Xuất phát từ quan điểm “ôn cố tri tân” của Nho giáo, từ quan điểm của triết học chủ nghĩa Mác – Lê nin về kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống cũng như quan điểm của Đảng và tư t
Trang 1LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM - 2021
Trang 2Luận án được hoàn thành tại:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS: Trần Nguyên Việt PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP:
hồi…… giờ…… ngày… tháng… Năm…
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- ………
- ………
- ………
Trang 31
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục đạo đức cho con người nói chung, cho các đối tượng là học sinh nói riêng, là vấn đề vừa mang tính cấp bách, vừa lâu dài nhằm tạo ra những con người như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, “vừa hồng vừa chuyên” Chữ “hồng” ở đây chỉ đạo đức của con người luôn đặt lợi ích cộng đồng, dân tộc lên trên hết, Người gọi đó là đạo đức cách mạng Đó là đạo đức “không phải trên trời sa xuống Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển củng cố Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”( Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.612.)
Tuy nhiên, trong quá trình vận động hoàn thiện nhân cách con người, chúng ta đều biết một điều chắc chắn rằng, không thể thiếu sự giáo dục, xã hội hóa
từ bên ngoài để nhân cách được hình thành một cách hoàn toàn hơn Với lẽ đó, việc giáo dục đạo đức luôn đòi hỏi sự thống nhất hữu cơ giữa nhà trường, gia đình
và xã hội vì những mục tiêu được xác định theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể của đất nước Về vấn đề này, Bác Hồ cũng từng khẳng định: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường
dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”(Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.591)
Là một nước nằm trong khu vực Đông – Đông Nam Á vốn chịu ảnh hưởng khá sâu đậm học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo, cho nên hệ thống giáo dục truyền thống và đi kèm với nó là khoa cử nước ta từ thời Bắc thuộc đều mang đậm dấu ấn của Nho giáo Đặc biệt từ thời Lý, các hình thức tổ chức giáo dục dần phát triển và ngày càng qui củ hơn, kéo theo đó là những nội dung và hình thức giáo dục lấy Nho học làm nền tảng được định hình Tuy nhiên, ngoài các hình thức tổ chức trường lớp ở trung ương và địa phương, chúng ta còn biết đến một hình thức giáo huấn hết sức quan trọng, nó góp phần củng cố chế độ phong kiến hiện hữu và
được coi là hình thức giáo dục đầu tiên, đầu đời cho con trẻ, đó là gia huấn
Xuất phát từ quan điểm “ôn cố tri tân” của Nho giáo, từ quan điểm của triết học chủ nghĩa Mác – Lê nin về kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống cũng như quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nền giáo dục đất nước
trong điều kiện hiện nay, chúng tôi chọn “Nội dung cơ bản của một số gia huấn Việt Nam trong lịch sử và bài học lịch sử của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho
Trang 42
học sinh nước ta hiện nay” qua hai bản “Bùi gia huấn hài” và “Gia huấn diễn ca”
làm đề tài luận án tiến sĩ triết học của mình với hy vọng đóng góp dù nhỏ nhưng hữu ích cho sự nghiệp xây dựng một nền giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước ta hiện nay
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung, lịch sử tư tưởng giáo dục Việt Nam nói riêng là lĩnh vực được nhiều học giả quan tâm Tuy nhiên, trong lịch sử
