1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong tục và tín ngưỡng việt nam qua tư liệu hán nôm thời trung đại

216 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phong tục và tín ngưỡng Việt Nam qua tư liệu Hán Nôm thời trung đại
Tác giả Tạ Đức Tú
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Kim Châu, TS. Nguyễn Ngọc Quận
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn hóa học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 216
Dung lượng 2,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (8)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (11)
  • 3. Mục đích nghiên cứu (18)
  • 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài (20)
    • 4.1. Đối tƣợng nghiên cứu (0)
    • 4.2. Phạm vi nghiên cứu (22)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (23)
  • 6. Đóng góp của luận án (26)
  • 7. Bố cục của luận án (27)
  • CHƯƠNG 1. PHONG TỤC, TÍN NGƯỠNG VÀ NGUỒN TƯ LIỆU HÁN NÔM NGHIÊN CỨU PHONG TỤC, TÍN NGƢỠNG (28)
    • 1.1. Khái niệm và nội dung của phong tục, tín ngƣỡng (28)
      • 1.1.1. Khái niệm và nội dung của phong tục (28)
        • 1.1.1.1. Khái niệm phong tục (28)
        • 1.1.1.2. Nội dung phong tục (33)
      • 1.1.2. Khái niệm và nội dung của tín ngƣỡng (37)
        • 1.1.2.1. Khái niệm tín ngƣỡng (37)
        • 1.1.2.2. Nội dung tín ngƣỡng (43)
    • 1.2. Nguồn tƣ liệu nghiên cứu phong tục, tín ngƣỡng (49)
      • 1.2.1. Tổng quan nguồn tƣ liệu Hán Nôm về phong tục, tín ngƣỡng (0)
      • 1.2.2. Địa chí và phạm vi nguồn tƣ liệu nghiên cứu (0)
      • 1.2.3. Hương ước và phạm vi nguồn tư liệu nghiên cứu (59)
    • 2.1. Phong tục lễ tết qua tư liệu địa chí và hương ước Hán Nôm (72)
      • 2.1.1. Phong tục lễ tết Nguyên đán qua tƣ liệu địa chí Hán Nôm (0)
      • 2.1.2. Các tết khác trong năm qua tƣ liệu địa chí Hán Nôm (0)
      • 2.1.3. Phong tục tết Nguyên đán và các tết khác qua tư liệu hương ước Hán Nôm (83)
    • 2.2. Phong tục hôn nhân qua tư liệu địa chí và hương ước Hán Nôm (89)
      • 2.2.1. Khái quát về phong tục hôn nhân (89)
      • 2.2.2. Phong tục hôn nhân qua tƣ liệu địa chí Hán Nôm (0)
      • 2.2.3. Phong tục hôn nhân qua tư liệu hương ước Hán Nôm (91)
    • 2.3. Phong tục tang ma qua tư liệu địa chí và hương ước Hán Nôm (95)
      • 2.3.1. Khái quát về phong tục tang ma (95)
      • 2.3.2. Phong tục tang ma qua tƣ liệu địa chí Hán Nôm (0)
      • 2.3.3. Phong tục tang ma qua tư liệu hương ước Hán Nôm (99)
    • 2.4. Phong tục hương ẩm qua tư liệu hương ước Hán Nôm (108)
      • 2.4.1. Khái quát về phong tục hương ẩm (108)
      • 2.4.2. Nội dung phong tục hương ẩm qua tư liệu hương ước (113)
        • 2.4.2.1. Khao vọng khoa bảng (116)
        • 2.4.2.2. Khao vọng hương chức, quan viên (118)
        • 2.4.2.3. Khao vọng hương lão, nhập hương (121)
  • CHƯƠNG 3. NỘI DUNG TÍN NGƯỠNG QUA TƯ LIỆU ĐỊA CHÍ VÀ HƯƠNG ƯỚC HÁN NÔM (126)
    • 3.1. Thờ cúng thần, Phật qua qua tư liệu địa chí và hương ước Hán Nôm (126)
      • 3.1.1. Khái quát về việc thờ cúng thần, Phật trong văn hóa Việt Nam (126)
      • 3.1.2. Thờ cúng thần, Phật qua tƣ liệu địa chí Hán Nôm (0)
      • 3.1.3. Thờ cúng thần, Phật qua tư liệu hương ước Hán Nôm (134)
      • 3.2.2. Thờ cúng tổ tiên qua tƣ liệu địa chí Hán Nôm (140)
      • 3.2.1. Khái quát việc thờ cúng tổ tiên trong văn hóa Việt Nam (140)
      • 3.2.2. Việc thờ cúng tổ tiên qua tƣ liệu địa chí Hán Nôm (0)
    • 3.3. Một số lễ cúng khác qua tư liệu địa chí và hương ước Hán Nôm (146)
      • 3.3.1. Cúng giỗ Hậu thần (146)
      • 3.3.2. Cúng lễ cầu mưa và cúng lễ Thường tân (149)
    • 3.4. Sự phong phú của tín ngưỡng dân gian qua địa chí và hương ước Hán Nôm (155)
      • 3.4.1. Sự phong phú của tín ngƣỡng dân gian qua tƣ liệu địa chí Hán Nôm (0)
      • 3.4.2. sư phong phú của tín ngưỡng dân gian qua tư liệu hương ước Hán Nôm (160)
  • KẾT LUẬN (165)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (170)

Nội dung

Những công trình nghiên cứu như trên đã giới thiệu văn hóa phong tục, tín ngưỡng của người Việt chủ thể về sự khác biệt giữa các vùng văn hóa không gian và các thời kỳ văn hóa thời gian

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ cuối thế kỉ XVIII, tƣ liệu Hán Nôm đã đƣợc sự chú ý nghiên cứu với các công trình của Lê Quý Đôn nhƣ Toàn Việt thi lục, Vân đài loại ngữ, Quần thư khảo biện, sau đó là Phan Huy Chú với Lịch triều hiến chương loại chí Những công trình này công phu và sâu sắc nhưng chưa thực sự hoàn bị trên phương diện đánh giá khảo cứu văn hiến Những công trình ấy mới chú tâm vào một vài lĩnh vực nhất định, trong đó trọng tâm là văn học Đầu thế kỉ XX, Viện Viễn Đông Bác Cổ đã tiến hành tổng điều tra, thu thập, biên sao về tƣ liệu Hán Nôm tại Việt Nam Việc làm này có hệ thống và quy mô, bước đầu tập hợp một số lượng khá lớn tƣ liệu Hán Nôm tại Việt Nam Từ đây, tƣ liệu Hán Nôm đƣợc tiến hành phân loại sơ bộ và đưa vào lưu trữ Tuy nhiên, do những điều kiện khách quan, tình hình đất nước gặp chiến tranh, chia cắt, nên quá trình nghiên cứu mảng tư liệu văn hiến này hầu nhƣ bị bỏ ngỏ sau đó Khi Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN) đƣợc thành lập (1977) trên cơ sở của Ban Hán Nôm (1970) đến nay đã có nhiều nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau và có hệ thống về mảng tƣ liệu đồ sộ này Dẫu vậy, do nhân sự làm việc chuyên môn về văn bản và lưu trữ Hán Nôm thực tế còn khá mỏng, kinh phí có giới hạn nên các công trình nghiên cứu chủ yếu là văn học và sử học.

Năm 1970, nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp với công trình Tìm hiểu kho sách Hán Nôm đã hệ thống hóa một phần, bao gồm giới thiệu nội dung những tƣ liệu Hán Nôm quan trọng về lịch sử, văn học, y học, địa lý, phong tục, tôn giáo, triết học Tuy không khảo cứu toàn bộ tư liệu Hán Nôm hiện tồn được lưu trữ, nhưng bằng kinh nghiệm nghiên cứu Hán Nôm sở trường 4 , ông đã chọn lọc hầu hết những tƣ liệu có giá trị trên các lĩnh vực để giới thiệu Thông qua phần mục lục của văn bản Hán Nôm, tác giả Trần Văn Giáp đã khái quát lên nội dung từng tƣ liệu đƣợc giới thiệu Đồng thời, công trình cũng miêu tả sơ lƣợc về tình trạng văn bản, kí hiệu lưu trữ Điểm đặc biệt của công trình, hơn cả công việc biên soạn thư mục, là tác giả đã bình luận và gợi mở hướng nghiên cứu, cách tiếp cận những tƣ liệu này cho các thế hệ tiếp theo nghiên cứu văn bản đƣợc thuận lợi, nhất là đỡ nhọc sức khảo lại những công trình một cách không cần thiết, vì tƣ liệu Hán Nôm vốn rất đồ sộ trên tất cả các lĩnh vực, chƣa kể có nhiều dị bản khác của một quyển sách Chẳng hạn, nhận xét văn bản Ô Châu cận lục, tác giả viết: “Hiện nay, ta còn hai bản Ô Châu cận lục, nhƣng đều bị biên chép sai lầm, sửa chữa tứ tung, và do đó, bản chất đúng đắn mất hẳn Tuy vậy, trong điều kiện hiếm tài liệu cổ, nó vẫn là sách có ích cho sự tra cứu, nhất là khảo cứu về các tỉnh miền Nam” (Trần Văn Giáp, 1970, tr.651) Còn ở từng quyển sách, tác giả giới thiệu sơ bộ theo cách diễn đạt của mình, nhƣ ở sách An Nam chí lược: “Xem quyển 1 có thể biết được các tên địa lý cổ, sinh hoạt của nhân dân ta đời Trần và trước đời Trần Những nét sinh hoạt ấy cho ta biết nhiều hiện tƣợng về bối cảnh Việt Nam các thế kỉ ấy Quyển 2, 3, 4, 5 giúp ta nhiều tài liệu về lịch sử ngoại giao giữa Việt Nam và các triều đại phong kiến Trung Quốc về đời Trần và trước kia” (Trần Văn Giáp, 1970, tr.588) Tác giả cũng thường hay dùng biện pháp liệt kê theo mục lục văn bản giúp người đọc dễ hình dung nội dung văn bản, như trong Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC): “Quyển 1: Kinh sƣ, Quyển 2-4: Thừa Thiên phủ; quyển 5:

Quảng Nam (…) Mỗi tỉnh đại thể chép về: 1 phân dã, 2 diên cách, 3 hình thế, 4 khí hậu, 5 phong tục, 6 thành trì 5 …” (Trần Văn Giáp, 1970, tr.588)

4 Gia đình có truyền thống Nho học, có bố là Cử nhân Hán học Bản thân từng thi Hương trường Nam năm 14 tuổi, từng chép sách thuê cho Viện Viễn Đông Bác Cổ giai đoạn mới thành lập

5 Xin xem thêm Phụ lục 3 của luận án

Năm 1992, Trần Nghĩa (Nguyên Viện trưởng VNCHN) và các cộng sự sau nhiều năm nghiên cứu, xử lí tƣ liệu mới cũ đã cho ra đời quyển Di sản Hán Nôm thư mục đề yếu, đây là bộ sách tra cứu đầy đủ nhất về tƣ liệu Hán Nôm Việt Nam

(tổng mục lục cập nhật đến năm 1992), sách gồm 3 tập với hơn 3.000 trang Do đây là sách công cụ tra cứu tƣ liệu Hán Nôm trên các lĩnh vực nên, tuy có giới thiệu nhƣng không cụ thể nhƣ công trình Tìm hiểu kho sách Hán Nôm Đó là tình hình nghiên cứu tƣ liệu Hán Nôm ở mức khái quát nhất Hai công trình kể trên thuộc nhóm biên soạn thƣ mục nhƣng đã giúp ích rất nhiều cho chúng tôi trong việc xác định tƣ liệu nghiên cứu Riêng tƣ liệu ở lĩnh vực liên quan đến đề tài là địa chí và hương ước thì có các công trình như sau:

Về địa chí, có thể kể đến Địa phương chí tỉnh Bắc Ninh qua tư liệu Hán

Nôm và Địa phương chí tỉnh Hải Dương qua tư liệu Hán Nôm Hai công trình này đều do Đinh Khắc Thuân làm chủ biên cùng các cộng sự tại VNCHN thực hiện và xuất bản năm 2009 Địa phương chí tỉnh Bắc Ninh qua tư liệu Hán Nôm đã giới thiệu một số văn bản địa chí viết về tỉnh Bắc Ninh bằng chữ Hán, đó là Bắc Ninh phong thổ ký (A.425), Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí (A.2889), Bắc Ninh tỉnh địa dư (A.590) và Bắc Ninh tỉnh khảo dị (SA.HM.2167) Công trình dừng lại ở mức dịch thuật văn hiến chứ không phân tích, nhận định nội dung tƣ liệu Đọc nội dung các văn bản trên, chúng tôi nhận thấy sự miêu tả của tƣ liệu địa chí thiên về núi sông, thổ chất và nhân vật là chủ yếu Những miêu tả về phong tục, tín ngƣỡng cũng lác đác xuất hiện nhƣng rất sơ lƣợc Ví dụ nhƣ ghi chép về phong tục tỉnh Bắc Ninh trong Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí nhƣ sau:

Các bậc tiền bối có câu nói về phong thổ đất Bắc Ninh rằng: “Đất Bắc Ninh là trung tâm, khí tinh tú của nó là sĩ phu, phần nhiều cương trực không hoa mỹ; khí thô ác của nó là đạo tặc, cũng hung hăng không chế ngự đƣợc” cứ theo đó mà bàn Còn nhƣ hội hè cầu cúng hàng năm cũng chỉ có một hai cái đáng xem Việc lấy vợ, lấy chồng thì tương xứng theo nhà giàu, nhà nghèo Việc tang tế thì nhà đại gia theo lễ của Văn Công, nhà nghèo theo

