1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chủ đề 1 giáo án giáo dục địa phương lớp 7 Tỉnh Cao Bằng

12 155 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 118,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHỦ ĐỀ 1 CAO BẰNG TỪ THẾ KỈ XI ĐẾN THẾ KỈ XIV Ngày soạn 11 09 2022 Tiết TKB Lớp Ngày dạy (Chiều) Tiết theo PPCT Sĩ số Học sinh vắng mặt Ghi chú 7 17102022 1 12 17102022 2 17102022 3 17102022.CHỦ ĐỀ 1 CAO BẰNG TỪ THẾ KỈ XI ĐẾN THẾ KỈ XIV Ngày soạn 11 09 2022 Tiết TKB Lớp Ngày dạy (Chiều) Tiết theo PPCT Sĩ số Học sinh vắng mặt Ghi chú 7 17102022 1 12 17102022 2 17102022 3 17102022.CHỦ ĐỀ 1 CAO BẰNG TỪ THẾ KỈ XI ĐẾN THẾ KỈ XIV Ngày soạn 11 09 2022 Tiết TKB Lớp Ngày dạy (Chiều) Tiết theo PPCT Sĩ số Học sinh vắng mặt Ghi chú 7 17102022 1 12 17102022 2 17102022 3 17102022.

Trang 1

CHỦ ĐỀ 1: CAO BẰNG TỪ THẾ KỈ XI ĐẾN THẾ KỈ XIV

Ngày soạn: 11/ 09/ 2022

Tiết

TK

B

Lớ

p

Ngày dạy (Chiều)

Tiết theo PPCT

Sĩ số Học sinh

vắng mặt

Ghi chú

17/10/2022 2 17/10/2022 3 17/10/2022 4

I MỤC TIÊU

1 Về kiến thức, kĩ năng, thái độ

a) Kiến thức:

- Trình bày được sơ lược về sự thay đổi địa giới, tên gọi vùng đất Cao Bằng từ thế kỉ

XI đến thế kỉ XIV

- Trình bày được những nét chính về tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV

- Nêu được khái quát các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ vùng biên giới phía bắc của nhân dân Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV

b) Kĩ năng:

- Rèn kĩ năng quan sát, khai thác thông tin, đánh giá, nhận xét, trình bày

c) Thái độ: Tự hào về truyền thống lịch sử của quê hương, ghi nhớ nguồn cội

b) Kĩ năng: Rèn kĩ năng quan sát, khai thác thông tin, đánh giá, nhận xét, trình bày.

c) Thái độ: Tự hào về truyền thống lịch sử-văn hoá và cách mạng của mảnh đất CB.

2 Về năng lực, phẩm chất:

a) Về năng lực:

* Năng lực chung:

+ Năng lực giao tiếp và hợp tác.

+ Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.

+ Năng lực tự chủ và tự học.

* Năng lực chuyên biệt:

+ Tìm hiểu Lịch sử.

+ Nhận thức và tư duy Lịch sử.

+ Giải quyết vấn đề và sáng tạo thông qua việc khai thác và sử dụng tư liệu hoàn thành các nhiệm vụ học tập.

+ Giao tiếp và hợp tác thông qua hoạt động nhóm và trao đổi thảo luận để tìm hiểu về di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu của tỉnh Cao Bằng.

b) Về phẩm chất:

- Yêu nước: Tự hào về truyền thống lịch sử-văn hoá và cách mạng của mảnh đất

CB Có ý thức bảo vệ những giá trị văn hoá, lịch sử tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ, phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc.

Trang 2

- Tôn trọng những giá trị truyền thống lịch sử: Tôn trọng sự đa dạng về văn hoá,

sự đoàn kết của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam và các dân tộc khác.

- Ham học: Thích đọc sách, báo, tìm tư liệu trên mạng Internet để mở rộng hiểu biết về lịch sử địa phương tỉnh CB nói riêng, lịch sử đất nước VN nói chung

- Có trách nhiệm với nhà trường và xã hội: Hiểu được trách nhiệm bảo vệ và phát huy truyền thống lịch sử văn hóa, phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc, phấn đấu trở thành một công dân tốt, chung tay góp sức xây dựng đất nước, giữ vững nền độc lập chủ quyền đất nước

3 Phương pháp dạy – học: PP trực quan, đàm thoại, HĐ cá nhân, HĐ nhóm

nhỏ.

II THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU

1 Đối với giáo viên:

- KHDH, máy tính, TV, Bải giảng PPT, video tư liệu về sự thay đổi địa giới, tên gọi vùng đất Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV; Tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá,

xã hội Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV; Các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm bảo

vệ vùng biên giới phía bắc của nhân dân Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV

- Sách Lịch sử tỉnh Cao Bằng (chương III – Cao Bằng thế kỷ XI đến XIV)

- Bảng nhóm, phiếu học tập

2 Đối với học sinh:

- Sưu tầm thông tin, tài liệu về vị trí địa lý, về sự thay đổi địa giới, tên gọi vùng đất Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV; Tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV; Các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ vùng biên giới phía bắc của nhân dân Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV

III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC

TIẾT 1: SƠ LƯỢC VỀ SỰ THAY ĐỔI ĐỊA GIỚI, TÊN GỌI VÙNG ĐẤT CAO BẰNG TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN THẾ KỶ XIV

A - Hoạt động: KHỞI ĐỘNG

- GV chiếu hình ảnh bản đồ hành chính tỉnh CB, phát phiếu học tập

+ Trình bày những hiểu biết của em về vị trí địa lý, diện tích của tỉnh CB trên bản đồ hành chính?

- HS tiếp nhận câu hỏi, theo tư liệu đã chuẩn bị trả lời

- Dự kiến sản phẩm:

+ Cao Bằng là tỉnh miền núi, biên giới nằm ở vùng Đông Bắc, phía Bắc và Đông Bắc giáp Quảng Tây (Trung Quốc), đường biên giới dài trên 333 km, phía Tây giáp 2 tỉnh

Hà Giang và Tuyên Quang, phía Nam giáp 2 tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn Theo chiều Bắc – Nam 80 km (từ xã Đức Hạnh, huyện Bảo Lâm đến xã Quang Trọng, huyện Thạch An) Theo chiều Đông – Tây 170 km (từ xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang đến xã Thạch Lâm, huyện Bảo Lâm)

+ Cao Bằng có diện tích tự nhiên 6.703,42 km2; là cao nguyên đá vôi xen với đất, có

độ cao trung bình trên 200m, vùng sát biên có độ cao từ 600 – 1.300 so với mặt nước

Trang 3

biển Núi rừng chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh, đất bằng để canh tác chỉ có gần 10%

- GV: Non nước Cao Bằng đậm đà bản sắc văn hoá các dân tộc Từ khi thành lập tỉnh đến nay đã trả qua những giai đoạn lịch sử hình thành và phát triển mang dấu ấn sâu sắc Chúng ta cùng nhau tìm hiểu sự thay đổi địa giới, tên gọi vùng đất Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV

B - Hoạt động hình thành kiến thức mới:

1 Hoạt động 1: Sự thay đổi địa giới, tên gọi vùng đất Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế

kỉ XIV

GV chia nhóm HS tổ chức thảo luận theo nhóm tìm hiểu sự thay đổi địa giới, tên gọi vùng đất Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV, qua tư liệu các đầu sách “Dư địa chí”;

“Việt kiều thư”; "Phương Đình địa chí" và "Đại Việt địa dư toàn biên" của Nguyễn Văn Siêu;

ND phiếu học tập:

PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1

Bằng qua ghi chép lịch sử để lại.

Sách "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi

biên soạn

1435 Sách "Việt kiệu thư" của Lý Văn 1540

Trang 4

Phượng (nhà Minh – Trung Quốc)

PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2

kỳ phong kiến

Thời vua Lê Thánh

Tông trị vì (1460 –

1497)

Năm Quang Thuận thứ 7 (1466) Năm Quang Thuận thứ 10 (1469) Năm Hồng Đức thứ 3 (1472) Năm Hồng Đức thứ 4 (1473) Đời vua Lê Hiến

Tông

Năm Cảnh Thống thứ 2 (1499)

ĐÁP ÁN PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1 Nội dung Năm Minh chứng về tên gọi Cao Bằng qua ghi chép

lịch sử để lại.