tư tưởng giáo dục, mảng giáo huấn mà cụ thể là gia huấn ít được quan tâm khai thác và nghiên cứu thỏa đáng, do đó trong luận án này, chúng tôi tạm phân định thành ba hướng nghiên cứu cơ bản có liên quan tới đề tài của mình như sau:
1.1 Những nghiên cứu liên quan đến cơ sở hình thành các gia huấn Việt Nam trong lịch sử
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XX
Nghiên cứu bối cảnh lịch sử Việt Nam thời kỳ này phải kể đến công trình
Đại cương lịch sử Việt Nam do Đinh Xuân Lâm chủ biên Đây là công trình được
chúng tôi quan tâm sử dụng vào việc phân tích bối cảnh lịch sử và những tiền đề
cơ bản cho sự ra đời các gia huấn, cụ thể là Bùi gia huấn hài (cuối thế kỷ XVIII)
và Gia huấn diễn ca (đầu thế kỷ XX)
Trong công trình Phương thức sản xuất châu Á Lý luận Mác – Lê nin và thực tiễn Việt Nam, tác giả Văn Tạo đã đề cập đến các quan điểm của C.Mác về
phương thức sản xuất châu Á trong sự liên quan đến các yếu tố truyền thống của phương Đông Chúng tôi nhận thấy ở công trình này có một số vấn đề liên quan giữa phương thức sản xuất mà C.Mác đề cập có liên quan nhất định đến nguyên nhân ra đời của các gia huấn mà ở đó, tư tưởng giáo dục Nho giáo được coi là chủ đạo, chi phối lối sống, phong cách tư duy của con người Việt Nam trong lịch sử Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử nước ta, về bối cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XX
1.1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến tiền đề lý luận cho sự hình thành các gia huấn trong lịch sử
a Về văn hóa và tư tưởng truyền thống
Trong nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước về
cơ sở văn hóa Việt Nam, có thể kể đến cuốn sách do Trần Quốc Vượng chủ biên nhan đề: “Cơ sở văn hóa Việt Nam” Đây là công trình khoa học cơ bản giúp người đọc nắm bắt được những kiến thức cơ bản của văn hóa và những đặc điểm của văn hóa dân tộc
Trang 53 Tác giả Nguyễn Nghĩa Dân với cuốn sách “Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt Nam” gồm 2 phần: phần thứ nhất đề cập đến đặc điểm của tục ngữ ca dao Việt Nam về đạo làm người; phần thứ hai sưu tập, lựa chọn giải thích tục ngữ ca dao Việt Nam về đạo làm người
Tác giả Trần Thị Kim Xuyến trong công trình "Gia đình và những vấn đề của gia đình hiện đại", đã chỉ rõ vai trò, vị trí của gia đình trong xã hội và đối với
mỗi cá nhân, đặc biệt là mặt đạo đức Trong công trình này tác giả đã đi sâu phân tích sự biến đổi của gia đình cùng với sự biến đổi của xã hội đương đại
Đề tài KX07-09 do tác giả Lê Thi chủ biên về "Vai trò của gia đình trong
sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam"; Luận án Tiến sĩ triết học của tác giả Nghiêm Sĩ Liêm, năm 2001, "Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ"; Công trình nghiên cứu của tác giả Lê Thi, Nhà xuất bản Hà Nội năm 2002, "Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới"; Công trình nghiên cứu: "Gia đình học" của hai tác giả: Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý; Cuốn “Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính; Công trình nghiên cứu "Văn hóa gia đình Việt Nam" của tác giả Vũ Ngọc Khánh; Công trình nghiên cứu "Đạo đức gia đình trong nền kinh tế thị trường" của tác giả Nguyễn Thị Khoa, Tạp chí Triết
học số 4 năm 2002, v.v đã đđề cập đến cơ cấu gia đình hạt nhân và truyền thống Việt Nam, ảnh hưởng của văn hóa, kinh tế chính trị đến sự biến đổi của đạo đức gia đình Việt Nam trong lịch sử cũng như điều kiện hiện nay