Thọ Mai gia lễ Trong ấp ngoài làng đại để nhƣ thế (Đinh Khắc Thuân,

Những ghi chép nhƣ vậy về phong tục nhìn chung là rất giản lƣợc, xét tại địa phương nào cũng có thể có những việc như thế, không có sự khác biệt, cụ thể Song, những ghi chép về tín ngƣỡng thì cụ thể hơn, nói rõ đƣợc những đối tƣợng thờ phụng và những hoạt động tín ngƣỡng khác trong tỉnh Đặc biệt, văn bản Bắc

Ninh tỉnh khảo dị ghi chép cặn kẽ về việc tế tự dị đoan và những tục lạ chỉ xuất hiện ở Bắc Ninh nhƣ: giả bộ đuổi đánh thần khi tế tự 6 ở xã Bất Lự (Tiên Du), treo ngược con gà sống ở hậu cung và giả làm Thành hoàng chạy trốn ở xã Thiêm

Xuyên (Yên Phong), nam nữ đốt pháo ném nhau, hỗn dâm ngoài đồng vào ngày tế thần ở xã Phù Lưu (Yên Phong), đêm cúng thần úp đèn cho kỳ mục điểm ngực đào nương, đàn ông cũng điểm ngực đàn bà ở xã Niệm Thƣợng (Võ Giàng), dựng cây chày ở cửa đình và các ngõ trong làng đêm 30 tháng Chạp ở xã Hữu

Chấp (Võ Giàng) hay chủ tế giả Thành hoàng đi ăn trộm ở xã Trang Liệt (Từ

Sơn) Địa phương chí tỉnh Hải Dương qua tư liệu Hán Nôm cũng tương tự kết cấu Địa phương chí tỉnh Bắc Ninh qua tư liệu Hán Nôm Các sách địa chí Hán Nôm viết về tỉnh Hải Dương cũng chú trọng biên khảo về thổ nhưỡng và nhân vật Phong tục, tín ngƣỡng có phản ánh nhƣng rất manh mún (thiếu hệ thống ở các văn bản) và không có sự phân biệt nào về phong tục cũng nhƣ tín ngƣỡng Chẳng hạn sách Hải Dương phong vật chí (A.882) viết về phong tục nhƣ sau:

Dân xã Du Lễ huyện Nghi Dương (nay thuộc Hải Phòng) 7 ăn ở với nhau rất hoà thuận Mỗi năm cứ đến hai vụ hè và đông, họ đong thóc dự trữ vào kho nghĩa thương của xã, rồi đến tháng Hai hoặc tháng Tám, ai thiếu thì cho vay, gặp năm mất mùa thì đem chia đều cho mọi người Đó cũng là biện

6 Chữ in nghiêng của đoạn này là đề mục trong sách Bắc Ninh tỉnh khảo dị

7 Những chỗ dùng dấu ngoặc đơn () trong trích dẫn là phần chúng tôi giải thích thêm cho tường tận pháp hay mà nghĩa thương còn để lại vậy Các xã Trương Xá, An Dương, Hoàng Lũ huyện Đường Hào hàng năm lấy xương lợn xem đen hay trắng để chiêm nghiệm thời tiết sớm hay muộn, đƣợc mùa hay mất mùa, rồi lấy đó làm cữ để gieo trồng, thường không sai lệch (Đinh Khắc Thuân, 2009b, tr.181)

Những tƣ liệu tập hợp văn hiến nhƣ vậy hiện nay có khá nhiều, nhƣ bộ

Tổng tập dư địa chí Việt Nam (4 tập) do Bùi Văn Vƣợng chủ biên, xuất bản năm

2012 Hay các bộ Tư liệu văn hiến Thăng Long - Hà Nội: tuyển tập địa chí (4 tập) của nhóm Nguyễn Thúy Nga & Nguyễn Kim Sơn và Tư liệu văn hiến Thăng Long - Hà Nội: Thư mục tư liệu trước 1945 (3 tập) của Vũ Văn Quân, đều xuất bản năm 2010 nhân đại lễ kỉ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội Những bộ sách này là một bộ phận tƣ liệu tham khảo và trích dẫn của chúng tôi trong luận án Những chỗ cần khảo cứu thì chúng tôi đã đối chiếu với nguyên văn 8 được lưu trữ tại VNCHN hoặc Thƣ viện Quốc gia Việt Nam

Về nghiên cứu tƣ liệu địa chí Hán Nôm trong các tài liệu hiện đại bằng chữ Quốc ngữ, bao gồm giới thiệu tƣ liệu Hán Nôm là: Địa chí Bắc Giang - Di sản

Mục đích nghiên cứu

Hệ thống tƣ liệu Hán Nôm (sách, văn bia (bản dập), mộc bản, vi bằng, sắc phong ) hiện lưu trữ ở Việt Nam là rất lớn Để khai thác hết giá trị của hệ thống tư liệu này đòi hỏi phải có thời gian và công sức của nhiều người với nhiều ngành khoa học khác nhau Riêng về văn hóa Việt Nam thì hệ thống tƣ liệu Hán Nôm cũng nhiều và phức tạp Hiện nay, hệ thống tƣ liệu này vẫn chƣa đƣợc khai thác đúng mức, những giá trị của tƣ liệu phục vụ cho nghiên cứu văn hóa Việt Nam chƣa đƣợc khẳng định đầy đủ Trong các tƣ liệu Hán Nôm liên quan đến văn hóa Việt Nam, mảng tƣ liệu về phong tục và tín ngƣỡng có số lƣợng rất đáng kể Bởi phong tục và tín ngƣỡng có vai trò quan trọng và phổ biến trong sinh hoạt và đời sống của cộng đồng Chúng rất đƣợc các triều đại phong kiến, cũng nhƣ các bậc thức giả 10 đương thời quan tâm Chẳng hạn, các tư liệu địa chí Hán Nôm luôn dành một dung lƣợng đáng kể 11 để miêu tả về dân phong 12 , tục lệ; nơi thờ tự nhƣ đình, đền, miếu, quán, tự viện của các địa phương Các tư liệu lịch sử cũng có sự ưu ái nhất định, dành một phần viết về cuộc sống con người (sinh hoạt), những tục đẹp (mỹ tục), tục lạ (dị tục) hoặc tục xấu (hủ tục) đương thời để lý giải về lẽ thịnh suy của một giai đoạn lịch sử

Từ những nội dung tƣ liệu Hán Nôm cung cấp về phong tục và tín ngƣỡng Việt Nam dưới thời trung đại, luận án làm rõ thêm những ý nghĩa, giá trị, cũng nhƣ những hạn chế của phong tục, tín ngƣỡng đã tồn tại trong đời sống văn hóa người Việt Cụ thể:

- Luận án khảo sát văn bản để xác lập hệ thống tƣ liệu Hán Nôm phản ánh về văn hóa phong tục và tín ngƣỡng Việt Nam

- Luận án phân tích nội dung, đặc điểm của những phong tục và tín ngƣỡng đƣợc phản ánh trong các tƣ liệu Hán Nôm

10 Tư liệu Hán Nôm phần lớn do các bậc Nho sĩ, khoa hoạn đương thời soạn (viết, sáng tác), tả (chép) nhằm phản ánh phong tục, tín ngưỡng địa phương

11 Xem thêm Phụ lục 3 của luận án

12 Dân phong: Miêu tả đời sống tinh thần của dân chúng (một địa phương cụ thể) ở mức khái quát nhất Dân 民: dân chúng; phong 風: thói tục (như thế phong 世風: thói thường của con người), thói quen (như phong cách 風格: tính cách riêng một người).

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phạm vi nghiên cứu

Tƣ liệu Hán Nôm ở Việt Nam hiện tồn phong phú trên nhiều lĩnh vực khác nhau Do đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là phong tục và tín ngƣỡng trong tƣ liệu Hán Nôm nên chúng tôi bước đầu chỉ quan tâm đến phong tục và tín ngưỡng đƣợc các tƣ liệu loại này phản ánh Nhƣng nhƣ đã nói ở trên, phong tục và tín ngưỡng là hai vấn đề quan trọng, gắn chặt với cuộc sống con người, nên hầu như trên các lĩnh vực khác nhau, các tác giả đều ít nhiều bàn đến chúng Chẳng hạn, trong tác phẩm Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết:

“Duy ngã Đại Việt chi quốc; thực vi văn hiến chi bang

Sơn xuyên phong vực ký thù; bắc nam chi phong tục diệc dị”

(Nước Đại Việt của ta, đúng là một nước văn hiến; Bờ cõi núi sông đã khác, phong tục bắc nam cũng khác) Đây là câu văn Nguyễn Trãi nhằm muốn khẳng định sự khác nhau từ núi sông bờ cõi cho tới phong tục của hai nước Đại Việt và Đại Minh Song suy rộng ra, ta có thể thấy, môi trường khác nhau thì văn hóa hẳn cũng khác nhau

Nhìn chung, phong tục, tín ngƣỡng đƣợc phản ánh ít nhiều qua các tƣ liệu văn học (thi ca, từ phú, tản văn chính luận, bi, minh ), cũng nhƣ tƣ liệu lịch sử (sử ký, các bộ chính biên, thực lục ) Tuy nhiên, tính chất miêu tả phong tục, tín ngƣỡng ở các mảng tƣ liệu này không mang tính hệ thống Bởi mục đích của người chấp bút không phải là miêu tả phong tục, tín ngưỡng, mà dùng phong tục, tín ngƣỡng để chứng minh, tô điểm cho những điều họ muốn thể hiện hay khẳng định trong tác phẩm của mình Cho nên mức độ đậm, nhạt trong miêu tả phong tục, tín ngưỡng khác nhau là tùy theo mục đích biên soạn của người soạn sách Ở mảng tƣ liệu lịch sử đòi hỏi tính chính xác cao thì việc viết về phong tục, tín ngƣỡng cũng không nhất quán Bởi nhiệm vụ chính của họ là biên chép, bình luận, đánh giá những sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử mà thôi Phong tục, tín ngƣỡng có nhắc đến chăng cũng chỉ có tính chất minh hoạ cho những kết luận của họ Mảng tƣ liệu văn học thì nội dung miêu tả về phong tục, tín ngƣỡng càng mơ hồ, bởi chúng đƣợc viết theo cảm nhận và sự hiểu biết chủ quan của tác giả Cho nên, ở hai mảng tƣ liệu này chúng tôi chỉ khảo sát nhằm so sánh, minh hoạ sinh động thêm những điều mà chúng tôi đúc kết đƣợc

Qua khảo sát tƣ liệu Hán Nôm, chúng tôi đã hệ thống đƣợc nguồn tƣ liệu nghiên cứu chứa nội dung liên quan đến phong tục, tín ngƣỡng Đó là các bộ địa chí và hương ước Điều này chúng tôi sẽ trình bày cụ thể ở mục 1.2 Nguồn tư liệu Hán Nôm nghiên cứu phong tục, tín ngưỡng của đề tài trong Chương 1.

Phương pháp nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu nhƣ trên của đề tài, để đạt hiệu quả nghiên cứu, chúng tôi thực hiện bằng phương pháp liên ngành Liên ngành là một khái niệm mở rộng dùng để diễn tả phức hệ các cách tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu văn hóa học nói riêng, các lĩnh vực thuộc Khoa học xã hội khác nói chung Phương pháp này đòi hỏi sự tổng hợp của nhiều thao tác, nhiều cách tiếp cận khác nhau Ở luận án này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp cụ thể như sau:

- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Bất kỳ một hệ thống nào cũng phải đƣợc hình thành trên một cấu trúc nhất định Ngƣợc lại, một cấu trúc sẽ quy định nên một hệ thống hoặc tiểu hệ thống nhất định Vận dụng phương pháp này giúp chúng tôi phân tích những thành tố văn hóa bộ phận và mối quan hệ của chúng trong phong tục và tín ngưỡng của người Việt thời trung đại Cụ thể, ở đây là hai góc nhìn về văn hóa phong tục và văn hóa tín ngưỡng người Việt trong cộng đồng làng xã truyền thống:

Góc nhìn đánh giá từ bên ngoài của triều đình hay những nhà văn hóa lớn về phong tục và tín ngƣỡng của một cộng đồng làng xã cụ thể thông qua các biên chép, nhận định của họ trong những bộ địa chí khác nhau và ở những thời điểm khác nhau Ở góc nhìn này sẽ cho chúng ta cái nhìn khách quan của người biên soạn sách địa chí vốn là những nhà khoa bảng, quan lại vốn có kiến thức rộng, giàu kinh nghiệm thực tiễn do trị nhậm nhiều nơi, lại có nhiều tƣ liệu khác nhau để so sánh Những trang viết của họ về phong tục, tín ngƣỡng vì vậy mà khách quan, không thể hiện tinh thần tự tôn trong phản ánh văn hóa (tính tự trị làng xã, chỉ biết có làng mình 16 ; đề cao vai trò của làng mình, không quan tâm đến xung quanh 17 ) Tuy nhiên, tƣ liệu địa chí cũng có mặt hạn chế đó là quan điểm đánh giá của người biên soạn với các biểu hiện cụ thể của phong tục cũng như tín ngưỡng truyền thống

Góc nhìn đánh giá từ bên trong của mỗi làng xã đối với việc duy trì, gìn giữ phong hóa và việc thờ tự, cúng tế trong làng thông qua hương ước Ở góc nhìn này, chúng ta sẽ thấy đƣợc sự khác biệt trong những biểu hiện về phong tục của từng làng Từng vấn đề nhƣ nhau, nhƣng mỗi làng (không gian) hay mỗi thời điểm (thời gian) sẽ có những biểu hiện khác nhau Sự khác biệt ấy là do sự nhận thức khác nhau của từng cộng đồng (chủ thể) đối với vấn đề phong tục hay tín ngƣỡng

Phương pháp hệ thống - cấu trúc cho phép phân tích sâu sự đồng nhất và khác biệt này một cách hợp lý đối với những vấn đề về phong tục cũng nhƣ tín ngƣỡng đƣợc biên chép trong các tƣ liệu Hán Nôm ở thời trung đại

