1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát sự ảnh hưởng của nguồn dinh dưỡng và đất phủ đến sự phát triển của nấm thái dương (agaricus subrufescens)

70 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 3,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

iii 3.2 Sự ảnh hưởng của một số loại đất phủ đến sự hình thành và phát triển quả thể nấm Thái dương ..... Do đó, nghiên cứu này tập trung khảo sát sự ảnh hưởng của các nguổn dinh dưỡng v

Trang 1

BAN QUẢN LÝ KHU NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO TP.HCM

TRUNG TÂM ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆPNÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO

BÁO CÁO NGHIỆM THU NHIỆM VỤ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ

KHẢO SÁT SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NGUỒN DINH DƯỠNG VÀ ĐẤT PHỦ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NẤM THÁI DƯƠNG

(Agaricus subrufescens)

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÁNG 01/2021

Trang 2

BAN QUẢN LÝ KHU NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO TP.HCM

TRUNG TÂM ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆPNÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO

BÁO CÁO NGHIỆM THU NHIỆM VỤ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ

KHẢO SÁT SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NGUỒN DINH DƯỠNG VÀ ĐẤT PHỦ ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NẤM THÁI DƯƠNG

(Agaricus subrufescens)

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÁNG 01/2021

CHỦ NHIỆM

Huỳnh Thị Thanh Nhàn

CƠ QUAN CHỦ TRÌ PHÓ GIÁM ĐỐC

Trang 3

i

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC BẢNG iv

DANH MỤC HÌNH v

TÓM TẮT vi

THÔNG TIN CHUNG vii

1 Tên nhiệm vụ vii

2 Nội dung vii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tổng quan về nấm Thái dương 3

1.1.1 Tên và phân loại khoa học 3

1.1.2 Đặc điểm hình thái cấu tạo của nấm Thái dương 4

1.1.3 Đặc điểm phân bố 6

1.1.4 Đặc điểm sinh thái 6

1.1.5 Giá trị dinh dưỡng và dược liệu của nấm Thái dương 7

1.1.5.1 Giá trị dinh dưỡng 8

1.1.5.2 Giá trị dược liệu 9

1.2 Nguồn dinh dưỡng và đất phủ khảo sát 12

1.3 Tổng quan về nuôi trồng nấm Thái dương 15

1.3.1 Sản xuất meo giống nấm Thái dương 15

1.3.2 Xử lý nguyên liệu 15

Trang 4

ii

1.3.3 Cấy meo giống và ủ tơ nấm 17

1.3.4 Lớp phủ bề mặt cho ra nấm 18

1.3.5 Chăm sóc, thu hái và bảo quản 18

1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 19

Chương II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Nội dung nghiên cứu 21

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

2.3 Vật liệu nghiên cứu 21

2.3.1 Nguồn giống 21

2.3.2 Dụng cụ, hóa chất, thiết bị 21

2.4 Phương pháp nghiên cứu 23

2.4.1 Nội dung 1: Khảo sát sự ảnh hưởng của nguồn dinh dưỡng đến sự phát triển của nấm Thái dương 23

2.4.2 Nội dung 2: Khảo sát sự ảnh hưởng của một số loại đất phủ đến sự hình thành quả thể nấm Thái dương 30

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 31

Chương III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Sự ảnh hưởng của nguồn dinh dưỡng đến sự phát triển của nấm Thái dương 32

3.1.1 Sự ảnh hưởng của thành phần dinh dưỡng đến tỷ lệ phôi nhiễm và thời gian đầy tơ 32

3.1.2 Sự ảnh hưởng của thành phần dinh dưỡng đến thời gian hình thành mầm quả thể 34

3.1.3 Sự ảnh hưởng của thành phần dinh dưỡng đến năng suất nuôi trồng 36

Trang 5

iii

3.2 Sự ảnh hưởng của một số loại đất phủ đến sự hình thành và phát triển quả

thể nấm Thái dương 37

3.3 Sản phẩm của nhiệm vụ 42

3.4 Giá thành dự kiến……… 43

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

PHỤ LỤC 49

Trang 6

iv

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng của nấm Thái dương trong 100g nấm khô 8

Bảng 1.2 Polysaccharide A.subrufescens chống tế bào ung thư dòng Sarcoma 180 9 Bảng 1.3 Thành phần cơ bản của cám gạo 12

Bảng 1.4 Hàm lượng dinh dưỡng của phân trùn quế Sfarm Pb01 12

Bảng 1.5 Thành phần cơ bản của phân bò 13

Bảng 1.6 Thành phần cơ bản của phân gà Vina Tap 13

Bảng 1.7 Thành phần cơ bản của than bùn Sáng Nghiệp 14

Bảng 1.8 Thành phần cơ bản của đất Tribat 14

Bảng 1.9 Thành phần các chất có trong mùn cưa……….14

Bảng 3.1 Tỷ lệ phôi nhiễm và thời gian đầy tơ trên các môi trường dinh dưỡng khác nhau 32

Bảng 3.2 Thời gian hình thành mầm quả thể (ngày) ở các môi trường dinh dưỡng khác nhau 34

Bảng 3.3 Năng suất (g/bịch) nuôi trồng nấm Thái dương ở các môi trường dinh dưỡng khác nhau 36

Bảng 3.4 Thời gian hình thành mầm quả thể (ngày) ở các môi trường dinh dưỡng và cơ chất phủ khác nhau 39

Bảng 3.5 Năng suất (g/bịch) nuôi trồng ở các môi trường dinh dưỡng và cơ chất phủ khác nhau 39

Bảng 3.6 Chi phí sản xuất 1000 phôi nấm Thái dương……… 43

Trang 7

v

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Quả thể nấm Thái dương 4

Hình 1.2 Các giai đoạn phát triển của quả thể 5

Hình 1.3 Đặc điểm hình thái nấm Thái dương 5

Hình 2.1 Đo pH của mùn cưa bằng giấy quỳ tím 24

Hình 2.2 Tơ nấm Thái dương trên môi trường nhân giống cấp 1 25

Hình 2.3 Meo giống sản xuất 25

Hình 2.4 Hoạt động đóng phôi nấm Thái dương 26

Hình 2.5 Phôi nấm Thái dương được để trên kệ 26

Hình 2.6 Kệ phôi được đưa vào nồi hấp khử trùng 27

Hình 2.7 Phôi nấm Thái dương trong nhà ủ phôi 28

Hình 2.8 Phôi nấm Thái dương 28

Hình 2.9 Phôi nấm sau khi phủ đất 28

Hình 2.10 Quả thể nấm Thái dươnng 29

Hình 2.11 Thu hoạch nấm Thái dương 29

Hình 2.12 Quả thể nấm Thái dươnng 30

Hình 3.1 Sự hình thành mầm quả thể ở các môi trường dinh dưỡng khác nhau 35

Hình 3.2 Quả thể nấm Thái dương trên các môi trường dinh dưỡng khác nhau 37

Hình 3.3 Hình thái lớp đất phủ sau 10 ngày phủ đất 38

Hình 3.4 Mầm quả thể nấm Thái dương trên các cơ chất phủ khác nhau 40

Hình 3.5 Quả thể nấm Thái dương trên các cơ chất phủ khác nhau 41

Trang 8

vi

TÓM TẮT

Nấm Thái dương có tên khoa học là Agaricus subrufescens Đây là một trong

số ít những loài nấm ăn ngon và có giá trị dược liệu cao; Có hiệu quả phòng ung thư đến 99% và hiệu quả điều trị đạt 90% Tuy có giá trị dược liệu và kinh tế cao, nhưng nấm Thái dương vẫn chưa được nuôi trồng phổ biến ở nước ta

Hiệu quả nuôi trồng nấm Thái dương phụ thuộc lớn vào môi trường dinh dưỡng nuôi trồng và cơ chất phủ Do đó, nghiên cứu này tập trung khảo sát sự ảnh hưởng của các nguổn dinh dưỡng và cơ chất phủ đến sự phát triển của nấm Thái dương Đối với yếu tố nguồn dinh dưỡng (nội dung 1), 4 nguồn dinh dưỡng: cám gạo (5%, 10%), cám bắp (10% 20%, 30%), phân gà (15%, 30%) và phân bò (15%, 30%) đã được khảo sát