b Về tư tưởng giáo huấn trong tam giáo (Nho, Phật, Đạo)
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của các hệ
tư tưởng và tôn giáo đến đời sống tinh thần nói chung, đến lĩnh vực giáo dục đạo đức nói riêng của con người Việt Nam trong lịch sử
Một là, các công trình nghiên cứu tư tưởng giáo huấn trong Nho giáo
Cuốn: “Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt
Nam hiện nay” do Nguyễn Tài Thư làm chủ biên; Công trình nghiên cứu "Gia đình Việt Nam và ảnh hưởng của Nho giáo" của tác giả Trần Đình Hượu, đăng trong cuốn Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam; Công trình nghiên cứu "Nho giáo và gia đình"; Cuốn "Nho giáo và phát triển ở Việt Nam" của Vũ Khiêu; Tác phẩm “Không học đăng” của Phan Bội Châu, v.v., đều bàn đến sự ra
đời và các bước thăng trầm của Nho giáo cũng như sự du nhập của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến Việt Nam
Tác giả Trần Trọng Kim với tác phẩm Nho giáo; Công trình “Nho giáo Trung Quốc” của Nguyễn Tôn Nhan; Tào Thượng Bân với cuốn Tư tưởng nhân bản của Nho học Tiên Tần, v.v đều tập trung phân tích vai trò của đạo Hiếu từ vị
thế là gốc của đức nhân, đã vượt ra ngoài quan hệ gia đình để trở thành phạm trù đạo đức trong đường lối trị nước của các triều đại phong kiến Một số tác giả khác
Trang 64
đã làm rõ những ảnh hưởng của Nho giáo trên các mặt: Chính trị, xã hội, tư tưởng,
văn hóa Cao Xuân Huy với cuốn “Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu”; cuốn “Khổng Tử và Luận ngữ” của Nguyễn Hiến Lê; Nho giáo và đạo đức của Vũ Khiêu, Nho học và Nho học Việt Nam của Nguyễn Tài Thư, Khổng giáo phê bình tiểu luận của Đào Duy Anh là những tác phẩm đã chỉ ra
những yếu tố tiêu cực trong Nho giáo cần phải khắc phục, cũng như những ảnh hưởng tích cực của Nho giáo cần được tiếp thu góp phần xây dựng đất nước trong giai đoạn hiện nay
Bên cạnh các tác giả bàn về những ảnh hưởng có tính chất tích cực, cũng có những tác giả có quan điểm ngược lại, nhấn mạnh mặt tiêu cực của đạo đức Nho
giáo, chẳng hạn cuốn Nho giáo xưa và nay của Quang Đạm, Nho giáo tại Việt Nam của Lê Sĩ Thắng; Bộ sách 2 tập về “Đại cương triết học Trung Quốc” của Giản Chi - Nguyễn Hiến Lê; Công trình Lịch sử triết học phương Đông do Doãn
Chính chủ biên, v.v
Ngoài ra có một số luận án cũng đề cập đến đạo đức Nho giáo, vấn đề con
người trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với Việt Nam như: Ảnh hưởng của Nho giáo đối với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống của Trần Thị Hồng Thúy; luận án Vấn đề con người trong Nho học sơ kỳ của Nguyễn Tài Thư; luận
án Quan niệm của Nho giáo nguyên thủy về con người và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của
Nguyễn Thị Nga, v.v đều tập trung bàn về vấn đề con người với tư cách là đối tượng của một học thuyết với mục đích làm rõ cách thức thực hiện mục tiêu chính trị bằng đạo đức, tức là lấy đạo đức để cảm hóa con người trong việc thiết lập và duy trì trật tự xã hội
1.2 Những nghiên cứu liên quan đến nội dung cơ bản của các gia huấn Việt Nam trong lịch sử
Tác phẩm “Nho giáo với văn hóa Việt Nam”, của tác giả Nguyễn Đăng
Duy; Cuốn sách “Việt Nam văn hóa sử cương” của học giả Đào Duy Anh; Luận
án Tiến sĩ của tác giả Lê Thị Thủy về "Vai trò đạo đức đối với nhân cách con người Việt Nam trong điều kiện đổi mới hiện nay"; Công trình "Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay-vấn đề và giải pháp" do Nguyễn Duy Quý chủ biên; Công trình của Phạm Côn Sơn: "Đạo nghĩa trong gia đình"; Công trình nghiên cứu "Đạo trị gia" của tác giả Trí Tuệ; Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thọ, năm 2010,
