1. Trang chủ
  2. » Biểu Mẫu - Văn Bản

Quyền rút khỏi hợp đồng của người tiêu dùng trong thương mại điện tử

4 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 358,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đê’ khắc phục những rủi ronày, pháp luật các nước cóđề ra quy định về quyền rút khỏi hợp đồng nhằm giảm thiểu nguycơ cho người tiêudùng, tăng cường niềm tincho ngườitiêu dùng tham gia và

Trang 1

TẠP CHÍ CONG THiifNG

• NGUYỀN NGỌC QUYÊN

TÓM TẮT:

Thương mạiđiệntử đã phát triển bùngnổ trong vầi nămgầnđâytại Việt Nam, số lượng người tiêu dùng tham giavào hình thứcgiaodịch thương mạithông qua các phương tiện điện

tử,đặc biệt là thông quainternet ngày càng đông đảo Tuy nhiên,đây là hình thức giao dịch

đặc biệt khi người tiêu dùng khôngtrực tiếp trao đổivổi người bánvà thẩm định hànghóa,

dịch vụ mình muốn mua, mà chủ yếu dựa vào các thôngtin có trên mạng đểquyết địnhlựa chọnsản phẩm Do đó, hình thứcgiaodịchnày tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây thiệthại chongười

tiêu dùng Bài viết này khái quát quyền rút khỏi hợpđồng, một trong những quyền đặc trưng

nhất của người tiêu dùng khi thamgia thương mạiđiện tửtheo quy định pháp luậtViệt Nam nhằm góp phần bảođảm quyềnlợi và tăng niềm tin của người tiêudùng khi thực hiện các giao dịchđiệntử

Từ khóa: Người tiêu dùng, bảovệ người tiêudùng,quyền của người tiêu dùng,quyền rút

khỏi hợp đồng, quyềnđơn phươngchấm dứt hợp đồng, thươngmạiđiệntử,giao dịch điệntử

1, Đặt vấn đề

Quyền của người tiêu dùng là một nội dung

quan trọng của pháp luật bảo vệ quyền lợi người

tiêu dùng nói chung và bảo vệ người tiêu dùng

trongthương mại điệntử nóiriêng Khi ngườitiêu

dùng giao kết hợp đồng thông qua cácphươngtiện

điện tử như điện thoại, internet, họ có thể phải

đôi mặt vớirất nhiều rủi ro như mua hàng không

đảm bảo chất lượng, không đượcgiaohàng, để lộ

thôngtincá nhân Đê’ khắc phục những rủi ronày,

pháp luật các nước cóđề ra quy định về quyền rút

khỏi hợp đồng nhằm giảm thiểu nguycơ cho người

tiêudùng, tăng cường niềm tincho ngườitiêu dùng

tham gia vào thương mại điện tử Có như vậy, thương mại điện tử tại Việt Nam mới phát triển

đúng vớitiềm lực của mình

2 Khái niệm quyền rút khỏi hựp đồng của người tiêu dùng trong thương mạỉ điện tử

Quyền rút khỏi hợp đồng hay quyền đơn phươngchâm dứt hợpđồnglà một kháiniệm mới được đề cập trong pháp luật hợp đồng,chủ yếu

nhằm để bảovệ quyền lợi của người tiêu dùng khi giao kết hợp đồng điện tử vơi thươngnhân Quyền này được hiểu là biện pháp để bảo vệ

40 SỐ25-Tháng 10/2020

Trang 2

người tiêu dùng khỏi các quyết định vội vàng,

trong một thời gian tương đôi ngắn, người tiêu

dùng có quyền xem xét lại quyết định giao kết

hợp đồng của mình1

Quyền hủy bỏ hợp đồng, cũng có thể đượcgọi

là quyền “rút tiền” hoặc thời gian xem xét

(cooling-off period) được pháp luật các nước mô

tả đơn giản là khả năng ngườitiêu dùngnghĩ lại

về việc mua hàng,chấm dứt hợp đồng mà không

phải chịutrách nhiệmpháp ỉý và nhậnlại tiềncủa

họtrong khi khôngcần phải ra tòahoặc thậm chí

đưara lý do Hơn nữa, một trong những tính năng

quan trọngnhát của quyền hủy bỏ hợp đồng là cho

phép người tiêudùngđược rút lại tiền mà không

cần phảithựchiệncác khiếu kiện tòa ántốn kém,

phức tạp hoặc kéo dài Theo úy ban châu Âu:

Giai đoạn xem xét (cooling-off period) là một trụ

cột cơ bản của bảo vệ người tiêu dùng, cung cấp

thời gian để người tiêu dùng xem xét lợi việc mua

hàng trực tuyến hoặc mua hàng tại nhà, nơi họ có

thể không đánh giá đầy đủ những gì họ đã mua

hoặc cảm thấy áp lực khi mua hàng Do đó, thời

gian xem xét cung cấp một cơ hội quan trọng cho

người tiêu dùng để cải thiện quyết định của họ nêu

họ thay đổi quyết định hoặc xác định được một ưu

đãi tô t hơn nữa2.

Tóm lại, quyền rút khỏi hợp đồng của người

tiêu dùng trong thương mại điện tửlà khi người

tiêu dùng giao kết hợp đồng thông qua phương

tiện điệntử có một thời hạnnhất định để xem xét

lại hợp đồng và quyết định châm dứt hợp đồng,

lấy lại tiền mà không phảichịu trách nhiệm pháp

lý hay đưara lý do nàocho quyết định của mình

3» Quy định pháp luật về tjuycn rút khỏi hựp

đồng của người tiêu dùng trong thương mại

điện tử

Người tiêudùng do yếuthếvề thông tin, đặc

biệt trong giao dịch điện tử, người tiêu dùng

không có cơ hội tiếp xúc trực tiếpvới sản phẩm,

hoàn toàn dựatrên sự tin tưởng về nhữngthông

tin mà tổ chức, cá nhân kinh doanh cungcấp

Chính vì lý do này mà đẩ có những trường hợp

ngườitiêudùng nhận được sảnphẩm khác xa so

với nhữngthôngtinquảngcáotừphía tổ chức,cá

nhân kinhdoanh.Để bâo vệ lợi íchhợp pháp của

người tiêudùng trong trường hợp này Nghị định

số99/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướngdẫn

thi hành một sốđiều của LuậtBảo vệ quyềnlợi

người tiêudùng, trong đó quy đinh về quyềnđơn phươngchâm dứt hợp đồng củangườitiêudùng

tại điều 17: “trừ trường hợp các bên có thỏa thuận

khác, trong trường hợp tổ chức, cá nhân kinh

doanh cung cấp không đúng, không đầy đủ thông

tin quy định tại khoản ỉ điều này thỉ trong thời hạn

mười (10) ngày kể từ ngày giao kết hợp đồng người tiều dùng có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng đã giao kết và thông báo cho tổ chức, cá nhân kinh doanh Người tiêu dùng không phải trả bất kỳ chi phí nào liên quan đến việc

chấm dứt đó và chỉ phải trả chì phí đối với phần hàng hóa, dịch vụ đã sử dụng". Vậy, khi tổ chức,

cá nhân kinh doanh khôngcungcâp hoặc cung

câp khôngđúng các thông tin được quyđịnh tại

khoản 1 điều 17như các thông tin về chất lượng, tính năng, công dụng, giá cả của sản phẩm thì người tiêu dùngđược quyền châm dứt hợp đồng

mà khôngchịu bất kỳ hậuquả pháp lý nào Tuy

nhiên, thời hạn được phép đơn phương chấmdứt

hợp đồng là 10 ngày kể từ ngày giao kết hợp

đồng sẽgâykhó khăn cho người tiêu dùng,vì thời

điểm giao kết hợp đồng theo Điều 400 Bộ luật

Dân sự 2015 là thời điểmbênđề nghị nhận được châp nhận giao kết Và cụ thể nếu người tiêu

dùng đặt mua hàng trựctuyến trên website điện

tử thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm

người tiêu dùng nhận được trả lời của thương nhân châp nhận đề nghị giao kết hợp đồng3, giả