ở các nồng độ khác nhau Thí nghiệm này được bố trí 11 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được tiến hành trên 50 bịch phôi với 3 lần lặp lại Kết quả nghiên cứu cho thấy, ba công thức dinh dưỡng bổ sung 10% cám gạo, 15% phân bò, 15% phân gà thích hợp cho nuôi trồng nấm Thái dương và được chọn để tiếp tục khảo sát yếu tố cơ chất phủ ở nội dung

2 Thí nghiệm ở nội dung 2 được được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên 2 yếu tố bao gồm yếu tố 1: công thức dinh dưỡng (3 công thức) và yếu tố 2: đất phủ (5 loại đất phủ: không phủ đất , đất canh tác, phân trùn quế, than bùn, đất sạch trồng cây), mỗi nghiệm thức được tiến hành trên 250 bịch với 3 lần lặp lại Kết quả nghiên cứu cho thấy,

cơ chất phủ thích hợp cho nuôi trồng nấm Thái dương là than bùn

Như vậy, môi trường dinh dưỡng nuôi trồng thích hợp cho nấm Thái dương bao gồm: mùn cưa + CaSO4 1% + CaCO3 1% + ure 5‰ + super lân 1% + 1% vôi và 1 trong 3 thành phần: 10% cám gạo, 15% phân bò hoặc 15% phân gà Khi kết hợp cơ chất phủ than bùn và 1 trong 3 công thức dinh dưỡng trên, thời gian hình thành quả thể tương ứng là: 23,2 ngày, 22,4 ngày, 22,9 ngày; Năng suất thu được tương ứng là: 42,4 g/bịch, 41,8 g/bịch, 42,6 g/bịch

Trang 9

vii

THÔNG TIN CHUNG

1 Tên nhiệm vụ: Khảo sát sự ảnh hưởng của nguồn dinh dưỡng và đất phủ đến sự

phát triển của nấm Thái dương (Agaricus subrufescens)

Chủ nhiệm nhiệm vụ: Huỳnh Thị Thanh Nhàn

Năm sinh: 1994 Nam/Nữ: Nữ

Học vị: Kỹ sư Chuyên ngành: Công nghệ Sinh học Năm đạt học vị: 2016 Chức vụ: Chuyên viên

Tên cơ quan công tác: Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao Địa chỉ cơ quan: Ấp 1, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, Tp.HCM

Điện thoại cơ quan: 028 62646103 Fax: 028 62646104 Địa chỉ nhà riêng: 139/43 Bờ Bao Tân Thắng, phường Sơn Kỳ, quận Tân Phú TP

Hồ Chí Minh

Điện thoại: 098 1010 438

Email: huynhthithanhnhan09@gmail.com

Cơ quan chủ trì:

Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao

Điện thoại: 08.62646103 Fax: 08.62646104

E-mail: info@abi.com.vn Website: www.abi.com.vn

Địa chỉ: ấp 1, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, Tp HCM

Thời gian thực hiện: 1/2020 – 12/2020

Kinh phí được duyệt: 143.281.600 đồng

2 Nội dung

Nội dung 1: Khảo sát sự ảnh hưởng của nguồn dinh dưỡng đến sự phát triển của nấm Thái dương

Trang 11

1

PHẦN MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết

Ngày nay, con người sống trong môi trường ô nhiễm cùng với chế độ ăn uống,

sử dụng các sản phẩm gây nguy hại cho sức khỏe đã dẫn đến các căn bệnh nguy hiểm như ung thư, đái tháo đường, viêm gan… Trong đó, ung thư là căn bệnh đáng sợ nhất, tỷ lệ bệnh nhân ung thư trên thế giới hiện nay khá phổ biến kể cả những nước nghèo và những nước đang phát triển Các phương pháp điều trị ung thư hiện nay vẫn còn để lại những tác dụng phụ rất nguy hiểm đối với người bệnh, đặc biệt là làm suy giảm hệ miễn dịch, buồn nôn, chán ăn, rụng tóc

Hiện nay, nhiều loài nấm dược liệu đã được nghiên cứu với nhiều báo cáo được công bố cho thấy chúng có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch, chống ung thư, chống oxy hóa, kháng vi khuẩn, sửa chữa các cấu trúc sai hỏng trong tế bào, trung hòa chất độc Nhiều nghiên cứu ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ và Nga đã chứng

minh lợi ích của việc bổ sung sinh khối nấm của các loài Cordyceps sinensis, Agaricus blazei, Grifola frondosa, Ganoderma lucidum, Lentinula edodes, Pleurotus ostreatus, Schizophyllum và Trametes versolor trong phòng ngừa và điều trị các rối

loạn ở người (Hobbs, 1995)

Mặc dù có rất nhiều loại nấm có tác dụng chữa bệnh, nhưng nấm Thái dương

(Agaricus subrufescens) đã nhanh chóng trở thành một trong 3 loại nấm dược liệu

được trồng phổ biến nhất ở Đài Loan (Sandor và cộng sự, 2019) Thái dương là loài nấm có doanh số bán hàng tăng nhanh nhất trong các loại nấm tại Mỹ (Adams, 2008);

Là một trong số ít những loài nấm dược liệu ăn được và ăn ngon Theo truyền thống, loài nấm này được sử dụng để điều trị nhiều bệnh như: xơ vữa động mạch, viêm gan

và ung thu (Ayeka, 2018) Agaricus subrufescens đã được sử dụng như một thực

phẩm để ngăn ngừa ung thư, tiểu đường, tăng lipid máu, xơ cứng động mạch, viêm gan mãn tính và được biết đến như một chất kích thích hệ thống miễn dịch (Takaku,

Trang 12

2

2001) Nhật Bản đứng đầu thế giới về tiêu thụ nấm Thái dương, một trong những loài nấm ăn ngon có giá trị dược liệu đắt tiền Hiện nay nhu cầu trên thế giới vẫn chưa được đáp ứng đủ nên nhiều nước đã chú ý đến việc phát triển loài nấm này

Bên cạnh đó, nước ta có lợi thế là một nước nông nghiệp với nguồn phụ phẩm

đa dạng, phong phú như: mùn cưa, rơm rạ, bã mía, phân bò, phân gà, cám bắp, cám gạo Các nguyên liệu này thường được sử dụng làm cơ chất lên men (compost) Trong

đó, phương thức nuôi trồng trên compost được xác định là thích hợp để nuôi trồng các giống nấm Agaricus (Chang & Miles, 2004; Sanchez, 2004) Khi đó, một trong những khía cạnh quan trọng trong nuôi trồng nấm Thái dương là lựa chọn vật liệu làm lớp phủ và môi trường dinh dưỡng Hai yếu tố này có tác động lớn đến sự hình thành các mầm quả thể nấm và năng suất nuôi trồng (Flegg và cộng sự, 1985) Tuy nhiên, thông tin về các loại đất phủ cũng như môi trường dinh dưỡng phù hợp cho nuôi trồng loại nấm này vẫn còn hạn chế

Do đó, nhiệm vụ: “ Khảo sát sự ảnh hưởng của nguồn dinh dưỡng và đất

phủ đến sự phát triển của nấm Thái dương (Agaricus subrufescens)” được thực

hiện nhằm đánh giá sự phát triển của nấm Thái dương trên một số nguồn dinh dưỡng và đất phủ khác nhau Từ đó xác định nguồn dinh dưỡng và loại đất phủ phù hợp trong nuôi trồng nấm Thái dương

Mục tiêu:

Xác định nguồn dinh dưỡng và loại đất phủ phù hợp trong nuôi trồng nấm Thái dương đạt năng suất cao

Giới hạn nghiên cứu:

Do bị hạn chế về thời gian nên nghiên cứu chỉ xác định nguồn dinh dưỡng và loại đất phủ phù hợp trong nuôi trồng nấm Thái dương mà chưa triển khai nghiên cứu khảo sát về nhiệt độ, ánh sáng và môi trường nhân giống thích hợp trong nuôi trồng nấm Thái dương

Trang 13

3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về nấm Thái dương

1.1.1 Tên và phân loại khoa học

Nấm Thái dương (Agaricus subrufescens) có tên thông dụng là Sun Agaricus hay

Royal Sun Agaricus Nấm được Takatoshi Furumoto phát hiện ở Brasil năm 1960 Năm 1965 ông gửi bào tử nấm về Nhật nghiên cứu và một nhà nấm học người Bỉ là

Heinemann xác định tên khoa học là Agaricus blazei Murrill, cùng loài với Agaricus blazei do nhà khoa học Blazei phát hiện năm 1944 tại bang Florida của Mỹ và do

Ngày nay, nấm Thái dương được xếp vào khóa phân loại như sau :

Trang 14

4

Hình 1.1 Quả thể nấm Thái dương

1.1.2 Đặc điểm hình thái cấu tạo của nấm Thái dương

Quả thể mới hình thành có màu kem hơi vàng đến nâu hồng, mũ nấm có dạng chuông bán cầu về sau dẹt dần lại, đến khi già thì phẳng Khi còn dạng búp, bề ngang tối đa của mũ nấm là 4 cm, tai nấm lớn phình to Lúc nấm đã già, bị xơ hoá và có bào

tử Trên mũ nấm có nhiều vảy rất nhỏ màu nâu sậm Vuốt lớp vảy đi làm lộ lớp thịt màu trắng tương tự cuống nấm

Mặt dưới mũ nấm là các phiến nấm màu nâu Phiến nấm dài, rộng trải ra từ cuống cho tới mép mũ nấm Trên phiến nấm có nhiều đảm bào tử hình elip cân đối, màng khá dày, nhẵn và trong suốt Mép quả thể đôi khi gấp nếp sâu hằn, có bao riêng dày Cuống nấm có đường kính từ 1 cm trở lên, cao 6 - 7 cm, phần gốc cuống phình mập Thân và cuống màu trắng, nhẵn, chắc hay hơi rỗng

Trang 15

5

Hình 1.2 Các giai đoạn phát triển của quả thể (A Nụ nấm B Nấm búp C Nấm nở)

Hình 1.3 Đặc điểm hình thái nấm Thái dương (A) Mặt cắt dọc, (B) Cấu tạo bào

tầng, (C) Cấu tạo màng che bào tầng, (D) Bề mặt của mũ quả thể

Trang 16

6

1.1.3 Đặc điểm phân bố

Theo Ernest nấm do Furumoto gởi về Nhật Bản có hương hạnh nhân rất mạnh

và do đó khó ăn vì mùi vị gắt Nhưng sau khi nhân giống và trồng thì mất đặc điểm này và có hương vị dễ chịu, màu sáng hơn và quả thể lớn hơn

Năm 1975, Uryu trồng thành công trong phòng thí nghiệm Đến năm 1990 bắt đầu trồng ở Nhật Bản Trung Quốc biết đến nấm này từ năm 1992 và đến năm 1994 thì trồng tại miền nam tỉnh Phúc Kiến Hàn Quốc trồng từ 1996, Hoa Kỳ trồng từ năm

1999 và sau đó lan dần đến Thái Lan, Đan Mạch, Hà Lan Như vậy, loài nấm này chỉ mới phát triển gần 20 năm nay

1.1.4 Đặc điểm sinh thái

Cùng với việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng, nấm muốn sinh trưởng tốt phải được nuôi trong điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, pH, ánh sáng phù hợp nhất Sinh trưởng của nấm Thái dương bao gồm hai giai đoạn: giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng

và giai đoạn phát triển hình thành quả thể nấm Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng hình thành các sợi nấm phân nhánh dạng sợi gọi là hệ sợi nấm Sau khi hệ sợi nấm trưởng thành, gặp các điều kiện thuận lợi kích thích sự hình thành của mầm quả thể,

đó là giai đoạn hình thành cơ quan sinh bào tử Sự hình thành mầm quả thể có thể được kích hoạt bởi những cú sốc môi trường như tiếp xúc với ánh sáng, tăng nồng

độ oxy và sốc nhiệt độ (Chang, 2008)

Nhiệt độ

Nấm Thái dương có thể sinh trưởng và phát triển ở nhiệt độ thường Nhiệt độ hệ sợi nấm có thể phát triển nằm trong khoảng 10-370C Do có khoảng nhiệt độ sinh trưởng rộng nên Thái dương có thể trồng được ở nước ta từ miền Bắc đến miền Nam quanh năm Khi rét dưới 100C thì sợi nấm không mọc, dưới 190C sợi nấm sinh trưởng chậm Tại 370C, sợi nấm bị chết khô

Trang 17

7

Độ ẩm

Độ ẩm nguyên liệu nuôi cấy sợi tơ nấm tốt nhất là vào khoảng 58,5% Độ ẩm tương đối thích hợp nhất để phát triển sợi nấm là 60-65%, để sản sinh quả thể là 85-95% Độ ẩm của lớp đất phủ nên là 60-65%

pH

pH thích hợp cho sự phát triển của hệ sợi tơ nấm là 4,5-8,5; nhưng tốt nhất là 6-7 Khi hình thành quả thể, tốt nhất nên duy trì pH vào khoảng 6,5-7,5 và pH của lớp đất phủ nên là 7

Ánh sáng

Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng, ánh sáng dường như có ảnh hưởng không tốt đến sự sinh trưởng của hầu hết các loài nấm Sợi nấm Thái dương phát triển tốt khi không có ánh sáng, và khi hình thành quả thể thì cần một chút ánh sáng tán xạ

Agaricus subrufescens là một loại nấm trồng cần thông khí mạnh cho sự phát triển

hệ sợi tơ nấm và ra thể quả

1.1.5 Giá trị dinh dưỡng và dược liệu của nấm Thái dương

Nấm Thái dương từ xưa đã được người dân Brasil và Peru dùng làm thực phẩm

và dược liệu Từ 1965, loài nấm này mới được bắt đầu nghiên cứu nuôi trồng, sản lượng gia tăng nhanh chủ yếu nhờ có giá trị dinh dưỡng và giá trị dược liệu cao

Trang 18

8

1.1.5.1 Giá trị dinh dưỡng

So với các loại nấm khác, nấm Thái dương có hàm lượng protein cao từ 50% và nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu khác như vitamin B1, B2, D… Protein của

34%-Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng của nấm Thái dương trong 100g nấm khô

( Tổng caronene)

Trang 19

1.1.5.2 Giá trị dược liệu

Tác dụng kháng tế bào ung thư:

Cựu Tổng thống Mỹ Ronald Reagan cũng đã từng điều trị bằng nấm Thái dương

để chiến thắng căn bệnh ung thư da và qua sự kiện đó, hiệu quả dược học của nấm này đã được cả thế giới biết đến Đặc biệt, từ cuối thập niên 80, đầu thập niên 90, các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã phát hiện ra hiệu quả chống ung thư rất cao của các thành tố chiết xuất từ nấm này

Bảng 1.2 Polysaccharide A.subrufescens chống tế bào ung thư dòng Sarcoma 180

Polysaccharide

trích từ nấm

Tỷ lệ kháng khối u (%)