"Đạo đức gia đình trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay"; Công trình nghiên cứu của tác giả Hà Văn Tác về “Vai trò của gia đình đối với sự phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở TP Hồ Chí Minh”, v.v đã làm rõ khái niệm gia đình và vai trò của gia đình trong việc phát
triển nguồn lực của đất nước ta hiện nay
Trang 7Đó là: Công trình nghiên cứu "Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam" do
Phan Đại Doãn chủ biên; Công trình tập thể về “Một số vấn đề lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội” do Huỳnh Khái Vinh chủ biên; Luận án tiến sĩ Giáo dục học
về “Giáo dục lòng nhân nghĩa cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Xuân Thanh; Bàn về thực học, chúng tôi nhận thấy bài viết của Dương Ngọc Dũng đăng trên “Tuổi trẻ chủ nhật” ngày 28/5/2015; Thái Huy Phong trong bài viết về “Ý nghĩa của vấn đề thực học” đăng trên trang điện tử Đại tạng kinh Việt Nam ngày 02/3/2010; Trong cuốn “Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển xã hội kinh tế”của tác giả Phạm Minh Hạc; Bài viết
“Nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong trường phổ thông hiện nay” của Phạm Nguyên Nhung đăng trên tạp chí Lý Luận chính trị số 3/2013; Ngoài những công trình nêu trên, chúng ta có thể tìm thấy một số bài viết công bố trên các trang báo điện tử về giáo dục đạo đức nói chung, đạo làm người nói riêng
Tóm lại, các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến thực trạng nền giáo dục nước ta thời gian qua đã tập trung phân tích những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo Tuy nhiên, những kết quả đạt được không như kỳ vọng của xã hội, chưa chú trọng đến một số giá trị cơ bản của giáo dục truyền thống, cụ thể là hình thức giáo
dục bằng gia huấn Đó cũng là những vấn đề còn bỏ ngỏ mà luận án chúng tôi tiếp
tục nghiên cứu về hình thức, đối tượng, nội dung và phương pháp giáo huấn được thể hiện qua hai bản gia huấn là “Bùi gia huấn hài” của Bùi Dương Lịch và “Gia huấn diễn ca” (khuyết danh) với mục đích và nhiệm vụ dưới đây
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở trình bày sự hình thành và hệ thống hóa những nội dung tư tưởng giáo huấn cơ bản trong “Bùi gia huấn hài” và “Gia huấn diễn ca”, luận án chỉ ra những giá trị, hạn chế và bài học lịch sử của các gia huấn đó đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh nước ta hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án cần thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:
Trang 86
Thứ nhất, phân tích, trình bày những điều kiện, tiền đề cơ bản cho sự ra đời các
bản gia huấn Việt Nam trong lịch sử
Thứ hai, phân tích hệ thống hóa những nội dung tư tưởng giáo huấn cơ bản trong
“Bùi gia huấn hài” và “Gia huấn diễn ca”, trên cơ sở đó chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của hai bản gia huấn này
Thứ ba, từ việc phân tích các nội dung giáo huấn cơ bản và đặc điểm chủ yếu của
“Bùi gia huấn hài” và “Gia huấn diễn ca”, luận án nêu những giá trị, hạn chế và bài học lịch sử của của hai bản gia huấn này đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh nước ta hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những tư tưởng giáo huấn cơ bản trong nội dung hai bản gia huấn là “Bùi gia huấn hài” của Bùi Dương Lịch và “Gia huấn diễn ca (Khuyết danh)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Do các bản gia huấn Việt Nam trong lịch sử có số lượng khá nhiều và phong phú