Thời kỳ đầu dựng

nước

Trước CN

Từ thời kỳ đầu dựng nước, vùng Cao Bằng đã có

cư trú của người Việt cổ, minh chứng là qua các

di chỉ khảo cổ, di tích đã được khai quật ở Hồng Việt, (Hòa An), Cần Yên (Thông Nông), Lũng Ỏ (Quảng Uyên)… cùng truyền thuyết về Pú Luông - Giả Cải, Cẩu chủa cheng vùa

Sách "Dư địa chí" của

Nguyễn Trãi biên soạn

1435 "Cao Bằng xưa là ngoại địa của bộ Vũ Định;

Đông Bắc tiếp giáp Lưỡng Quảng; Tây Nam tiếp giáp Thái Nguyên, Lạng Sơn Có 1 lộ, 4 châu,

273 làng xã Đấy là nơi phên dậu thứ tư về phương Bắc vậy"

Sách "Việt kiệu thư"

của Lý Văn Phượng

(nhà Minh – Trung

Quốc)

1540 Mục "Châu quận diên cách" ghi tên các đạo,

phủ, châu, huyện nước ta hồi đầu nhà Lê, có tên phủ Cao Bằng

ĐÁP ÁN PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2 Mốc thời

gian

Năm Sự thay đổi địa giới thời kỳ phong kiến

Thời vua Lê

Thánh Tông

trị vì (1460 –

1497)

Năm Quang Thuận thứ

7 (1466)

Nhà vua đã chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên (Thanh Hoá, Nghệ An, Thuận Hoá, Thiên Trường, Nam Sách, Quốc Oai, Bắc Giang, An Bang, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn) Cao Bằng lúc đó gọi là phủ Bắc Bình thuộc thừa tuyên Thái Nguyên

Năm Quang Thuận thứ

10 (1469)

Lê Thánh Tông cho định bản đồ của 12 thừa tuyên, trong nước có 49 phủ, 163 huyện, 50 châu Đồng thời đổi tên 6 thừa tuyên Thừa tuyên Thái Nguyên được đổi tên gọi là thừa tuyên Ninh Sóc

Năm Hồng Đức thứ 3 (1472)

Lê Thánh Tông đặt thêm thừa tuyên Quảng Nam, nước

ta khi đó gồm 13 thừa tuyên, tổng cộng 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 36 phường Phủ Cao Bằng thuộc thừa

Trang 5

tuyên Ninh Sóc, phủ Cao Bằng có 4 châu Năm Hồng

Đức thứ 4 (1473)

Thừa tuyên Ninh Sóc lại được đổi tên thành thừa tuyên Thái Nguyên, phủ Bắc Bình được đổi thành phủ Cao Bằng vẫn trực thuộc thừa tuyên Thái Nguyên

Đời vua Lê

Hiến Tông

Năm Cảnh Thống thứ

2 (1499)

Nhà vua đã tách một số thừa tuyên thành các trấn mới, tại các trấn đó đã thiết lập bộ máy mới có chức năng quản lý hành chính và có trách nhiệm với triều đình Trung ương như các đạo thừa tuyên Thừa tuyên Thái Nguyên được tách thành trấn Thái Nguyên và trấn Cao Bằng, theo "Phương Đình địa chí" và "Đại Việt địa dư

toàn biên" của Nguyễn Văn Siêu thì: Năm Cảnh thống thứ hai 1499 Cao Bằng được tách làm trấn riêng, sách

ấy ghi rõ "Năm Cảnh Thống thứ 2 mới đặt riêng làm trấn Cao Bằng"; khi mới thành lập Cao Bằng gồm 1 phủ, 4 châu: phủ Cao Bình, châu Thái Nguyên (Thạch Lâm), châu Lộng Nguyên, châu Thượng Lang, châu Hạ Lang Trấn lỵ đặt tại Hòa An

GV nhận xét, bổ sung hoàn thiện các mốc thời gian, chiếu slide đáp án phiếu học tập

và đưa ra kết luận:

=> Như vậy từ năm 1499, Cao Bằng được tách khỏi Thái Nguyên thành lập một trấn riêng không lệ thuộc vào Thái Nguyên như trước Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn Lần đầu tiên trong lịch sử, trấn Cao Bằng xuất hiện Đó là một niên đại quan trọng, một bước ngoặt trong tiến trình lịch sử Cao Bằng, chứng tỏ vùng đất này

đã phát triển đến mức trở thành một đơn vị hành chính trực thuộc chính quyền Trung ương Từ khi tách, Cao Bằng có bộ máy riêng để quản lý lãnh thổ, bộ máy đó chịu sự quản lý điều hành của chính quyền nhà nước Trung ương (triều đình – nhà vua), bình đẳng với các trấn khác

- HS tập trung lắng nghe, ghi chép

TIẾT 2

* Hoạt động khởi động:

GV kiểm tra sự chuẩn bị của HS

+ Cao Bằng được tách khỏi Thái Nguyên thành lập một trấn riêng từ năm nào?