Số chết/Số khảo sát

Liều dùng (tiêm) mg/kg/ngày

Từ 1968, Takashi (Nhật Bản) đã nghiên cứu các chất có hoạt tính sinh học trong

nấm Thái dương, đặc biệt là các polysaccharide có hoạt tính kháng ung thư Năm

Trang 20

10

1995, ông đã báo cáo về khả năng kháng ung thư glycoprotein FIII-2-b từ quả thể Đây là trường hợp đầu tiên của hợp chất kháng ung thư được tìm thấy trong nấm ăn Theo các công trình nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Ung thư Quốc gia Nhật Bản, phối hợp với Viện Đại học Y và Đại học Dược Tokyo, nấm Thái dương có hiệu quả phòng ung thư đến 99% và hiệu quả điều trị đạt 90% với liều 10mg tinh chất/ngày Trong khi các loài nấm khác dùng với liều 30 mg tinh chất/ngày nhưng tác dụng không cao bằng Nấm tỏ ra có hiệu quả cao hơn 80% so với PSK, thuốc tốt nhất dùng trong điều trị ung thư (Hattori, 1997) Từ quả thể nấm trồng và hỗn hợp hệ sợi, các tác giả đã tách phân đoạn được 18 nhóm phân tử polysaccharide và lectin có hoạt lực chống tế bào ung thư dòng Sarcoma 180 và tế bào dòng Ehrlich, các phân đoạn cho hoạt tính mạnh nhất: FA-1-a-a, FA-1-a-b, FA-2-b-b, và FIII-2-b

Chế phẩm polysaccharide của nấm Thái dương được thương mại với ký hiệu AB-P (tách từ thể quả) và AB-FP (tách từ hỗn hợp hệ sợi) Mức ức chế khối u thực nghiệm trên chuột đạt từ 70 - 99%, số chuột chết là từ 0 - 4/10 con và thời gian sống cao hơn (đối chứng chết 100%) (Ito, 1997) Các tác giả Nhật Bản còn chiết ra 4 loại steroid, ergosterol và ergosterol peroxid, cerevisterol và cerebrosid, mà mới đây Hattori và cộng sự (1997) đã chỉ ra rằng chúng có khung cấu tạo lanostan, kiểu

triterpenoid ở nấm Linh chi Ganoderma lucidum Các hoạt chất này có khả nǎng ức

chế mạnh tế bào ung thư dòng HeLa (Mizuno, 1989)

Hỗ trợ hệ miễn dịch tự nhiên:

Trong những năm 2005, 2006 rất nhiều bài báo công bố về khả năng kích thích

hệ miễn dịch và kháng ung thư của nấm Thái dương Năm 2006, Akanuma và công

sự đã tạo dòng và xác định đặc tính của DNA mã hóa cho enzyme polyphenoloxidase

có vai trò phân hủy các hợp chất phenol, là những hợp chất gây độc đối với cơ thể Năm 2007, Ying và cộng sự nghiên cứu tác động của nấm Thái dương đối với hệ miễn dịch trên chuột và người tình nguyện Đối với chuột, cho thấy gia tăng các đáp ứng miễn dịch tự nhiên: kháng khối u, tăng lượng bạch cầu, giải độc gan và giảm shock

Trang 21

11

nội độc tố ở chuột, còn đối với người, tỉ lệ mỡ trong cơ thể và trong nội tạng, hàm lượng đường huyết đều giảm mặt khác hoạt động của tế bào diệt tự nhiên lại gia tăng Nấm Thái dương chứa 3 loại β-glucan khác nhau với hàm lượng rất cao, hơn cả nấm Linh Chi, như: β-(1-3)-D-glucan, β-(1-4)-a-D-glucan và β-(1-6)-D-glucan Đây

là các polysaccharide có vai trò kích thích và hỗ trợ đáp ứng của hệ miễn dịch tự nhiên nên được sử dụng rất nhiều trong việc điều trị ung thư tại Nhật Bản, California

và nhiều nơi trên thế giới

Các polysaccharide này có tác dụng hoạt hoá mạnh mẽ các macrophage trong hệ thống miễn dịch của cơ thể, đồng nghĩa với tăng cường khả năng phòng chống, ngăn chặn các mầm bệnh ngay từ giai đoạn xâm nhập đầu tiên Sự hoạt hoá các macrophage còn làm tăng hàm lượng các cytokin, chịu trách nhiệm xúc tác và điều hoà hàng loạt các phản ứng miễn dịch của cơ thể Bên cạnh đó, các macrophage còn tương tác với các tế bào Lympho T, khởi động các phản ứng miễn dịch đặc hiệu và làm chúng cũng được tăng cường Ngoài ra, nhiều nghiên cứu còn cho thấy các polysaccharide kể trên cũng có tác dụng ức chế sự phát triển không bình thường của tế bào, đặc biệt là chúng kích thích, làm tăng số lượng các tế bào sát thủ (killer cells) (Nguyễn Lân Dũng, 2003) Các tế bào này có khả năng phát hiện và tiêu diệt các tế bào phát triển không bình thường Nhìn một cách tổng thể, các polysaccharide của nấm Thái dương tăng

cường rất mạnh khả năng miễn dịch của cơ thể

Tác dụng cải thiện sức khỏe:

Nấm Thái dương có tác dụng làm giảm nồng độ đường trong máu, hạ nồng độ cholesterol huyết thanh, cải thiện chức năng tuyến tụy và làm giảm xơ cứng động mạch Vì vậy, nấm là một trong những thực phẩm lý tưởng dành cho những người bị bệnh tim mạch, đái tháo đường và ung thư

Trang 22

12

1.2 Nguồn dinh dưỡng và đất phủ khảo sát

Các nguồn dinh dưỡng được khảo sát: phân bò, phân gà, phân trùn quế, cám gạo

Cám gạo: Thường có dạng bột, mềm và mịn Cám gạo chiếm khoảng 10-12% khối

lượng lúa chưa xây xát Cám là hỗn hợp của lớp của ngoài của hạt gạo và lớp aloron Những thành phần được thu hồi khi xay xát và chế biến gạo được gọi chung là cám

Bảng 1.3 Thành phần cơ bản của cám gạo

Phân trùn quế: Phân trùn là loại phân hữu cơ, được tạo thành từ phân trùn nguyên

chất, là loại phân thiên nhiên giàu dinh dưỡng cho nấm trồng, chứa hơn 50% chất mùn Sau khi ăn các loại chất thải hữu cơ, trùn quế sẽ cho ra nguồn phân hữu cơ (vermicompost) sạch và đồng nhất Phân trùn có màu nâu sẫm, dạng đất mùn, có lẫn trứng và ấu trùng của trùn quế Phân trùn là loại phân hữu cơ tự nhiên duy nhất hiện nay

có chứa đầy đủ hàm lượng các chất cần thiết cho các loại cây trồng Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phân trùn quế Sfarm Pb01 của Đặng Gia Trang Các chỉ tiêu chất lượng của phân trùn quế được sử dụng được trình bày trong bảng 4

Bảng 1.4 Hàm lượng dinh dưỡng của phân trùn quế Sfarm Pb01

Phân bò: Phân bò của các loại bò nhà thải ra Phân bò được đánh giá là mang lại

nhiều lợi ích và có giá trị kinh tế cao Một số tác dụng của phân bò có thể kể đến là khi ướt có thể dùng làm phân bón cho cây trồng hoặc xử lý để làm phân hữu cơ Phân bò khi phơi khô thành bánh được dùng làm nguyên liệu cho chất đốt Phân bò được sử dụng

Trang 23

Phân gà: Mỗi con gà một năm thải 50 – 60 kg phân tươi Do đó, lượng phân gà ở

các trung tâm, trang trại, xí nghiệp nuôi gà là rất nhiều Gà ăn thức ăn hỗn hợp tinh, tỉ

lệ tiêu hoá khoảng trên 60%, tỉ lệ chưa tiêu hoá còn lại khá lớn, thải ra trong phân Tỉ lệ đạm trong phân gà khô chiếm tới 40% (trong khi đó tỉ lệ đạm trong hạt đậu tương 40 - 45%) Việc chế biến lại phân gà để có nguồn thức ăn bổ sung giàu đạm trong chăn nuôi gia súc mang ý nghĩa quan trọng hoặc làm phân bón cho rau và cây trồng rất tốt Phân

gà được sử dụng trong nghiên cứu này là phân gà Vina Tap của Công ty VinaTap Việt Nam Các chỉ tiêu chất lượng của phân gà được thể hiện ở bảng 6

