1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình trắc địa công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp (nghề trắc địa công trình cđtc) phần 2

63 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuỳ thuộc vào kích thước của công trình và độ chính xác cần thiết của việc lắp ráp các thiết bị mà trục phía trong nhà được đánh dấu bằng các kiểu mốc khác nhau: + Với toà nhà không lớn

Trang 1

50

BÀI 6 CHUYỂN CÁC TRỤC BỐ TRÍ VÀO BÊN TRONG CÔNG TRÌNH

Hệ thống các trục bố trí đã được đánh dấu trên khung định vị và được cố định bằng các mốc chôn ở bên ngoài công trình sẽ dần dần bị mất tác dụng do các bức tường được xây cao dần Để tiếp tục các công tác bố trí và lắp ráp thiết

bị về sau, cần phải chuyển các trục chính từ ngoài vào bên trong công trình

Việc chuyển các trục bố trí cần được làm ngay từ lúc còn có thể ngắm thông suốt giữa các điểm đối diện của trục, có nghĩa là lúc chiều cao của các bức tường bao được xây chưa quá 1m

Việc chuyển trục được tiến hành bằng máy kinh vĩ theo cách dóng hướng các điểm cùng tên trên các cạnh đối diện của khung định vị phía ngoài và đánh dấu lại trên các mốc trắc địa phía trong toà nhà

Tuỳ thuộc vào kích thước của công trình và độ chính xác cần thiết của việc lắp ráp các thiết bị mà trục phía trong nhà được đánh dấu bằng các kiểu mốc khác nhau:

+ Với toà nhà không lớn lắm thì chỉ cần gắn vào tường những mấu sắt và đánh dấu vị trí trục lên đó Nếu căng một sợi dây thép nhỏ giữa các điểm đánh dấu trục trên các mấu sắt đó, ta sẽ có trục dọc và ngang để dựa vào đó tiến hành các công tác xây lắp tiếp theo Thông thường người ta đánh dấu các trục bên trong tòa nhà bằng các dấu trục kim loại gắn lên mặt bê tông của sàn nhà tại vị trí có thể bảo toàn được lâu dài và có thể đặt được máy kinh vĩ trên dấu mốc đó

+ Với những toà nhà công nghiệp lớn, việc bố trí lắp ráp bên trong phức tạp và yêu cầu độ chính xác cao thì những trục chính quan trọng cần được cố định bằng những mốc chôn ngầm dưới mặt nền nhà và phía trên có nắp bảo vệ

Đồng thời với việc đánh dấu và chôn các mốc cố định vị trí trục, người ta còn chuyển vào bên trong toà nhà những dấu mốc độ cao Chúng được đặt ở những vị trí nền móng vững chắc nhất hoặc đặt chung với các mốc mặt bằng chôn dưới nền móng tòa nhà

3.4 THÀNH LẬP LƯỚI KHỐNG CHẾ TRẮC ĐỊA TRÊN MẶT SÀN MÓNG

Lưới khống chế trắc địa trên mặt bằng móng được thành lập trong xây dựng các nhà cao tầng dân dụng và công nghiệp Lưới này dùng cho công tác bố trí trên tầng đầu tiên của ngôi nhà, các điểm lưới được chiếu lần lượt theo thẳng đứng lên các mặt sàn xây dựng tạo thành hệ thống lưới trục, đảm bảo công tác

bố trí chi tiết trên từng tầng

Hệ thống các mốc cố định các trục ở phía ngoài toà nhà sẽ dần bị mất tác dụng khi công trình được xây cao khỏi mặt đất, che khuất hướng ngắm thông giữa các mốc cùng một trục nằm trên 2 phía đối diện của công trình Do vậy ngay khi hoàn thành việc đổ bê tông mặt sàn tầng trệt (còn gọi là mặt bằng gốc) Cần phải nhanh chóng thành lập ngay trên đó một lưới bố trí cơ sở nằm ở phía trong công trình Lưới này dùng cho công tác bố trí trên tầng đầu tiên của toà nhà, các điểm của lưới được chiếu lần lượt theo phương thẳng đứng lên các mặt sàn xây dựng tạo thành hệ thống lưới trục, đảm bảo công tác bố trí chi tiết trên

Trang 2

và thao tác Chiều dài cạnh của lưới thường từ 2050m tuỳ thuộc vào kích thước và hình dạng của công trình Sử dụng các chương trình lập sẵn theo thuật toán bình sai gián tiếp để ước tính độ chính xác của các phương án đo lưới tương tự như lưới khống chế bên ngoài móng.

Độ chính xác đo các yếu tố của lưới được xác định dựa trên tiêu chuẩn sai

số trung phương vị trí tương hỗ tại vị trí yếu nhất của lưới khoảng 1,5  2mm Thành lập lưới khống chế trên mặt bằng móng nên áp dụng phương pháp tam giác đo góc cạnh với thiết bị sử dụng là máy toàn đạc điện tử

Ngoài lưới khống chế mặt bằng, cần lập các điểm khống chế độ cao làm cơ sở cho công tác bố trí trên mặt bằng móng, đồng thời độ cao các điểm này cũng được chuyền lên các tầng xây dựng để phục vụ công tác bố trí và đo vẽ hoàn công phần trên mặt đất của công trình Các mốc khống chế độ cao có thể gắn trên móng trong quá trình đổ bê tông hoặc đánh dấu lên các cột nhà tại tầng một của công trình Để kiểm tra, các tuyến

đo nối độ cao cần tạo thành các vòng khép

Công việc tiếp theo được tiến hành tuần tự như sau:

3.4.1 Chọn điểm sơ bộ đánh dấu trên mặt bằng cơ sở

Vị trí các điểm của lưới trên mặt bằng móng được bố trí từ các điểm khống chế bên ngoài công trình Có thể chọn các điểm này tại các vị trí hố kỹ thuật của toà nhà để thuận tiện cho việc chiếu lên các tầng Do đặc điểm mặt bằng móng của toà nhà cao tầng thường không lớn lắm nên chúng ta có thể sơ bộ bố trí các điểm lưới này bằng mắt và thước thép sao cho các điểm được chọn này gần với giá trị thiết kế

Các điểm đã được chọn cần được đánh dấu cẩn thận bằng cách khoan và gắn trực tiếp trên sàn bê tông bằng các dấu mốc kim loại hoặc đục dấu chữ thập mảnh trên tấm kim loại đã được gắn chặt vào sàn bê tông

3.4.2 Đo đạc các yếu tố trong của lưới

Vì mạng lưới có các cạnh ngắn, cho nên cần có biện pháp để hạn chế tối

đa ảnh hưởng của sai số định tâm máy, tiêu ngắm và gương phản xạ các cạnh của lưới được đo bằng thước thép chính xác đã kiểm nghiệm hoặc máy đo dài độ chính xác cao Độ chính xác đo cạnh cỡ 0,5mm, với sai số trung phương tương đối là 1:50000

Quá trình đo yêu cầu phải là người có chuyên môn thực hiện và phải tuân thủ các quy định ghi trong tiêu chuẩn và quy phạm của chuyên ngành

Trang 3

52

Với trường hợp số góc đo lớn hơn 2 vòng cần phải tính ngay giá trị góc trung bình sau mỗi trạm đo, đồng thời kiểm tra biến động của sai số 2C có nằm trong yêu cầu cho phép hay không, độ chênh lệch góc giữa các vòng đo, độ chênh lệch khoảng các giữa lần thuận và đảo và chênh lệch khoảnh cách giữa đo

đi, đo về đối hướng

3.4.3.Xử lý số liệu đo đạc

Việc xử lý các số liệu đo đạc được thực hiện theo các bước sau đây:

Kiểm tra số liệu đo đạc hiện trường : Bao gồm kiểm tra sổ đo, kiểm tra sai

số khép góc, kiểm tra các cạnh trung bình giữa các lần đo đi đo về Mục đích phát hiện sai số thô tìm ra nguyên nhân để có biện pháp khắc phục sửa chữa hoặc đo lại nếu không đạt yêu cầu, việc kiểm tra cần có 2 người độc lập với nhau

Tính toán số liệu đo : Sau khi không còn sai số thô tiến hành tính toán xử

lý toán học các trị đo để xác định toạ độ, độ chính xác vị trí các điểm trong lưới Công việc này được thực hiện một cách dễ dàng, nhanh chóng với sự hỗ trợ của máy tính theo các chương trình đã được lập sẵn hiện nay Cuối cùng, in ấn toạ

độ các điểm sau khi tính toán phục vụ cho công tác hoàn nguyên

3.4.4 Hoàn nguyên điểm của lưới về vị trí thiết kế

Sau khi tính toán bình sai lưới vừa đo cần hoàn nguyên các điểm khống chế về vị trí cách trục biên của công trình từ 0,6 m đến 1,0 m Do phạm vi công trình nhỏ, việc bố trí sơ bộ được thực hiện bằng thước thép hoặc bằng máy điện

tử nên yếu tố hoàn nguyên là rất nhỏ Hơn nữa hệ toạ độ được chọn cho việc thi công nhà cao tầng thường là hệ trục toạ độ giả định songsong với trục của công trình Vì vậy việc hoàn nguyên có thể thực hiện với độ chính xác cao theo trình

tự của ví dụ sau đây( hình 3.16):

Hình 3.16 Sơ đồ bố trí hoàn nguyên

Ví dụ : Điểm A của lưới đã được bố trí sơ bộ, đo đạc và tính toán toạ độ, yêu cầu phải hoàn nguyên về vị trí thiết kế A1 Trình tự thực hiện như sau:

+ Đặt máy toàn đạc điện tử tại điểm A dọi tâm cân bằng máy chính xác ngắm về một điểm khác trong lưới sao cho số đọc trên vành độ ngang là