- Phương pháp văn bản học:

Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi thực hiện nghiên cứu trên cơ sở văn bản học Trong nghiên cứu tư liệu Hán Nôm, phương pháp văn bản học là không thể thiếu Phương pháp này được chúng tôi thực hiện dưới hai cấp độ

Thứ nhất, chúng tôi khảo cứu văn bản Hán Nôm có nội dung liên quan đến phong tục và tín ngưỡng Bước đầu, chúng tôi khảo cứu trên các lĩnh vực khác nhau để so sánh và đánh giá chung những tƣ liệu Hán Nôm bàn về phong tục, tín ngƣỡng Việt Nam Sau khi xem xét, đúc kết lại, chúng tôi nhận thấy chỉ có hai nguồn tƣ liệu cung cấp xuyên suốt vấn đề liên quan đến đối tƣợng nghiên cứu của

16 Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ (Tục ngữ)

17 Ta về ta tắm ao ta/Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn (Ca dao) đề tài, đó là tư liệu địa chí và tư liệu hương ước Do đặc điểm quan trọng của tư liệu địa chí liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội khác nhau nên hầu hết đã được dịch ra tiếng Việt Đây là một thuận lợi bước đầu của chúng tôi trong nghiên cứu đề tài Tuy nhiên, đối với những phần biên chép về phong tục và tín ngƣỡng, chúng tôi cũng đã khảo cứu, đối chiếu lại với phần văn bản chữ Hán được lưu giữ tại Thư viện VNCHN và Thư viện Quốc gia Việt Nam (đều ở HN) Công việc này đƣợc thực hiện nhằm đảm bảo tính chính xác khách quan trong các dẫn chứng tƣ liệu của chúng tôi Dù phần lớn mảng này đƣợc dẫn từ bản dịch, nhƣng đã có sự đối chiếu cần thiết và khả tín cao Đối với những đoạn văn bản dịch do người dịch bám chữ làm mờ nghĩa (dựa chặt cấu trúc, văn phong của chữ Hán) thì chúng tôi dịch lại cho gần gũi hơn với người đọc Riêng tư liệu hương ước cũng được dịch một số lượng nhất định, nhưng phần chưa được dịch hiện đang lưu trữ vẫn khá nhiều Nội dung hương ước về đại thể là giống nhau, chỉ khác nhau về tiểu tiết của những điều lệ cụ thể Cho nên, trong khuôn khổ luận án, chúng tôi chỉ chọn sử dụng một số bản dịch hoặc tự dịch một số bản hương ước ở vùng văn hóa Đồng bằng Bắc Bộ ở một số tỉnh Bắc Trung Bộ tại những thời điểm khác nhau phù hợp yêu cầu, nhiệm vụ mà đề tài đặt ra để phân tích Những điều này chúng tôi sẽ tiến hành phân tích và so sánh cụ thể trong luận án

Thứ hai, chúng tôi tiến hành khảo cứu nội dung văn bản (khảo cứu văn hiến) Từ văn bản, cụ thể ở đây là văn bản địa chí và hương ước, chúng tôi hệ thống chuỗi nội dung rồi phân tích những giá trị của chúng trong cái nhìn lịch sử theo phương pháp hệ thống - cấu trúc đã nói ở trên Những nhận định, đánh giá mà chúng tôi nêu ra, đều đặt trong bối cảnh lịch sử - cụ thể của con người và xã hội Việt Nam tại thời điểm văn bản nghiên cứu có hiệu lực

Ngoài các phương pháp nêu trên, trong quá trình triển khai nghiên cứu, chúng tôi còn vận dụng phương pháp thống kê, phương pháp ngữ văn học với các thao tác nhƣ so sánh, phân tích, đối chiếu để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu Bên cạnh đó chúng tôi cũng thực hiện cách tiếp cận địa văn hóa nhằm xác định cũng nhƣ phân tích đƣợc không gian của đối tƣợng nghiên cứu Đồng thời, cách tiếp cận này cũng giúp chúng tôi thấy được môi trường sinh thái - nhân văn đã tác động nhƣ thế nào đến các đặc trƣng văn hóa Từ đó, giúp chúng tôi đƣa ra những nhận định khách quan và chính xác hơn Cụ thể ở đây, môi trường sinh thái - nhân văn là vùng văn hóa Đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, có so sánh với

Nam Bộ, đặc trƣng văn hóa đƣợc nghiên cứu là thành tố phong tục và tín ngƣỡng cũng nhƣ những nội dung của chúng đƣợc phản ánh tại vùng này Từ đó, chúng tôi khái quát lên những nét đặc trƣng trong văn hóa phong tục, tín ngƣỡng của người Việt.

Đóng góp của luận án

Trên phương diện khoa học: chỉ ra những giá trị văn hóa của phong tục và tín ngƣỡng trong tƣ liệu Hán Nôm là khẳng định lại những giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của cộng đồng người Việt trong chiều dài lịch sử dân tộc Nhiệm vụ khoa học của đề tài là làm sáng rõ những đặc điểm văn hóa đặc trƣng của phong tục và tín ngƣỡng Việt Nam đã đƣợc ghi chép trong các thƣ tịch Việt Nam thời trung đại

Trên phương diện thực tiễn: kết quả phân tích những đặc điểm của phong tục, tín ngƣỡng trong tƣ liệu Hán Nôm sẽ góp phần định hình cách nhìn về những nét văn hóa tinh thần truyền thống tốt đẹp mà người Việt từng có trong quá khứ Những điều đó đã đƣợc ghi nhận, phản ánh, nên chúng ta cần thấy đƣợc những giá trị bất biến qua thời gian ấy để giữ gìn và phát huy Đồng thời luận án cũng chỉ ra sự phong phú của tín ngƣỡng dân gian trong đời sống tinh thần trong cộng đồng người Việt được phản ánh trong các tư liệu Hán Nôm.

Bố cục của luận án

Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận và Phụ lục, nội dung luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Phong tục, tín ngưỡng và nguồn tư liệu Hán Nôm nghiên cứu phong tục, tín ngưỡng Ở chương này chúng tôi trình bày khái niệm của phong tục, tín ngƣỡng; những nội dung của phong tục, tín ngƣỡng Phạm vi nguồn tƣ liệu Hán Nôm nghiên cứu phong tục, tín ngƣỡng, chúng tôi đã hệ thống đƣợc hai nguồn tƣ liệu phản ánh xuyên suốt nội dung phong tục, tín ngƣỡng đó là tƣ liệu địa chí và tư liệu hương ước

Chương 2: Nội dung phong tục qua tư liệu địa chí và hương ước Hán Nôm. Ở chương này chúng tôi trình bày về phong tục lễ tết, phong tục hôn nhân và phong tục tang ma Trong đó, phong tục lễ tết đƣợc phản ánh đầy đủ nhất trong các bộ địa chí Hán Nôm Về phong tục trong tư liệu hương ước chữ Hán: chúng tôi trình bày về phong tục hương ẩm, phong tục lễ tết, phong tục hôn nhân và phong tục tang ma Đây là những phong tục đƣợc phản ánh đầy đủ trong hầu hết các bản hương ước chữ Hán

Chương 3: Nội dung tín ngưỡng qua tư liệu địa chí và hương ước Hán Nôm.Ở chương này chúng tôi trình bày về việc thờ thần, thờ Phật và thờ cúng tổ tiên Trong đó, tín ngƣỡng thờ thần, thờ Phật đƣợc phản ánh đầy đủ nhất trong các bộ địa chí Hán Nôm Bên cạnh đó là các tín ngƣỡng thờ Hậu, cúng lễ cầu mƣa và Thường tân, tuy ít phổ biến hơn việc cúng thần nhưng cũng được quy định rõ ràng và cụ thể trong tư liệu hương ước Hán Nôm.

PHONG TỤC, TÍN NGƯỠNG VÀ NGUỒN TƯ LIỆU HÁN NÔM NGHIÊN CỨU PHONG TỤC, TÍN NGƢỠNG

Khái niệm và nội dung của phong tục, tín ngƣỡng

1.1.1 Khái niệm và nội dung của phong tục

1.1.1.1 Khái niệm phong tục Hiện nay, có khá nhiều nhà nghiên cứu khi bàn về phong tục đã nêu định nghĩa về nó Những định nghĩa này, có những cách diễn đạt khác nhau tùy theo đối tƣợng nghiên cứu chính của tác giả:

Chẳng hạn, Dương Văn Đảm (2013) trong Tư Thế phong thổ ký cho rằng:

“Phong tục là những thói quen trong đời sống, truyền từ đời này qua đời khác

Mỹ tục thường được lưu giữ, hủ tục thì dần bớt đi Một số phong tục làng xưa, nay vẫn hiện hữu trong đời sống thường nhật, hay còn ghi nhớ trong tâm thức người dân, đang nằm trong luồng biến hóa trên” (tr.129)

Nam Việt (2011) trong Văn hóa phong tục thế giới qua hình ảnh nêu khái niệm phong tục dưới góc nhìn so sánh:

Phong tục là nét đặc trƣng riêng của mỗi dân tộc trên thế giới, trở thành luật tục ăn sâu vào đời sống của nhân dân Môi trường văn hóa là một trong những nhân tố quyết định đến phong tục Văn hóa phong tục là những căn cứ quan trọng để đánh giá chủ quyền văn hóa của mỗi dân tộc Bởi vì nó phản ánh tâm tƣ tình cảm, diện mạo tinh thần và những thăng trầm lịch sử của dân tộc ấy, từ đó giúp con người hiểu được quá khứ và hiện tại (tr.3) Trương Thìn (2010) trong 101 điều cần biết về tín ngưỡng và phong tục thì phân tích cụ thể các khía cạnh của phong tục Ông cho rằng:

Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, đƣợc cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc nhƣ nghi thức, nghi lễ, nhƣng cũng không tùy tiện nhƣ hoạt động sống thường ngày Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững và tương đối thống nhất

Phong tục có thể ở một dân tộc, địa phương, tầng lớp xã hội hay thậm chí một dòng họ, gia tộc Phong tục là một bộ phận của văn hóa và có thể chia thành nhiều loại Hệ thống phong tục liên quan đến vòng đời người, như: phong tục về sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ và lên lão… Hệ thống phong tục liên quan đến hoạt động của con người theo chu kỳ thời tiết trong năm và hệ thống phong tục liên quan đến chu kỳ lao động của con người

Phong là nề nếp đã lan truyền rộng rãi, tục là thói quen lâu đời Nội dung phong tục bao hàm mọi sinh hoạt xã hội Phong tục có thứ đã trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân rất bền chặt, có sức mạnh hơn cả đạo luật Trong truyền thống văn hóa của dân tộc ta, có nhiều thuần phong mỹ tục cho đạo lý làm người, kỷ cương xã hội (tr.5)

Với cách hiểu nhƣ trên, chúng ta dễ ngộ nhận rằng tất cả các sinh hoạt của con người được thực hiện trong cộng đồng dù nhỏ hay lớn đều là phong tục Đào Duy Anh (2014) trong Việt Nam văn hóa sử cương (in lần đầu năm 1938) cũng cho rằng “văn hóa tức là sinh hoạt” Ông biện luận nhƣ sau:

Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi văn hóa nhưng phàm sự sinh hoạt về chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải là ở trong phạm vi văn hóa hay sao? Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: văn hóa tức là sinh hoạt (tr.11)

Phần viết về phong tục trong Việt Nam văn hóa sử cương, từ trang 150 đến trang 187, tác giả Đào Duy Anh đã bàn kĩ nội hàm và những biểu hiện của phong tục theo quan niệm trên, nhƣng chủ yếu là mô tả hoặc giải thích những phong tục của người Việt, và tất cả đều là các sinh hoạt trong đời sống cá nhân con người trong xã hội Việt Nam truyền thống

Trần Ngọc Thêm (2004) trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam cho rằng:

“Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng được tổ chức dưới những tập tục được lan truyền từ đời này sang đời khác” (tr.233) Đây có thể xem là một cách giải thích ngắn gọn về phong tục Trong phần lý giải cụ thể, tác giả viết: “Đó là những thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo (phong: gió; tục: thói quen; phong tục: thói quen lan rộng)”

(tr.256) Trần Ngọc Thêm xếp phong tục vào văn hóa tổ chức đời sống cá nhân Đây là cách sắp xếp hợp lý trong cấu trúc văn hóa 3 thành phần: nhận thức, tổ chức và ứng xử với môi trường

Trong khi đó, Từ điển Hán Việt từ nguyên của Bửu Kế (2009) thì giải thích: “風 phong: gió; 俗 tục: lề thói sẵn có từ lâu” (tr.1433) Nhƣ vậy, phong tục là những lề thói đƣợc định sẵn từ lâu Có thể thấy, Trần Ngọc Thêm hiểu phong tục diễn tiến theo cả chiều không gian - lan rộng lẫn chiều thời gian - thói quen, còn Bửu Kế cho rằng phong tục chỉ lan truyền theo chiều thời gian - những lề thói sẵn có Tuy nhiên, cách hiểu “phong: gió” thì chƣa đúng nét nghĩa thành tố của khái niệm phong tục

Trên phương diện khái niệm, A.A Radughin (1997) đã phân tích các thuộc tính giúp nhận diện một phong tục bất kỳ:

Phong tục - đó là những mẫu hành vi toàn vẹn, quen thuộc, không nhận thức đƣợc thật rõ ràng Phong tục bao gồm những truyền thống đƣợc duy trì và thực hành thông qua các hành động nghi lễ và tôn giáo, mà trong đó nhất thiết phải có những định hướng đạo đức Xét về mặt lịch sử, phong tục phải được rèn giũa trong một môi trường xã hội nào đó, phải được thực hành và thử thách trong một thời gian dài, tức phong tục là những khuôn mẫu hành vi đƣợc xã hội hóa và chuẩn mực hóa, đƣợc ghi nhận trong ký ức xã hội và đƣợc truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác nhƣ dạng hành vi trong lao động, sinh hoạt, giao tiếp, giáo dục Cũng nhƣ bất kỳ khuôn mẫu nào, phong tục chứa đựng sự cho phép thực hiện những hành động nhất định, và khi ấy, nó đóng vai trò thuật toán thực hiện Nhƣng phong tục cũng có thể đóng vai trò cấm đoán, và khi ấy, nó thực hiện chức năng thuật toán ngăn chặn những hành động nhất định của con người (tr.115)

Sau khi điểm qua một số khái niệm về phong tục, chúng tôi cho rằng đây là khái niệm chuẩn mực và đầy đủ nhất của một nhận thức khoa học về phong tục Tất cả các cách hiểu khác nhau của các nhà nghiên cứu Việt Nam khi bàn về phong tục đều không ra khỏi phạm vi của phát ngôn này Trước hết, phong tục là một chuẩn mực hành vi điều chỉnh mọi hoạt động của con người, ở đây được hiểu là cả tinh thần lẫn vật chất Đó là tuân thủ (cho phép - thuật toán thực hiện) hoặc loại trừ (cấm đoán - thuật toán ngăn chặn); nó nhƣ là một “khế ƣớc xã hội” 18 nhằm đảm bảo sự hợp tác giữa người với người thông qua những “truyền thống được duy trì” và có “định hướng đạo đức” Phong tục mặc nhiên được thừa nhận trong một cộng đồng bởi “khuôn mẫu hành vi đƣợc xã hội hóa và chuẩn mực hóa”

Từ những nhận thức khoa học nhƣ trên, chúng tôi định nghĩa gọn lại nhƣ sau: Phong tục là những thói quen sinh hoạt trong đời sống đƣợc cộng đồng thừa nhận và truyền từ đời này qua đời khác, là nét đặc trƣng riêng của mỗi cộng đồng, dân tộc 19 Định nghĩa này có 3 thành tố quan trọng giúp chỉ ra đặc trƣng, bản chất của phong tục mà không lẫn với các đối tƣợng khác, đó là:

- Những thói quen sinh hoạt trong đời sống;

- Đƣợc cộng đồng thừa nhận và noi theo;

18 Tác phẩm của Jean - Jacques Rousseau

19 TGLA (2016) Nghiên cứu phong tục trên phương diện khái niệm và liên ngành Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ, số 43

Nguồn tƣ liệu nghiên cứu phong tục, tín ngƣỡng

1.2.1 Tổng quan nguồn tư liệu Hán Nôm về phong tục, tín ngưỡng

Qua khảo sát của chúng tôi tại hai cơ sở lưu trữ tư liệu Hán Nôm lớn nhất cả nước là VNCHN và Thư viện Quốc gia Việt Nam (đều ở HN) thì tư liệu bàn về phong tục, tín ngưỡng chủ yếu được phản ánh trong sách địa chí và hương ước Địa chí có hai loại là địa chí viết trên phạm vi cả nước (gọi là quốc chí) và địa chí viết về một địa phương (gọi là phương chí) Phương chí là địa chí viết về một khu vực, một tỉnh, một huyện hoặc một xã cụ thể Tiểu loại tên gọi tương ứng với nó là khu vực chí 28 , tỉnh chí, huyện chí và xã chí Tƣ liệu địa chí bàn về phong tục, tín ngưỡng trên phương diện tổng quát, giúp hiểu rõ hơn về dân phong lệ tục 29 民 風例俗 cũng nhƣ các đặc trƣng tƣ duy thể hiện qua các phong tục, các hành vi tín ngưỡng của từng vùng, từng đơn vị hành chính đương thời Mảng thứ hai đề cập trực tiếp đến phong tục, tín ngưỡng là tư liệu hương ước Hương ước thể hiện nhiều vấn đề cụ thể của làng xã Việt Nam, nhƣng nổi bật hơn hết chính là nội dung hưng phong lập tục 30 興風立俗 Do vậy ở phần này, chúng tôi trình bày cách hiểu chung nhất những khái niệm có liên quan đến đối tƣợng nghiên cứu Ở từng nội dung trình bày, chúng tôi đồng thời cũng tổng thuật nguồn tƣ liệu nghiên cứu của luận án

Sách địa chí là một tài liệu tổng hợp kiến thức chung nhất về hình thế núi sông, cổ tích danh sơn, phong tục tập quán, nhân vật, thổ sản của từng khu vực,

28 Trong mục Tổng quan về địa chí, Bùi Văn Vƣợng đặt tên cho những loại này là vùng chí Chúng tôi xét thấy các tên gọi khác đều là từ Hán Việt, nên chỗ này vẫn phải sử dụng một từ Hán Việt thì mới hợp lý Do đó chúng tôi đặt là khu vực chí 區域志 Lớn hơn nó là quốc chí 國志, nhỏ hơn nó là tỉnh chí 省志, huyện chí 縣志 và xã chí 社

29 Dân phong lệ tục: nếp sống cộng đồng và tục lệ địa phương

30 Hưng phong lập tục: Làm cho cuộc sống con người tốt đẹp và định hình phong tục địa phương Tùy theo tiêu chí lập sách mà có những nội dung khác nhau Nhưng trong đó, có hai loại kiến thức không thể thiếu của một bộ địa chí là hình thế núi sông và phong tục tập quán Kết quả biên soạn là một sản phẩm tổng hợp từ các địa phương, phản ánh thực tế địa phương ngay thời điểm thu thập

Lê Quang Định (1759-1813) trong bài Biểu dâng sách quyển Hoàng Việt nhất thống dư địa chí viết:

Bờ cõi đất đai rộng từ Gia Định mãi đến Lạng Sơn 31 , đường sá gần xa rành mạch từ kinh đô đến nơi biên quận Chép rõ các hành cung, dịch trạm, gác đền, đình tạ, chợ búa, bến sông, cầu cống, chùa quán, danh thắng xƣa nay, vùng dân đông hay ít, hiểm trở của núi khe, nguồn gốc của sông biển, của cải sản vật, phong tục từng nơi, tất cả đều đƣợc tóm tắt đầy đủ, không điều gì bừa bộn (tr.10)

Sách thuộc thể loại địa chí đầu tiên của Việt Nam là bộ An Nam chí lược do

Lê Tắc 32 soạn năm Nguyên Thống sơ niên (1333) đời Nguyên Đây là bộ sách được soạn trong thời gian tác giả lưu vong trên đất Trung Hoa Do vậy, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng bộ Nam Việt dư địa chí của Nguyễn Trãi soạn năm

1435, còn có tên khác là An Nam Vũ Cống là bộ quốc chí đầu tiên của Việt Nam, và Ô Châu cận lục của Dương Văn An soạn năm 1533 là bộ phương chí đầu tiên

Quốc chí là dư địa chí cả nước, đề cập các vấn đề của địa chí trên phạm vi toàn quốc Tuy vậy, từng quyển, mục trong sách bao giờ cũng đƣợc chia ra thành từng khu vực cụ thể và miêu tả nội dung thống nhất của chúng theo từng khu vực cụ thể đó Nhƣ vậy có thể nói, quốc chí là một bộ sách tổng hợp những ghi chép

31 Các sách quốc chí được biên soạn dưới triều Nguyễn biên chép trật tự tỉnh thành từ Kinh sư (phủ Thừa Thiên) vào Nam Bộ Sau đó mới ghi chép từ Quảng Trị ngƣợc ra Bắc Bộ (Lấy Kinh sƣ làm trung tâm) Xem thêm Phụ lục 3 của luận án

32 Không rõ năm sinh, năm mất Ông là sử quan dưới đời vua Trần Thái Tông (1218-1277, làm vua từ 1225 đến

1258) Trong kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 3 của vua tôi nhà Trần thì Lê Tắc chạy sang Trung Quốc, có làm quan cho triều Nguyên Bộ An Nam chí lược đƣợc soạn tại Trung Quốc, hoàn thành khoảng năm 1333, nên ghi là “Nguyên Thống sơ niên” về địa lý, núi sông, phong tục, thổ sản của từng địa phương hợp lại, trên một quan điểm biên soạn thống nhất

Bên cạnh đó cũng có những bộ địa chí mà tác giả là những nhà Nho lãm duyệt đó đây, biên chép lại những thắng tích, sản vật địa phương và đời sống dân sinh ở những nơi mình đã đi qua hoặc trị nhậm (quan viên đƣợc triều đình cử đi coi sóc một tỉnh, thành nào đó) Đây chính là các bộ địa phương chí gồm một tỉnh, thành hoặc một nhóm tỉnh, thành (khu vực) do các nhà Nho chấp bút Loại tư liệu này thể hiện dấu ấn cá nhân rất lớn Nên giọng văn trong tư liệu phương chí thường trau chuốt, mượt mà Nhiều khi còn có thơ ứng khẩu trước vẻ đẹp thiên nhiên hoặc ngợi ca những mỹ tục tốt đẹp

Cũng như quốc chí, nội dung cơ bản của các sách phương chí là ghi chép về địa lý, núi sông, phong tục, thổ sản của từng địa phương, tuy nhiên nghiêng về quan điểm cá nhân người biên soạn Mục đích, nội dung và phương pháp soạn sách cũng mang dấu ấn cá nhân rõ nét Do vậy mà nội dung phương chí rất phong phú và đa dạng trong cách thể hiện, ngôn từ đƣợc trau chuốt và phóng khóang hơn nhiều so với các sách quốc chí

Tư liệu địa chí phản ánh rất nhiều vấn đề của xã hội từ môi trường địa lý, hoàn cảnh kinh tế đến văn hóa xã hội của đất nước, địa phương tại những thời điểm khác nhau Nhƣ vậy, vấn đề phong tục, tín ngƣỡng là các nội dung luôn xuất hiện bên cạnh những nội dung khác của tƣ liệu địa chí mà thôi Nhƣng cần khẳng định, đây là nội dung quan trọng bậc nhất, vì chúng xuất hiện ở tất cả các bộ địa chí lớn nhỏ, từ bộ đầu tiên đến bộ cuối cùng của địa chí chữ Hán

Tƣ liệu địa chí ở Việt Nam đều viết bằng chữ Hán Trong các văn bản Hán văn đó, vẫn có một số chữ Nôm để ghi tên núi, tên sông, tên làng bản, tên người, tên các nghi thức cúng tế đã được người Việt đặt theo âm tiếng Việt (âm Nôm) Nhƣng trên đại thể, đây là văn bản Hán văn

Vì quốc chí là một loại tƣ liệu quan trọng để nghiên cứu nhiều lĩnh vực thuộc khoa học xã hội, nhất là lịch sử, địa lý, văn học, văn hóa nên hầu hết đã đƣợc dịch sang tiếng Việt Do vậy trong luận án này, phần nhiếu chúng tôi sử dụng tƣ liệu các sách dịch đã công bố Tuy nhiên, ở phần phong tục và tín ngƣỡng (liên quan trực tiếp đến đề tài), chúng tôi đã đối chiếu với nguyên văn được lưu trữ đầy đủ tại VNCHN (HN) Những chỗ nào dịch thóat và cần thiết hiệu chỉnh, chúng tôi đã hiệu chỉnh và chú thích rõ ràng

Phong tục lễ tết qua tư liệu địa chí và hương ước Hán Nôm

2.1.1 Phong tục lễ tết Nguyên đán qua tư liệu địa chí Hán Nôm

Phong tục tết gắn chặt với quan niệm của người Việt về ngày tết Khi nói đến tết, chúng ta nghĩ ngay đến tết Nguyên đán, còn gọi là tết cả, tết ta, tết âm lịch Đây là tết lớn nhất trong năm khi nhà nông đã bước vào giai đoạn nông nhàn Tiết trời cũ mới giao nhau, khí lạnh suy yếu, khí ấm vươn mình Người và vật đều ở trạng thái cân bằng nhất Do vậy, theo quan niệm của người Việt, tết là để vui chơi sau những tháng ngày vất vả với đồng ruộng Đồng thời, tết cũng là dịp để tạ ơn trời đất, thánh thần, tổ tông đã phù hộ cho mình có cuộc sống bình an no đủ suốt cả năm qua Cho nên, trong phong tục tết Nguyên đán, bên cạnh việc chơi tết, vãng cảnh non sông sẽ là cúng tế linh đình, nghiêm cẩn từ khắp đình, chùa, đền, miếu cho đến bàn thờ gia tiên

Nguyên đán là cách gọi của Trung Hoa Đó vừa là buổi sớm (旦 đán: buổi sáng) của ngày đầu tháng đồng thời cũng là ngày đầu tiên của năm mới (元 nguyên: đầu; đứng đầu Ví dụ: nguyên nguyệt: tháng Giêng; nguyên niên: năm đầu; nguyên nhật: mồng một; nguyên đán: ngày đầu năm) Cúng tết Nguyên đán vào tháng Giêng (tháng Dần) bắt đầu từ nhà Hạ (2200-1766 TCN), vương triều đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa Sau này, nhà Chu (1122-221 TCN) tính toán lại rồi đổi cúng tết Nguyên đán vào tháng Mười một (tháng Tí - cũng là tháng khởi đầu của Thập nhị địa chi, tức 12 con giáp) Đến khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Nguyên (từ năm 221 TCN) mới đổi trở lại cúng tết Nguyên đán vào tháng Giêng theo lịch nhà Hạ

Lê Tắc là người đầu tiên miêu tả tết Việt khá tỉ mỉ qua đoạn văn viết về phong tục lễ tết trong An Nam chí lược:

Hàng năm, trước tết hai ngày, vua ngồi xe, các quan tùy tùng mặc triều phục đi trước đến điện tế Đế Thích Đêm Ba mươi tết vua ngồi ở cửa Đoan Củng, các bề tôi đều làm lễ; lễ xong thì cùng xem múa hát Buổi tối ấy lại qua cung Động Nhân cúng các tiên vương Đêm ấy có các tăng sĩ, đạo sĩ vào cung làm lễ khu ma (lễ xua đuổi tà ma, quỷ mị) Dân gian thì mở cửa đốt pháo tre, dọn cỗ cúng bái tổ tông Ngày Nguyên đán, từ khoảng canh năm, vua ngồi trên điện Vĩnh Thọ, con cháu và các quan cận thần trước chúc tụng, sau cùng vào cung Xuân Trường kính lạy tổ lăng Buổi sáng sớm vua ngồi ở điện Thiên An, các phi tần đƣợc ngồi, các quan nội thị đứng, trỗi nhạc tại đình Con cháu nhà vua và các quan lớn nhỏ lần lƣợt lạy mừng, ba lần rót rƣợu dâng lên Con cháu đƣợc lên điện dự yến; các nội quan ngồi ở tiểu điện phía tây; các ngoại quan ngồi hai bên trái phải; đến trƣa lần lƣợt ra về Ngày mồng Hai tết, các quan làm lễ tại nhà riêng Ngày mồng Ba tết vua ngự ở gác Đại Hƣng, xem con cháu và các quan nội thị đánh quả cầu thêu, ai đón đƣợc cầu mà không rơi xuống đất là thắng Quả cầu ấy lấy gấm mà kết, bằng nắm tay đứa bé, có tua lòng thòng mười hai sợi Mồng Bảy tết là lễ Khai hạ, tiệc xong thì quan lại và dân chúng đi vãng cảnh chùa quán và du ngoạn các vườn hoa (Bùi Văn Vượng, 2012a, tr.148). Nội dung giới thiệu lễ tết trong đoạn văn trên chủ yếu miêu tả phong tục trong cung đình nhà Trần Còn trong dân gian, không khí tết đƣợc miêu tả rất ít, nhƣng cũng khá rõ ràng Qua đó ta thấy đƣợc phong tục tết từ thời Trần đến nay cơ bản không có sự thay đổi lớn với “dân gian thì mở cửa đốt pháo tre, dọn cỗ cúng bái tổ tông” và “mồng Bảy tết là lễ Khai hạ, tiệc xong thì quan lại và dân chúng đi vãng cảnh chùa quán và du ngoạn các vườn hoa” Đến đời Nguyễn, các tác giả ở Quốc sử quán miêu tả theo từng đơn vị hành chính, lúc đó là 31 tỉnh Tuy cùng miêu tả tết Nguyên đán, nhƣng ít nhiều có sự khác nhau giữa các tỉnh, thành Mỗi nơi, các tác giả này miêu tả những vấn đề nổi bật với những đặc trƣng ngày tết tiêu biểu nhất Do đó, khi tổng hợp lại ta sẽ thấy đầy đủ về phong tục ngày tết cổ truyền này Chẳng hạn, ở Phủ Thừa Thiên (Kinh sư): “Tết Nguyên đán thì con trai, con gái đều ăn mặc tử tế, trước hết đến lễ từ đường, sau lạy chào gia trưởng Trong ba ngày tết, thân thích, bạn bè qua lại chúc mừng nhau Buổi Trừ tịch dựng nêu, treo đèn đốt pháo, qua ngày mồng Bảy thì khai chính hạ nêu” (QSQTN, 2012, tr.103) Còn ở Biên Hoà thì nhắc đến việc cúng lễ trên bàn thờ gia tiên trong những ngày tết: “30 tết dựng nêu, ngày Nguyên đán bày lễ cúng, ngày mồng Ba là lễ đƣa thần, ngày mồng Bảy làm lễ Khai hạ” (QSQTN, 2012, tr.1634) Đó là những ghi chép địa chí cả nước (quốc chí), tuy có tính miêu tả, liệt kê, nhưng vẫn hết sức sơ lược Sang địa chí địa phương (phương chí) thì những ghi chép về phong tục cụ thể hơn hẳn Chẳng hạn, trong GĐTTC, Trịnh Hoài Đức

(2005) miêu tả phong tục lễ tết ở Gia Định miêu tả gần nhƣ trọn vẹn những quan niệm về ngày tết qua các bước tiến hành: Đêm 28 tháng Chạp, Na nhân 47 đánh trống mọi (Hồ cổ), gõ phách; một đoàn năm người, mười người đi theo dọc đường, thấy nhà hào phú thì đẩy cửa ngõ vào dán lá bùa nơi cửa, niệm thần chú, rồi nổi trống phách lên, hát những lời chúc mừng Chủ nhà dùng cỗ bàn chè rƣợu khoản đãi và gói tiền thưởng tạ Xong nhà này lại qua nhà khác, cũng làm như vậy, cho đến hôm Trừ tịch mới thôi, ấy là có ý đuổi tà ma, tiễn cũ rước mới

Ngày Trừ tịch, ở trước cửa lớn mọi nhà đều dựng một cây tre, trên buộc cái giỏ bằng tre, trong giỏ đựng trầu, cau, vôi; bên ngoài giỏ treo giấy vàng bạc, gọi là dựng nêu Việc này không thể khảo cứu nguyên do Có người nói là chia ba giới thống trị cũng là thuyết hoang đường, không thể tin đƣợc Đến ngày mồng Bảy thì triệt hạ, gọi là hạ nêu (tr.182)

47 Nguyên chú của Trịnh Hoài Đức (2005): tục gọi là Nậu sắc bùa Chú của người dịch (Lý Việt Dũng): là người dán bùa, đọc chú cuối năm để trừ ma quỷ, dịch lệ, ôn thần cho gia chủ (tr.182) Hình thức hát sắc bùa Phú Lễ (Bến Tre) hiện nay chính là tập tục này Đó là những phong tục được người Nam Bộ thực hiện gắn liền với thời gian vũ trụ đã có chi phối mạnh mẽ tới đời sống vật chất và tinh thần của mình Ngày nay, các phong tục này phần lớn vẫn đƣợc duy trì, nhƣ:

Trong mấy ngày tết, phàm những khoản nợ nần thiếu thốn đều không đƣợc đòi hỏi, đợi đến ngày hạ nêu mới được đòi Tục ở đây thường đến cuối năm thì lo may sắm quần áo mới, quét dọn nhà cửa, treo câu liễn mừng năm mới, đặt bàn ghế, trang trí bàn thờ tổ tiên, trên đó trƣng bày các vật gì tốt đẹp để khoe diện, dặn con cháu phải cẩn thận trong mọi việc để bói điềm lành tròn năm Ngày tết họ uống rƣợu nếp than và ăn bánh tét (Trịnh Hoài Đức, 2006, tr.182).

Quan niệm tết là đƣợc vui chơi, nên các khoản nợ nần trong phải đƣợc giải quyết trước tết Nếu không có khả năng trang trải nợ nần thì phải sau tết mới nhắc tới Điều đó thể hiện được tính nhân văn, tình nghĩa của người với người trong cộng đồng xã hội

Do cuộc sống mưu sinh, nhiều khi phải tha hương cầu thực nên dịp tết là dịp để người ta sửa sang, chưng diện cho bản thân (may áo mới) và nhà cửa (quét dọn nhà cửa, trang trí bàn thờ tổ tiên) cho được tươm tất trong ba ngày tết Nếu so sánh với Bắc Bộ thì các nghi lễ chính thức trong những ngày tết ở Nam Bộ đƣợc tiến hành giản tiện hơn:

Bắt đầu giờ Dần ngày đầu năm phải dậy thắp hương đèn và dâng trà lễ bái tổ tiên Sau đó lạy mừng tuổi người trưởng thượng, chúc tụng phước thọ, đầu xuân mới đƣợc giàu sang, khỏe mạnh Đặt cỗ bàn dâng lên tiên tổ, mỗi ngày hai lần sớm chiều, phụng sự nhƣ khi còn sống vậy, lễ vật gồm quả phẩm, bánh mứt, tất cả thực vật đều đem trƣng bày Đến ngày mồng Ba làm lễ đƣa thần, gọi là đệ tiễn Lễ này dùng đồ dán giấy nhƣ đồ hàng mã đem đốt và đốt cả pháo, có thứ pháo đồng, pháo thiếc, tiếng nổ chấn động cả rừng núi, rền vang không dứt (tr.182)

So với phong tục tết ngày nay, chỉ có tục đốt pháo xua đuổi tà ma và đánh cờ bạc là bị cấm hẳn

Phần lớn các tư liệu phương chí khác miêu tả phong tục tết lại có phần giản lược, đại khái Dương Bá Cung trong Hà Nội địa dư khái quát: “Đêm giao thừa dựng cây nêu, rắc tro than, đốt pháo nổ, bảo là đuổi quỷ xua tà” (Nguyễn Thúy Nga & Nguyễn Kim Sơn, 2010, tr.110) Còn trong Hà Nội sơn xuyên phong vực ký thì tương đối cụ thể về nội dung: “Đêm giao thừa dựng cây nêu, đốt pháo, trẻ con sang nhà khác chúc phúc (đêm ấy trẻ con sang nhà hàng xóm chúc phúc, chúc thọ, các gia chủ đều thưởng tiền, tục gọi là sách) Ngày mồng Một tết cúng thần và cúng tổ tiên Con cháu trong nhà chúc tết các bậc bề trên” (Nguyễn Thúy Nga

& Nguyễn Kim Sơn, 2010a, tr.480) Ở huyện Đông Triều trong Đông Triều huyện chí thì mâm quả ngày tết gắn với biểu tƣợng vuông tròn để cúng tế tổ tiên, thần thánh; bạn bè thân hữu thì thăm nhau và uống rƣợu mừng: “Vào dịp tết Nguyên đán, phải có trà tròn, bánh vuông để lễ tiên tổ, tụ tập uống rƣợu với bạn bè thân hữu Ngày Trừ tịch quét sạch miếu vũ, nơi thờ tiên tổ, chong đèn đến sáng hôm sau (Đinh Khắc Thuân, 2009a, tr.461)

Tuy có giản lƣợc nhƣng nội dung cơ bản của phong tục tết vẫn đƣợc đảm bảo Đó là việc dựng nêu, đốt pháo để trừ tà và cỗ bàn tươm tất, chu đáo để cúng tế tổ tiên Điều đáng lưu ý, mãi đến đầu thế kỉ XIX, và cũng lần đầu tiên phong tục tết được miêu tả trong tư liệu Hán Nôm rằng người giàu kẻ nghèo đều no ấm trong ba ngày tết Và phong tục này nhìn chung tuân thủ theo nguyên tắc “ngày tết Nguyên đán bất kể sang hèn, lớn nhỏ, đều no say vui chơi, tuy người nghèo trong thôn dã cũng đủ lễ Từ ngày dựng cây nêu trở đi, nhà nào cũng đều đua tranh cờ bạc vui chơi mà không bị ngăn cấm, đến ngày hạ nêu mới thôi” (Trịnh Hoài Đức, 2006, tr.184)

Có thể nói, Nguyên đán là tết quan trọng nhất trong năm của người Việt Nên dù làm gì, ở đâu thì họ cũng hướng về nhà cửa, quê hương Vào ngày tết, người người đều phải ăn mặc tươm tất, chỉnh tề; phải trang hoàng nhà cửa, đồng thời lo quét dọn mộ phần tổ tiên mình:

Trung tuần tháng Chạp, tứ dân đi xa làm ăn lục tục trở về quê quán may sắm quần áo, quét dọn vườn tược, nhà cửa, lau chùi đồ đạc Mọi việc phải gọn gàng sạch sẽ Đàn ông, đàn bà ăn mặc chỉnh tề, đi chợ mua đồ hàng mã thờ cúng gia tiên Gần đến Tất niên, người ta biện lễ trầu rượu đi quét dọn phần mộ tổ tiên, gọi là tảo mộ (Đoàn Triển, 2008, tr.16)

Phong tục hôn nhân qua tư liệu địa chí và hương ước Hán Nôm

2.2.1 Khái quát về phong tục hôn nhân

Một phong tục quan trọng gắn chặt với vòng đời người chính là phong tục hôn nhân Hôn nhân là việc đính ước trăm năm do hai nhà tiến hành, trước là kết tình thân gia, sau là đem lại hạnh phúc lứa đôi cho con cái Sách Chu Lễ có nói việc hôn nhân là: 配室之祭萬福之源 (Phối thất chi tế, vạn phúc chi nguyên), tức là lễ cúng phối ngẫu thành gia, là cội nguồn của muôn điều phúc (Lê Văn Chưởng, 1999, tr.712) Trong phần Hôn nghĩa của Kinh Lễ, Khổng Tử giải thích rất rõ việc phối ngẫu này: “Kính trọng cẩn thận rồi sau mới thân đó là nghĩa lớn của Lễ vậy, mà có đó mới có phân biệt nam và nữ, và xác lập đƣợc nghĩa vợ chồng” (Nguyễn Tôn Nhan, 1996, tr.361) Về mặt từ nguyên, 婚 Hôn là cha vợ,

姻 Nhân là cha chồng” 64 (Bửu Kế, 2009, tr.828) Trong truyền thống phương Đông, việc hôn nhân là do cha mẹ hai bên gá nghĩa cho Nó đồng nghĩa với việc được mọi người trong cộng đồng thừa nhận họ là vợ, là chồng của nhau Ngày xƣa không có giấy chứng nhận kết hôn của chính quyền, nên việc đƣợc cộng đồng thừa nhận là điều kiện cần để một đôi nam nữ nên chồng nên vợ Và việc dựng vợ gả chồng chỉ là sự tác hợp lứa đôi, mang tính cá nhân (gia đình) nhƣng có can hệ mạnh mẽ tới cộng đồng (dòng tộc, làng xã) như sẽ thêm hay bớt người trong làng Từ đó, phong tục hôn nhân khá cầu kỳ và nặng nề tại cộng đồng làng xã Ngô Đức Thịnh (2012) trong Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam cho rằng: “Cưới xin là mốc rất quan trọng của đời sống của một cá nhân Nếu việc ra đời và nuôi dưỡng của một con người do Bà Mụ chủ sự, thì việc kết duyên nam nữ là do một vị thần khác làm chủ sự - Tơ Hồng hay Nguyệt Lão, có khi dân gian nữ hóa thành bà Nguyệt: ông Tơ bà Nguyệt” (tr.15) Do vậy mà để hôn sự