về mặt nội dung, trong luận án này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu hai bản gia
huấn được xem là điển hình về nội dung và hình thức, cụ thể là Bùi gia huấn hài của Bùi Dương Lịch và Gia huấn diễn ca (khuyết danh) cũng như các công trình
nghiên cứu về gia huấn nói chung, về hai bản gia huấn này nói riêng
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh nước ta hiện nay Ngoài ra luận án tiếp thu, kế thừa những thành tựu đạt được của một số công trình khoa học đã được công bố liên quan đến đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học, cụ thể: phân tích – tổng hợp, logic – lịch sử cụ thể, quy nạp và diễn dịch, khái quát hóa, đối chiếu so sánh; tham khảo và sử dụng các phương pháp liên ngành như Sử học, Địa lý, Giáo dục học, v.v
6 Những đóng góp mới về khoa học,
Trang 97
- Từ việc phân tích, làm rõ những điều kiện, tiền đề cho sự ra đời cũng như những
nội dung cơ bản của Bùi gia huấn hài và Gia huấn diễn ca, luận án làm rõ giá trị
và hạn chế của hai bản gia huấn này từ góc độ giáo dục đạo đức
- Làm rõ khái niệm đạo đức và vai trò của giáo dục đạo đức đối với lĩnh vực giáo dục đạo đức cho học sinh nước ta hiện nay
- Phân tích thực trạng nền giáo dục đạo đức cho học sinh nước ta từ thời kỳ đổi mới đến nay, làm rõ nguyên nhân của những thành tựu cũng như hạn chế của thực trạng đó, đồng thời đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những thành tựu đạt được và khắc phục những mặt hạn chế trong lĩnh vực giáo dục đạo đức cho
học sinh nước ta hiện nay trên cơ sở bài học lịch sử từ Bùi gia huấn hài và Gia huấn diễn ca
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án góp phần tìm hiểu những tư tưởng cơ bản trong nội dung Bùi gia huấn hài
và Gia huấn diễn ca, chỉ ra những giá trị và hạn chế cũng như ý nghĩa của các bản
gia huấn này đối với lĩnh vực giáo dục đạo đức cho học sinh nước ta hiện nay Luận án chỉ ra sự cần thiết của việc kế thừa và phát huy các giá trị của giáo dục
truyền thống qua nghiên cứu Bùi gia huấn hài và Gia huấn diễn ca trong lĩnh vực
giáo dục đạo làm người cho học sinh nước ta hiện nay
Luận án góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chủ trương, chính sách phát triển giáo dục đạo đức cho học sinhtrên cơ sở phân tích thực trạng
và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh công cuộc đổi mới “căn bản
và toàn diện nền giáo dục đào tạo nước ta hiện nay”
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam nói riêng, lịch sử triết học phương Đông nói chung Luận án cũng là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến đạo đức, giáo dục đạo đức của gia huấn Việt Nam trong lịch sử cũng như tư tưởng giáo dục của Nho giáo
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 3 chương 9 tiết
NỘI DUNG Chương 1
Trang 108
CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
HÌNH THÀNH CÁC GIA HUẤN VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ
1.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ, ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ -
XÃ HỘI VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XVIII – ĐẦU THẾ KỶ XX