0O00'00", đánh dấu được điểm T1 cách máy từ 5 đến 10 m (Trường hợp máy có

Trang 4

53

sai số 2C cần phải đo thuận đảo bằng cách sau khi định hướng ở vị trí thuận quay máy sao cho số đọc trên vành độ ngang là 0O00'00" đánh dấu trên hướng ngắm cách điểm A từ 5 đến 10m một điểm T Sau đó đảo kính quay máy sao cho số đọc trên vành độ ngang là 180O00'00" cũng đánh dấu trên hướng ngắm này cách điểm A từ 5 đến 10m một điểm D Nếu không có sai số 2C thì điểm T

và D phải trùng nhau, nhưng có sai số 2C nên 2 điểm này không trùng nhau vì vậy điểm T1 sẽ là điểm giữa của đoạn T và D)

+ Dùng dây bật mực bật một đường thẳng nối A và T1, đây chính là phương song song với trục X hay N

+ Quay máy đi 90o00'00" trên hướng này với khoảng cách 5 đến 10 m ta đánh dấu được điểm T2 (trường hợp máy có sai số 2C các thực hiện như trên sau khi quay máy đi 90o00'00" ở lần thuận thì lần đảo chúng ta quay máy sao cho số đọc trên vành độ ngang là 270O00"00")

+Dùng dây bật mực bật một đường thẳng nối A và T2 đây chính là phương song song với trục Y hay E

+ Xác định các yếu tố hoàn nguyên:

A 1 A

A 1 A

Y Y

Y

X X

+ Các toạ độ sau khi hoàn nguyên sẽ được đánh dấu lại trên mặt sàn bê tông bằng các dấu mốc kim loại được khoan đặt vào trong bê tông hoặc dấu chữ thập đục mảnh trên tấm kim loại đã gắn chặt vào sàn bê tông Các mốc này được khoanh bằng sơn đỏ ghi rõ tên mốc bên cạnh để tiện cho việc sử dụng

+ Độ chính xác vị trí điểm sau khi hoàn nguyên Ta có góc phương vị và khoảng cách hoàn nguyên được tính theo công thức :

2 2

Y X

d

X

Y arctg

M

M

 +

; Với dM là cạnh và M là phương vị cần hoàn nguyên

Gọi : mP : là sai số vị trí điểm hoàn nguyên

md : là sai số đo khoảng cách thường được đo bằng thước với độ chính xác

m d m m

Trang 5

Theo số lệu tính trên bảng 3.2 với khoảng các hoàn nguyên nhỏ hơn 0.1 m thì sai số định hướng hoàn nguyên cho phép đến 1O Khi khoảng cách hoàn nguyên càng lớn thì phải định hướng càng chính xác Do các điểm bên trong của lưới được chọn sơ bộ bằng thước thép và được đo đạc bằng máy toàn đạc điện

tử độ chính xác đo góc từ 1" đến 5 " độ chính xác đo cạnh khoảng vài mm Vì vậy khoảng cách hoàn nguyên là nhỏ vì vậy có thể đặt máy tại một điểm của lưới (lưới bố trí bên trong) Sau khi dọi tâm cân bằng máy ngắm về một điểm khác trong lưới lấy giá trị 0O00'00" coi đó là 1 hướng của trục toạ độ trên hướng này đánh dấu một điểm các vị trí đặt mát 5 đến 10 m sau đó bật mực để được hướng thứ nhất, quay máy đi 90O00'00" ta được hướng trục toạ độ thứ 2 thao tác tiếp theo như cách hoàn nguyên đã nói ở trên ta sẽ lầ lượt hoàn nguyên tất cả các điểm một cách nhanh chóng với độ chính xác yêu cầu

3.4.5 Đo kiểm tra các yếu tố của lưới sau khi hoàn nguyên

Dùng máy toàn đạc điện tử dùng chế độ đo toạ độ để kiểm tra các toạ độ của lưới, kiểm tra các góc và các cạnh trường hợp các điểm bị sai số vượt quá hạn sai cho phép thì phải hoàn nguyên lại Có thể dùng máy kinh vĩ và thước thép để đo đạc kiểm tra các yếu tố sau khi hoàn nguyên

Ghi chép cẩn thận toạ độ các vị trí bị sai lệch để có cơ sở phục vụ xây dựng báo cáo sau này

3.5 BỐ TRÍ CÁC TRỤC CHI TIẾT CỦA CÔNG TRÌNH:

3.5.1 Bố trí các trục chính của công trình từ các điểm của lưới bố trí bên trong

Sau khi xây dựng lưới bố trí bên trong công trình chúng ta xử dụng ngay các điểm này của lưới để bố trí các trục chính của công trình Do mỗi đơn nguyên hay mỗi khối nhà đều có 4 điểm khống chế với các cạnh song song (hoặc vuông góc) với các trục chính vì vậy có thể dùng máy toàn đạc điện tử hoặc máy kinh vĩ quang cơ phối hợp với thước thép để bố trí khá dễ dàng Giả thiết các trục chính trong toà nhà là X1X1, X2X2, Y1Y1, Y2Y2 đã được thể hiện trên bản vẽ thiết kế (hình 3.17)

Các điểm A,B,C,D là các điểm lưới bố trí bên trong công trình đã được đo đạc và hoàn nguyên về đúng vị trí thiết kế Để bố trí được các trục trên về đúng

vị trí thiết kế ta thực hiện theo trình tự sau:

Trang 6

55

Đặt máy kinh vĩ (hay máy toàn đạc điện tử) tại một điểm khống chế (A), định hướng máy tới điểm khống chế thứ 2 (D) Trên hướng ngắm này dùng thước thép để đo khoảng cách từ điểm khống chế thứ 2 (D) về phía trục Y2Y2bằng giá trị đã thiết kế đã định trước ta đánh dấu được điểm 1 Quay máy đi 90Otrên hướng ngắm này từ điểm B về phía trục X1X1 bằng giá trị đã thiết kế đã định trước ta đánh dấu được điểm 2 Tiếp tực quay máy đi 90O nữa theo hướng ngắm kể từ A ta đánh dấu được điểm 3 Quay máy đi 90O một lần nữa theo hướng ngắm kể từ A ta đánh dấu được điểm 4

Hình 3.17 Sơ đồ bố trí các điểm trục chính từ lưới bố trí bên trong công trình

Chuyển máy sang điểm C lần lượt làm như tại điểm A ta đánh dấu được các điểm 5, 6, 7, 8 như hình vẽ

Bằng cách bật mực từ (1 và 7 ; 6 và 4; 3 và 5; 2 và 8) ta được các trục chính

X1X1, X2X2, Y1Y1, Y2Y2 đồng thời giao của các trục này chính là các điểm trục chính cần bố trí

3.5.2 Bố trí các trục chi tiết của công trình

Đặt máy kinh vĩ (hay máy toàn đạc điện tử) tại một điểm khống chế, định hướng máy tới điểm khống chế thứ 2 (cùng nằm trên một trục) Trên hướng ngắm này dùng thước thép để đo khoảng cách giữa các trục chúng ta xác định được vị trí các trục trên mặt bằng cơ sở

Lần lượt làm như vậy với các cạnh khác của lưới tại các điểm giao cắt của các trục sẽ được đánh dấu lại trên mặt sàn bê tông bằng các dấu mốc kim loại được khoan đặt vào bê tông, hoặc có thể dùng các đinh bê tông có dấu tâm tròn ở đầu mũ đóng hoặc gắn trực tiếp lên sàn bê tông Các điểm dấu mốc này được khoanh băng sơn đỏ và ghi ký hiệu bên cạnh để tiện cho việc sử dụng Vị trí của các trục chi tiết trên mặt bằng được cố định bằng cách bật mực Độ chính xác bố trí các trục nằm trong khoảng từ 2 đến 3 mm

Trang 7

56

BÀI 7 LẮP ĐẶT VÀ ĐIỀU CHỈNH CÁC KẾT CẤU XÂY DỰNG

Chỗ giao cắt của các đường bật mực chính là các điểm trụ, cột của công trình Các điểm này cũng được đánh dấu bằng các đinh bê tông và khoanh bằng sơn đỏ, ghi ký hiệu như trong bản vẽ thiết kế, để tiện cho quá trình thi công Sau khi đã xác định được các điểm trục các đơn vị thi công căn cứ vào hướng dóng thẳng dùng thước thép đặt các khoảng cách tương ứng để xác định vị trí đường biên của các cột, vị trí cầu thang, vị trí tường thang máy

Đối với các chi tiết còn lại trên mặt bằng, người ta thường bố trí chúng từ các trục chính theo phương pháp toạ độ vuông góc Yêu cầu độ chính xác bố trí các chi tiết thường được cơ quan thiết kế ấn định và được ghi vào trong hồ sơ thiết kế công trình Nhưng thông thường phải nhỏ hơn 5 mm

Đặc biệt quan trọng đối với công trình công nghiệp

Các kết cấu cơ bản của công trình công nghiệp dạng nhà khung một tầng có kích thước lớn được biểu diễn trên hình 3.18

Hình 3.18 Các yếu tố kết cấu của nhà công nghiệp một tầng

Cột được đặt trên các hướng trục được bố trí dọc và ngang của ngôi nhà Khoảng cách giữa các trục dọc gọi là nhịp, giữa các trục ngang gọi là bước của cột

Đế cột được đặt trên móng của chúng

Trang 8

57

Mối liên hệ dọc của các cột được đảm bảo nhờ giàn vì kèo và các cột, còn mối liên hệ ngang nhờ giàn mái Mái và tường thường được lắp dựng bằng các tấm đúc sẵn