64 Theo Thuyết văn giải tự, Hứa Thận dẫn sách Lễ ký lý giải: Khi cưới vợ thường đón dâu vào buổi chiều, cho nên gọi là hôn, vì hôn có nghĩa là buổi chiều Nhân tức là chú rể, người vợ vì việc cưới mà về nhà chồng nên gọi là nhân Theo chúng tôi, tục rước dâu buổi chiều không có ở Việt Nam ta, chúng tôi nghĩ rằng cách giải thích đơn giản của Bửu Kế là gọn và hợp lý thành tựu nhất thiết phải có người mai mối và có lễ tơ hồng Phong tục hôn nhân truyền thống của người Việt xưa phải đủ Lục lễ gồm nạp thái, vấn danh, nạp cát, thỉnh kỳ, nạp tệ và nghinh thân Trong Lục lễ trên, phải đến lễ cuối cùng là nghinh thân thì nhân vật chính là Tân lang - Tân nương mới xuất hiện Khi nhân vật chính xuất hiện để lễ bái tổ tiên, cha mẹ, lạy chào họ mạc hai bên là khi mọi sự sắp đặt của người lớn (Ông bà, cha mẹ, họ hàng, làng xã) đã được vuông tròn Trong Trung Quốc văn hóa sử Tam bách đề (1999), mục bàn về hôn lễ nói rõ:

“Trừ Nghinh thân, năm lễ trên đều do cha mẹ hai bên tiến hành, mà chủ yếu là người cha đứng ra quyết định việc hôn lễ cho con cái” (tr.781) Xét trong xã hội Việt Nam ta thì điều này rất đúng, ông bà ta thường nói Áo mặc sao qua khỏi đầu là chỉ về việc hôn nhân con cái do quyền cha mẹ định đoạt Hiện nay, phong tục hôn nhân chỉ còn Tam lễ cho giản tiện là dạm ngõ, lễ hỏi và lễ cưới

2.2.2 Phong tục hôn nhân qua tư liệu địa chí Hán Nôm

Các sách địa chí miêu tả phong tục hôn nhân cũng rất đại khái và có sự khác nhau ít nhiều ở từng vùng, từng giai đoạn lịch sử Ở thời Trần, “Con trai con gái nhà nghèo, không có người mai mối thì tự tương phối cùng nhau Trong lễ cưới xin, ngày xuân người làm mối bưng tráp trầu cau đến nhà gái hỏi Nếu nhà gái đồng ý thì nạp tài từ trăm đến ngàn đồng Thường dân thì đến trăm là đủ; nhà ưa lễ nghĩa thường không câu nệ ít nhiều” (Bùi Văn Vƣợng, 2012a, tr.149)

Mãi đến đời Nguyễn, tƣ liệu địa chí bàn luận bàn tiếp về phong tục hôn nhân, nhƣng ít nhiều đã có thay đổi Chẳng hạn:

Về việc hôn nhân, mỗi nơi có tục lệ khác nhau Nhƣ huyện Hoành Bồ (Quảng Ninh), đến ngày cưới, người họ nhà gái đưa con gái ra cửa, rồi con trai đi trước, con gái đi sau; lễ cưới xong, hai họ nhà trai gái cùng nhau hát xướng, dùng tiền thưởng tặng cho nhau Tục ở châu Tiên Yên, nhà trai đến đầu cửa ngõ nhà gái, đặt bàn ghế, lấy cỏ hoa treo lên cửa, và đặt một đĩa trầu, một đĩa cau, một đĩa hoa và một đĩa để trống Nhà trai, nhà gái mỗi bên hai người lần lượt hát xướng hoạ Hôn lễ xong, nhà trai lấy tiền tặng để vào đĩa để trống, nhà gái nhận và hát để đáp lễ (QSQTN, 2012, tr.1034)

Còn ở Bình Định, “việc cưới gả hay đòi tiền (thách cưới), con trai nhiều người ở rể nhà vợ” (QSQTN, 2012, tr.557)

Khảo qua toàn bộ tƣ liệu địa chí bàn về phong tục hôn nhân thì phải từ Bình Định trở vào Nam mới thấy nói đến tục ở rể Nhƣ: “Ở Phú Yên, tục lệ ở đây khi cưới vợ thường hay ở rể, nên dân ngụ cư thường ở xen lẫn với dân chính quán” (QSQTN, 2012, tr.608); “Ở Định Tường, hôn lễ lấy trầu cau làm trọng, trong sáu lễ, chỉ dùng có ba lễ mà thôi: ăn hỏi, xin cưới, rước dâu” (QSQTN,

2012, tr.1705) hay “Ở An Giang, hôn nhân thì làm rể trước rồi sau mới cưới; sính lễ riêng dùng con heo Hải Nam, tức heo không đƣợc toàn sắc” (QSQTN, 2012, tr.1751)

Phong tục hôn nhân đƣợc miêu tả trong tƣ liệu địa chí phần nhiều là tốt đẹp, là sự hài hoà của con người với nhau: “Hôn lễ dựa vào mai mối mà định duyên, thường dùng trầu cau làm trọng Nhưng đủ sáu lễ thì chỉ những gia đình sĩ phu mới thực hiện được, lại có tục đi làm rể trước khi cưới vợ về” (Trịnh Hoài Đức, 2006, tr.180) Nhƣng thực tế không hoàn toàn nhƣ vậy, sự câu nệ của phong tục hôn nhân khiến nhiều người do không môn đương hộ đối khó đến được với nhau, thậm chí, “nhiều nhà có con trai hay con gái phải thế chấp ruộng đất, trâu bò để chi tiêu cho việc cưới gả” (Trịnh Hoài Đức, 2006, tr.185) Điều chúng tôi nhận xét trên đây là có cơ sở khi khảo qua nội dung hương ước, tục lệ ở Việt Nam Thách cưới, nộp cheo, sính lễ theo đúng phong tục là gánh nặng to lớn mà không phải nhà nào cũng có thể đáp ứng đủ

2.2.3 Phong tục hôn nhân qua tư liệu hương ước Hán Nôm

Hôn nhân là việc trăm năm, đó cũng là một đại sự của cuộc đời người Nhưng trước hết phải thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng với bản xã:

Nuôi lợn thì phải vớt bèo,

Cưới vợ thì phải nộp cheo cho làng (Ca dao)

Tục lệ xã Phất Lộc, tổng Thƣợng Liệt, huyện Đông Quan, phủ Thái Ninh, tỉnh Thái Bình cho rằng: “Việc cưới gả cần có lệ lan giai (nộp cheo) để thể hiện việc trọng gốc nhân luân, tránh việc cưới gả bừa bãi” Cho nên: “Bằng như kẻ nào gả chồng cho con gái mà không nộp lệ lan giai, trái lệ quá 1 năm, tróc phạt 10 quan tiền để nghiêm lệ tục” Trong khi nộp cheo đúng lệ thì ít hơn nhiều so với số tiền phạt đó: “Đúng lệ chuẩn bị trầu, rƣợu, lợn, xôi cùng 3 quan tiền cổ Để quá kỳ hạn 1 tháng nộp thêm 1 quan tiền cổ” Hay: “Lệ rằng nhà nào gả con gái trong xã nộp tiền lan giai là 6 mạch (cheo nội), gả sang xã khác nộp tiền lan giai 1 quan

8 mạch cùng trầu cau (cheo ngoại) tại nhà Xã trưởng Nếu quá 3 ngày chưa nộp, phạt thêm 3 mạch” (xã Trung Định, Bắc Giang)

Phần lớn tiền cheo nộp tại đình cùng mâm lễ vật, gọi là kính thần trình dân Nhưng cũng có nơi gia đình phải mời hương chức, sắc mục đến tư gia để khoản đãi rồi mới trình báo:

- Gia chủ chuẩn bị mâm bàn mời bản xã, ít nhiều tùy tâm Trong xã ai có con gái trưởng thành định gả thì biện 30 khẩu trầu trình Xã trưởng Xã trưởng đến đình đánh trống 3 hồi thông báo hội họp, toàn dân trên dưới đến đình thu tiền lan giai 6 quan, 2 vò rượu, 200 khẩu trầu Nếu gả cho người xã khác thì nộp 12 quan tiền, 4 vò rƣợu, 280 khẩu trầu Nếu nhà giàu có thì nộp 18 quan tiền, trầu rượu y lệ Không tuân hương lệ, chưa nộp tiền mà kết thông gia trước thì xã phạt thêm 10 quan (Xã Hoàng Cần, Nghệ An)

- Lệ lan giai nộp 8 mạch tiền cổ, 1 con lợn, 1 mâm xôi, 1 quả tim lợn, 30 khẩu trầu cau mang đến trình Đương cai rồi đánh trống, mọi người nghe thấy cùng nhau đến đình Tiền đồng bản xã dùng vào việc công, trầu cau chia cho chức sắc, xôi thịt bản xã uống rƣợu, nếu thiếu thịt không chia phần (Xã Hoa Ngạc, Hà Đông)

- Lệ lan giai có sự phân biệt trong ngoài thôn Người trong làng phải biện trầu rƣợu đến trình Tiên chỉ và Lý dịch Sau đó biện 1 quan 2 mạch, 1 con gà, 1 mâm xôi, 100 khẩu trầu, 1 bình rƣợu đến đình lễ thần trình dân xã biết Người ngoài làng thì mỗi thứ nên biện gấp đôi người trong làng (Xã Đồng Thủy, Hà Nam)

Khảo qua nhiều nơi, thấy tục lệ cưới gả ngoại hương nộp tiền cheo gấp đôi nội hương Đó cũng vì các cụ quan niệm còn trong làng thì còn phụng sự việc làng, ra khỏi làng là người của thiên hạ nên phải thu gấp đôi mới cho đi Như vậy kể cũng có phần hợp lý với triết lí khuyết khích hướng nội kiểu ta về ta tắm ao ta Nhưng cũng có nơi tiền nộp cheo ngoại hương cao gấp 4 lần tiền nộp nội hương:

Phong tục tang ma qua tư liệu địa chí và hương ước Hán Nôm

2.3.1 Khái quát về phong tục tang ma

Tang ma là một trong những việc chung thân đại sự 66 終身大事 của người

Việt, được tiến hành rất chu đáo, các bước tiến hành phong tục đều được thực hiện một cách hết sức cẩn thận, trang nghiêm Việc tang ma trong xã hội Việt Nam không đơn giản chỉ là việc của một gia đình, mà là việc của một cộng đồng nhất định Mỗi cộng đồng (không gian địa lí) ở từng giai đoạn nhất định (thời

66 Chung thân đại sự: Việc lớn của đời người gian) sẽ có các nội dung biểu hiện phong tục khác nhau Nhƣng xét về nghi lễ trong tang ma người Việt thì có các nghi thức sau:

- Lễ thành phục Đó là những nghi thức chính đƣợc thực hiện trong tang lễ, ngoài ra còn có một số lễ phụ nữa nhƣ lễ triều tổ, lễ triêu tịch diện, trỗi kèn giải, nằm đất

Bàn việc tang ma, Trương Chí Cương dẫn dụ nghiên cứu của Malinowski, cho rằng:

Tang lễ có hai phương thức đặt các người chết hoàn toàn trái ngược nhau Một là muốn bảo tồn thi thể, muốn giữ cho thi thể đó còn lại mãi mãi không suy suyển; một là muốn vứt bỏ thi thể đó đi, đem thi thể tiêu huỷ triệt để Ƣớp xác và hoả táng chính là điển hình của hai cách làm này Có một số học giả cho rằng hai cách làm này là sản phẩm ngẫu nhiên của một văn hóa nào đó hoặc một loại tín ngƣỡng nào đó Nhƣ vậy rõ ràng là không đúng, bởi vì xét về tục tang ma của người nguyên thủy, bạn bè thân thích người chết rõ ràng có trạng thái tâm lý là vừa quyến luyến vừa kinh sợ đối với người chết (Trương Chí Cương, 2007, tr.59)

Chúng tôi cho rằng có hai cơ chế song hành trong phong tục tang ma Một là cơ chế quyến luyến, không nỡ xa rời người thân quá cố Các câu thành ngữ

Tang trí kỳ ai 喪致其哀, Thiên thu vĩnh biệt 千秋永別, Nhật tịch quy tây 67 日夕 歸西 xuất hiện trong đám tang của người Việt là minh chứng sống động cho cơ