Bảng 1.6 Thành phần cơ bản của phân gà Vina Tap

Than bùn: Than bùn được hình thành do sự tích tụ và phân huỷ không hoàn

toàn tàn dư thực vật trong điều kiện yếm khí xảy ra liên tục Quá trình này diễn ra tại các vùng trũng ngập nước Các vùng đất ngập nước là những vùng có năng suất sinh học cao, điều kiện phát triển của thực vật rất thuận lợi Tuy nhiên, lớp thổ nhưỡng tại các vùng này luôn trong điều kiện yếm khí; do đó, mặc dù sinh khối các loài cỏ sống trên mặt nước tăng nhanh, nhưng quá trình phân giải xác thực vật lại xảy ra chậm và không đạt tới giai đoạn vô cơ hoá dẫn đến tích luỹ hữu cơ Tiếp theo cỏ là lau, lách, cây bụi, cây thân gỗ thay thế, kết hợp với quá trình kiến tạo địa chất, quá trình bồi tụ, lắng đọng phù sa đã chôn vùi kể cả cây thân gỗ, làm cho hữu cơ tích tụ thành các lớp và tạo thành than bùn Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng than

Trang 24

14

bùn Sáng Nghiệp được cung cấp bởi Công ty TNHH Sáng Nghiệp với các chỉ tiêu chất lượng được thể hiện trong bảng 7

Bảng 1.7 Thành phần cơ bản của than bùn Sáng Nghiệp

Đất sạch trồng cây: Tribat là hỗn hợp đất có nguồn gốc hữu cơ giàu dinh

dưỡng (mụn xơ dừa trộn với đất nuôi trùn đỏ), được bổ sung đầy đủ và cân đối các thành phần khoáng chất đa, vi lượng và giàu vitamin Được xử lý khử trùng theo công nghệ tiên tiến của Australia loại trừ triệt để tuyến trùng và các vi sinh vật gây hại nên không gây tác động xấu đến cây trồng, môi trường, giúp cây trồng phát triển tốt nhất Các chỉ tiêu chất lượng của đất sạch Tribat được thể hiện ở bảng 8

Bảng 1.8 Thành phần cơ bản của đất Tribat

Thành phần các chất Chất hữu cơ Chất mùn K2O P2O5 pH

Đất canh tác: Lớp đất ngay phía dưới lớp thực vật bề mặt, có màu sẫm, giàu

mùn, khoáng và là môi trường sinh trưởng phát triển tốt nhất cho thực vật cùng các vi sinh vật Đất được sử dụng trong nghiên cứu là đất thịt pha sét được lấy từ huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh được phân phối bởi doanh nghiệp Vườn Sân Thượng Đất được kiểm tra pH trước khi sử dụng pH của đất cần đạt là 7 Nếu pH chưa đạt yêu cầu, cần điều chỉnh pH lại bằng nước vôi

Mùn cưa của những loại gỗ mềm và gỗ cứng không có tinh dầu và độc tố như:

Bồ đề, cao su, mít, keo được sử dụng trong nuôi trồng nấm Có nhiều loại mùn cưa nhưng các loại mùn cưa trồng nấm đều bao gồm các thành phần chính sau:

Bảng 1.9 Thành phần các chất có trong mùn cưa (Zuriana và cộng sự, 2016)

Trang 25

15

1.3 Tổng quan về nuôi trồng nấm Thái dương

Trong tự nhiên, nấm Thái dương phân bố chủ yếu ở Brazil và Peru, như vậy

nó có nguồn gốc nhiệt đới Trong sản xuất, nấm này đã được trồng ở nhiều nước trên thế giới đặc biệt là Brazil và Trung Quốc, Mỹ, Nhật

1.3.1 Sản xuất meo giống nấm Thái dương

Tạo giống cấp I: Mẫu mô thịt nấm vô trùng tách từ quả thể được cấy vào ống

nghiệm hay đĩa Petri chứa môi trường thạch khoai tây PGA hay Raper để phân lập giống thuần ban đầu và được nhân lên tiếp tục thành giống cấp I Hệ sợi phát triển tốt sau 5 - 7 ngày và đến 15 - 20 ngày hệ sợi tơ phát triển đầy môi trường, có thể cất giữ giống (6 - 8oC), hoặc cấy sang hạt ngũ cốc để tạo giống cấp II và meo sản xuất

Tạo giống cấp II: Giống sản xuất được nhân trong môi trường hạt lúa nấu

chín, bổ sung bột nhẹ và thạch cao, ủ ở nhiệt độ phòng trong 20 - 25 ngày Giống cấp

II chứa trong các chai thủy tinh hay bịch plastic Ngoài hạt ngũ cốc có thể dùng rơm

rạ, thân cây thuốc lá, làm meo

Meo giống sản xuất: Meo giống nấm cấp II có thể dùng cấy vào cơ chất nuôi

trồng cho sản xuất hoặc cấy chuyền tiếp để nhân nhiều ra thành meo giống sản xuất,

mà cơ chất về căn bản giống như làm meo cấp II (Phạm Thành Hổ, 2013)

1.3.2 Xử lý nguyên liệu (Bùi Thị Thanh Thu, 2010)

Nấm Thái dương mọc tốt trên compost được chế biến tương tự như đối với

nấm mỡ Agaricus bisporus từ các nguồn nguyên liệu ban đầu lignocellulose chủ yếu

như rơm rạ, thân cành lá ngô, đậu, mía, vỏ hạt bông, lõi ngô, khô dầu; các loại phân gia súc, gia cầm, phân đạm, phân lân, phân kali; các chất MgSO4, CaSO4, CaCO3

Trong chế biến nguyên liệu thành cơ chất compost cho các loài nấm thuộc họ nấm mỡ, điểm đặc biệt là thường sử dụng các loại phân giàu chất mùn: Phân gà, phân

bò, phân trùn quế

Trang 26

16

Sau đây là quy trình chế biến compost, mà nguyên liệu chủ yếu là rơm rạ

Lên men pha I: Các nguyên liệu sau khi thấm nước vôi đủ độ ẩm, trộn đều

được ủ thành đống, sau đó lấy nilong phủ kín cả đống ủ để lên men pha I Đống ủ thường có kích thước 1 x 1,5 – 1,8m Sau 3 ngày ủ, nhiệt có thể lên tới 70 - 75oC Ở nhiệt độ này đa số các vi sinh vật (trừ bào tử của chúng), các loại côn trùng, tuyến trùng đều sẽ chết Các xạ khuẩn ưa nhiệt sẽ hoạt động mạnh mẽ ở nhiệt độ cao này, làm phân huỷ các chất cao phân tử thành các đường phân tử thấp, mà sợi tơ nấm dễ hấp thu Ủ nguyên liệu là khâu đầu tiên rất quan trọng

Các đống ủ được đảo trộn để tạo điều kiện lên men hiếu khí, cứ 3 ngày 1 lần

và cả quá trình gồm 3 -5 lần đảo trộn Trong 3 lần đảo trộn đầu có bổ sung một số chất phụ gia Ở lần bổ sung ure ((NH2)2CO) 5 kg/tấn rơm khô bằng cách rắc xen từng lớp rơm rạ Ở lần 2: Sau 3 ngày, gỡ nilon ra đảo trộn trên xuống dưới trong ra ngoài, rắc phân lân (nên dùng loại phân lân nung chảy thermophotphat) 30 kg cho 1 tấn rơm khô Lần 3 thay phân lân bằng CaCO3 25 kg/ 1 tấn rơm Các chất phụ gia được bổ sung theo nguyên tắc phía dưới bổ sung ít, phía trên bổ sung nhiều sao cho khi hết rơm cũng vừa hết chất phụ gia Lần 4 và 5 chỉ kiểm tra độ ẩm, đảo trộn sau mỗi 3 ngày mà không bổ sung chất phụ gia Kiểm tra độ ẩm bằng cách rút một nấm nguyên liệu ở một vị trí bất kì và bóp lại, nếu thấy có một vài giọt nước rỉ ra là tốt, khi thả tay ra nguyên liệu vẫn kết dính với nhau thành một nắm Nếu không thấy nước rỉ ra