+ Sử sách ghi chép lại minh chứng về tên gọi địa danh Cao Bằng là của những tác giả nào?

2 Hoạt động 2: Tình hình KT, chính trị, văn hóa, XH Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế

kỷ XIV

GV tổ chức trò chơi “Ai nhanh hơn” bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm:

A – Lĩnh vực kinh tế

Câu 1: Từ thế kỉ X-XV, em hãy cho biết chính sách tiến bộ nhất của Nhà nước phong kiến thời Lý – Trần để phát triển nông nghiệp?

Trang 6

A Hệ thống thủy lợi được mở mang: Nhà nước chăm lo việc đào kênh, đắp đê phục vụ tưới tiêu

B Giảm thu thuế nông nghiệp

C Công cuộc khai hoang phát triển Nhà nước còn đặt phép Quân điền

D Cả A và C

Câu 2: Những hạn chế trong chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp thời Lý – Trần?

A Là thời kì đất nước phải tiến hành các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm với quy

mô lớn

B Ruộng đất ngày càng tập trung trong tay địa chủ, quan lại, quý tộc, đặc biệt dưới triều Trần.

C Tăng thuế nông nghiệp

D Chưa có chiến lược phát triển nông nghiệp phù hợp

Câu 3 Thế mạnh về vị trí địa lý để tỉnh CB khai thác phát triển kinh tế ở thời Lý – Trần?

A Điều kiện tự nhiên thuận lợi

B Nhiều mỏ khoáng sản trữ lượng lớn

C Hệ thống giao thông đường bộ thuận lợi

D Hình thành những điểm trung chuyển hàng hóa vùng biên giới Việt- Trung

B - Lĩnh vực chính trị

Câu 4: Em hãy cho biết tên của vị thủ lĩnh cải quản đất Quảng Nguyên (sau này là Quảng Uyên) trong giai đoạn cuộc đấu tranh giữa 2 vương triều Lý – Tống lần 1?

A Nùng Trí Phồn

B Mai Thúc Loan

C Nùng Trí Cao.

D Triệu Sứ Đán

Câu 5: Giai đoạn nhà Trần suy vong, nhà Hồ thay thế, cải cách bất thành, năm 1360 nhà Minh (Trung quốc) xâm chiếm nước Đại Việt, đóng quân cai trị ở CB tại địa phương nào?

A Quảng Nguyên

B Giao Chỉ

C Phong Châu

D Gò Đống Lân và thành Nà Lữ

Câu 6: Vào thời nhà Lê, người tù trưởng dân tộc Tày đứng lên khởi nghĩa đánh đuổi giặc Minh rút khỏi Cao Bằng là ai?

A Bế Khắc Thiệu.

B Mạc Kính Khoan

C Nông Đắc Thái

C Mạc Ngọc Liễn

C- Lĩnh vực văn hóa - XH

Câu 7: Chất liệu vải làm nên trang phục truyền thống của người Tày, Nùng

A Vải chàm B Vải lụa C Tơ nhân tạo D Vải kaki

Trang 7

Câu 8: Nghề truyền thống nổi tiếng của đồng bào các dân tộc ở Quảng Nguyên (Nay là Quảng Uyên)?