Gia huấn là một trong những hình thức giáo huấn, giáo dục của Nho giáo nhằm thiết lập, củng cố các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình mà đối tượng của nó là con em từ lúc sơ sinh cho đến tuổi trưởng thành Với tư cách là một trong những loại hình giáo dục, gia huấn đương nhiên phải phản ánh triết lý, hay nói cách khác, phản ánh tâm thế của thời đại về giáo dục và đào tạo con người lẽ sống vì bản thân, gia đình và cộng đồng Chính vì vậy, việc phân tích, trình bày bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XX, điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và những tiền đề lý luận đương thời cho sự hình thành “Bùi gia huấn hài” và “Gia huấn diễn ca” là hết sức cần thiết
1.1.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XX
Thứ nhất, tác phẩm “Bùi gia huấn hài” của Bùi Dương Lịch, một nho gia có trình
độ Nho học xuất thân từ giòng họ khoa bảng và đồng thời cũng là người tham gia hoạt động nhà nước, được ông viết vào cuối thế kỷ XVIII trong điều kiện lịch sử đất nước hết sức phức tạp Đại Việt thời kỳ này bị chia cắt bởi các thế lực phong kiến đối lập nhau dưới tên gọi là Đàng Trong và Đàng Ngoài, vua Lê – chúa Trịnh
cai quản Đàng Ngoài và bên kia là chúa Nguyễn cai quản Đàng Trong
Thứ hai, bản “Gia huấn diễn ca” (khuyết danh) ra đời ở vùng đất Nam Bộ vào đầu
thế kỷ XX, tức là vào thời kỳ đất nước bị thực dân Pháp đô hộ và bắt đầu tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ hai Chính vì vậy, sự xuất hiện của “Gia huấn diễn ca”
dù có đề cập đến những nguyên tắc đạo đức Nho giáo về tinh thần trung quân, song trên thực tế cũng chỉ mang tính hình thức và những nội dung cốt lõi khác của
nó chủ yếu vẫn là làm thế nào để dạy con em mình
1.1.2 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội
Về kinh tế
Đại Việt cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XX vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu, do đó yếu tố quyết định đến phương thức sản xuất chủ yếu vẫn là quan hệ sở hữu về ruộng đất Việt Nam trong lịch sử không trải qua các hình thái kinh tế - xã hội như phương Tây, song cũng như các nước châu Á khác, đã duy trì một phương thức sản xuất cổ đại được C.Mác biểu thị bằng khái niệm “phương thức sản xuất châu Á” Mặc dù bị qui định bởi “phương thức sản xuất châu Á” với những đặc trưng cơ bản của nó, trong thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XX các ngành thủ công nghiệp, kéo theo đó là thương nghiệp cũng bắt đầu có những chuyển biến tích cực
Trang 119 Nhà nước với quyền thu tô theo đơn vị ruộng đất để một mặt, nuôi bộ máy quan lại và triều đình, mặt khác để chi cho việc hà đê và dẫn thủy nhập điền Chính vì vậy, vấn đề giáo dục và giáo huấn đạo đức sẽ giúp cho con người nhận thức được
trách nhiệm của bản thân trước nhà, làng, nước trong việc đóng
Mục đích thắt chặt sự lệ thuộc từng cá nhân, cộng đồng vào bộ máy trung ương tập quyền trên cơ sở thiết lập nền giáo dục, giáo huấn được xem là khả dĩ nhất Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội của Đại Việt nửa cuối thế kỷ XVIII rơi vào khủng hoảng Nạn đói kéo dài trầm trọng không chỉ bởi thiên tai, mà nguyên nhân khác nữa là chính sách thuế thổ sản của nhà nước làm cho nhân dân vô cùng cực khổ Về mặt xã hội, Việt Nam đầu thế kỷ XX cũng có những biến đổi, trước hết là
sự xuất hiện của những giai cấp, tầng lớp mới
Trong bối cảnh lịch sử và tình hình kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam như vậy, các nhà nho Việt Nam dù có trực tiếp tham gia vào các phong trào yêu nước hay không, trong tâm thế của họ bao giờ cũng mang nỗi ưu tư về sự mất nước và chính