sử người tiêu dùng được nhận hàng sau 15 ngày

kể từ thờiđiểm giao kết hợp đồng Đồngthờikhi

đó mới phát hiện ra hàng hóa không đúng như thông tin của thương nhân cung cấp cũngkhông

thể vận dụngđượcquyền đơn phương châm dứt hỢp đồng nữa

Bên cạnhđó, để thựchiện quyềnđơn phương châm dứt hợp đồng theo quy định trên, ngườitiêu

dùng cũng sẽ phải chứng minh những thông tin

mà thương nhân cung câp là khổng đúng hoặc

không đủ như yêu cầu tại khoản 1 điều 17 (các

thông tin về tổ chức, cá nhân kinh doanh; phương thứcgiaohàng;chấtlượnghànghóa,dịch vụ; ) Điều này gây khó khăn cho người tiêu dùng, vì

cácthôngtin được cung câpthông qua website,

ở nhiều mục khác nhau vàcó thểthường xuyên thay đổi, nếu ngườitiêu dùng không lưutrữ lại

SỐ25-Tháng 10/2020 41

Trang 3

TẠP CHÍ CÔNG ĨHƯÒNG

những thông tin này khi giao kết hợp đồng để có

thể làm bằngchứng chứng minhchoyêu cầu đơn

phương châm đứt hợp đồng của mình là hợp

pháp, do đó sẽ khó thực hiện được quyền này

trênthực tê

Phápluật EU quyđịnh thời hạn để ngườitiêu

dùng đơn phương chấm dứt hợp đồng điện tử là

14 ngày kể từkhinhận được hànghóa mà không

cần đưa ra lý docho việc đơn phương chấm dứt

hợpđồng4.Bộ luật Dân sự Đức quyđịnhthời hạn

này là 2tuần kể từ khi người tiêu dùng nhận được

hàng hóa5 Quy định thời hạn cho quyền đơn

phương châm dứthợpđồng của người tiêu dùng

kể từngàynhận hàng hóa sẽ đảmbảo cho người

tiêu dùng đủthời gianđể thực sựnhận biết đúng

đắn về hànghóa,dịch vụ mà mình đâ mualiệucó

giống với thông tin thương nhâncung cấp Theo

đó, người tiêu dùng có thể quyếtđịnh có thực

hiện quyền đơn phương châmdứt hợp đồng hay

không mà không cần phảicó lý do Việc quy định

nhưtrên giúp người tiêu dùng trong giao dịch

điện tử được bảo vệ một cách cụ thể và triệt để

nhâì Điểmkhác biệt lổn nhát của quyền đơn

phương châm dứt hợp đồng của người tiêu dùng

theo pháp luậtViệt Nam và pháp luật châu Âu

chính là đòi hỏi cần phải cólí do cho sự hủy bỏ

hợpđong Việc đòihỏi người tiêu dùng phải có lí

do cho sự trả lại hàng hóa,dịch vụ theopháp luật

Việt Nam, gây khó khăn cho người tiêu dùng,

nhưng đồng thời cũngsẽ hạn chế tình trạng người

tiêu dùng lợidụngquyền này để trả lại sản phẩm

vô căn cứ, gây thiệthại cho thương nhân Tuy

nhiên, trên quan điểm bảo vệ quyền lợi người

tiêu dùng, tăng cường niềm tin của người tiêu dùng vào thương mại điện tử và trên thực tếtình

trạngngười tiêu dùng bịlừa dốìtrênthương mại điện tử, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng cần

xem xét lại quy định này để bảo đảm quyền người tiêu dùng cũng như thúc đẩy sựpháttriển của thươngmại điện tử