A Nghề dệt vải thổ

cẩm

B Nghề rèn C Nhuộm vải D Thêu tranh

Câu 9: Đặc sắc nhất trong số những loại hình dân ca, được người Tày coi là điệu hát của thần tiên

A Lượn B Đàn tính C Hat then – Đàn tính d Dá hai

3 Hoạt động 3: Thuyết trình giới thiệu về bản sắc văn hóa các dân tộc ở tỉnh CB

- GV giao nhiệm vụ cho các nhóm tự lựa chọn chủ đề trong lĩnh vực VHXH, thực hiện bài thuyết trình

- HS: Tiếp nhận nhiệm vụ, hoàn thành bài thuyết trình

- GV: Gọi HS các nhóm báo cáo sp

- HS: Đại diện nhóm thuyết trình

- SP dự kiến:

Cao Bằng không chỉ nổi tiếng “gạo trắng, nước trong”, đây còn là một vùng văn hoá

đa dạng, phong phú với sự giao hòa văn hóa của nhiều dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều có những di sản văn hóa truyền thống độc đáo của riêng mình Điều khiến cho du khách dễ bị cuốn hút và muốn khám phá khi đến Cao Bằng đó là về trang phục

- Trang phục phổ biến nhất là sắc chàm, tự dệt, tự nhuộm của đồng bào Tày, Nùng, nhưng đa sắc màu nhất lại là của người Dao, Mông, cùng với bộ vòng, xà tích quanh

cổ, tay và thắt lưng luôn tạo ra âm thanh mỗi khi di chuyển

- lễ hội văn hóa độc đáo của người Cao Bằng Nhìn chung các lễ hội ở đây đều nhằm tưởng nhớ tổ tiên; cầu trời ban điều an lành cho dân bản, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, gia súc không bị dịch bệnh, đời sống ấm no, hạnh phúc Mỗi lễ hội đều

có những nét độc đáo riêng, gắn liền với bản sắc văn hóa từng địa phương, từ lâu đã trở thành một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng không thể thiếu của người dân

- Những làn điệu dân ca đằm thắm mượt mà, như: Lượn slương, Lượn cọi, Lượn ngạn, hát Then - đàn tính, Hèo phươn, Nàng ới, Dá hai, Páo dung đi cùng với nó là những điệu múa sluông, múa chầu, múa quạt, múa khăn, múa chuông, múa trống, múa ô, múa khèn Thế nhưng, đặc sắc nhất trong số những loại hình dân ca kể trên là hát then - đàn tính, một hình thức sinh hoạt có vị thế quan trọng trong tín ngưỡng của người Tày, được người Tày coi là điệu hát của thần tiên

- Nghề truyền thống của đồng bào các dân tộc Cao Bằng Mỗi làng nghề đều gắn với văn hóa, truyền thống, với đời sống sinh hoạt của nhân dân trong vùng, như nghề rèn Phúc Sen (Quảng Uyên)

- Nghề dệt thổ cẩm là nghề thủ công đã có từ lâu, nó không chỉ phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân mà còn là sản phẩm du lịch nổi tiếng Thổ cẩm cũng giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống tâm linh của đồng bào các dân tộc Cao Bằng, như những tấm trướng che bàn thờ, các chi tiết cấu thành những tấm áo, mũ, khăn, túi đựng đồ

Trang 8

nghề, đệm ngồi của các thầy cúng

Nghệ nhân Nông Thị Thược, ở xóm Luống Nọi, xã Phù Ngọc (Hà Quảng) cho biết: Nguyên liệu để dệt thổ cẩm là sợi bông nhuộm chàm và tơ tằm nhuộm màu Dệt thổ cẩm hoàn toàn bằng thủ công Trên tấm thổ cẩm của người Tày thường có 6 màu chủ đạo, gồm: xanh, đỏ, vàng, tím, trắng, đen Từ các màu chủ đạo đó, người dệt đã pha chế các gam màu đậm, nhạt phù hợp theo ý tưởng cho từng sản phẩm Các họa tiết thường được người Tày đưa vào thổ cẩm là hình ảnh của những loài hoa, chim muông, thú quý , thân thiện với đời sống, hòa quyện cùng mây trời, non nước thường ngày Đây là nét riêng tạo nên thổ cẩm của người Tày Cao Bằng không thể lẫn được với thổ cẩm của người Tày ở những địa phương khác

TIẾT 3

* Hoạt động khởi động:

GV kiểm tra sự chuẩn bị của HS

+ Các họa tiết thường được người Tày đưa vào dệt thổ cẩm là những hình ảnh nào?

