ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG TÂM LÝ LIÊN QUAN ĐẾN DỊCH COVID-19 Ở SINH VIÊN Y HỌC DỰ PHÒNG & Y TẾ CÔNG CỘNG TẠI ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Cơ quan chủ trì nhiệm vụ: Khoa Y tế Công cộng
Trang 1ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG TÂM LÝ LIÊN QUAN ĐẾN DỊCH COVID-19
Ở SINH VIÊN Y HỌC DỰ PHÒNG & Y TẾ CÔNG CỘNG TẠI ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Cơ quan chủ trì nhiệm vụ: Khoa Y tế Công cộng
Chủ trì nhiệm vụ: Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh
Thái Thanh Trúc
Thành phố Hồ Chí Minh - 2021
Trang 2KẾT QUẢ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG TÂM LÝ LIÊN QUAN ĐẾN DỊCH COVID-19
Ở SINH VIÊN Y HỌC DỰ PHÒNG & Y TẾ CÔNG CỘNG TẠI ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(Đã chỉnh sửa theo kết luận của Hội đồng nghiệm thu ngày )
Cơ quan chủ quản
(ký tên và đóng dấu)
Nguyễn Hoàng Bắc
Chủ trì nhiệm vụ
(ký tên)
Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh Thái Thanh Trúc
Cơ quan chủ trì nhiệm vụ
(ký tên và đóng dấu)
Đỗ Văn Dũng
Trang 3
I THÔNG TIN CHUNG
1 Tên đề tài: Đánh giá ảnh hưởng tâm lý liên quan đến dịch Covid-19 ở sinh viên Y học Dự phòng & Y tế Công cộng tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Thuộc lĩnh vực (tên lĩnh vực):
2 Chủ nhiệm nhiệm vụ:
Họ và tên: Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh
Ngày, tháng, năm sinh: 21/09/1981 Nam/ Nữ: Nữ
Học hàm, học vị: Tiến sĩ
Chức danh khoa học: Chức vụ: Trưởng Văn phòng Khoa
Điện thoại: Tổ chức: 3855 9714 Nhà riêng: Mobile: 0909592426 Fax: E-mail: hhnquynhytcc@ump.edu.vn
Tên tổ chức đang công tác: Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ tổ chức 217 Hồng Bàng, Phường 11, Quận 5, Tp.HCM
Địa chỉ nhà riêng: Block B1, C/cư Topaz City, 39 Cao Lỗ, P.4, Q.8, Tp.HCM
Họ và tên: Thái Thanh Trúc
Ngày, tháng, năm sinh: 21/09/1981 Nam/ Nữ: Nam
Học hàm, học vị: Phó Giáo sư, Tiến sĩ
Chức danh khoa học: Chức vụ: Phó Chủ nhiệm Bộ môn Thống kê y học và tin học
Điện thoại: Tổ chức: 3855 9714 Nhà riêng: Mobile: 09008381266 Fax: E-mail: thaithanhtruc@ump.edu.vn
Tên tổ chức đang công tác: Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ tổ chức 217 Hồng Bàng, Phường 11, Quận 5, Tp.HCM
3 Tổ chức chủ trì nhiệm vụ (1) :
Tên tổ chức chủ trì nhiệm vụ: Khoa Y tế Công cộng
Điện thoại: 3855 9714 Fax: 3859 7965
E-mail: vanphongkhoaytcc@ump.edu.vn
1 Tên Khoa hoặc Trung tâm, đơn vị - nơi quản lý trực tiếp cá nhân làm chủ nhiệm đề tài
Trang 44
Website: sph.ump.edu.vn
Địa chỉ: 159 Hưng Phú, Phường 8, Quận 8, Tp.HCM
4 Tên cơ quan chủ quản đề tài: Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
II TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
1 Thời gian thực hiện nhiệm vụ:
- Theo Hợp đồng đã ký kết: từ tháng 10 năm 2020 đến tháng 10 năm 2021
- Thực tế thực hiện: từ tháng 10 năm 2020 đến tháng 6 năm 2021
- Được gia hạn (nếu có):
Từ tháng… năm… đến tháng… năm…
2 Kinh phí và sử dụng kinh phí:
a) Tổng số kinh phí thực hiện: 30 triệu đồng, trong đó:
+ Kính phí hỗ trợ từ ngân sách khoa học của nhà trường: 30 triệu đồng
+ Kinh phí từ các nguồn khác: 00 triệu đồng
b) Tình hình cấp và sử dụng kinh phí từ nguồn ngân sách khoa học:
Số
TT
(Số đề nghị quyết toán)
Thời gian
(Tháng, năm)
Kinh phí (Tr.đ)
Thời gian (Tháng, năm)
Kinh phí (Tr.đ)
Trang 5Nội dung tham gia chủ yếu
Sản phẩm chủ yếu đạt được
Ghi chú*
1
2
- Lý do thay đổi (nếu có):
4 Cá nhân tham gia thực hiện nhiệm vụ:
(Người tham gia thực hiện đề tài thuộc tổ chức chủ trì và cơ quan phối hợp theo số lượng
đã được phê duyệt tại Thuyết minh đề tài)
Nội dung tham gia chính
Sản phẩm chủ yếu đạt được
Ghi chú*
1 Huỳnh Hồ
Ngọc Quỳnh
Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh
Chủ nhiệm đề tài
Đề cương Giấy xét duyệt
y đức Bài báo
2 Thái Thanh
Trúc
Thái Thanh Trúc
Chủ nhiệm đề tài
Đề cương Kết quả phân tích
Bài báo
3 Phạm Thị Thu
Phương
Phạm Thị Thu Phương Thành viên
Đề cương Báo cáo nghiệm thu
4 Lê Trường
Vĩnh Phúc
Lê Trường Vĩnh Phúc Thành viên
Đề cương Báo cáo nghiệm thu
- Lý do thay đổi ( nếu có):
5 Tình hình hợp tác quốc tế:
Số
TT
Theo kế hoạch
(Nội dung, thời gian, kinh phí,
địa điểm, tên tổ chức hợp tác,
số đoàn, số lượng người tham
Trang 6(Nội dung, thời gian,
kinh phí, địa điểm )
Ghi chú*
1
2
- Lý do thay đổi (nếu có):
7 Tóm tắt các nội dung, công việc chủ yếu:
(Nêu tại mục của đề cương, không bao gồm: Hội thảo khoa học, điều tra khảo sát trong nước và nước ngoài)
Theo kế hoạch
Thực tế đạt được
1 Phát triển đề cương nghiên cứu 10/2020 –
12/2020
10/2020 – 12/2020
Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh, Thái Thanh Trúc
2 Xin giấy chấp thuận y đức 12/2020 12/2020 Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh
3 Triển khai nghiên cứu 01/2021 –
03/2021
01/2021 – 03/2021
Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh, Thái Thanh Trúc, Phạm Thị Thu Phương,
Lê Trường Vĩnh Phúc
4 Phân tích số liệu và viết
báo cáo
03/2021 – 06/2021
03/2021 – 06/2021
Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh, Thái Thanh Trúc,
Phạm Thị Thu Phương,
Lê Trường Vĩnh Phúc
- Lý do thay đổi (nếu có):
III SẢN PHẨM KH&CN CỦA ĐỀ TÀI
1 Sản phẩm KH&CN đã tạo ra:
Trang 7(Tạp chí, nhà xuất bản)
Theo
kế hoạch
Thực tế đạt được
1
Perceived Stress and Coping
Strategies During the COVID-19
Pandemic Among Public Health and
Preventive Medicine Students in
Vietnam
Tạp chí quốc tế
Tạp chí quốc tế
Psychol Res Behav Manag 2021;14:795-
804
- Lý do thay đổi (nếu có):
d) Kết quả đào tạo:
Theo kế hoạch Thực tế đạt
được
- Lý do thay đổi (nếu có):
đ) Tình hình đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp:
Theo
kế hoạch
Thực tế đạt được
Trang 8Kết quả
sơ bộ
1
2
2 Đánh giá về hiệu quả do đề tài mang lại:
a) Hiệu quả về khoa học và công nghệ:
(Nêu rõ danh mục công nghệ và mức độ nắm vững, làm chủ, so sánh với trình độ công nghệ so với khu vực và thế giới…)
b) Hiệu quả về kinh tế xã hội:
(Nêu rõ hiệu quả làm lợi tính bằng tiền dự kiến do nhiệm vụ tạo ra so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường…)