2.1 Quy trình thực hiện

Khi xây dựng nhà công nghiệp, tiến hành khối lượng lớn các công tác trắc địa chuyển bản thiết kế ra ngoài thực địa, chuẩn bị, kiểm tra, thành lập lưới khống chế thi công… Từ các điểm lưới khống chế thi công chuyển ra thực địa trục chính và trục cơ bản của các ngôi nhà, công trình trên mặt đất và công trình ngầm Khi bố trí chi tiết cần xác định vị trí của các kết cấu riêng biệt từ trục cơ bản đã được chuyển và đánh dấu trên thực địa

2.1.1 Công tác trắc địa chuẩn bị cho lắp ráp

Sau khi móng đã được xây dựng xong và kết quả đo vẽ hoàn công cho thấy công tác bố trí móng đạt kết quả yêu cầu, thì có thể bàn giao móng cho bộ phận xây lắp để tiến hành lắp đặt các kết cấu xây dựng và kết cấu kỹ thuật Để đảm bảo cho các công tác lắp đặt này được thuận tiện và chính xác, cần phải tiến hành một số công việc chuẩn bị như sau:

2.1.2 Chọn các trục lắp ráp

Trong công tác xây dựng, các trục bố trí thường được chọn trùng với các trục đối xứng mặt bằng của công trình Các trục đối xứng này thực chất là các đường hình học để dựa vào đó người ta bố trí các đường ranh giới móng, trục các hàng cột Mép tường ngoài và các phần khác của tòa nhà Nhưng đối với việc lắp đặt các kết cấu xây dựng và thiết bị kỹ thuật thì trục lắp ráp cần được chọn sao cho có thể đảm bảo thuận tiện nhất cho các công tác trắc địa phục vụ lắp ráp Để thỏa mãn yêu cầu này, trục lắp ráp được chọn sao cho chúng vừa song song với trục của nền móng, vừa trùng với một số đường thẳng quan trọng nào đó về mặt quy trình kỹ thuật Trục được chọn như vậy sẽ tiện lợi hơn trong việc đặt các thiết bị vào vị trí thiết kế

Ví dụ: Khi lắp ráp đường chuyển động của các dây truyền băng tải (hình 3.19a) người ta không chọn trục đối xứng của đường làm trục lắp ráp mà chọn trục hay mép thẳng đứng của một trong các đường dẫn hướng Còn khi đặt các khối thiết bị hoặc tổ máy có dạng hình trụ nằm thành một dãy liên tục thì chọn trục lắp ráp là đường thẳng đi qua các đường sinh ngoài cùng của các khối hình trụ (hình 3.19b) Dựa vào các đường thẳng đó mà đặt các máy móc thiết bị vào vị trí thiết kế bằng máy kinh vĩ hoặc bằng dây căng…

Trang 9

58

Hình 3.19

Nói chung việc chọn trục lắp ráp được quyết định sau ki nghiên cứu tỉ mỷ các bản vẽ nền móng, các bản vẽ bố trí tổng quát các thiết bị cũng như bản vẽ của từng tổ máy, tìm hiểu các sơ đồ kỹ thuật…

Việc chọn trục lắp ráp cũng cần lưu ý đến khả năng sử dụng các trục đó đến việc kiểm tra định kỳ độ ổn định của các tổ máy trong quá trình hoạt động sau này

Để thuận tiện cho công tác trắc địa thì trục lắp ráp phải chọn sao cho giữa các điểm chon mốc của trục sau khi đã đặt thiết bị vẫn có thể nhìn thông suốt nhau và thuận lợi cho việc đo đạc trên toàn bộ

đường thẳng hàng Dự định chọn các trục lắp ráp

phải được thông qua kỹ sư trưởng thiết kế và kỹ

sư trưởng lắp máy Sau đó tùy thuộc vào độ

chính xác theo yêu cầu của việc đặt và điều chỉnh

các tổ hợp máy mà bố trí các loại dấu mốc thích

hợp

2.1.3 Chọn mốc cố định trục

Mốc cố định trục lắp ráp cần phải thỏa

mãn các yêu cầu sau:

- Các mốc phải cố định, nghĩa là cấu tạo và

độ chon sâu của chúng phải đảm bảo sự biến

động về mặt bằng và độ cao của các mốc là nhỏ

hơn so với hạn sai cho phép đối với công tác lắp

ráp

- Các mốc cần phải giữ được lâu dài vì

chúng không những cần thiết trong quá rình lắp

ráp mà còn dung để kiểm tra định kỳ các tổ hợp

máy trong quá trình hoạt động và để qua trắc

biến dạng nền móng

- Cấu tạo của các mốc phải được đảm bảo

cho việc định tâm máy và bảng ngắm nhanh

chóng với độ chính xác cao

Hình 3.20 Cấu tạo mốc chôn sâu P.X.Muraviev

1

4

3 2

5

6 7

Hình 3.20 Cấu tạo mốc chôn sâu P.X.Muraviev

Hình 3.20 Cấu tạo mốc chôn sâu P.X.Muraviev

1

4

3 2

5

6 7

Trang 10

hình 3.20)

Phần dưới của mốc là một ống thép (6) có đường kính 200 - 300 mm được đặt vào một lỗ khoan thẳng đứng đến tận lớp đá gố và đổ đầy bê tông trong ống Phần trên của ống có chừa khoảng một mét không đổ bê tông Bên trong ống đặt một thanh treo có thể xoay được , người ta gắn vào đó một tâm mốc (2)

có các ốc điều chỉnh phía trên (3) và phía dưới (4)

Các ốc điều chỉnh phía trên dùng để đua tâm mốc vào hướng thẳng hàng của trục tâm mốc về vị trí thẳng đứng dụa vào một ống thủy đặc biệt bắc ngang

Để giảm ảnh hưởng của giao động nhiệt theo mùa đến mốc, xung quanh mốc người ta xây một giếng bọc (5) để cách nhiệt và ngăn nước Giếng được xây sâu 3-5m bằng gạch hay đổ bê tông với đường kính của giếng lớn hơn 1 m

Ở khoảng giữa ống thép và giếng được đổ đầy loại vật liệu cách nhiệt như xỉ than, thủy tinh ở phần đầu và mặt ngoài ống thép có gắn thêm một dấu mốc có dạng chỏm cầu (7) bằng thép không rỉ để làm mốc thủy chuẩn cơ sở trên giếng

có một nắp (1) để bảo vệ các đầu mốc

Để cố định các trục phụ thường dùng các dấu mốc kiểu đơn giản hơn (hình 3.21) Đầu mốc được hạn chế bằng thép không rỉ, phần dưới có độ dài 20-30cm

Các mốc này được lắp vào trong các lỗ

đục vào móng, tường, cột, hoặc vào các tấm

bê tông nguyên khối Vị trí của các trục được

dánh dấu bằng một lỗ khoan nhỏ trên đầu

mốc và mốc được bảo vệ bằng một nắp đậy

nhỏ Đối với các mốc kiểu phức tạp thì đầu

mốc được chế tạo có dạng đặc biệt (hốc lõm

hình trụ hoặc trụ có đầu chỏm cầu ) dùng để

định tâm cưỡng bức máy kinh vĩ hoặc bẳng

ngắm chuyên dùng đặt trên nó (hình 3.22) Hình 3.21 Dấu mốc cố

định các trục phụ Hình 3.21 Dấu mốc cố định các trục phụ

Trang 11

60

Hình 3.22 Các dạng mốc định tâm cưỡng bức

2.1.4 Đo kiểm tra các trụ lắp ráp

Trước khi dặt thiết bị cần phải kiểm tra cẩn thận độ vuông góc và khoảng cách thiết kế giữa cac trục lắp ráp Để làm việc này, giao điểm của các trục dọc

và trục ngang được chuyển trực tiếp lên bề mặt móng bằng máy kinh vĩ quang học theo phương pháp giao hội đường thẳng hàng và cố định bằng các mốc tạm thời (trên hình 3.23) là các điểm I, A/I, B/I, II,A/II, B/II

Sau đó đo khoảng cách giữa các trục dọc (giữa các điểm I, A/I, B/I,II, A/II, B/II)

và khoảng cách giữa các trục ngang (giữa các điểm I và II) bằng lưới thép đã được kiểm nghiệm có căng bằng lực kế hoặc bằng thước dây Invar (tùy thuộc vào yêu cầu độ chính xác đo cạnh)

Khi đo các khoảng cách bằng thước thép, để đánh dấu vị trí điểm cuối của

mỗi đoạn đặt thước đo trên móng thì trước khi đo cần làm một số việc chuẩn bị như: đinh hướng tuyến, đánh dấu sơ bộ tương đoạn đặt thước và tại đó đổ một ít vữa xi măng rồi gắn vào đó một tấm kim loại mềm để khi đặt thước đo , người ta

sẽ vạch dấu lên tấm kim loại này Dùng máy kinh vĩ để điều chỉnh đầu thước đặt đúng tuyến đo Khi tuyến đo đi qua các hốc lõm, các lỗ cửa trên móng thì tại đó phải làm sàn lát hoặc đậy lại bằng một tấm gỗ Nếu tuyến đo không ngang bằng thì các điểm gãy khúc cần được đo độ cao và tính số hiệu chỉnh do độ dốc thước

và chiều dài đo được

Hình 3.23 Sơ đồ các trục lắp ráp

Trang 12

61

Nếu các mốc nằm trên một tấm bê tông liền khôi (không có chỗ nối) và khoảng cách được đo bằng thước thép, thì thông thường trong bố trí và đo kiểm tra các trục lắp ráp không cần tính đến số hiệu chỉnh nhiệt độ bởi vì hệ số giãn

nở bê tông và của thép gần bằng nhau

Đồng thời với việc đo các khoảng cách, tai các điểm I,II ta đo kiểm tra góc giữa các trục bàng máy kinh vĩ quang học với 2 đên 3 vòng đo