họ thấm nhuần hơn bao giờ hết nguyên tắc “quốc gia hưng vong, sĩ phu hữu trách”
và “tấm lòng “lo trước vui sau thiên hạ” Chúng tôi cho rằng, đó cũng là cơ sở để bản “Gia huấn diễn ca” ra đời, và mặc dù trong nội dung của nó không nói đến đấu tranh hay giải phóng đất nước, dân tộc nhưng một số nội dung giáo dục thực học về lịch sử, địa lý, v.v đã nói lên điều tiềm ẩn đó của tâm hồn con người Việt Nam
1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN
1.2.1 Văn hóa truyền thống dân tộc
Trong sự hình thành các gia huấn Việt Nam dưới thời phong kiến, chúng ta đều cảm nhận được vai trò của văn hóa truyền thống dân tộc được biểu hiện dưới dạng
ca dao, tục ngữ và những tài liệu liên quan đến qui định sinh hoạt của gia đình, dòng họ, làng xóm như gia phong, gia lễ, tộc ước, hương ước và cao nhất, đó là các bộ hình luật mà các triều đại phong kiến ban hành
Ngoài ra, cần phải đề cập đến một yếu tố qui định nội dung của giáo huấn là luật pháp thành văn của nhà nước phong kiến mà chúng ta được biết đến như hai bộ
luật tiêu biểu, khá hoàn chỉnh như Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) và Hoàng triều luật lệ (Luật Gia Long) Các điều khoản trong những bộ luật này về
Trang 1210 thực chất là luật pháp hóa các qui tắc đạo đức ứng xử của con người với nhau, con người với xã hội vì mục tiêu ổn định trật tự xã hội, đồng thời thắt chặt sự ràng buộc và lệ thuộc của con người vào cấu trúc hình tháp của mô hình nhà nước này Chính vì vậy, trong lịch sử chế độ phong kiến, vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497)
đã ban “Nhị thập huấn điều” (1470) để giáo huấn dân Các ông vua triều Nguyễn (1802-1945) cũng có những tâm thế tương tự như Lê Thánh Tông, vì vậy, đến đầu thế kỷ XX, dù vua Nguyễn thời bấy giờ chỉ là bù nhìn, nhưng theo tinh thần Nho giáo, đất nước không thể thiếu vua, tinh thần trung quân vẫn không hoàn toàn bị xóa đi trong tâm khảm người dân, đặc biệt là những nhà nho khi đó đang tìm cách vãn hồi những giá trị tốt đẹp của Nho giáo trước sự xâm nhập ngày một gia tăng của văn hóa phương Tây vào Việt Nam
1.2.2 Ảnh hưởng Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) đến sự hình thành các gia huấn
Nho giáo là học thuyết mang tư tưởng nhân bản sâu sắc Ngay từ thời Tiên Tần, Nho giáo đã chú trọng đến đối tượng của nó là con người, trong đó đạo làm người chiếm vị thế chủ đạo Để triển khai tư tưởng nhân bản, Khổng Tử lấy vấn đề nhân tính con người làm xuất phát điểm, trở thành chủ đề quan trọng cho các học trò của ông “suy tư tìm hiểu về nhân tính luận, diện mạo vốn có của con người”
Vì có chung mục đích dạy cách làm người nên cuốn sách rất gần gũi, thậm chí là nguồn tư liệu để các tác giả của “Gia huấn” lấy đó làm cơ sở cho sự biên soạn thành sách dạy trẻ trong gia đình Thêm nữa, việc khẳng định các thánh hiền đời xưa phát biểu ra những nguyên tắc mang tính chỉ đạo cho việc dạy người không chỉ riêng của Nho giáo, mà cả từ các học thuyết triết học, tôn giáo khác như Lão giáo hay Phật giáo Tư tưởng Lão – Trang thường ảnh hưởng trực tiếp đến giới trí thức Nho học hơn cả bởi những lập luận, suy lý uyên bác của nó mà thoạt kỳ thủy,
người đọc kinh điển của học thuyết này như sách Đạo Đức kinh của Lão Tử, Nam Hoa kinh của Trang Tử Tuy nhiên, trong các tác phẩm này chúng ta vẫn tìm thấy