3 Tình hình thực hiện chế độ báo cáo, kiểm tra của đề tài:
I Báo cáo tiến độ
Hoàn thành 80% khối lượng công việc đề ra, bao gồm:
- Phát triển đề cương nghiên cứu
- Xin giấy chấp thuận y đức
- Triển khai nghiên cứu
Trang 9MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN 3
1.1 Ứng phó của nhân viên y tế về bệnh truyền nhiễm 3
1.2 Sức khỏe tâm thần của nhân viên y tế trong đại dịch COVID-19 3
1.3 Sức khỏe tâm thần của sinh viên trong đại dịch COVID-19 4
1.4 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng tâm lý 5
1.5 Các nghiên cứu trên thế giới về sức khỏe tâm thần của NVYT trong các dịch bệnh truyền nhiễm 5
1.6 Tình hình COVID-19 tại Việt Nam và các nghiên cứu tương tự 6
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
2.1 Thiết kế nghiên cứu 8
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 8
2.3 Đối tượng nghiên cứu 8
2.4 Tiêu chí chọn mẫu 8
2.5 Kiểm soát sai lệch chọn lựa 9
2.6 Định nghĩa biến số chính 9
2.7 Thu thập dữ kiện 10
2.8 Kiểm soát sai lệch thông tin 10
2.9 Phân tích dữ kiện 11
2.10 Đạo đức trong nghiên cứu 11
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ - BÀN LUẬN 12
3.1 Đặc điểm đối tượng tham gia nghiên cứu 12
3.2 Mức độ stress tự đánh giá của đối tượng tham gia nghiên cứu 13
3.3 Chiến lược ứng phó stress của đối tượng tham gia nghiên cứu 14
3.4 Mối tương quan giữa mức độ stress và chiến lược ứng phó 15
3.5 Bàn luận 17
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 3
Trang 10DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm sinh viên ngành Y tế Công cộng và Y học Dự phòng tham gia nghiên cứu (N=563) 12Bảng 3.2 Mức độ stress tự đánh giá ở sinh viên ngành Y tế Công cộng và Y học Dự phòng trong thời điểm dịch COVID-19 (N=563) 13Bảng 3.3 Chiến lược ứng phó stress ở sinh viên ngành Y tế Công cộng và Y học Dự phòng trong thời điểm dịch COVID-19 (N=563) 14Bảng 3.4 Mối tương quan giữa mức độ stress và chiến lược ứng phó với stress ở sinh viên ngành Y tế Công cộng và Y học Dự phòng trong thời điểm dịch COVID-19 (N=563) 15
Trang 12đã có những e ngại nhất định khi phải tham gia các lớp học, đặc biệt là các lớp học tại lớp Cho đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có một khảo sát hay đánh giá về ảnh hưởng tâm lý của sinh viên tại Đại học Y Dược TP.HCM Có khả năng, vì sự thiếu hụt các bằng chứng khoa học như thế này mà vẫn chưa có nhiều các can thiệp, hỗ trợ tâm lý cho sinh viên tại Đại học Y Dược TP.HCM nói riêng và sinh viên tại các trường đại học tại Việt Nam nói chung, trong tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp Vì vậy, nghiên cứu này thực hiện trên sinh viên Y học Dự phòng và Y tế Công cộng bởi đây
là lực lượng được kỳ vọng cao trong công tác phòng chống dịch bệnh nói chung
Câu hỏi nghiên cứu
Điểm trung bình và tỉ lệ stress do COVID-19 ở sinh viên Y học Dự phòng và Y tế Công cộng, Đại học Y Dược Tp.HCM là bao nhiêu? Các chiến lược nào được Sinh viên sử dụng để ứng phó với tình trạng stress?