Kết quả đo góc và đo dài được so sánh với các số liệu thiết kế, nếu sai lệch vượt quá hạn sai thì phải hiệu chỉnh chút ít vị trí các trục bằng cách sê dịch hợp lí các điểm trên các mốc cố định

2.1.5 Lập lưới độ cao thi công

Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc lắp đặt các kết cấu xây dựng và thiết

bị kĩ thuật với độ chính xác cao, cần phải lập một hệ thống dày đặc các mốc độ cao thi công Các mốc được gắn trên bệ móng, trên tường hoặc trên các dãy cột nhà đã được lắp dựng Để thuận lợi cho viêc bố trí về độ cao người ta thường đặt một dãy các mốc độ cao thi công ở cùng một độ cao Muốn vậy mốc độ cao được chế tạo theo kiểu vít vặn , đầu vít có dạng chỏm cầu Vít được vặn vào một tấm gá có lỗ khoan ren Tấm gá được hàn vào cột kim loại hoặc gắn vào lỗ đục trên tường , trên các cột bê tông ở mức độ cao đã được đặt sơ bộ từ trước Để đặt được các đầu mốc vào đúng độ cao mong muốn thì phải truyền độ cao từ một mốc thủy chuẩn gần nhất đến từng mốc Khi đó vặn vít để nâng lên hoặc hạ xuống một cách từ từ mia thủy chuẩn đặt trên nó , đến khi qua máy thủy bình ta nhận được số đọc trên mia đúng bằng số đọc đã được tính toán trước tương ứng với gót mia ở độ cao cần đặt Sau khi kiểm tra cẩn thận có thể dùng hàn điện để

cố định vít vặn với tấm gá (hình 3.24)

Độ cao của các mốc thủy chuẩn thi công cần được kiểm tra định kì bằng tuyến đo thủy chuẩn giữa các mốc thủy chuẩn cơ sở

2.2 Công tác trắc địa phục vụ lắp đặt

Để lắp đặt các kết cấu xây dựng đã được chế tạo sẵn đúng vị trí thiết kế thì cần phải tiến hành một số công tác chuẩn bị Trong đó có việc đánh dấu trục trên các cấu kiện xây dựng mà điển hình là các cột bê tông hoặc kim loại có kích thước và trọng lượng lớn (hình 3.25)

Các cột được đánh số theo tên gọi của trục.Số hiệu của nó thường được việc viết dưới dạng kết hợp một chự và một biểu thị cột nằm ở giao điểm của trục dọc và ngang (ví dụ: A/1, K/8 )

Trục của cột được đánh dấu bằng vạch mảnh thẳng đứng dọc theo thân cột bằng sơn đỏ trên bốn mặt thân cột Các dấu trục ở chân cột dùng để điều chỉnh đặt cột vào đúng vị trí mặt bằng,còn dấu trục ở đỉnh cột dùng để hiệu chỉnh cột vào đúng vị trí thẳng đứng khi lắp dựng

Ngoài ra ở phía trên đế cột người ta vạch thêm một vạch ngang phụ Trước khi dựng cột các khoảng cách từ vach ngang phụ này tới mặt phẳng tựa các cầu dầm chìa (dầm Công xôn), đến trỗ gắn nối các vì kèo, đến đỉnh

Trang 13

62

cột được đo bằng thước thép cuộn Các kết quả đo được ghi vào sổ đối với riêng từng cột Như vậy khi cột đã được dựng lên ta chỉ cần xác định độ cao của vạch ngang phụ trên cột là có thể xác định được độ cao của các mặt tựa trên cột

từ đó tính được độ dày của các tấm đệm lót để đưa các mặt tựa này về đúng độ cao theo thiết kế

Hình 3.25 Các dấu trục trên cột nhà công nghiệp

Hình 3.24 Dạng mốc độ cao kiểu vít vặn

1 Cột kim loại

2 Tấm gá

3 Vít vặn

cột nhà công nghiệp

Hình 3.24 Dạng mốc độ cao kiểu vít vặn

I Mặt trên của các dấu mốc được

đặt ngang bằng với độ cao thiết

kế của mặt móng Chuyển các

trục dọc và ngang của cột lên mặt

của các dấu mốc này bằng máy

kinh vĩ (hình 3.26)

2.2.1 Điều chỉnh vị trí mặt bằng

Hiện nay trong xây dựng công nghiệp, kỹ thuật lắp ráp đang được áp dụng rộng rãi Do vậy công tác trắc địa trong xây dựng, ngoài nhiệm vụ bố trí công trình còn phải phục vụ việc lắp ráp các kết cấu công trình vào đúng vị trí thiết

kế

Móng cột

Mốc đánh dấu trục cột Đế cột

Hình 3.26 Bố trí dấu trục cột trên

móng cột

Móng cột

Mốc đánh dấu trục cột Đế cột

Móng cột

Mốc đánh dấu trục cột Đế cột

Hình 3.26 Bố trí dấu trục cột trên

móng cột

Trang 14

63

Các nhà xưởng công nghiệp hiện nay thường được xây dựng dưới dạng các nhà cao một tầng có các cột lớn bằng kim loại hoặc bê tông cốt thép Ở phần trên của các cột có dầm Công xôn để đặt dầm và đường ray cần trục Các cột nhà công nghiệp được đặt trên các móng đặc biệt đúc sẵn hoặc đổ khuôn bê tông cốt thép tại chỗ Do đó công việc đặt các cột vào vị trí thiết kế mặt bằng, độ cao

và độ thẳng

đứng là công việc đầu tiên trong lắp dựng các kết cấu xây dựng

a Đặt các cột bằng kim loại

Các cột bằng kim loại trong các nhà xưởng công nghiệp thường có kích thước và trọng lượng lớn Dầm Công xôn để đặt các đường cần trục được hàn vào phần phía trên của cột, còn gốc cột được hàn với một đế thép dày, trên đó có các lỗ khoan sẵn để cố định chân cột vào các chốt bulông nền (hình 3.27) Như vậy trên mỗi cột sẽ được đặt lên móng sao cho các chốt bulông nền vào đúng các lỗ tương ứng ở đế cột, các vạch trục được đánh dấu trên 4 mặt ở chân cột trùng với các trục dọc và ngang được đánh dấu trên các mốc gắn ở mặt trên của móng cột Việc đặt các cột vào đúng vị trí mặt bằng được tiến hành sau khi đã đưa mặt phẳng tựa của đế cột lên đúng độ cao thiết kế (khi cần thiết có thể cho thêm một tấm đệm lót vào đáy cột để nâng nó lên đúng độ cao thiết kế)

Việc điều chỉnh độ cao đế cột được tiến hành bằng máy thủy chuẩn Đồng thời với việc điều chỉnh vị trí mặt bằng của gốc cột, người ta điều chỉnh đầu cột

để đưa cột về vị trí thẳng đứng nhờ dây dọi hoặc bằng mặt phẳng thẳng đứng được tạo thành bởi 2 máy kinh vĩ

- Độ lệch độ cao mặt tựa của móng cột so với thiết kế ≤ ± 3 mm

Để đưa cột về vị trí thẳng đứng có thể áp dụng một trong hai phương pháp sau:

- Phương pháp dùng quả dọi: Đây là phương pháp đơn giản nhất để điều chỉnh độ thẳng đứng của cột Quả dọi được thả xuống từ đỉnh cột Nguồn sai số chủ yếu trong phương pháp này là sự dao động của dây dọi do ảnh hưởng của đối lưu không khí Để giảm ảnh hưởng của nguồn sai số này cần dùng quả dọi nặng Độ chính xác đặt thẳng đứng bằng dây dọi là vào khoảng 1/1000 chiều cao của cột

- Phương pháp dùng mặt phẳng ngắm chuẩn của hai máy kinh vĩ (hình 3.28): Phương pháp này được dùng khi dựng các cột lớn Khi đó trên hai hướng dọc và ngang của cột và ở cách gốc cột một khoảng d ≥ h (h là chiều cao của cột

Trang 15

Khi điều chỉnh để dựng cột bằng phương pháp này chỉ tiến hành ở một vị trí bàn độ cho nên phải cân bằng máy thật cẩn thận

Hình 3.27 Cột kim loại

1 Móng cột

2 Mốc đánh dấu trục

3 Dấu trụốt buc phía dưới

4 Đế cột 7 Dầm và ray cần trục

5 Chốt bu lông nền 8 Dấu trục phía trên

6 Dấu vạch ngang phụ

Hình 3.28.

Hình 3.27 Cột kim loại

1 Móng cột

2 Mốc đánh dấu trục

3 Dấu trụốt buc phía dưới

4 Đế cột 7 Dầm và ray cần trục

5 Chốt bu lông nền 8 Dấu trục phía trên

6 Dấu vạch ngang phụ

Hình 3.28.