ở kẽ tay là đống ủ bị khô cần bổ sung thêm nước vôi cho đến khi đủ ẩm Nếu thấy nước chảy ra nhiều là đống nguyên liệu dư ẩm thì cần hong khô nguyên liệu 10 – 20 phút rồi kiểm tra lại độ ẩm Tiếp tục đậy nilong ủ thêm 3 ngày nữa

Thời gian ủ tổng cộng là 15 ngày Mỗi lần đảo trộn cần kiểm tra độ ẩm nguyên liệu Chú ý khi đảo đống ủ cần giảm chiều dài và tăng thêm chiều cao cho đống ủ

Cho compost vào vật chứa: Sau khi hoàn thành quá trình ủ như trên, phần

lớn rơm rạ đã được chuyển thành cơ chất compost cho nấm Compost có thể được

Trang 27

17

cho vào các khay, giàn kệ hay túi nylon lớn và thanh trùng bằng hơi nước sôi, rồi cấy meo nấm vào cho hệ sợi tơ nấm phát triển Chiều cao lớp cơ chất là 20 – 22 cm

Lên men pha II: Kiểu lên men này được ứng dụng từ những năm 1970, mà

thực chất là thanh trùng ở nhiệt độ không cao 50-600C (còn gọi là thanh trùng Pasteur) với thời gian dài 4-7 ngày Nhờ kiểu lên men này mà trồng nấm mỡ đạt kết quả chắc chắn như nuôi nấm men bánh mì, nên nó được áp dụng ở nhiều cơ sở sản xuất nấm thuộc họ nấm mỡ quy mô công nghiệp Mục đích chính là tạo điều kiện cho các xạ khuẩn ưa nhiệt (thermophiles) phát triển làm chuyển hóa nguyên liệu ban đầu sau khi

ủ thành cơ chất có tính chọn lọc chỉ thuận lợi cho hệ sợi tơ nấm tăng trưởng và đồng thời diệt các sinh vật khác có hại Quy trình được thực hiện bằng cách thổi hơi nước nóng trực tiếp vào buồng chứa nguyên liệu và tiến hành như sau: (1) Sau khi thổi hơi nước nóng nhiệt độ phòng đạt 570C, duy trì nhiệt độ này 5 giờ; (2) Sau 5 giờ, lập tức thông gió để đưa không khí sạch bên ngoài vào, nếu có chỗ nào trong compost đạt trên

600C thì tiếp tục thông gió để hạ xuống 570C, nếu nhiệt độ các giàn hạ dưới 570C thì ngưng thông gió Trong thời gian lên men pha II, cứ 3 giờ thông gió một lần, mỗi lần

15 phút Tuỳ nhiệt độ không khí bên ngoài có thể mở 2 – 3 cửa sổ nếu không ảnh hưởng đến nhiệt độ giàn (3) Qua 3, 4 ngày nhiệt độ phòng (buồng) khử trùng từ từ hạ xuống; sau 5, 6 ngày đạt 400C, lập tức thông gió mạnh để hạ nhiệt độ xuống bình thường, kết thúc quá trình lên men Sau 7 ngày, khi nhiệt độ hạ còn 22 – 25oC tiến

hành cấy meo giống nấm vào compost (Bùi Thị Thanh Thu, 2010)

1.3.3 Cấy meo giống và ủ tơ nấm

Dùng cào làm bằng thép có 3 - 5 răng, các răng dài 5cm, cách nhau 3cm, cán dài hay ngắn tùy điều kiện cụ thể Cào xới đều trên mặt luống theo từng m2 Cứ 1m chiều dài luống thì dùng 1 bịch giống (0,5kg) Chỉ cào theo một hướng, không cào ngang, dọc lộn xộn Khi cào nếu có phần nguyên liệu mắc vào rãnh cào thì lấy ra gom lại để sau dùng làm nguyên liệu phủ trên bề mặt luống Giống thường được sử dụng là giống thóc Sau đó, bóp giống tơi ra và rắc vào những đường rãnh cào trên

Trang 28

18

bề mặt luống Sau cùng, phủ một lớp nguyên liệu mỏng (1 – 1,5 cm) lên bề mặt luống Cấy giống xong dùng giấy báo phủ kín toàn bộ bề mặt luống Dùng bình phun sương tưới ẩm trên bề mặt giấy báo Tạo ẩm như vậy trong 15 ngày liên tục (không tạo ẩm vào ban đêm) Đến ngày thứ 15, khi thấy có sợi tơ nấm trắng lan đều trên

compost thì bắt đầu giai đoạn tạo lớp phủ (Nguyễn Lân Dũng, 2003)

1.3.4 Lớp phủ bề mặt cho ra nấm

Đặc điểm riêng chỉ chuyên cho công nghệ trồng nấm Thái dương là khi hệ sợi

tơ nấm lan đầy khối cơ chất thì trên bề mặt phải có một lớp phủ với chiều dày khoảng 2cm thì nấm mới ra quả thể tốt Đây là công đoạn không thể thiếu được cho trồng nấm mỡ, khác hẳn với công nghệ trồng các loại nấm không sử dụng compost đã thành chất mùn Có thể dùng nhiều loại nguyên liệu khác nhau (đất, phân trùn, than bùn trộn đá vôi mịn) để làm lớp phủ cho ra quả thể Những người trồng nấm ở Pháp

và các nước châu Âu dùng lớp phủ gồm 50% đá vôi nhỏ (3-5 mm) + 50% than bùn, được thanh trùng Pasteur như compost Than bùn làm lớp phủ cho kết quả ra nấm tốt nhất lấy từ một vùng ở Đức, được đóng bao có đề chữ “Activator” (chất hoạt hóa) Tuy nhiên, nhiều nơi ở châu Á, như ở Việt Nam, dùng đất hay vật liệu khác làm lớp phủ: Rắc đất đã tạo ra thành từng hạt, từng viên to bằng khoảng hạt ngô phủ lên khắp

bề mặt của luống Độ dày lớp đất phủ khoảng 1,0-1,5 cm Tuyệt đối không dùng đất vụn, đất bột hoặc các cục đất quá lớn Sau khi phủ đất, tiến hành tưới phun sương để làm ẩm đất phủ Đất phủ cần đạt ẩm độ 60 – 65% (Phạm Thành Hổ, 2013)

1.3.5 Chăm sóc, thu hái và bảo quản

Sau khi tạo ẩm đất phủ tưới phun sương cho các luống nguyên liệu Nếu trời hanh khô, mỗi ngày tưới không quá 4 lần Nếu không khí ẩm ướt chỉ tưới một lần vào chiều tối

Khi mầm quả thể xuất hiện như hạt ngô màu trắng thì phải tăng số lần tưới Dùng bình tới phun sương, quay ngửa vòi để phun Tưới nhiều lần trong một đợt

Trang 29

19

tưới Từ lúc nấm xuất hiện đến lúc thu hái khoảng 72 giờ Nấm ở dạng búp, khi mép tai nấm chưa bung ra, được thu hái, chọn quả thể to hái trước Một tay giữ phần đất sát chân nấm, một tay đặt vào chân nấm nhổ thẳng lên cho ra cả phần rễ Hái nấm xong nếu thấy bề mặt luống có chỗ nào bị lõm xuống thì phải dùng đất dự trữ bổ sung vào Sau khi hái mỗi đợt phải phun nước ngay để giữ ẩm Nấm Thái dương có thể ăn tươi hoặc khô Để bảo quản tươi có thể giữ lạnh ở 3-50C Nấm có thể phơi hặc sấy khô cho vận chuyển thuận lợi hơn

Dưới các điều kiện tự nhiên, nấm Thái dương có thể trồng 2 vụ mỗi năm Mỗi

vụ thu hái 3 đợt Tùy điều kiện khí hậu, có thể xác định thời điểm gieo meo giống,

mà sau 50 ngày từ lúc gieo có thể thu hoạch nấm

1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Sơ lược tình hình nghiên cứu trong nước