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Xác định điểm trung bình và tỉ lệ stress do COVID-19 theo thang đo tự đánh giá Perceived Stress Scale (PSS), điểm trung bình các chiến lược ứng phó stress theo thang đo BRIEF-COPE ở sinh viên Y học Dự phòng và Y tế Công cộng, Đại học Y Dược Tp.HCM năm 2020
Mục tiêu cụ thể
Trang 143
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN
1.1 Ứng phó của nhân viên y tế về bệnh truyền nhiễm
Nhân viên y tế đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị bệnh, đặc biệt đối với những bệnh mới nổi, bệnh truyền nhiễm Trong khi những bệnh mới nổi hay dịch bệnh bùng phát, điều kiện làm việc được đặc trưng bởi sự thiếu hụt, khối lượng công việc quá mức, căng thẳng, tiếp xúc với các mối nguy hiểm nghề nghiệp, môi trường không an toàn, sức khỏe và bệnh tật nghề nghiệp, dẫn đến việc chăm sóc bệnh nhân không đầy
đủ, đặc biệt là ở những nước chưa phát triển [2] Thiếu hụt nhân lực dẫn đến việc đội ngũ nhân viên y tế phải ứng phó với việc tăng thời gian làm việc, chăm sóc bệnh nhân quá tải Tuy nhiên, không phải tất cả nhân viên y tế đều sẵn sàng ứng phó bằng cách
cố gắng làm việc và tiếp nhận điều trị cho bệnh nhân Chẳng hạn trong những năm dịch HIV xuất hiện, nhiều bác sĩ đã tranh luận về việc liệu có được phép từ chối điều trị cho những bệnh nhân HIV [3, 4] Trong đợt bùng phát dịch SARS (2003), một số nhân viên y tế không sẵn sàng điều trị cho bệnh nhân [5] Một nghiên cứu khác cho thấy các NVYT có xu hướng cảm thấy bị thúc đẩy bởi ý thức về nghĩa vụ phải làm việc trong đại dịch cúm nhưng có rất nhiều rào cản như việc sợ bản thân mắc bệnh, thiếu thông tin về rủi ro dễ gặp phải, sợ kiện tụng và ưu tiên sự an toàn cho gia đình [6] Một tổng quan hệ thống cho kết quả tỷ lệ nhân viên y tế sẵn sàng làm việc trong đại dịch dao động từ 23,1%-95,8%, trong đó nữ ít hơn nam, NVYT ở thành thị ít sẵn lòng hơn nông thôn Nhận thức an toàn tại nơi làm việc, nguy cơ, kiến thức và kỹ năng cá nhân hiểu về dịch bệnh sẽ ảnh hưởng tích cực đến việc sẵn sàng làm việc [7]
1.2 Sức khỏe tâm thần của nhân viên y tế trong đại dịch COVID-19
Sự bùng phát của bệnh coronavirus 2019 bắt đầu từ Trung Quốc vào cuối tháng 12/2019 Ngày 11/3/2020, WHO công bố COVID-19 là đại dịch toàn cầu Tính đến cuối ngày 14/03/2020, dịch bệnh COVID-19 đã lây ra 149 quốc gia với 150.649 ca nhiễm và 5.619 ca đã tử vong trong số đó, đồng thời dịch bệnh có vẫn có xu hướng tăng Việc phát triển vắc-xin và nghiên cứu điều trị y tế cho COVID-19 đang được tiến hành, nhưng còn nhiều tháng nữa dẫn đến áp lực đối với lực lượng lao động chăm sóc sức khỏe toàn cầu tiếp tục gia tăng Áp lực này có 2 dạng Thứ nhất là gánh nặng bệnh tật tiềm tàng quá mức làm căng thẳng năng lực hệ thống y tế và thứ hai là những tác động bất lợi đối với nhân viên y tế, bao gồm nguy cơ lây nhiễm Hiện tại các quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc đang thiếu nguồn nhân lực, số lượng nhân viên y tế