những nội dung thiết thực, có ảnh hưởng không nhỏ đến các hành vi đạo đức của con người như biết dừng, biết đủ, bất tranh, nhu thuận, v.v Phật giáo cũng là một học thuyết triết học – tôn giáo được du nhập vào nước ta khá sớm, tồn tại và phát triển qua hàng trăm năm để hình thành nên những tông phái mang đặc sắc Phật giáo Việt Nam Tư tưởng từ bi hỷ xả của Phật giáo đã kết hợp hài hòa với tinh thần bác ái, ái vật của Nho và Lão; chủ trương dùng “tam học” (giới, định, tuệ) để trừ “tam độc” (tham, sân, si) của Phật giáo đã ảnh hưởng không nhỏ tới mục tiêu
tiết dục, quả dục của hai học thuyết kia đã trở thành những bài học quí giá của Gia huấn trong sứ mệnh dạy cách làm người và đối nhân xử thế cho con người ngay từ
khi đang ở trong “tế bào xã hội”
1.3 VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ “BÙI GIA HUẤN HÀI” VÀ “GIA
HUẤN DIỄN CA”
Trang 1311
1.3.1 Về khái niệm “Gia huấn”
“Gia huấn” là sự dạy dỗ con em về lề lối ăn ở trong nhà, được trình bày dưới dạng
các bài văn vần, hình thức thơ ca “Gia huấn” là một trong những hình thức giáo dục đạo đức, được những người có uy tín về nhân cách và đạo đức sáng tạo ra để giáo dục cho con em trong gia đình; là sản phẩm của một thời đại lịch sử nó đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập trật tự xã hội và xây dựng mô hình xã hội lý tưởng Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, “Gia huấn” đã trở thành hình thức giáo dục đạo đức khá phổ biến và ít nhiều mang tính đặc trưng riêng trong giáo dục đạo đức truyền thống gia đình
1.3.2 Bùi Dương Lịch và tác phẩm “Bùi gia huấn hài”
Bùi Dương Lịch (1757 – 1827), tự là Tôn Trai và Tôn Thành, hiệu là Thạch Phủ, người làng An Hội, xã An Toàn, huyện La Sơn (nay là huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh Tác phẩm Bùi gia huấn hài (sách dạy trẻ em của gia đình họ Bùi) được Bùi Dương Lịch biên soạn trong thời gian ông dạy học ở Thăng Long (trước năm 1787) Đây là một cuốn sách giáo khoa dùng để dạy cho trẻ em (tiểu tử) những kiến thức phổ thông cơ bản nhất
Về nội dung, theo Bùi Dương Lịch, ông “biên tập những điều yếu ước, trên tự trời đất nhân vật sinh ra, kế đến đế vương lịch số, lần lượt những sự tích nước Việt ta khi phân khi hợp, rồi thứ đến đạo học tương truyền, cuối cùng đến phương pháp tiểu tử đi học Tôi chiết trung những thuyết các tiên nho phát minh giảng dạy, rồi đặt thành câu văn, hiệp vận, bằng trắc xem nhau, làm cú đậu 4 chữ một, cả thảy
2000 câu, để cho trẻ con trong gia đình, mới đi học thì học sách ấy”
1.3.3 Về tác phẩm khuyết danh “Gia huấn diễn ca”
Gia huấn là loại sách dùng để dạy dỗ, khuyên răn những người thân trong gia đình
do các bậc khoa bảng hoặc những người giỏi chữ nghĩa viết ra dựa trên nền tảng luân lý Nho học hoặc khái quát kinh nghiệm thực tiễn của cuộc sống Lịch sử các
bản gia huấn được dịch ra Việt ngữ dưới hình thức thơ lục bát có Gia huấn diễn ca
do Võ Văn Sổ dịch Việt ngữ, Nxb phương Đông, 2005, là một bản thơ Nôm
Về kết cấu và nội dung, “toàn văn “Gia huấn diễn ca” được chi làm 25 điều, dạy con trai, dạy con gái đạo làm vợ, làm dâu, cách đối đãi trong nhà, ngoài đời… chiếm dung lượng nhiều là phần dạy con trai, tùy theo độ tuổi mà có những lời bảo ban thích hợp, dạy toán pháp, thiên văn, địa dư, lịch sử…
Như vậy, cũng là những tác phẩm thuộc loại hình gia huấn, song Bùi gia huấn hài
và Gia huấn diễn ca có cấu trúc khác nhau, ngôn ngữ được sử dụng cũng khác nhau: Bùi gia huấn hài được viết bằng chữ Hán, còn Gia huấn diễn ca được viết
bằng chữ Nôm; một bên là văn vần với câu ngắn 4 chữ, một bên là thơ nôm theo
thể câu 6 – 8 Nếu như Gia huấn diễn ca đề cập đến những vấn đề căn bản, liên