4 Kết luận

Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ quyền lợi người

tiêu dùng năm 2010 đã cónhững quy định sơkhai

về quyền rút khỏi hợpđồng nhưng hiệu quả thực

thi chưa được thể hiện rõ ràng Quyềnrút khỏi hợp đồng là một trong những quyền đặc biệt chỉ

xuấthiện khi người tiêudùnggiao kếthợp đồng

thông qua các phương tiện điện tử hoặc giao kết hợpđồng từ xa Vậynên, đểthươngmại điện tử phát triển hơn nữa, cần phải có các quy địnhcụ thể về quyền này Điều đó thể hiện trướchếtỏ

cácchính sách bảo vệ quyền lợi ngườitiêu dùng

của Nhà nước, các hoạt động chăm sóckhách

hàngcủa các doanh nghiệp vàở chính nhận thức của ngườitiêu dùng về các quyền của mình Đó

là những điều mà trong những năm tới chúngta

cần phái phát huy để tăng cường niềm tin của

ngườitiêu dùng vào thương mại điệntử ■

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:

1 Marco Loos (2009), “Right of Withdrawal" in Geraint Howells, Reiner Schulze (eds), “Modernizing and

HarmonizingConsumerContract Law"(1st edition) Sellier Munich

2 European Commission (2011), “Commission Staff Working Paper: Consumer Empowerment in theEU”, tr.469

■’ Điều 21 Nghị định sô'52/2013/NĐ-CP củaChính phủ về Thương mạiđiện tử

4 Điều 9 Chỉ thị 2011/83/EUcủaLiên minh Châu Âu vềQuyền của ngườitiêudùng

5 Điều 312dBộluật Dân sựĐức

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 Quốchội (2015).Bộ luật Dân sựsố9ỉ/2015/QHỈ3.

2 Quốchội (2010).Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số59/2OỈ0/QHỈ2.

42 Số25-Tháng 10/2020

Trang 4

3 Quốchội (2005) Luật Giao dịch điện tử số5Ỉ/2005/QHỈ1.

4 Quốchội (2006).Luật Cóng nghệ thông tin SỐ67/2006/QHỈ ỉ.

5 LiênHợpQuốc (1985),Hướng dẫn cùa Liên Hợp Quốc về bảo vệ người tiêu dùng(UNGCP) năm 1985.

6 Liên Hợp Quốc (2015),Hướng dẫn sửa đổi của Liên Hợp Quốc về bào vệ người tiêu dùng (UNGCP) năm 20Ỉ5.

7 OECD(1999),“ Bân hướng dẫn về Bảo vệ Người tiêu dùng trong Bối cánh thương mại điện tử".

8 Liên minh Châu Âu (2011), Chì thị 20 ỉ Ỉ/83/EU về Quyền của người tiêu dùng.

9 EuropeanCommission.(2011).Commission Staff Working Paper: Consumer Empowerment in the EU. Brussels: European Commission

10 Geraint Howells Reiner Schulze (2009) Modernizing and Harmonizing Consumer Contract Law" (1st edition) Munich: Sellier

Ngày nhận bài: 9/9/2020

Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 19/9/2020

Ngày chấp nhận đăng bài: 29/9/2020

Thông tin tác giả:

ThS NGUYEN NGỌC QUYÊN

Gỉảng viên Khoa Pháp luật kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

THE RIGHT OF WITHDRAWAL OF CONSUMERS WHEN TAKING PART IN ONLINE TRANSACTIONS

• Master NGUYEN NGOC QU YEN

Lecturer, Faculty of Economic Law,

Hanoi Law University

ABSTRACT:

E-commerce sector in Vietnam has experienced a rapid growth in recent years with a

significant increa >e in the number ofconsumers participating in commercial transactions via

electronic metho is, especially on the Internet Online transactions are a special form of

transaction when buyersdo not directly meetsellers andthe evaluation of buyersaboutgoodsor

services relies oninformation available on the Internet As a result, consumers are exposed to many risks wheti taking part in this form of transaction This paper presents tthe right of

withdrawal when consumers participate in online ưansactions in accordance with Vietnam’s currentlaws in orỉer to ensure the interests and increasetheconfidenceofconsumers in online

ttansactions

Keywords: c msumer, consumerprotection, consumer rights,right of withdrawal,right to unilaterally termi late a contract, e-commerce, e-transaction

SỐ 25-Tháng 10/2020 43

Ngày đăng: 31/10/2022, 10:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w