67 Tang trí kỳ ai: Việc tang bi ai tận cùng; Thiên thu vĩnh biệt: Ngàn năm không gặp; Nhật tịch quy tây: Mặt trời đã về phía tây (chỉ cái chết) chế này Cho nên trong đám tang phải có sự khóc than, đau buồn, ly biệt Quàn linh cữu lâu trong nhà, lập bàn thờ vong rồi cúng tế vong hồn sớm tối, liên tục trong thời gian tang chế; cúng giỗ hàng năm vào ngày mất của người thân là những biểu hiện phái sinh của cơ chế quyến luyến người thân quá cố Cơ chế này phù hợp với truyền thống hiếu đạo của người Việt Một cơ chế khác, ngược với quyến luyến, là cơ chế tiễn đưa cùng với quan niệm linh hồn bất tử Người Việt xem cái chết là một bước chuyển, chỉ kết thúc một chu kỳ (vòng đời người) để khởi đầu cho một chu kỳ mới - sinh ký tử quy Nên người ta thường không nói thẳng từ chết, mà dùng đi, ra đi hay an nghỉ để nói tránh về cái chết Trong quá trình tang chế, người ta cũng chỉ nhắc những điều tốt đẹp, khen những việc đã làm được, tránh nhắc những việc xấu, việc sai của người chết Cho nên ta thấy nghi thức tang lễ đƣợc chú trọng và thực hiện với tinh thần đƣa tiễn - nghĩa tử là nghĩa tận Những nghi thức trong tang lễ là điều kiện căn bản giúp linh hồn vƣợt qua bước chuyển chặng cuối vòng đời người 68 để tới một chu kỳ mới Ngô Đức Thịnh (2012) nhận định: “Toàn bộ nghi lễ và tín ngƣỡng tang ma đều xuất phát từ quan niệm về linh hồn và đời sống của con người sau khi khi chết” (tr.17) Bên cạnh đó, cũng có thể xuất hiện một cơ chế mờ khác là sợ hãi linh hồn Xem người chết thuộc về thế giới khác (cõi âm) nên những người đang sống (cõi dương hay cõi thế) phải tống tiễn hoàn toàn Từ khi thực hiện nghi thức tang ma, vong hồn người chết đã thuộc về một đấng để người sống lễ bái, cầu xin Vong hồn được cúng kiếng ở bàn thờ gia tiên, trở thành gia thần của mỗi nhà 69

2.3.2 Phong tục tang ma qua tư liệu địa chí Hán Nôm

Phong tục tang ma trong tƣ liệu địa chí Hán Nôm không bàn nhiều đến nội dung tiến hành cùng ý nghĩa của nó, mà chỉ nói đại khái trên quan điểm đánh giá đến một số tục riêng lẻ ở từng địa phương Như ở Quảng Nam, “những nhà có

68 TGLA (2011) Chặng cuối vòng đời người Trong Phong tục người Việt Đồng bằng Sông Cửu Long Cần Thơ: Đại học Cần Thơ

69 TGLA (2014) Tín ngưỡng thờ gia thần ở Nam Bộ Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ Số 32 tr.121-

128 tang, suốt trong ba năm cứ đến tiết thu thì mời sƣ thầy làm tiếu bạt, gọi là tuần tháng Bảy”; ở Bình Định, “nhà nào có việc tang thì chu cấp cho nhau, phong tục như vậy cũng khá hậu” Hay ở Định Tường, “tang lễ thì theo đạo Nho hay đạo Phật, tục không thống nhất” (QSQTN, 2012, tr.1705)

Xem xét cách thực hành nghi lễ tang ma trong tƣ liệu địa chí Việt Nam thì rõ ràng có hai trạng thái tâm lý đối nghịch ấy Nhƣng đối với phong tục tang ma của người Việt thì phần nhiều mang tinh thần chủ động tống tiễn người chết

Tang lễ được mọi người trong họ, trong hương cùng bàn bạc thực hiện sao cho chu toàn và đúng lễ nhất Bên cạnh đó là tâm trạng đau buồn, bịn rịn, tiếc thương biểu hiện qua việc khóc than, đọc văn tế và cúng giỗ kỉ niệm ngày mất (cơ chế quyến luyến) Những biểu hiện đƣợc phản ánh trong tƣ liệu địa chí này hoàn toàn hợp với các cơ chế mà chúng tôi đã trình bày ở trên Đáng tiếc là phong tục tang ma đƣợc ghi trong tƣ liệu quốc chí không nhiều, thiếu tính cụ thể và cũng không đầy đủ ở các nơi Nhiều nơi (tỉnh, thành), các tác giả quốc chí thậm chí không miêu tả, bàn bạc đến phong tục tang ma Nhưng trong tư liệu phương chí thì bắt đầu cụ thể hơn, các tác giả chỉ ra được những nét đặc trưng trong phong tục tang ma của địa phương mà tư liệu đó phản ánh Chẳng hạn, ở vùng văn hóa Bắc Trung Bộ: “Ma chay thì mau chôn cất, chẳng bày vẽ thờ cúng sớm chiều để báo hiếu mẹ cha Đƣa ma thì có tục múa trước linh cữu gọi là tiễn vong Giỗ đầu cúng vào gà gáy gọi là đạo kỵ” (Bùi Văn Vƣợng, 2012c, tr.41)

Trịnh Hoài Đức (2006) cũng miêu tả kĩ việc tang lễ đƣợc tiến hành ở Nam

Bộ trong GĐTTC nhƣ sau:

Về việc tang lễ thì thường dùng Gia lễ Văn Công hay Nghi tiết Khâu Thị, phần nhiều trong tang tế thường dùng nhạc lễ Áo tang dùng tơ lụa sắc xanh hoặc đen Lại có tục cử hành tang lễ theo kiểu nhà Phật, cúng cơm chay trong 49 ngày mới thôi Đám tang thì sắm rƣợu thịt, cỗ bàn để khao đãi khách khứa đến phúng điếu và tống táng Nhiều nhà tin theo thầy địa lý, quàn quan tài cả năm trong nhà để đi tìm đất theo luật phong thủy, nay đã có lệnh nghiêm cấm và đã thấy có sự thay đổi (tr.181)

Khảo qua toàn bộ nội dung các tƣ liệu địa chí bàn về phong tục tang ma, chúng tôi nhận thấy rằng, việc tang ma tương đối nặng nề cho gia chủ ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Di chuyển xuống đến vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ, các tác giả địa chí mới nhắc đến việc tương trợ và phúng điếu trong phong tục tang ma Việc này đã giúp ích rất nhiều, đúng với nghĩa tương tế đối với gia đình có việc tang

Tóm lại, phong tục tang ma chƣa đƣợc các tác giả địa chí Hán Nôm chú ý miêu tả nhiều và đặt mục riêng cho nó Điều đó cho thấy sách địa chí nói chung không xem nội dung phong tục tang ma làm trọng tâm trong miêu tả Mặt khác, phong tục tang ma, cũng nhƣ phong tục hôn nhân, gắn chặt với từng cộng đồng làng xã nhỏ nhƣng bền chặt, ít biến đổi trong văn hóa Việt, nên nó đƣợc miêu tả kĩ trong hương ước, tục lệ của làng nhiều hơn Do vậy phần trình bày về phong tục tang ma qua tư tiệu hương ước Hán Nôm chiếm dung lượng nhiều hơn do hương thôn làng xã Việt Nam nhìn chung rất quan tâm vấn đề tang ma Từ việc tổ chức cho phút lâm chung, trình báo làng xã, họ hàng xa gần cho đến các nghi lễ, tống táng, cúng tế Những vấn đề cụ thể nhƣ trên chúng tôi sẽ trình bày ở mục 2.3.3 dưới đây

2.3.3 Phong tục tang ma qua tư liệu hương ước Hán Nôm Đi vào từng bản hương ước, tục lệ cụ thể, làng xã Việt đưa ra quy định riêng về khoản tang ma rất cầu kỳ, phiền hà và tốn kém Chỉ tính riêng khoản báo tin, người nhà đã phải sắm sửa trầu cau, đôi khi cả thủ lợn, xôi, rượu, thậm chí có làng còn quy ra tiền cho khoản trình làng báo tử Đối với nhiều gia đình, những lệ như thế là rất nặng nề Nếu không theo thì người làng không đến tiễn đưa, cũng nhƣ giúp đỡ Và dĩ nhiên, đã sống ở làng, nay chết ở làng mà không có tiền báo đáp làng ngay khi mất thì sau khi chôn cất, người nhà vẫn phải nộp một khoản phí về tội bất kính Tiền nộp phạt ít hơn nhiều so với số tiền khoản đãi làng nước Nhƣng đó sẽ là nỗi nhục khôn tả cho gia đình trong chiều kích tâm lý tiểu nông chật hẹp của cộng đồng làng xã Qua lời tâm sự trọn tình trọn nghĩa của anh L ở thiên phóng sự Món nợ chung thân trong Việc làng, Ngô Tất Tố cho ta thấy rõ điều đó: “Nhà con tuy ít tuổi, nhưng nó là người thiên hạ 70 và cũng hẳn hoi với con, nếu để dòng họ khiêng, thì sợ tủi vong hồn nó, và rồi cũng không còn mặt mũi nào trông thấy anh em nhà vợ nữa Vì thế, con phải cố lo bữa rƣợu (giết 1 con lợn) để mời hàng giáp” (Ngô Tất Tố, 2014, tr.130) Và kết quả của việc “cố lo bữa rƣợu” để không “tủi vong hồn nó” ấy là: “Một bữa lệ làng có thể gây cho người ta món nợ lãi chung thân không trả hết” (Ngô Tất Tố, 2014, tr.130) Cũng chính vì tâm lý này, người ta làm mọi cách để lo cho đám tang được chu tất, vẹn toàn, dẫu biết rằng sau đó có thể là “món nợ chung thân” cho các hiếu tử Việc ấy thậm chí khiến chính người sắp ra đi cũng phải ray rứt khôn nguôi: “Tôi suốt đời còm cọm, chỉ để đóng góp là vừa Bây giờ tôi sắp nằm xuống, lại sắp để lại cho thằng con tôi một cái gánh nặng Những sự linh đình ông thấy ngoài kia 71 , sẽ là món nợ mà một đời nó chƣa chắc trả hết” (Ngô Tất Tố, 2014, tr.19)

Phong tục hương ẩm qua tư liệu hương ước Hán Nôm

2.4.1 Khái quát về phong tục hương ẩm

Trong Việt Nam phong tục, mục bàn về Hương ẩm ở thiên Nói về phong tục hương đảng, Phan Kế Bính (2005) nêu cách hiểu khái quát: “Những khi kỳ thần bái xã và những khi có công việc gì đông dân hội tụ ăn uống, gọi là hương ẩm Hương ẩm có sổ, dân gian con trai từ sáu, bảy tuổi đã vào sổ hương ẩm” (tr.133) Nhƣ vậy, bất kể việc hội họp ăn uống nào của dân chúng từ chính sự do làng tổ chức nhƣ cúng thần, đăng khoa, nhập tịch, cho đến việc ở tƣ gia nhƣ việc thƣợng thọ, tang ma, hôn sự, thậm chí nhà nào chẳng may bị phạt vạ cũng phải tuân theo lệ hương ẩm Nhưng điều đáng lưu ý ở đây, phong tục hương ẩm chỉ thực thi cho nam giới “từ sáu, bảy tuổi đã vào sổ hương ẩm” mới được dự Có thể nói, phong tục này là đặc quyền cho nam giới trong văn hóa làng xã Việt Nam truyền thống

Toan Ánh trong Nếp cũ - Hội hè đình đám bàn về Những tiệc tùng có nói đến việc vô tửu bất thành lễ 無酒不成禮: “Rƣợu thịt dâng lễ xong, dân làng cùng hưởng, hoặc cùng ăn tại đình, hoặc làm phần chia cho cả làng Thường thì một phần đồ lễ dùng để làm tiệc tại đình để các người tham dự cùng ăn uống, còn một phần dùng làm phần chia cho dân trong làng” (Toan Ánh, 1992, tr.37) Đây chính là những câu văn phản ánh về phong tục hương ẩm mà chúng tôi đang đề cập Còn theo cách nói dân gian, để phản ánh đầy đủ vinh dự của việc ăn ở làng chính là câu tục ngữ: Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp! Toan Ánh tiếp tục bình luận: “Thực ra, có thể nói, chẳng mấy khi dân quê có một sàng thịt trong xó bếp” (Toan Ánh, 1992, tr.37) Vấn đề này đƣợc Đoàn Văn Chúc (2014) lý giải rất cụ thể:

Những món ngon, độc đáo, vươn lên khỏi trình độ tiêu thụ sơ đẳng đã ra đời vào các dịp lễ - tết - hội, bởi lẽ, với năng suất lao động thấp kém của trình độ sản xuất thủ công, người ta không thể có thực phẩm cao cấp cũng nhƣ điều kiện chế biến đủ cho bữa ăn hàng ngày Chính vì lẽ ấy nên mỗi dịp lễ - tết - hội là một dịp để người ta thoả mãn nhu cầu ăn uống đầy đủ hơn, ngon hơn, tức là có văn hóa hơn: động mõ không bằng gõ thớt; trâu bò được ngày huỷ đồng, con cháu được ngày giỗ ông (tr.183)

