tân, Tân Châu và
An Phú Từ Châu Đốc để có thể đến khu vực người CCG sinh sống chúng ta chỉ cần qua phà Châu Giang hoặc dọc theo theo quốc lộ 91C qua cầu Cồn Tiên là đến Ngoài ra từ Hồng Ngự có thể dọc theo tỉnh lộ 841 sau đó qua phà Tân Châu – Hồng Ngự là có thể đến được làng Chăm (Hình 2.01)
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
Các yếu tố khí tượng ảnh hưởng đến AG hiện nay: [26]
o Mây: ở AG là khu vực có lượng mây tương đối ít Vào mùa khô, trời có mây nhưng vẫn nắng Khi đến mùa mưa thì lượng mây thường nhiều hơn
Trang 38Lượng mây trung bình tháng của những tháng mùa khô thường là 3,1/10 và vào những tháng mùa mưa là 6,9/10N
o Nắng: mùa nắng ở AG rất chói chang, là khu vực có giờ nắng lớn của cả nước Vào mùa khô lượng nắng bình quân lên tới 10 giờ nắng/ngày, vào mùa mưa thì số giờ nắng ít hơn nhưng vẫn cao hơn so với các khu vực khác
o Nhiệt độ: AG có nhiệt độ trung bình cao và rất ổn định Nhiệt độ chênh lệch giữa các tháng trong mùa khô chỉ hơn kém nhau khoảng 1,5° đến 3°; đối với các tháng mùa mưa chỉ vào khoảng trên dưới 1° Trong năm nhiệt độ cao nhất thường vào tháng 4 và dao động trong khoảng từ 36°- 38°, nhiệt
độ thấp nhất trong năm thường vào tháng 10 dưới 18°
o Gió: AG, mùa khô gió thịnh hành là Đông Bắc, còn mùa mưa là gió Tây Nam – gió Tây Nam là gió có tần suất xuất hiện lớn nhất Tốc độ gió ở đây tương đối mạnh, trung bình đạt tới trên 3m/giây Trong năm, tốc độ gió mùa
hè lớn hơn mùa Đông AG là tỉnh nằm sâu trong đất liền Nam Bộ nên ít chịu ảnh hưởng gió bão
o Mưa: mùa mưa ở AG thường bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 11 Tổng lượng mưa chiếm 90% tổng lượng mưa năm Lượng mưa lớn lại trùng vào mùa nước lũ của sông Mê Kông tràn về khu vực hạ lưu nên gây ra tình trạng ngập lụt, gây ảnh hưởng nghiệm trọng đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân nơi đây
o Bốc hơi: vào mùa khô do số giờ nắng nhiều, nên độ ẩm không khí thấp làm cho lượng bốc hơi lớn, bình quân khoảng 110mm/tháng (tuy nhiên vào tháng 3 lượng bốc hơi lên tới 160mm) Đến mùa mưa, thì lượng bốc hơi thấp hơn, bình quân khoảng 85mm/tháng, nhỏ nhất là khoảng 52mm/tháng,
Trang 39thường xuất hiện vào tháng 9 hoặc tháng 10, là thời gian có mưa nhiều và
độ ẩm cao
o Độ ẩm: mùa có độ ẩm thấp ở AG thường bắt đầu từ tháng 12 và kéo dài đến tháng 4 của năm sau Thường tại đây độ ẩm thấp trùng vào mùa khô Mùa khô độ ẩm ở giai đoạn đầu là 82 %, giữa 78%, và giai đoạn cuối là 72% Đối với mùa mưa thì độ ẩm trung bình đều là 84%, ngoài ra có những tháng lên tới 90%
2.1.3 Điều kiện văn hóa – kinh tế - xã hội nhân văn
Tôn giáo, tín ngưỡng (Hình 2.02)
Đa phần tại Việt Nam, tất cả cộng đồng người Chăm đều theo đạo Hồi Khi người Chăm vào định cư ở AG, người Chăm nơi này thường xuyên được tiếp xúc với các tín đồ của Hồi giáo chính thống từ Indonesia và Malaysia Do đó người Chăm
ở AG có sự khác biệt so với người Chăm sinh sống ở khu vực Ninh Thuận và Bình Thuận [12]
Do theo Hồi giáo chính thống nên sinh hoạt tôn giáo của người Chăm rất giống sinh hoạt tôn giáo của các nước theo đạo hồi trên thế giới Giáo luật của người Chăm rất chặt chẽ tuy nhiên ở một số điều luật thì người Chăm có cải biến để phù hợp với đặc điểm của khu vực và sự phát triển của thời đại
Những người Chăm ở AG tất cả đều là tín đồ hồi giáo, các tín đồ nơi đây không
tổ chức các nghi lễ dân gian và phong tục thờ cúng tổ tiên như của người Kinh mà chỉ tin tưởng vào đấng tối cao là thánh Alla
Khác với người Kinh, sinh hoạt hằng ngày của người CCG gắn bó với đức tin tôn thờ Allah Mỗi ngày người CCG cầu nguyện 5 lần, thời gian cầu nguyện được quy
Trang 40định rất cụ thể như: bắt đầu vào lúc khi trời vừa rạng sáng, trưa ngọ, xế chiều, chạng vạng và trở về khuya Mỗi lần cầu nguyện tất cả mọi người đều phải đến thánh đường để làm lễ [12], [29]
Người Chăm rất tin tưởng vào sự hiện hữu của thế giới vô hình, trong có có sự hiện hữu ma và quỷ nhưng có thể chế ngự được chúng bằng bùa ngãi Ở AG người Chăm rất tin vào sự xuất hiện của Ma Lai, khi xuất hiện chúng sẽ nhập vào các trẻ
em, con gái và đàn bà để hành xác Tương tự đối với đàn ông cũng như thế tuy nhiên đối với đàn ông thì được gọi là Th’mum Để chống lại Ma Lai hầu hết sàn nước của nhà người Chăm thường bỏ những cành cây khô có gai hoặc miểng chai Đám tang của người Chăm rất đơn giản, gia đình giàu hay nghèo cũng được chôn cất như nhau, những người chết không được mặc quần áo mà chỉ quấn vải trắng quanh người ba lần rồi đem đi chôn Mồ chôn người chết của người Chăm khác hẳn với người Kinh và các dân tộc khác, chiều sâu thường cao khỏi đầu người và đầu quay về hướng Tây, hướng về thánh địa Mecca Người Chăm đưa tang không
có trống, kèn cùng những tiếng khóc than của người thân Người đưa tang cứ lặng
lẽ bước đi tuy nhiên thỉnh thoảng có dừng lại và người chết được chôn cất trong nghĩa địa của các thánh đường [12]
Khác hẳn với tập tục của người Kinh, người Chăm không làm bàn thờ để thờ cúng người chết trong nhà, đặc biệt người chết ở địa phương nào thì sẽ được chôn cất ở địa phương đó không được chuyển đi nơi khác Tuy không có bàn thờ thờ cúng tổ tiên trong nhà, người Chăm vẫn thực hiện việc cúng cho người chết nhưng thường được làm rất đơn giản và được diễn ra tại các thánh đường
Lễ hội [12], [28]