- Các họa tiết thường được người Tày đưa vào thổ cẩm là hình ảnh của những loài hoa, chim muông, thú quý , thân thiện với đời sống, hòa quyện cùng mây trời, non nước thường ngày

+ Bộ vòng, xà tích trong trang phục của người Mông, Dao có ý nghĩa như thế nào?

- Tạo ra âm thanh mỗi khi di chuyển, cho thấy họ muốn báo với muôn loài rằng

họ đang đến và họ đang là chủ nhân nơi họ sống

3 Hoạt động 3: Khái quát các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ vùng biên giới phía bắc của nhân dân Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV

- GV giao nhiệm vụ cho HS, nghiên cứu tài liệu khái quát các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ vùng biên giới phía bắc của nhân dân Cao Bằng từ thế kỉ XI đến thế

kỉ XIV

TIẾT 4:

* Hoạt động khởi động:

GV kiểm tra sự chuẩn bị của HS

4 Hoạt động 4:

C - Hoạt động: Luyện tập – Thực hành (30') – Hoạt động nhóm

a) Mục tiêu:

- Khái quát được các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ vùng biên giới phía Bắc của nhân dân Cao Bằng từ TK XI đến thế kỉ XIV

- Sơ lược những nét chính về tình hình kinh tế xã hội và văn hóa Cao Bằng từ TK XI – thế kỉ XIV

- Những đóng góp của nhân dân Cao Bằng trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ( Từ TK XI- TKXIV)

b) Tổ chức thực hiện:

Hoạt động của thầy và trò

Trang 9

Bước 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập (5 Phút)

- GV chia lớp làm 3 nhóm thảo luận

- GV yêu cầu học sinh dựa vào những thông tin và kiến thức đã được tìm hiểu trong 3 tiết học trước để hoàn thành nhiệm vụ GV giao

+ Nhóm 1: Vẽ sơ đồ tư duy thể hiện được các cuộc đấu tranh của nhân dân Cao Bằng

từ thế kỉ XI-XIV?

+ Nhóm 2: Phát phiếu học: Lập bảng thống kê những nét chính về tình hình kinh tế xã hội và văn hóa Cao Bằng từ TK XI – thế kỉ XIV

+ Thuyết trình những đóng góp của nhân Cao Bằng trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ( Từ TK XI- TKXIV)

Bước 2: HS thực hiện nhiệm vụ học tập (Thời gian : 15 phút) - HĐ theo nhóm,

Cá nhân.

- GV giám sát Hs, thảo luận xây dựng phương án trả lời

- GV theo dõi, hỗ trợ HS nếu cần thiết

+ Vẽ sơ đồ tư duy gồm 3 nhánh : mỗi nhánh thể hiện rõ 1 cuộc kháng chiến?

 Nhánh 1: Cuộc kháng chiến chống Tống ( TK XI)

 Nhánh 2 : Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên ( Năm 1285)

 Nhánh 3 : Cao Bằng trong cuộc bảo vệ vùng Biên giới phía Bắc

+ Điền thông tin vào bảng thống kê theo 3 lĩnh vực : Kinh tế ; Văn hóa ; Xã hội

Phiếu học tập :

( Học sinh thực hiện cá nhân )

Kinh tế

Xã hội

Văn hóa

+ Giới thiệu ngắn gọn những đóng góp của nhân dân Cao Bằng trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm giai đoạn TK XI – XIV

Bước 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận ( 5 Phút)

- GV gọi đại diện nhóm, HS trình bày kết quả thảo luận

- GV gọi HS, nhóm khác nhận xét, bổ sung

Bước 4: Kết luận và nhận định ( 5 Phút)

- Giáo viên nhận xét mức độ đạt được trong câu trả lời của từng nhóm, cá nhân học

sinh

- HS đánh giá bạn qua bảng kiểm

Kinh tế - Trồng lúa nước, lúa nương, săn bắt thú rừng, khai khoáng

- Thương mại vùng biên

Xã hội Tù trưởng đứng đầu bộ lạc

Văn hóa Mang đậm bản sắc dân tộc,có sự tiếp thu văn hóa Trung Hoa

D – Hoạt động tìm tòi – mở rộng:

GV giao nhiệm vụ cho HS thuyết trình về du lịch tỉnh CB

SP dự kiến:

Trang 10

Tỉnh Cao Bằng có nhiều khu danh lam thắng cảnh, khu di tích lịch sử và có ba khu cửa khẩu chính thuận tiện cho phát triển thương mại và khai thác du lịch