Trang 154
nhiễm bệnh khá cao Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới tại Trung Quốc có 3.387 NVYT đã xác nhận bị nhiễm COVID-19, với 22 (0,6%) trường hợp tử vong [8] Những thách thức và căng thẳng mà nhân viên y tế trải qua có thể kích hoạt các rối loạn tâm thần phổ biến, bao gồm rối loạn lo âu và trầm cảm, và rối loạn căng thẳng sau chấn thương [9] Theo một báo cáo tại Trung Quốc, nhân viên y tế không muốn gia đình lo lắng về họ và sợ mang virus về nhà, không biết cách đối phó với bệnh nhân khi họ không muốn cách ly tại bệnh viện hoặc không hợp tác với các biện pháp
y tế vì hoảng loạn hoặc thiếu kiến thức về căn bệnh này Ngoài ra, nhân viên lo lắng
về sự thiếu hụt thiết bị bảo vệ và cảm giác không có khả năng khi phải đối mặt với các bệnh nhân bị bệnh nặng [10] Một báo cáo khác thể hiện mối quan ngại rằng liệu các thành viên gia đình của họ có thể được ưu tiên xét nghiệm, tiêm phòng khi xét nghiệm có sẵn hay không Đảm bảo chăm sóc các thành viên gia đình của nhân viên y
tế sẽ tăng cường sự tự tin và khả năng của lực lượng lao động, nhưng tính khả thi và khả năng ưu tiên của gia đình vẫn chưa được xác định [11] Hiện tại các quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc đang thiếu nguồn nhân lực, số lượng nhân viên y tế nhiễm bệnh khá cao Theo báo cáo của WHO-Trung Quốc có 3.387 nhân viên y tế đã xác nhận bị nhiễm COVID-19, với 22 (0,6%) trường hợp tử vong [8] Tóm lại, trong đại dịch COVID-19, phần lớn nhân viên y tế phải chuyển đến làm việc tại bệnh viện 24/24, số bệnh nhân quá tải, thiếu hụt đồ bảo hộ, áp lực khi nhìn đồng nghiệp của mình mất đi sẽ gây ra các vấn đề sức khỏe tâm thần của nhân viên y tế
1.3 Sức khỏe tâm thần của sinh viên trong đại dịch COVID-19
Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng sức khỏe tâm thần của sinh viên có thể bị tác động mạnh từ dịch COVID-19 Một nghiên cứu thực hiện trên 158 sinh viên tại Kosovo cho thấy có 49,4% sinh viên có stress tâm lý tiêu cực, trong đó có 11,4% ở mức độ nặng [12] Lo âu cũng được cho là có mối liên quan tương tự trên nhóm học sinh sinh viên nói chung [13, 14] Đặc biệt, sinh viên y khoa là nhóm đối tượng nhạy cảm đối với tác động tâm lý từ dịch COVID-19 so với nhóm sinh viên ngành khác Trong thời gian phòng chống dịch bệnh, sinh viên y khoa có thể có những áp lực đặc thù từ việc trường học đóng cửa, cảm giác về trách nhiệm của người trong lĩnh vực y