Sau khi cột đã được lắp dựng và cố định sơ bộ xong, để kiểm tra độ thẳng đứng một cách chắc chắn hơn, người ta chiếu dấu trục ở phía trên xuống phía dưới ở hai vị trí thuận và đảo ống kính, lấy vị trí trung bình 2 vết trục được chiếu xuống gốc cột, sau đó đo độ lệch giữa dấu vạch trung bình này so với dấu trục phía dưới Sai lệch này phải < 1/1000 chiều cao của cột và không được lớn hơn 35mm

Trang 16

65

Hình 3 29 Sơ đồ bố trí phương pháp ngắm cạnh sườn

Nếu có nhiều cột nằm thẳng đứng trên hướng của một trục nào đó thì để đo vẽ hoàn công các cột đã được lắp dựng, người ta tiến hành áp dụng phương pháp " ngắm cạnh sườn" (còn gọi là "thủy chuẩn cạnh sườn") Nội dung phương pháp này như sau (hình 3.29)

Trên đoạn cần kiểm tra, bố trí một trục A1A'1 song song và cách trục lắp dựng dãy cột AA' một khoảng l  1m Các điểm A1; A'1 được chôn mốc cố định Khi kiểm tra dãy cột máy kinh vĩ được cân bằng và định tâm tại điểm đầu A1, còn bảng ngắm được định tâm tại điểm cuối A'1, định hướng máy kinh vĩ về bảng ngắm Sau đó bằng cách nâng, hạ ống kính, người ta đọc số trên mia được đặt lần lượt ở phía trên đỉnh và phần dưới gốc của từng cột Mia luôn được đặt ngang bằng và vuông góc với mặt bên của cột (vuông góc với mặt phẳng chuẩn trực của máy kinh vĩ đã được định hướng theo trục A1A'1) Lấy trị trung bình của các số đọc trên mia từ hai vị trí bàn độ Hiệu của trị trung bình các số đọc ở phía trên bti và phía dưới bdi đặc trưng cho độ nghiêng ngang của mỗi cột, biểu thị bằng đơn vị độ dài:

∆li = bti - bti còn hiệu số ∆ai của khoảng cách cố định 1 và trị trung bình số đọc trên mia phía dưới của mỗi cột (bdi): ∆ai = 1 - bdi đặc trưng cho độ chính xác của việc đặt các gốc cột vào vị trí mặt bằng thiết kế

Như vậy chỉ cần đặt máy tại điểm đầu định hướng tới bảng ngắm ở điểm cuối và di chuyển mia lần lượt qua từng cột, ta có thể kiểm tra được độ nghiêng ngang của từng cột theo hướng vuông góc với trục dãy cột Còn độ lệch dọc của các cột thì được kiểm tra bằng cách lần lượt đặt máy kinh vĩ trên hướng trục ngang của mỗi cột và chiếu bằng 2 vị trí thuận đảo ống kính dấu trục ở phía trên xuống dưới Độ sai lệch giữa hình chiếu của dấu trục phía trên so với dấu trục của móng không được quá 1/1000 chiều cao của cột

b Đặt các cột bằng bê tông cốt thép vào vị trí thiết kế

Các cột bê tông cốt thép đúc sẵn sẽ được lắp dựng trên các móng đặc biệt được chế tạo sẵn hoặc được đổ bê tông tại chỗ và được gọi là các móng " cốc"

Móng cốc có một số dạng như ở hình 3.30

Trang 17

66

Hình 3.30 Một số dạng móng cốc

- Khi dựng ván khuôn đổ móng cốc cần đặc biệt lưu ý độ song song của thành phía trong của cốc với các trục dọc và ngang của móng Thành phía trong cốc phải thẳng đứng, không bị nghiêng Ngoài ra giữa thành cốc và vị trí thiết kế mặt biên của cột cần chừa một khoảng hở rộng 2-3 cm để sau này sẽ chèn vữa xi măng vào

- Khi đổ bê tông móng cốc hoặc đặt cốc vào vị trí dựng cột, nên để đáy cốc thấp hơn độ cao thiết kế khoảng vài Centimet (hình 3.31)

Trước khi dựng cột các trục của dãy cột được chuyển lên các mốc gắn xung quanh móng và đánh dấu lại trên cốc bằng một nét mảnh

Để đặt cột vào trong cốc đúng vị trí thiết kế trước tiên cần đo kiểm tra hoàn công độ cao đáy cốc

So sánh giữa độ cao đáy của từng cốc và độ cao thiết kế của đế cột, từ đó tính toán độ dày lớp vữa xi măng đổ thêm vào đáy cốc để đưa dần đáy cốc lên đến độ cao thiết kế của đế cột Dùng cần

cẩu để đặt cột vào móng cốc Khi đó người

ta sẽ điều chỉnh để làm trùng các dấu trục

trên đế cột với các trục dọc và ngang của

móng

Sau khi đã nêm giữ cố định gốc cột

trong cốc bằng các nêm hay bằng một

khuôn đặc biệt, người ta bắt đầu việc đặt

cột vào vị trí thẳng đứng bằng cách thả các

quả dọi nặng dọc theo cặp dấu trục ở phía

trên và phía dưới trong 2 mặt bên nhau của

cột

Việc kiểm tra hoàn công độ thẳng

đứng của các cột bằng bê tông cốt thép

được tiến hành bằng máy kinh vĩ

Khi đó trục dọc của dãy cột có thể

được chuyển trực tiếp lên đầu trên của dãy cột

đã được dựng và đo được độ lệch ngang của

mỗi cột so với nó

Hình 3.31 Cột bê tông cốt thép

Trang 18

67

Độ nghiêng ngang của từng cột trong dãy cũng có thể kiểm tra bằng phương pháp thủy chuẩn sườn, còn độ nghiêng dọc cũng được kiểm tra bằng phương pháp giống như đối với cột bằng kim loại

Độ lệch cho phép về vị trí mặt bằng (so với các trục ) và độ cao (So với mặt phẳng thiết kế đã cho) của các bộ phận của cột không được vượt quá ± 5

Để đặt các kết cấu xây dựng của các công trình cao có yêu cầu độ chính xác cao về độ thẳng đứng của trục (≥ 2÷3 mm/100 m chiều cao) cần áp dụng các máy kinh vĩ có độ chính xác cao hoặc các dụng cụ chiếu thiên đỉnh

c Công tác trắc địa khi lắp đặt và điều chỉnh các đường cần trục

Các yêu cầu cơ bản

Các cần trục là phương tiện cơ giới hóa các hoạt động nâng và vận chuyển các máy móc thiết bị nặng trong các nhà xưởng công nghiệp

Cầu trục cầ bao gồm một cầu kim loại đặt trên các bánh dẫn động và di chuyển dọc theo các đường ray đặc biệt được lắp đặt ở độ cao nào đó Việc nâng vật nặng và chuyển dịch nó theo cầu và đường ray cần trục được thực hiện bằng

Quy phạm lắp ráp xây dựng đã quy định độ lệch cho phép với các thông

số hình học của đường cần trục so với thiết kế như sau (bảng 3.3):

Bảng 3.3

Các thông số của đường cần trục

Các hạn sai (mm) Khi lắp đặt Trong thời gian

Trang 19

68

- Hiệu độ của các đầu ray trên các cột lân cận

nhau khi khoảng cách l giữa các cột là:

- Độ lệch của khoảng cách giữa các trục ray 10 15

- Sự xê dịch tương hỗ của đầu mút các ray

- Độ lệch của ray so với đường thẳng trên

Trường hợp 1: Nếu khổ ray không vượt quá chiều dài của thước, thì bố trí trục của một trong hai đường ray cần trục ở phía dưới bằng cách đặt từ trục chính theo đường vuông góc với nó khoảng cách thiết kế giữa trục ray với trục chính (còn gọi là trục của nhịp)

Các điểm được bố trí là điểm đầu, điểm cuố và các điểm cách đều nhau từ 50- 60m dọc đường cần trục và được cố định một cách chắc chắn Trục đường ray được chuyển lên độ cao lắp ráp và được đánh dấu trên các giá chìa đặc biệt được gắn ở phía trên các đàm hoặc trên cột

Bố trí trục đường thứ hai bằng cách đặt các khoảng cách tương ứng bằng các khổ đường cần trục tính từ trục trục đường thứ nhất và cố định vị trí trục đường

này trên dãy cột thứ hai

Trong trường hợp khi tầm nhìn thông bị hạn chế, có thể xê dịch song song trục của các đường ray cách biên phía trong của các cột một khoảng từ 10-

Trang 20

Hình 3.32 Sơ đồ chuyền trục đường ray cần trục lên phía trên

Trường hợp 2: Khi khổ đường nhỏ hơn chiều dài của thước đo thì vị trí trục bố trí của 2 đường ray có thể được xác định trực tiếp từ trục của nhịp( đã được chôn mốc cố định dưới mặt đất) nhờ máy kinh vĩ và thước thép cuộn( hình 3.33)

Hình 3.33

Định tâm và cân bằng máy tại A và bảng ngắm tại B trên trục nhịp, định hướng chuẩn qua hai điểm AB Trên từng cặp cột theo trục ngang, gắn các giá chìa và kéo căng giữa các cặp giá chìa này một thước thép cuộn Ở giữa phần kéo căng của thước thép gắn một bảng ngắm đặc biệt có đánh dấu một vạch thẳng đứng

Trang 21

đó đánh dấu điểm trục của các đường ray trên các giá chìa nhỏ được gắn vào các cột cách nhau từ 50- 60m ở mức độ cao hơn đường cần trục từ 0,8- 1m

Việc bố trí được tiến hành trên 2 vị trí bàn độ đứng của máy kinh vĩ và lấy điểm trung bình làm vị trí chính thức của trục ray trên giá chìa

Để đánh dấu vị trí đường ray ở các cột trung gian trong dãy thì giữa các điểm trục đã được chuyển lên các giá chìa, người ta căng một sơi dây thép nhỏ (đường kính 0,5mm), trên đó có treo một quả dọi nhỏ nhọn đầu Nhờ quả dọi di động dọc theo dây căng này mà lắp đặt và hiệu chỉnh vị trí mặt bằng của các dầm và các ray cần trục

Độ chính xác công tác bố trí trục đường ray phải đạt 2- 3mm nên cần phải định tâm máy kinh vĩ thật cẩn thận bằng bộ phận định tâm quang học với sai số định tâm mđt  0 , 5mmvà cân bằng máy chính xác Để làm giảm ảnh hưởng của sai số bố trí các trục và sai số chuyển chúng lên các dầm cần trục người ta thường chỉ bố trí trục của một đường ray còn trục đường ray thứ hai được bố trí bằng cách đặt khoảng cách thiết kế từ trục đường thứ nhất