Tháng 9/2007, trong một chuyến đi khảo sát dược liệu do Công ty Domesco tổ chức, Cổ Đức Trọng đã phát hiện một loài nấm quý mọc hoang tại tỉnh Đồng Tháp

Đó là loài nấm Thái dương, còn gọi nấm Búp Đây là lần đầu tiên, loài nấm này được phát hiện ngoài tự nhiên chẳng những ở Việt Nam mà còn ở châu Á

Đến năm 2013, trong “Tài liệu hướng dẫn kỹ thuật làm meo giống nấm và công nghệ nuôi trồng một số loài nấm ăn và nấm dược liệu” Phạm Thành Hổ đã trình bày các giá trị dinh dưỡng, dược liệu, các loại đất phủ và quy trình chăm sóc, thu hái nấm Thái dương trồng trên cơ chất mùn cưa bổ sung 5% cám gạo (hoặc bắp), CaCO3 1% với độ ẩm giá thể 65 – 70% Do đó trong nghiên cứu này, nguồn dinh dưỡng cám gạo được khảo sát ở hàm lượng 5% với độ ẩm nguyên liệu đạt 65 – 70%

Nguyễn Xuân Du (2014) đã nghiên cứu sự phát triển của tơ nấm trên môi trường thạch, môi trường nhân giống thứ cấp (lúa, gạo) và các cơ chất nuôi trồng khác nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy môi trường nhân giống cấp 1 thích hợp cho sự phát triển của nấm Thái dương là môi trường PGA bổ sung CaSO4 0,5% hoặc CaCO3 1% Môi trường nhân giống thứ cấp (môi trường hạt lúa) có bổ sung 1% CaCO3 giúp

Trang 30

20

hệ tơ phát triển nhanh hơn, tăng sức sống cho meo giống, rút ngắn thời gian nhân giống Ở thí nghiệm nghiên cứu cơ chất nuôi trồng, tác giả khẳng định có sự hình thành quả thể trên cơ chất lục bình phối hợp 50% rơm có sự bổ sung phân gà tuy nhiên số lượng nấm thu được không nhiều

Sơ lược tình hình nghiên cứu ngoài nước

Quy trình nuôi trồng nấm Thái dương đã được Regina và cộng sự nghiên cứu vào năm 2010 Trong nghiên cứu, nấm Thái dương được nuôi trồng trên cơ chất rơm được bổ sung các thành phần dinh dưỡng khác nhau lần lượt là: ure (1 hoặc 10%), cám gạo (10 hoặc 20%), amoni sunfat (0 hoặc 10%), inoculum (10 hoặc 20%) Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu suất sinh học cao nhất (6,73%) thu được trên môi trường cơ chất được bổ sung 10% cám gạo Do đó trong nghiên cứu này, nguồn dinh dưỡng cám gạo được khảo sát ở hàm lượng 10%

Năng suất nuôi trồng nấm Thái dương được tăng lên trong nghiên cứu của Felix

và cộng sự năm 2011 Nghiên cứu đã đánh giá năng suất của nấm Thái dương trong phân ủ với các nồng độ nito ban đầu khác nhau Ba nồng độ nito được thử nghiệm là 1%, 1,5% và 2% Năng suất nấm thu được cao nhất là 13,28% (khối lượng nấm thu được/khối lượng nguyên liệu sau khi ủ) trên môi trường nuôi trồng có nồng độ nito 1% tương ứng với công thức: Bả mía 43% + cỏ chỉ 43% + cám gạo 10% + supe lân 1% + đá vôi 1,25% + thạch cao 1,25% + ure 0,5% Do đó trong nghiên cứu này, các nguồn dinh dưỡng supe lân 1%, CaSO4 1%, CaCO3 1% và ure 0,5% được bổ sung vào tất cả các nghiệm thức khảo sát

Trang 31

21

Chương II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Khảo sát sự ảnh hưởng của nguồn dinh dưỡng đến sự phát triển của nấm Thái dương

Nội dung 2: Khảo sát sự ảnh hưởng của một số loại đất phủ đến sự hình thành quả thể nấm Thái dương

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Địa điểm thực hiện: Phòng thí nghiệm và khu sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu của Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao - Ấp 1, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh

Thời gian thực hiện: Tháng 1/ 2020 – 12/ 2020

2.3 Vật liệu nghiên cứu

2.3.1 Nguồn giống

Giống nấm Thái dương (Agaricus subrufescens) được lấy từ bộ sưu tập giống

nấm ăn và nấm dược liệu của Phòng Hỗ trợ Công nghệ Vi sinh, Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao Giống nấm Thái dương có nguồn gốc Trung Quốc

Giống được sử dụng trong nghiên cứu này có các đặc điểm sinh trưởng như sau: Giai đoạn phát triển tơ cần nhiệt độ 28 - 300C, ẩm độ 60 – 70%, không cần ánh sáng; Giai đoạn phát triển quả thể cần nhiệt độ 28 - 300C, ẩm độ 85 – 95%, ánh sáng tán xạ

2.3.2 Dụng cụ, hóa chất, thiết bị

Hóa chất: Potato Dextrose Agar, Ethanol 96%

Nguyên, vật liệu:

- Khoai tây, lúa: Thu mua tại địa phương

- Mùn cưa, bao đóng phôi, cổ, nắp: Trang trại nấm Tấn Hưng

- Cám gạo, cám bắp: Công ty TNHH Doanh phú

Trang 32

22

- Phân gà Vina Tap: Công ty Vinatap Việt Nam

- Phân bò Tribat, đất sạch Tribat: Công ty TNHH CNSH Sài Gòn Xanh

- Phân trùn quế Sfarm: Công ty TNHH SX TM DV Đặng Gia Trang

- Vôi, CaCO3, CaSO4: Công ty TNHH Hóa Chất Thành Phương

- Ure: Hiệu Phú Mỹ

- Super lân: Hiệu Long Thành

- Than bùn: Công Ty TNHH Sáng Nghiệp

- Đất canh tác: Đất sét pha cát ở độ sâu 50 cm tại khu sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu của Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao

Thiết bị:

- Tủ cấy vô trùng– SCBN 1013 (1300)

- Nồi hấp khử trùng – HV 110

- Tủ sấy – INB 500

- Cân kỹ thuật – CPA 3202S

- Máy đo pH – Mi180

Điều kiện cơ sở vật chất:

- Phòng thí nghiệm có các thiết bị phục vụ cho việc nhân giống nấm

- Nhà xưởng được trang bị dây chuyền đóng phôi nấm và hệ thống hấp phôi bằng dầu DO

- Nhà trồng nấm: Diện tích 60 m2 có hệ thống giàn kệ, máy tạo ẩm bằng sóng siêu âm

Trang 33

23

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Nội dung 1: Khảo sát sự ảnh hưởng của nguồn dinh dưỡng đến sự phát triển của nấm Thái dương

Phương pháp bố trí thí nghiệm

Tơ nấm Thái dương được cấy chuyền từ meo giống sang các môi trường nuôi trồng với các nguồn dinh dưỡng khác nhau, lần lượt là:

 CT1 (ĐC): Mùn cưa 100%

 CT2: Mùn cưa bổ sung 5% cám gạo

 CT3: Mùn cưa bổ sung 10% cám gạo

 CT4: Mùn cưa bổ sung 10% cám bắp

 CT5: Mùn cưa bổ sung 20% cám bắp

 CT6: Mùn cưa bổ sung 30% cám bắp

 CT7: Mùn cưa bổ sung 15% cám gạo + 15% cám bắp

 CT8: Mùn cưa bổ sung 15% phân bò

 CT9: Mùn cưa bổ sung 30% phân bò

 CT10: Mùn cưa bổ sung 15% phân gà

 CT11: Mùn cưa bổ sung 30% phân gà

Tất cả các công thức nuôi trồng trên đều có bổ sung CaSO4 1%, CaCO3 1%, ure 0,5%, super lân 1% và 1% vôi

Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên 1 yếu tố gồm 11 nghiệm thức Mỗi nghiệm thức được tiến hành trên 50 bịch với 3 lần lặp lại, ở 3 thời điểm khác nhau, tổng số bịch thực hiện: 1650 bịch phôi

Trong mỗi ô thí nghiệm, dùng phần mềm Excel chọn ngẫu nhiên 15 bịch phôi

để theo dõi số liệu Ở chỉ tiêu năng suất (g/bịch), quả thể nấm Thái dương thu hái sẽ được làm sạch phần đất phủ và hiệu suất sinh học được tính toán dựa trên khối lượng nấm tươi thu được sau 3 đợt thu hoạch

Trang 34

Ở lần đảo trộn 1: Nguyên liệu được phối trộn với ure 5‰ Ure được hòa tan vào nước.Trộn đều dung dịch ure vào nguyên liệu Sau cùng, đống ủ được phủ kín bằng nilong

Hình 2.1 Đo pH của mùn cưa bằng giấy quỳ tím

Ở lần 2: Sau 4 ngày ủ, gỡ nilong ra đảo trộn trên xuống dưới trong ra ngoài,

bổ sung supe lân khối lượng bằng 1% tổng khối lượng nguyên liệu bằng cách rắc xen từng lớp mùn cưa Lần 3 thay supe lân bằng 1% CaCO3, 1% CaSO4, 1% vôi cục (so với tổng khối lượng nguyên liệu) Lần 4 và 5 chỉ đảo trộn sau mỗi 4 ngày mà không

bổ sung chất phụ gia Thời gian ủ tổng cộng là 20 ngày Mỗi lần đảo trộn cần kiểm tra độ ẩm nguyên liệu Nguyên liệu nếu thiếu ẩm thì bổ sung nước, nếu dư ẩm thì hong khô nguyên liệu từ 10 – 20 phút rồi kiểm tra lại pH cơ chất được kiểm tra bằng giấy đo pH sao cho pH khoảng 7.0

Trang 35

25

Tạo giống sản xuất:

Môi trường nuôi cấy cấp 2: Sử dụng cơ chất hạt lúa Lúa được ngâm 12h với nước vôi 1%, rửa sạch, vớt ra, để ráo Nấu lúa cho đến khi hạt lúa hé nứt, vớt ra để ráo, bổ sung 5% cám gạo Phân phối vào các bịch PE chịu nhiệt Đem hấp khử trùng

ở 121oC trong 45 phút

Hình 2.2 Tơ nấm Thái dương trên môi trường nhân giống cấp 1

Hình 2.3 Meo giống sản xuất

Ngày đăng: 31/10/2022, 10:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Colauto, N.S., Da Silveira, A.R., Da Eira, A.F., Linde and G.A. (2011). Production flush of Agaricus blazei on Brazilian casing layers. Brazilian Journal of Microbiology, 42, 616–623 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Brazilian Journal of Microbiology
Tác giả: Colauto, N.S., Da Silveira, A.R., Da Eira, A.F., Linde and G.A
Năm: 2011
11. Firenzuoli1 F., Gori1 L. and Lombardo G. (2007). The Medicinal Mushroom Agaricus blazei Murrill: Review ofLiterature and Pharmaco-Toxicological Problems, Advance Access Publication, 5(1): 3–1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agaricus blazei" Murrill: Review ofLiterature and Pharmaco-Toxicological Problems, "Advance Access Publication
Tác giả: Firenzuoli1 F., Gori1 L. and Lombardo G
Năm: 2007
14. Hetland G., Johnson E., Lyberg T., Bernardshaw S., Tryggestad A.M.A. and Grinde B. (2008). Effects of the Medicinal Mushroom Agaricus blazei Murill on Immunity, Infection and Cancer, Blackwell Publishing Ltd. Scandinavian Journal of Immunology, 68: 363–370 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agaricus blazei" Murill on Immunity, Infection and Cancer, "Blackwell Publishing Ltd. Scandinavian Journal of Immunology
Tác giả: Hetland G., Johnson E., Lyberg T., Bernardshaw S., Tryggestad A.M.A. and Grinde B
Năm: 2008
15. Hobbs C. (1995). Medicinal Mushrooms: An Exploration of Tradition. Healing & Culture, pp. 7–10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Healing & Culture
Tác giả: Hobbs C
Năm: 1995
16. Ito H., Shimura K., Itoh H. and Kawade M. (1997). Antitumor effects of a new polysaccharide-protein complex (ATOM) prepared from Agaricus blazei (Iwade strain 101) "Himematsutake" and its mechanisms in tumor-bearing mice. Department of Pharmacology, Mie University School of Medicine, Japan, 17(1A):277-84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Himematsutake
Tác giả: Ito H., Shimura K., Itoh H. and Kawade M
Năm: 1997
17. Mizuno T (1989). Development and utilization of bioactive substances from medicinal and edible mushroom fungi Himematsutake Agaricus blazei Murrill, The Chemical Times, (1) : 12 - 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Himematsutake Agaricus blazei Murrill, The Chemical Times
Tác giả: Mizuno T
Năm: 1989
18. Randle PE and Flegg PB (1985). The effect of duration of composting on compost density and the yield of mushrooms, Sci. Hort, 27:21-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sci. Hort
Tác giả: Randle PE and Flegg PB
Năm: 1985
19. Takaku T., Kimura Y. and Okuda H (2001). Isolation of an antitumor compound from Agaricus blazei Murrill (sic) and its mechanism of action, J.Nutr, 131: 1409–1413 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. "Nutr
Tác giả: Takaku T., Kimura Y. and Okuda H
Năm: 2001
20. Wisitrassameewong K., Karunarathna S., Thongklang N., Zhao R.L., Callac P., Serge M., Férandon C., Chukeatirote E. and Hyde K (2012). Agaricus brasiliensis: A review. Saudi J, Biol. Sci., 19: 131–146 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Saudi J, Biol. Sci
Tác giả: Wisitrassameewong K., Karunarathna S., Thongklang N., Zhao R.L., Callac P., Serge M., Férandon C., Chukeatirote E. and Hyde K
Năm: 2012
21. Ying Liu, Yasushi Fukuwatari, Ko Okumura, Kazuyoshi Takeda, Ken-ichi Ishibashi, Mai Furukawa, Naohito Ohno, Kazu Mori, Ming Gao, Masuro Motoi (2008). Immunomodulating Activity of Agaricus brasiliensis KA21 in Mice and in Human Volunteers, Oxford journals, Med, 205-219 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Med
Tác giả: Ying Liu, Yasushi Fukuwatari, Ko Okumura, Kazuyoshi Takeda, Ken-ichi Ishibashi, Mai Furukawa, Naohito Ohno, Kazu Mori, Ming Gao, Masuro Motoi
Năm: 2008
22. Yoshinura W., Ueda N., Ichioka K., Matsui Y., Terai A. and Arai Y. (2005). Use of complementary and alternative medicine by patients with urologic cancer: A prospective study at a single Japanese institution. Support. Care Cancer, 13: 685–690 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Support. Care Cancer
Tác giả: Yoshinura W., Ueda N., Ichioka K., Matsui Y., Terai A. and Arai Y
Năm: 2005
10. Fộlix Gonỗalves de Siqueira, Eustỏquio Souza Dias, Romildo da Silva, Emerson Tokuda Martos and Danny Lee Rinker (2009). Cultivo de Agaricus blazei ss. Heinemann usando diferentes solos como fonte de material para a camada de cobertura, Scientia Agricola Khác
12. Flegg P.B, Spencer D.M, Wood. D.A (1985). The biology and technology of the cultivated mushroom. Chichester: John Wiley Khác
13. Hattori M. (1997). Inhibitory effects of components from Ganoderma lucidum on the growth of human immunodeficiency virus (HIV) and the protease activity, Sym. on Ganoderma Res Khác
(2010). Production of Agaricus blazei ss. Heinemann (A. brasiliensis) on different layers and environments, World Journal of Microbiology and Biotechnology Published online Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w