tế cũng như mức độ sẵn sàng hỗ trợ tuyến đầu Tuy nhiên, việc thiếu kiến thức và kỹ năng phù hợp có thể làm cho sinh viên đánh giá tiêu cực quá mức về tình hình dịch bệnh, làm gia tăng mức độ stress và lo âu [15] Một nghiên cứu so sánh trên các nhóm dân số tại Iran trong dịch COIVD-19 cho thấy tỷ lệ stress, lo âu và trầm cảm ở nhóm
Trang 165
sinh viên y khoa là cao hơn so với sinh viên các ngành khác [16] Nghiên cứu tại Ả Rập Xê-út (Saudi Arabia) trong thời điểm dịch MERS-CoV cũng ghi nhận sinh viên y khoa nữ giới có mức độ stress cao hơn so với sinh viên nam [17] Mặc dù ít tiếp xúc với bệnh nhân hơn, sinh viên y khoa đầu cấp lại báo cáo mức độ stress cao hơn so với sinh viên các năm cuối cấp [18]
1.4 Phương pháp đánh giá ảnh hưởng tâm lý
Chưa có công cụ chuyên biệt nào để đánh giá ảnh hưởng tâm lý của nhân viên y tế và cách ứng phó Các nghiên cứu trước đây đã tham khảo nhiều nguồn tài liệu và tự đưa
ra công cụ trong từng dịch bệnh hoặc kết hợp với các công cụ chuyên biệt đánh giá stress, lo âu hoặc sang chấn sau chấn thương Lý do bởi sự khó khăn của việc thực hiện các nghiên cứu trong dịch bệnh nên không thể lập kế hoạch nghiên cứu chỉnh chu Do đó các nhà nghiên cứu hầu hết sử dụng bất kỳ tài liệu có sẵn để thiết kế bộ câu hỏi Bộ câu hỏi của tác giả Lee SH và cộng sự (2005) [19] trong dịch bệnh SARS với mục đích đánh giá tác động tâm lý của nhân viên y tế được thiết lập dựa trên các tài liệu có sẵn Bộ câu hỏi bao gồm 5 phần phản ứng tức thời với công việc; các yếu chính gồm yếu tố gây căng thẳng lớn vốn có trong việc chăm sóc bệnh nhân SARS; các biện pháp hiệu quả để giảm căng thẳng, chiến lược đối phó; những người thúc đẩy tham gia các nhiệm vụ trong tương lai và đánh giá các dịch vụ tâm thần Tác giả cũng cho biết một số thang đo trong bảng câu hỏi này có tính nhất quán nội bộ thỏa đáng (Cronbach alpha từ 0,085-0,86 cho từng phần) Những nghiên cứu của các tác giả sau này cũng sử dụng tham khảo bộ công cụ của Lee SH và cộng sự (2005), có sự điều chỉnh phù hợp với mỗi vùng địa lý và dịch bệnh [18, 20] Trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng soạn bộ câu hỏi dựa trên tài liệu có sẵn và điều chỉnh bộ câu hỏi của tác giả Lee SH (2005) phù hợp với dịch bệnh COVID-19 và tình hình tại Việt Nam [19]
1.5 Các nghiên cứu trên thế giới về sức khỏe tâm thần của nhân viên y tế trong các dịch bệnh truyền nhiễm
Sự giao lưu, trao đổi giữa các nước, cộng với sự biến đổi liên tục của vi sinh vật, sự biến đổi của khí hậu, quá trình đô thị hóa, điều kiện vệ sinh môi trường, sự di dân của các vị trí địa lý, làm xuất hiện nhiều dịch bệnh truyền nhiễm mới Trải qua mỗi trận dịch, bênh cạnh gây thiệt hại về người, kinh tế, còn có thêm ảnh hưởng về tâm lý của người dân và cộng đồng Hơn ai hết đó là những nhân viên y tế, những con người gồng gánh trong đại dịch vì y đức để điều trị, cứu chữa bệnh nhân Đã có nhiều
Trang 176
nghiên cứu trên Thế giới đánh giá về sức khỏe tâm thần và chiến lược ứng phó của nhân viên y tế trong và sau dịch bệnh SARS, MERS, COVID-19 do nhiều vi rút của chủng Corona gây ra và có liên quan đến các triệu chứng nhiễm trùng đường hô hấp nghiêm trọng có thể dẫn đến tử vong Ở đây chúng tôi khái quát lại một vài nghiên cứu về vấn đề sức khỏe tâm thần của nhân viên y tế và cách ứng phó với những dịch bệnh SARS, MERS, COVID-19
1.6 Tình hình COVID-19 tại Việt Nam và các nghiên cứu tương tự
Tại Việt Nam, ca bệnh đầu tiên mắc COVID-19 đầu tiên được ghi nhận vào ngày 22/01/2020 tại thành phố Hồ Chí Minh [1] và sau đó lần lượt tổng cộng 16 trường hợp mắc bệnh tương tự và đã được điều trị khỏi toàn bộ vào ngày 26/02/2020 Sau một thời gian dài không có ca nhiễm mới, diễn biến phức tạp trên thế giới thì tại Việt Nam cũng xuất hiện nhiều ca nhiễm mới từ ngày 06/03/2020 Tính đến cuối ngày 14/03/2020, tổng số ca nhiễm là 53 ca, 101 ca nghi nhiễm và 35.221 người cách ly, dịch xuất hiện ở 12/63 tỉnh thành của Việt Nam và vẫn có xu hướng tăng COVID-19
là một bệnh mới nổi, do đó cũng trở thành chủ đề cho các nhà nghiên cứu trên Thế Giới Tại Việt Nam, các nghiên cứu chỉ mới ở bước đầu tập trung vào mô tả ca bệnh (mô tả 1 ca, hàng loạt ca) [1, 21] Tại Việt Nam, chiến lược khoanh vùng, cách ly, điều trị dựa vào tiếp xúc ca bệnh F0, F1 (tiếp xúc với F0), F2 (tiếp xúc với F1), F3 (tiếp xúc với F2), F4 (tiếp xúc với F3), F5 (tiếp xúc với F4) mặc dù cho thấy hiệu quả nhưng cũng có thể dẫn đến lo lắng của nhiều người, đặc biệt là nhân viên y tế Việc lo
sợ COVID-19 xuất phát từ khả năng lây nhiễm cao, đặc biệt là việc lây nhiễm từ người chưa có triệu chứng rõ rệt Đã có một số nhân viên y tế tiếp xúc với bệnh nhân
và phải cách ly theo dõi Điều này ảnh hưởng đến vấn đề tâm lý của nhân viên y tế Tuy nhiên vẫn chưa có các nghiên cứu đánh giá cảm xúc tâm lý của nhân viên y tế tại Việt Nam trong mùa dịch COVID-19
Từ những trường hợp đầu tiên được báo cáo tại Vũ Hán, Trung Quốc vào cuối tháng 12/2019 thì đến nay, trên thế giới đã ghi nhận hơn 330.000 trường hợp mắc COVID-
19 tại 173 quốc gia, trong đó đã có 14.641 người chết (tính đến ngày 23/03/2020) Tại Việt Nam, trường hợp mắc COVID-19 đầu tiên được ghi nhận vào ngày 22/01/2020 tại thành phố Hồ Chí Minh [8] Tuy nhiên, cùng với diễn biến phức tạp trên thế giới thì tại Việt Nam cũng xuất hiện nhiều ca nhiễm mới Đến hết ngày 26/03/2020 thì Việt Nam ghi nhận tổng cộng (tích lũy) 148 trường hợp mắc bệnh tại hơn 20 tỉnh thành Chiến lược khoanh vùng, cách ly, điều trị dựa vào tiếp xúc ca bệnh F0, F1 (tiếp