* Bố trí lắp đặt về độ cao:

Trước khi lắp đặt cần trục, cần đo các mặt phẳng tựa của các dầm, tức mặt trên dầm công xôn của các cột

Muốn vậy cần đo độ cao vạch ngang

phụ đã được đánh dấu từ trước ở phần

dưới của mỗi cột Sau đó kết hợp với số

liệu đo khoảng cách từ vạch ngang phụ tới

mặt trên của dầm công xôn, ta sẽ xác định

được độ cao gần đúng mặt trên của các

trung bình của các bề mặt công xôn

Trên cơ sở mặt cắt dọc và đường

nằm ngang trung bình, người ta tính bề dày

các tấm đệm lót hoặc đục bớt phần đế của

các cấu kiện rồi mới bắt đầu đặt dầm cần

trục Sau đó đặt các ray cần trục vào vị trí

mặt bằng Đồng thời từ mốc thủy chuẩn

gần nhất, nhờ máy thủy chuẩn và thước

Hình 3.34 Gá lắp giá để chuyền độ cao lên các dầm cần trục Hình 3.34 Gá lắp giá để chuyền độ cao lên các dầm cần trục

Trang 22

71

thép cuộn người ta chuyển độ cao thiết kế của các đầu ray lên phía trên và đánh dấu bằng các dấu vạch nằm ngang ở 2 rìa mép và ở giữa mỗi cột Trong trường hợp này, máy thủy chuẩn được đặt trên các dầm cần trục ở giữa đoạn nhịp hay đặt trên giá được gá lắp đặc biệt ở độ cao tiện lợi cho việc đo đạc (hình 3.34)

Đo kiểm tra hoàn công đường cần trục

Sau khi lắp ráp và cho chạy thử nhiều lần, người ta đo vẽ hoàn công về mặt

bằng và độ cao Nếu các thong số của đường cần trục sai lệch so với thiết kế quá giới hạn cho phép thì cần điều chỉnh các đường cần trục này

Trong quá trình vận hành, phải kiểm tra thường xuyên hiện trạng vị trí mặt bằng và độ cao của các đường cần trục Các công tác trắc địa được tiến hành

để

xác định vị trí thực tế của các đường cần trục bao gồm:

- Đo khoảng cách giữa các ray cần trục (bề rộng khổ đường ray)

- Xác định độ không thẳng hàng của đường ray

- Đo thủy chuẩn các đường cần trục

1- Đo khoảng cách giữa các ray cần trục :

Tùy thuộc vào kết cấu của đường cần trục và các điều kiện tiến hành công trắc địa mà khoảng cách giữa các ray cần trục có thể được xác định bằng phương pháp đo trực tiếp hay gián tiếp

Phương pháp đo trực tiếp được áp dụng khi bề rộng khổ đường ray không vượt quá chiều dài của thước đo và có thể tiếp cận để tiến hành đo đạc được

Trong trường hợp này, thước đo được

căng giữa các điểm đánh dấu trục đối xứng

của các đầu ray, dấu trục này được chuyển

lên đầu ray lắp đặt vị trí mặt bằng nhờ một

khuôn đặc biệt (hình 3.35.)

Khi cần thiết thì tính thêm các số hiệu

chỉnh do kiểm nghiệm và độ võng của thước

3- Đo độ cao đường cần trục:

Để xác định độ cao của các ray cần

trục có thể áp dụng các phương pháp thủy

Hình 3.35 Khuôn để chuyển dấu trục lên đầu ray Hình 3.35 Khuôn để chuyển dấu trục lên đầu ray

Trang 23

72

chuẩn hình học, thủy chuẩn lượng giác hoặc thủy chuẩn thủy tĩnh

Thường dùng nhất là phương pháp thủy chuẩn hình học Khi đo, có thể đặt máy trên các đường ray đối diện nhau, đặt trên sàn khung của cần trục cầu hoặc đặt ngay trên mặt đất

Trong trường hợp đặt máy thủy chuẩn ở trên sàn, thì mia có thể được treo vào cần trục cầu Mia treo được liên hệ với bề mặt phía trên của ray cần trục nhờ một thanh đàm nhỏ được đặt ngang bằng và tiếp xúc với bề mặt trên của ray Thay cho việc dùng mia ta có thể dùng thước thép treo có đeo vật nặng ở cuối thước Trong quá trình đo thủy chuẩn người ta dịch chuyển dần cần trục cầu về phía các điểm cần xác định độ cao

Độ cao của các đường ray cần trục cần tuân theo các hạn sai quy định sau:

- Hiệu số độ cao của các đầu ray giữa hai đường trên cùng một mặt cắt ngang không vượt quá 10mm

- Hiệu số độ cao của ray cần trục giữa các cột gần nhau của cùng một đường không được vượt quá l /1500 Trong đó llà khoảng cách giữa các cột

Việc đo kiểm tra độ cao đường cần trục phải được tiến hành theo 2 chiều thuận, nghịch hoặc theo các vòng khép kín

Trang 24

73

BÀI 7 TRUYỀN TỌA ĐỘ TỪ MẶT BẰNG CƠ SỞ VÀ CÔNG TÁC BỐ TRÍ LÊN CÁC TẦNG

1 Truyền toạ độ từ mặt bằng cơ sở lên các tầng xây dựng

Ta phải truyền toạ độ từ mặt bằng cơ sở lên các tầng bắt đầu từ tầng 2 khi đơn vị thi công lập xong mặt bằng ván khuôn để chuẩn bị đổ bê tông sàn Công tác Trắc địa phải tiến hành xác định rõ vị trí đường biên theo thiết kế của mặt sàn, vị trí các lỗ phục vụ cho việc chiếu chuyển điểm lưới bố trí lên các tầng, vị trí tất cả các bộ phận ngầm khác cần lắp đặt trước khi đổ bê tông sàn Quá trình xác định các vị trí này có thể tiến hành bằng máy kinh vĩ, máy toàn đạc điện tử hoặc chiếu sơ bộ bằng máy chiếu đứng với độ chính xác 1cm Sau khi đổ bê tông, công việc chuyển các điểm lưới bố trí bên trong sẽ được thực hiện lại bằng quy trình thao tác chặt chẽ hơn Mục đích là đảm bảo độ thẳng đứng của toà nhà trên suốt chiều cao, các trục công trình tại tất cả các tầng xây dựng đều phải được định vị sao cho cùng nằm trong một mặt phẳng thẳng đứng đi qua các trục tương ứng trên mặt bằng gốc Tức là các điểm toạ độ của lưới bố trí cơ sở đã lập trên mặt bằng gốc sẽ được chuyển lên mặt sàn thi công xây dựng của các tầng theo một đường thẳng đứng Quá trình truyền toạ độ từ mặt bằng cơ sở lên các mặt bằng xây dựng là một dạng công việc rất quan trọng khi xây dựng công trình có chiều cao lớn Công việc này sẽ được thực hiện bằng nhiều phương án

và có thể lựa chọn một trong các phương án sau:

1.1 Truyền toạ độ lên cao bằng máy kinh vĩ

Đây là phương pháp chiếu điểm bằng tia ngắm nghiêng, quá trình thực hiện ở những nơi điều kiện xây dựng rộng rãi, công trình xây dựng có số tầng ít hơn 4 Hoàn toàn không phù hợp cho những nhà có số tầng cao hơn và những nhà xây chen, mặt bằng xung quanh chật hẹp

Phương pháp ngắm nghiêng bắng máy kinh vỹ thường gặp sai số lớn khi

số tầng nhiều lên Ngoài ra phương pháp ngắm nghiêng có thể chuyền lên trên đường viền ngoài của sàn ngang hay mặt cột phỉa ngoài chỉ một điểm của đường trục, mà không thể chuyền điểm thứ 2 vào bên trong công trình bằng phép ngắm trực tiếp vì bị các yếu tố kết cấu khung cản hướng ngắm Các điểm của đường trục thiết kế ở trên sàn thường phải lấy theo các điểm chuyền lên đường viền sàn của các tầng Điều này làm giảm độ chính xác vốn đã thiếu, các điểm trục bố trí bên trong phải

chịu sai số một lần nữa Vì vậy phương pháp này chỉ áp dụng cho nhà thấp có số tầng nhỏ hơn 4 tầng

1.2 Truyền toạ độ lên cao bằng máy toàn đạc điện tử

Đối với các công trình nhà cao tầng xây dựng trên mặt bằng tương đối rộng rãi, chiều cao công trình không vượt quá 10 tầng, có thể sử dụng máy toàn đạc điện tử để chuyển vị trí các điểm lưới cơ sở lên mặt sàn Thực chất là chuyển toạ độ từ điểm đã đánh dấu ở mặt bằng gốc lên sàn thi công Các máy

Trang 25

Độ chính xác của phương pháp phụ thuộc chủ yếu vào khả năng của máy toàn đạc điện tử và có thể coi gần đúng bằng 2 lần độ chính xác đo toạ độ Tuy nhiên độ chính xác xác định toạ độ của máy lại giảm khi độ nghiêng của tia ngắm tăng, vì khi đó độ chính xác của hướng đo giảm đi Đây cũng là một trong những nhược điểm của phương pháp

Quá trình thực hiện được lần lượt mô tả ở dưới đây hình 3.36:

Hình 3.36 Sơ đồ bố trí chuyền tọa độ lên tầng bằng máy toàn đạc điện tử

a Chọn và đánh dấu các điểm cố định (điểm gửi) ở bên ngoài công trình

Các điểm cố định (M,N - 2 điểm gửi) ở bên ngoài công trình cần ngắm thông tới các điểm khống chế trên mặt bằng móng và thuận tiện cho việc chuyển toạ độ lên các tầng xây dựng: phải đảm bảo góc ngóc ống kính không quá lớn (

< 45O ); Khoảng cách từ máy đến điểm trên sàn của công trình được chọn phải lớn hơn hoặc bằng chiều cao công trình và phải nhỏ hơn 300 m Có thể sử dụng nóc nhà mái bằng của các công trình thấp tầng lân cận để bố trí điểm cố định

Trang 26

75

thay vì bố trí trên mặt đất Tuy nhiên các điểm chọn cần được đảm bảo sự ổn định trong quá trình toà nhà được xây cao và không bị ảnh hưởng trong suốt quá trình thi công Các điểm này được chôn sâu và gia cố cẩn thận chắc chắn tâm mốc được cố định bằng dấu chữ thập hoặc lỗ khoan nhỏ trên tấm thép ở đầu bê tông, bên cạnh có ghi rõ tên mốc

Đặt máy tại các điểm khống chế sau khi dọi tâm cân bằng máy định hướng về điểm khống chế khác quay máy tới các điểm gửi tiến hành đo góc, đo cạnh Quá trình đo được tiến hành đo lặp nhiều lần tính trung bình, đồng thời đo

đi đo về, đo nối tới điểm khống chế khác, tiến hành bình sai để xác định toạ độ chính xác cho các điểm gửi

b Chuyển sơ bộ vị trí các điểm khống chế trên mặt móng lên mặt sàn tầng

Đặt máy tại các điểm gửi (M, N) sau khi đã tiến hành dọi tâm cân bằng máy, định hướng trạm máy Tiến hành chuyển sơ bộ vị trí các điểm khống chế trên mặt móng (A0, B0) lên mặt sàn tầng xây dựng (An, Bn) Cần chuyển từ 2 đến

3 điểm trên mặt sàn xây dựng (sao cho các điểm này ở vị trí thuận lợi cho việc

bố trí tiếp)

Bước tiếp theo là chuyển các điểm của lưới bên trong công trình lên mặt bằng xây dựng Từ các điểm đã được gửi trên mặt sàn của tầng đang thi công(An, Bn), tiến hành chuyển các điểm của lưới bên trong công trình lên mặt bằng xây dựng bằng cách:

Đặt máy tại các điểm toạ độ đã được gửi lên sàn(An, Bn), dọi tâm, cân bằng máy, vào toạ độ cho điểm đứng máy, thực hiện định hướng vào một điểm gửi khác

Vào toạ độ cho các điểm của lưới bên trong công trình cần bố trí Sử dụng chương trình Setting-Out (S-O) để bố trí Dùng khoan đóng đinh lên các vị trí vừa bố trí

Độ chính xác của các điểm sau khi bố trí phụ thuộc vào độ chính xác của máy, sai số MO của máy, khả năng bắt mục tiêu, khả năng định tâm, hằng số của gương phản xạ, sai số do việc truyền các điểm gửi

c Đo đạc, tính toán bình sai và hoàn nguyên các điểm sơ bộ về vị trí thiết

kế

Trước khi dùng các điểm lưới bên trong vừa chuyển lên mặt sàn xây dựng

để bố trí các trục chi tiết và các cấu kiện khác, cần phải đo đạc các góc, các cạnh, đường chéo của lưới, đo nối tới 2 điểm gửi ngoài công trình, tính toán bình sai xác định tọa độ chính xác của các điểm sơ bộ vừa chuyển; Sau đó tiến hành hoàn nguyên các điểm sơ bộ về vị trí thiết kế Đánh dấu lại các điểm này bằng cách khoan và đóng đinh trực tiếp lên sàn bê tông, dùng sơn đỏ khoanh tròn và ghi số hiệu mốc bên cạnh

Phương pháp truyền toạ độ bằng máy toàn đạc điện tử cần có không gian tương đối rộng, do đó nhiều khi không phù hợp với các nhà xây chen tại các thành phố Mặt khác phương pháp này cũng chưa đạt được độ chính xác mong

Trang 27

76

muốn vì phải thực hiện đo góc trong trường hợp góc đứng rất lớn, do vậy độ chính xác đo góc sẽ giảm đáng kể do ảnh hưởng của sai số trục ngang của máy không vuông góc với trục đứng của nó (sai số 2i) Tuy nhiên khắc phục đặc điểm này người ta lắp thêm hệ thống kính vuông góc để chiếu Máy được đặt tại các điểm lưới bên trong của mặt bằng cơ sở được lắp ráp như máy chiếu thông thường Nhưng trình tự các bước thực hiện như sau:

Định tâm máy chính xác tại điểm đánh dấu trên mặt bằng cơ sở (A0 hoặc

B0)

Xác lập tia ngắm thẳng đứng bằng cách đặt số đọc trên bàn độ đứng của máy toàn đạc điện tử Z = 0O00'00"

Đặt số đọc trên vành độ ngang là 0O00'00" và chiếu điểm thứ nhất

Lần lượt xoay máy sao cho số đọc trên vành độ ngang là 90O00'00";

180O00'00"; 270O00'00" chiếu tương tự ta được các điểm thứ 2, thứ 3 và thứ 4 Các điểm này được đánh dấu trên kính tại các lỗ chờ của các tầng lắp ráp Bốn điểm 1,2,3,4 sẽ tạo thành một hình vuông Giao điểm của 2 đường chéo của hình vuông sẽ là điểm cuối cùng cần chiếu(A0 hoặc B0)

Trên mỗi tầng lắp ráp cần chiếu ít nhất 3 điểm tạo với nhau thành 2 trục vuông góc với nhau tại một điểm để có thể kiểm tra được kết quả chiếu

Sau khi chiếu cần kiểm tra góc vuông và cạnh trước khi làm các công việc

bố trí tiếp theo

Sai số của phương pháp này :

2 dÊu d 2

diÓm ng

2 sè h 2 C 2

tA d

Với:

mChiếu - sai số chiếu điểm

md.tA - Sai số định tâm = (0.2 đến 0.5 mm)

mC - Sai số cân máy chính là sai số đưa ống kính vào vị trí thẳng đứng (Z=0O00'00")

t m

md.dấu - Sai số đánh dấu điểm trên tấm kính =(0.1 đến 0.2mm)

V - Độ phóng đại của máy

t," - Độ chính xác của máy và độ nhạy của ống thuỷ dài

Hm- Độ cao từ máy đến điểm chiếu

Trang 28

77

" - Hệ số quy đổi sang đơn vị radian = 206265

1.3 Truyền toạ độ lên cao bằng máy chiếu đứng loại ZL

Khi xây dựng các nhà cao hơn 10 tầng thì giải

pháp thông dụng và chắc chắn nhất là sử dụng các

máy chiếu đứng để chuyển tâm toạ độ lên cao theo

phương thẳng đứng

Máy chiếu đứng ZL là loại máy chuyên dùng để

tạo ra tia ngắm thẳng đứng (giống như một dây dọi)

để chiếu từ dưới lên trên Hiện nay trên thị trường có

một số loại máy như PZL (Đức) ZL và NZL của

LEICA (Thuỵ Sỹ) trong đó NZL có thể chiếu được

hai chiều: chiều từ dưới lên trên hoặc chiếu từ trên

xuống dưới Hình 3.37 là máy chiếu đứng PZL của

Đức cho phép chiếu các điểm lên cao 100 m với sai

sai số 1mm

Hiện nay có hai loại máy chiếu đứng đang

được sử dụng trong các công tác Trắc địa công trình

đó là: loại máy tạo ra đường thẳng đứng bằng tia lase

và loại máy tạo ra đường thẳng đứng bằng tia ngắm quang học Trong hai loại máy này thì loại máy chiếu đứng bằng quang học có độ chính xác cao hơn và thường được áp dụng vào công việc chiếu chuyển các tâm toạ độ lên các tầng có

độ cao lớn với độ chính xác cao Quy trình chiếu cơ bản các loại máy đều được thực hiện như nhau Sau đây sẽ giới thiệu trình tự chiếu của máy chiếu loại ZL

a Đặt lỗ chiếu tại các vị trí thích hợp

Công việc này được tiến hành ngay sau khi đơn vị thi công ghép ván khuôn và trước khi đổ bê tông sàn Quá trình thực hiện tuần tự theo các bước sau:

Đầu tiên kỹ thuật viên Trắc địa phải đánh dấu tương đối chính xác các vị trí lỗ hổng trên mặt sàn tầng thi công, để theo đó người ta sẽ cắt ván khuôn sàn

và lắp đặt vào đó các hộp khuôn bằng gỗ có kích thước (20x20cm) Mục đích chừa các lỗ hổng dùng cho việc chiếu các điểm sau khi đổ bê tông Tiến hành

cố định các hộp gỗ một các chắc chắn và gắn lên mặt trên của nó (tức là sàn tầng cần chuyển toạ độ lên) tấm lưới chiếu (Paletka) Tấm lưới này thường làm bằng mi-ca trong suốt, trên đó có kẻ một mạng lưới ô vuông và ghi số toạ độ theo hai hướng Dựa theo số đọc trên lưới có thể xác định được vị trí chính xác của đường thẳng đứng được chiếu lên

Đặt máy chiếu đứng tại các điểm cơ sở cần chiếu trên mặt bằng gốc chiếu kiểm tra vị trí đặt lỗ chiếu đồng thời đánh dấu vị trí các điểm chiếu được lên trên tấm lưới chiếu Điểm này sẽ được dùng để định tâm máy kinh vĩ phục vụ cho việc bố trí sơ bộ các trục, đo khoảng cách thiết kế để định dạng mép trong của ván khuôn, đường biên của mặt sàn tầng và đường biên của các vị trí khác