Trước đó, Đoàn Văn Chúc phân tích sâu về nguyên nhân dẫn đến các việc ăn chung trong cộng đồng rằng: “Thoạt kỳ thủy, sự ăn uống trong các lễ - tết - hội có thể chỉ là sự biểu thị mối cảm thông của cộng đồng trước một sự cố có thể là vui hay buồn cho cộng đồng, nhƣ một thành viên của cộng đồng mất đi, hay ra đời, chuyển đoạn tuổi” (Đoàn Văn Chúc, 2014, tr.180) Sự biểu thị mối quan hệ ràng buộc cộng đồng ấy được diễn ra dưới hình thức ăn uống chung với nhau bất kể gặp chuyện vui hay chuyện buồn Người Việt ta có câu cửa miệng rất hay, có chuyện vui thì đến để “chia vui” (chúc tụng), buồn thì đến để “chia buồn” (san sẻ, động viên)! Những người ăn uống chung với nhau là dấu hiệu cho thấy họ cùng một cảnh ngộ nào đó, có thể “chia”, tức là có thể sẻ chia hay giúp đỡ nhau, cùng thể hiện cả quyền lợi lẫn trách nhiệm với nhau Trường hợp phổ biến nhất là người ta dùng vật cúng tế làm bữa ăn chung của toàn thể cộng đồng Việc ấy vừa thể hiện sự gắn kết với nhau giữa những con người khác nhau, đồng thời cũng vừa thể hiện giống nhau về địa vị xã hội vì cùng “thụ lộc” nhƣ nhau Ăn chung vật cúng là cách đơn giản nhất để xác nhận mối quan hệ gắn bó với nhau trên phương diện nào đó, đồng thời nó cũng ràng buộc lẫn nhau Đặc biệt là trong thời kỳ cộng đồng bị đe doạ, nhƣ chiến tranh hoặc thiên tai, sự tái xác định mối liên hệ trở thành yêu cầu cấp bách hàng đầu Nhƣ vậy, bằng cách cùng ăn uống chung vật cúng tế, người ta đã ngay lập tức xác định rằng giữa những người ăn chung với nhau có quan hệ với nhau theo một cách thức nào đó rất thiêng liêng Cách thức ấy đƣợc thể hiện chỉ bằng một việc đơn giản là cùng ăn uống với nhau Việc uống máu ăn thề 77 là biến thể đơn giản hơn về sau này của tục lệ ăn uống chung (hương ẩm) Tục lệ ăn uống chung với nhau ra đời và ổn định từ những thời kỳ rất sớm của loài người, và nó được các giai đoạn phát triển của lịch sử loài người bổ sung thêm mãi Thoạt tiên chỉ là nghi thức trong từng bộ lạc, khi xã hội phát triển phân hóa thành các thị tộc thì do nhu cầu tồn tại của mình, các thị tộc cũng lập nên nghi thức này cho riêng thị tộc của mình Cứ nhƣ thế, theo với sự phát triển của các cấu trúc xã hội, trong quá trình phát triển của riêng nó, nghi thức ăn uống chung có mặt ở mọi cấp cấu trúc xã hội: gia đình, chi họ, phe, giáp, làng xã, nghề nghiệp Có thể nói, “ở bất kỳ cấp cấu trúc xã hội nào, nghi thức ăn uống chung đều có chức năng xã hội tích cực của nó là tái xác định mối liên hệ đã gắn bó các thành viên trong nhóm lại với nhau” (Đoàn Văn Chúc, 2014, tr.181)

Xét trong xã hội Việt Nam ta, mỗi làng có một cơ chế tự quản riêng và việc ăn uống trong làng cũng là một cách xác định mối quan hệ “người làng” với nhau Cho nên mới có việc quân chiêm thần huệ 均瞻神惠: Dân trong làng phải cùng được hưởng lộc hay thụ lộc của vị thần mà mình tôn kính, phụng thờ Lộc ở đây chính là lễ vật sau tiến cúng Nhận đƣợc lộc ấy cũng tức là nhận ân huệ mà thần ban cho, nên cần phải phân phối sao cho đồng đều trên dưới (quân chiêm) Rồi còn phải tuần tự thay nhau thực hiện những nhiệm vụ thiêng liêng khác nhƣ trông giữ đình, miếu trong làng (ông từ) hoặc phải thay nhau tổ chức cúng tế “từ lúc mới vào làng cho đến lúc lên tứ trụ (sáu bảy mươi tuổi), mỗi người tất phải cắt lần lượt nhau mà chứa trưởng hoặc gọi là chứa đăng cai một hoặc nhiều lần” (Phan Kế Bính, 2005, Tr.134)

Việc phân chia, luân phiên với nhau nhƣ thế, cả quyền lợi lẫn trách nhiệm, cũng là một dịp tốt để người dân cảm nhận được địa vị của mình trong xã hội, không có sự phân biệt giàu nghèo, đến lƣợt mình thì mình phải lo việc của làng Đó là công việc bao hàm cả trách nhiệm lẫn danh dự Nếu đến lƣợt mà gặp đúng

77 Vũ Duy Mền (2018) trong công trình Hương ước cổ làng xã Đồng bằng Bắc Bộ xem tục thề (lễ thề, hội thề) là một trong những nguồn gốc hình thành hương ước (tr.57) giai đoạn túng thiếu cũng đành đi vay để thực hiện nhiệm vụ đó Tục lệ trong làng không có chuyện từ chối hay “đẩy” nhiệm vụ sang người khác Trong thì vay họ tộc, bà con; ngoài thì vay của làng (công quỹ) hoặc của hương lý, hào mục Điều này các bộ địa chí không bàn đến, hương ước cũng không thấy đề cập, nhưng qua các tác phẩm văn học viết về giai đoạn này, đặc biệt là các thiên phóng sự của Ngô Tất Tố, việc vay mƣợn tài vật để sắm lễ tế thần tế thánh chƣa bao giờ không được làng nước “tương tế” (giúp đỡ) Song hiềm một nỗi, “những nhà chứa đăng cai thường hay ganh nhau làm to, để lấy tiếng với làng nước Người này biện mâm xôi năm, mười đồng, người khác ganh lên làm mâm xôi đến mười lăm, hai mươi đồng; người này biện con lợn độ hai, ba chục đồng, người kia ganh lên làm con lợn đến bốn, năm chục đồng” (Phan Kế Bính, 2005, tr.136) Ấy cũng là bởi, phàm con người nói chung sẵn tính ganh đua, bất kể tốt xấu Nhưng mặt khác, bởi họ sợ miệng đời dè biểu, chê bai, sợ không ngóc đầu lên nổi với làng về những thất suất có thể Đến nỗi Phan Kế Bính 2005) phải thốt lên trong đoạn kết viết về hương ẩm rằng: “Nói tóm lại thì một người lo về ngôi hương ẩm trong làng, từ lúc bé đến già chưa hết nợ, nếu thiếu một ít nào thì kẻ chê người trách, có khi không mặt nào mà dám ra đến làng” (tr.136)

Tại sao lại hình thành cơ chế “ganh lên” một cách gƣợng gạo, khổ sở đó? Thiếu nợ không lo, chỉ lo lễ vật đạm bạc Theo chúng tôi, cách giải sau đây của Phạm Đức Dương (2002) là hợp lý: “Trong cái biển tiểu nông manh mún đó, con người cá nhân bị níu kéo bởi những thiết chế nghiệt ngã vô hình không thể ngóc đầu lên được” (tr.101) Con người phương Đông từ xa xưa với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tự coi mình là một bộ phận nhỏ bé của vũ trụ, tự bản thân họ ý thức lựa chọn đề cao quan hệ cộng đồng và đặt lên trên quan hệ cá nhân, con người trọng danh dự hơn trọng lợi lộc Người Việt có câu châm ngôn: Hùm chết để da, người ta chết để tiếng đã minh hoạ rõ nét cho vấn đề này Đến nỗi, một nhà

Nho có thể xem là chọc trời khuấy nước nhƣ cụ Nguyễn Công Trứ đã từng phát biểu “Kiếp sau xin chớ làm người, làm cây thông đứng giữa trời mà reo” lại rất trọng cái danh thì đủ hiểu:

“Đã mang tiếng ở trong trời đất, Phải có danh gì với núi sông”

(Chí nam nhi) Đó là cái chí muốn “danh lưu thiên cổ” của nhà Nho Việt Nam nói riêng, người Việt nói chung Nên cũng không có gì lạ khi nghe các cụ nói Một miếng giữa đàng bằng một sàng xó bếp Hương ẩm là bữa ăn chính thức chung của một cộng đồng và đem lại nhiều ý nghĩa Vì có ý nghĩa nên nó đƣợc duy trì Song nó cũng gây nên những tác hại không hề nhỏ, ảnh hưởng trực tiếp đến cả đời sống vật chất và tinh thần lâu dài của người Việt Tác giả Phan Kế Bính (2005) rất chính xác khi nhận xét: “Tục ta trọng việc sự thần lại trọng ăn uống, động một tí thì nào bò, nào lợn, nào xôi, nào thịt, hết nay tế bái thì mai lại giỗ Hậu, hết nay việc công thì mai lại việc tƣ, quanh năm chỉ những ăn uống” (tr.135) Do vậy, từ sau giai đoạn cải lương hương chính, các điều khoản dành cho vấn đề hương ẩm đƣợc giảm bớt rất nhiều, nó đồng thời cũng giảm bớt gánh nặng cho những con người Việt Nam quanh năm gắn bó với làng Nhưng người Việt ta thường nói, phú quý sinh lễ nghĩa, hay đơn giản trong giao tiếp bình dân thì cũng phải miếng trầu là đầu câu chuyện! Người Việt nói riêng, nhân loại nói chung vẫn cần những giao tiếp như phong tục hương ẩm để xác nhận mối quan hệ trong cộng đồng dưới những hình thức lớn nhỏ khác nhau tùy theo hoàn cảnh xã hội cụ thể

Ngoài ra, để giữ nghiêm phong hóa trong hương ẩm của làng, có làng còn quy định rõ những người không đủ tư cách do bản thân khiếm khuyết hay phạm điều cấm kỵ nào đó Chẳng hạn, Tục lệ xã Quần Lương (Nam Định) nói rõ “Lệ rằng người nào tàn tật không đủ điều kiện và người ở làng chưa đủ 3 đời thì không đƣợc dự tế trong đình; nhà nào có đại tang cũng không đƣợc vào trong đình, không được cùng hương ẩm để tôn trọng việc phụng thờ và biểu dương phong tục” Đây cũng là một cách thể hiện sự tôn sùng đấng thần linh của cả làng, chứ không phải sự kỳ thị Như với người tàn tật, vì khi tế lễ thì phải trang nghiêm, ngay ngắn, mà người tàn tật thì không thể đứng, quỳ bái trang nghiêm như người bình thường được Người ở làng chưa đủ 3 đời thì tức là dân ngụ cư, dù người đó có thể khá giả, có đóng góp cho làng bao nhiêu đi nữa thì cũng không được tế thần linh của làng Chỉ có thể hương ẩm ở bàn riêng hoặc phục vụ trà nước (nếu làm mõ), chứ không được cùng mâm với người kỳ cựu trong làng Người có đại tang là người đang lo việc hiếu, có bổn phận cư tang nên dĩ nhiên là không đƣợc dự tế

Phong tục hương ẩm ở làng phản ánh qua hương ước cho chúng ta thấy rất rõ sự rạch ròi ngôi thứ và nếu bỏ qua những tiểu tiết thì gần nhƣ có sự thống nhất giữa tất cả các làng Trong văn hóa làng, người ta xem trọng danh dự hơn trọng lợi lộc Việc duy trì, gìn giữ nề nếp ở làng thông qua bộ máy chức sắc và Hội tƣ văn Phong tục này nhìn chung là rườm rà, phức tạp nếu ta nhìn bằng con mắt của người hiện tại Nhưng phong tục tồn tại trong cộng đồng và được cộng đồng thừa nhận, truyền từ đời này sang đời khác là có cái lí của nó Qua phân tích sơ bộ nội dung hương ẩm như trên, chúng tôi nhận thấy nguyên nhân sâu xa của việc duy trì tục hương ẩm chính bởi nó là sợi dây cố kết con người, những người cùng làng lại với nhau Ngồi đƣợc với nhau yến ẩm để thắt chặt tình cảm cộng đồng, cùng chia sẻ các vấn đề trong cuộc sống Đó cũng là một nét đẹp của nền văn hóa tôn trọng ý thức cộng đồng, lợi ích và trách nhiệm tập thể xuất phát từ truyền thống lao động, sinh hoạt rất lâu đời của nước ta

2.4.2 Nội dung phong tục hương ẩm qua tư liệu hương ước

Phong tục hương ẩm được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và rất phổ biến trong xã hội Việt Nam truyền thống Truyền thống ở đây đƣợc hiểu là chúng vận hành trong cơ cấu làng xã giai đoạn phong kiến và thực dân nửa phong kiến, với phương thức sản xuất chủ yếu là nông nghiệp lúa nước còn lạc hậu Theo Đỗ Thị Hà Thơ (2014):

Làng Việt xưa, vấn đề lệ hương ẩm thể hiện ra bên ngoài là vị trí ngôi thứ ở trung đình Sự phân chia cấp bậc trong hương đảng cho thấy sự phân tầng đẳng cấp của những tiểu triều đình Đẳng cấp trên gồm lão hạng, quan tước, chức sắc; đẳng cấp dưới gồm hoàng đinh, bạch đinh, ty ấu Xuyên khắp các làng Việt, làng nào cũng đặt sổ hương ẩm Sổ hương ẩm với công năng biên tên các đinh nam, để tiện việc phân ngôi thứ và phân bổ nghĩa vụ (tr.84)

Toan Ánh cho rằng nhà nào có việc vui mừng đều phải khao vọng, tổ chức ăn uống linh đình Đó là dịp vui của mỗi nhà, cho nên cần mở tiệc ăn mừng, chia vui và cũng kèm theo nghĩa vụ khao dân vọng thánh 犒民望聖: Trước là tạ ơn thần thánh đã phù trì, chở che mà đạt đƣợc một kết quả nào đó nhƣ thi đỗ, thêm thọ, thêm đinh; sau là kính cáo với làng, với xã về kết quả đó để người làng chứng kiến và công nhận cho Sau khi được sự cho phép của người đứng đầu về chủ tế của làng là cụ Tiên chỉ và người đứng đầu về hành chính là ông Lý trưởng thì đương sự phải “sửa lễ yết cáo với đức Thành hoàng bản xã để xin ngài chứng giám Lẽ tất nhiên, sau đó cũng có lễ cáo Thổ công và cáo gia tiên ở nhà” (Toan Ánh, 2003, tr.288) Có nơi, hương ước quy định còn khắt khe, cụ thể hơn nhận định trên mà nhà nghiên cứu Toan Ánh đã phát biểu như hương ước của xã Quần Lương (Nam Định):

NỘI DUNG TÍN NGƯỠNG QUA TƯ LIỆU ĐỊA CHÍ VÀ HƯƠNG ƯỚC HÁN NÔM

Ngày đăng: 31/10/2022, 07:48

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w