Cao Bằng nổi tiếng với Khu di tích lịch sử Pác Bó – nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc sau 30 năm ra đi tìm đường cứu nước Cao Bằng cũng được biết đến với hình ảnh Thác Bản Giốc hùng vỹ hòa quyện giữa cảnh quan núi rừng, tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình; cùng với quần thể hang động nguyên sơ với những tiềm năng du lịch văn hóa, tâm linh độc đáo, đặc sắc, là sức hấp dẫn khó cưỡng với du khách gần xa Pác Bó thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, nằm sát biên giới Việt – Trung, cách thành phố Cao Bằng hơn 50km Sau 30 năm ra đi tìm đường cứu nước và hoạt động ở nước ngoài, ngày 28/01/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở về Tổ quốc qua cột mốc

108 Người đã chọn Pác Bó làm nơi ở và hoạt động cách mạng trong nhiều năm tháng của những năm 1941 – 1945

Hang Pác Bó vốn là hang động tự nhiên Pác Bó (hay còn gọi là Cốc Bó) theo tiếng dân tộc Tày nghĩa là “nơi đầu nguồn” Trước cửa hang có một con suối lớn chảy ngầm

từ trong núi đá ra, quanh năm nước xanh trong, chảy quanh ôm lấy ngọn núi cao Chủ

Hồ Chí Minh đã đặt tên Suối Lê – Nin, núi Các – Mác để tưởng nhớ đến hai nhà tư tưởng vĩ đại, đã giúp Người tìm thấy con đường giải phóng dân tộc

Cùng với Khu di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Pác Bó, Cao Bằng còn có nhiều điểm

du lịch lịch sử nổi tiếng, hấp dẫn khác như: Khu di tích Quốc gia đặc biệt Rừng Trần Hưng Đạo – nơi ghi dấu sự thành lập và hoạt động của đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam; Khu di lích lịch sử Chiến dịch Biên giới 1950 (thôn Nà Lạn, xã Đức Long, huyện Thạch An); Khu di tích Anh hùng liệt sỹ Kim Đồng (làng Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng); Di tích đồn Phai Khắt…

Từ trung tâm Thành phố Cao Bằng trải qua 89 cây số qua đèo Mã Phục, đèo Khau Liêu, đi qua những bản làng, men theo dòng sông Quây Sơn xanh biếc du khách sẽ đến với Thác Bản Giốc – một trong những thác nước đẹp nhất Việt Nam Thác nằm trên địa phận xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng

Thác Bản Giốc có độ cao 35m và độ rộng 300m, xếp thành 3 tầng gồm nhiều ngọn thác lớn nhỏ khác nhau với những tên gọi khác nhau như Đuây Bắc, Lầy Sản, Ngà Moong, Ngà Trang, Ngà Vài, Ngà Rằng, Thoong Áng… Những khối nước lớn đổ xuống qua nhiều bậc đá vôi tạo thành một màn bụi nước trắng xóa Từ phía xa, du khách có thể nghe thấy tiếng thác nước chảy ầm ào vang động cả một vùng đất rộng lớn Giữa thác có một mô đất rộng phủ đầy cây xẻ dòng sông thành ba lồng nước như

ba dải lụa trắng Vào những ngày hè oi ả không khí ở đây vẫn mát lạnh và vào mỗi ban mai ánh mặt trời chiếu qua làn hơi nước tỏa thành dải cầu vồng lung linh, huyền ảo Ngày nay, Thác Bản Giốc được xem là dòng thác đẹp nhất Việt Nam, nằm trên đường biên giới Việt – Trung, giữa khung cảnh núi non trùng điệp còn đậm nét nguyên sơ Bản Giốc còn được vinh danh là thác nước tự nhiên lớn nhất Đông Nam Á và lớn thứ

tư thế giới trong các thác nước nằm trên một đường biên giới quốc gia

Cùng với Thác Bản Giốc, thiên nhiên còn ưu ái ban tặng cho mảnh đất nơi đây hàng loạt những hang động tự nhiên đồ sộ, hoang sơ, kỳ thú như Động Ngườm Ngao (Trùng

Ngày đăng: 31/10/2022, 07:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w