Hình.3.37 Máy chiếu đứng

PZL- 100 Hình.3.37 Máy chiếu đứng

PZL- 100

Trang 29

78

Do độ chính xác các kích thước phần bê tông có thể cho phép đến 1cm, nên có thể dùng máy kinh vĩ hoặc máy toàn đạc điện tử có bộ phận định tâm quang học tốt Để thay việc chiếu kiểm tra và đánh dấu sơ bộ bằng việc đặt máy ngay lên lỗ hổng của sàn cốp pha, định tâm trực tiếp xuống vị trí tâm điểm của lưới bố trí cơ sở đã được đánh dấu tại mặt bằng tầng liền trước đó, sau đó bố trí

vị trí cốp pha và biên tầng theo các phương pháp thông thường Việc chiếu điểm

để truyền toạ độ các điểm một cách chính xác sẽ được thực hiện lại với quy trình

và thao tác chặt chẽ sau khi đã hoàn thiện quá trình đổ bê tông mặt sàn

b Thực hiện chiếu điểm bằng máy chiếu ZL

Các máy chiếu đứng nói trên đều làm việc theo nguyên tắc tự động với cơ cấu

tự điều chỉnh để tạo ra đường thẳng đứng trong máy bằng cách dựa trên nguyên

lý con lắc treo, phạm vi hoạt động theo cơ cấu tự điều chỉnh với máy chiếu ZL là

'

10

 Định tâm dụng cụ được thực hiện nhờ bộ dọi tâm quang học lắp ở đế máy Sai số đặt đường thẳng đứng quang học của bộ tự cân bằng là khoảng 0,5” Độ chính xác chiếu đứng bằng dụng cụ PZL khi chiều cao chiếu đến 100m là

1,2mm

Đầu tiên người ta phải đặt máy tại các điểm cơ sở trên mặt bằng tầng gốc,

để chiếu thông qua lưới chiếu toạ độ (Tấm Paletka) được gắn tại các lỗ hổng chừa ra tại các sàn tầng phía trên Sau khi điều chỉnh cho máy vào đúng tâm mốc, cân bằng bọt nước Ở vị trí số đọc 0O trên thị kính qua tia chiếu thẳng đứng

ta đánh dấu được một điểm 1 trên tấm Paletka, tương tự tại các vị trí vành độ ngang 90O, 180O, 270O trên thị kính ta lần lượt đánh dấu tiếp được các điểm 2,3,4 thông qua đường ngắm thẳng đứng trên tấm Paletka Nối các điểm đối xứng lại giao của chúng cho ta điểm cần chiếu Đó chính là vị trí tương ứng của điểm lưới cơ sở tại mặt sàn của tầng thi công Tuy nhiên trong quá trình chiếu điểm bằng máy chiếu đứng cần có các điểm lưu ý sau:

Các máy chiếu đứng loại ZL cần thoả mãn yêu cầu cơ bản là: phần thẳng đứng của tia ngắm ống kính và bộ phận định tâm quang học phải trùng với trục quay của máy Để giảm thiểu sai số do lắp ráp chế tạo dẫn đến sự không hoàn toàn trùng hợp giữa 2 tia chiếu thiên đỉnh và thiên đế, trong trường hợp cần chiếu điểm với độ chính xác cao, ta cần thực hiện chiếu điểm ở 3 vị trí đế máy sau khi lần lượt quay đế máy đi 120O Điểm cần đánh dấu là vị trí điểm trung bình

Các máy chiếu đứng tự động tạo ra tia ngắm đứng bằng cơ cấu điều hoà làm việc theo nguyên lý con lắc treo, trong đó bộ phận cơ bản là lăng kính tam giác được treo trên sợi kim loại mảnh Với máy chiếu đã qua sử dụng, vận chuyển, sự vặn xoắn và biến dạng của các sợi dây kim loại có thể làm cho độ chính xác chiếu điểm không còn đúng với lý lịch máy Thêm vào đó chiều cao tăng lên thì hình ảnh của lưới chiếu cũng kém rõ ràng hơn Vì vậy, đối với công trình có chiều cao lớn không nên chiếu xuyên suốt từ mặt bằng gốc lên mà nên

Trang 30

cơ sở, nếu sai lệch vượt quá giá trị cho phép thì phải tiến hành chiếu điểm lại

Để nâng cao độ chính xác, tiến hành bính sai lưới khống chế khung trên từng tầng có tính đến ảnh hưởng của sai số chiếu điểm Căn cứ vào toạ độ bình sai tiến hành hoàn nguyên các điểm của lưới khung về vị trí thiết kế

c Đánh dấu các điểm sau khi chiếu

Trong quá trình chiếu ở mỗi lần quay đế máy đi 120O sau 4 vị trí chiếu người ta xác định được một điểm trên tấm Paletka được xác định bằng giao của

2 đường nối qua 2 vị trí đối xứng của 4 điểm chiếu trên Như vậy qua 3 lần quay

đế máy ta xác định được 3 điểm và cuối cùng điểm chiếu cần xác định sẽ là trọng tâm của tam giác đi qua 3 điểm này Điểm cuối cùng được xác định này sau khi kiểm tra lại cần phải đánh dấu bảo quản cho suốt quá trình bố trí chi tiết tại sàn thi công và phục vụ việc chiếu tiếp theo Cần kiểm tra các điểm trước khi

bố trí chi tiết các trục của công trình Do đặc điểm trong thi công xây dựng dễ bị vật liệu che lấp do đó mọi công việc chiếu và bố trí trục chi tiết phải làm khẩn trương, kịp thời phục vụ thi công và đỡ bị che lấp

Do tấm lưới chiếu sẽ được tháo ra sau khi quá trình chiếu kết thúc vì vậy các điểm chiếu được xác định cuối cùng này phải được gửi lên mặt sàn bê tông bằng 4 điểm cách tâm chiếu 20 đến 30 cm bằng cách căng 2 sợi chỉ sao cho giao của 2 sợi chỉ này trùng với điểm chiếu Khoan đánh dấu 4 điểm này lên sàn bằng các đinh có dấu chữ thập ở tâm, dùng sơn đỏ khoanh tròn và ghi chú bên cạnh để tiện tìm kiếm sử dụng Khi cần khôi phục lại điểm chiếu để sử dụng ta chỉ việc căng lại 2 sợi chỉ theo từng cặp qua 4 vị trí đánh dấu này

d Đo đạc kiểm tra sau khi truyền toạ độ

Sau khi chiếu cần đo đạc kiểm tra lại các điểm chiếu một cách cẩn thận bằng cách đo lại các giá trị góc, đo lại các giá trị cạnh với độ chính xác như với các điểm lưới của mặt bằng cơ sở Sự sai lệch giữa các trị đo kiểm tra với các đại lượng tương ứng của lưới gốc cho phép đánh giá được chất lượng của công tác chiếu điểm Trong trường hợp sai lệch nhỏ có thể hiệu chỉnh thích hợp để đưa lưới về vị trí tương ứng với lưới thiết kế Trường hợp có sai lệch vượt quá giới hạn cho phép thì cần phải thực hiện lại công việc chiếu, trước hết tại các điểm có ghi ngờ về sự không chắc chắn trong quá trình chiếu

Sai số của phương pháp này :

2 ngcanh 2

dÊu d 2

diÓm ng 2

sè doc 2 C 2

tA d

Với: mChiếu - sai số chiếu điểm

md.tA - Sai số định tâm = (0.2 đến 0.5 mm)

Trang 31

Sai số đọc số phụ thuộc vào chiều cao cần chiếu mđ.số = (0.05 + 0.0061Hm) mm Sai số do ảnh hưởng ngoại cảnh:

) m m

m ( ) H 0141 0 (

m ng . c ¶ nh = m 22 C + 2 ng . diÓm + d 2 . sè

V - Độ phóng đại của máy

t," - Độ chính xác của máy và độ nhạy của ống thuỷ dài

Hm- Độ cao từ máy đến điểm chiếu

"

 - Hệ số quy đổi sang đơn vị radian, "= 206265

Sai số cho phép : m C . phÐp = 3 n(mm) với n là số tầng

1.4 Truyền bằng công nghệ GPS

Khi xây dựng các nhà cao tầng thì công nghệ chuyển các điểm khống chế

cơ sở bên trong lên các mặt sàn tầng xây dựng bằng cách sử dụng máy kinh

vĩ và máy toàn đạc điện tử không còn phù hợp nữa Công nghệ chiếu bằng máy chiếu đứng có độ chính xác cao nhưng nhược điểm phải để lại các lỗ hổng trên sàn theo phương thẳng đứng làm ảnh hưởng đến kết cấu xây dựng Hơn nữa khi chiếu cần phải có nhiều người trông coi vị trí lỗ hổng để đề phòng các vật rơi xuống gây tai nạn cho người và máy chiếu Số tầng càng cao thì phải phân thành nhiều đoạn chiếu như vậy mất khá nhiều thời gian và phức tạp về thao tác cho người thực hiện

Hệ thống định vị GPS (Global Positionming System) là hệ thống định vị toàn cầu bằng cách thu tín hiệu từ các vệ tinh bay trên các quỹ đạo ổn định và có toạ độ chính xác Hiện nay ở nước ta đang sử dụng hệ thống GPS của Mỹ Ngoài

Mỹ ra ở Nga cũng có hệ thống định vị riêng gọi là GLONAS Từ 2006 trở đi, Liên minh Châu Âu cũng dự kiến đưa vào khai thác sử dụng hệ thống định vị toàn cầu GALILEO bằng các vệ tinh của mình

Ngày đăng: 31/10/2022, 08:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm