Microsoft Word 24 Dũng Phạm Đề tài tiểu luận Triết học docx TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC Chủ đề Học thuyết Tứ diệu đế trong triết học Phật giáo và ý nghĩa của học thuyết Tứ diệu đế đối với bản thân Học viên Ph.
Trang 1TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Chủ đề:
Học thuyết Tứ diệu đế trong triết học Phật giáo và ý nghĩa
của học thuyết Tứ diệu đế đối với bản thân
Học viên: Phạm Dũng
Lớp HP: TRHO28AN3
Hà Nội, 06/2022
Trang 2===========================================================================
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 02
NỘI DUNG Chương 1: Tiền đề tư tưởng của Phật giáo và Tứ diệu đế………04
1 Tiền đề tư tưởng của Phật giáo……….……….04
2 Giáo lý cơ bản của Phật giáo và Tứ diệu đế……….………05
Chương 2: Phạm trù cơ bản của Phật giáo qua Tứ diệu đế……….07
1 Quan điểm về cái khổ và sự giải thoát……….……….07
2 Bát chính đạo và tam học……….……….………….08
3 Các tư tưởng của Thập bát chính đạo tạo thành tam học……….09
Chương 3: Tứ diệu đế từ góc độ phương pháp luận khoa học………10
Chương 4: Tứ diệu đế - Vô ngã, Vị tha……….……….17
Chương 5: Tứ diệu đế đối với nhân sinh quan và con người hiện nay…………23
1 Các vấn đề nhân sinh dưới góc nhìn của Tứ diệu đế………23
2 Tứ diệu đế trong quan niệm của người Việt……….………23
3 Tứ diệu đế đối với con người hiện nay……….……….24
KẾT LUẬN……….26
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….28
Trang 3
===========================================================================
2
MỞ ĐẦU
Phật giáo ngày nay đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử phát triển và hội nhập, trở
thành một trong những tôn giáo lớn trên thế giới với số lượng tín đồ đông đảo, hoạt động Phật sự phong phú, đa dạng đang ngày càng thâm nhập vào mọi mặt của đời sống xã hội ngoài đạo Các nhà sư một mặt tập trung tham cứu Phật pháp khai thác những mặt tích cực của lý luận, tư tưởng Phật giáo có thể phát triển hơn nữa Phật giáo trong bối cảnh hiện đại, mặt khác đồng thời tham gia các hoạt động xã hội, đưa Phật giáo đến gần với các nhu cầu thiết thực mà đời sống xã hội hiện đại còn khổ đau đang tìm kiếm hướng giải quyết
Trong Phật giáo, Tứ Diệu Đế đóng vai trò cơ sở, nền tảng cho toàn bộ hệ thống giáo
lý từ nguyên thủy cho đến các nhánh phái hiện đại nhất của nó Hầu như không có nghiên cứu nào về Phật giáo từ góc độ tôn giáo học hay Phật học hoặc khoa học xã hội về tôn giáo
có thể bỏ qua Tứ Diệu Đế Thậm chí các nghiên cứu về tư tưởng triết học-tôn giáo Ấn Độ
cổ cũng từ nghiên cứu Tứ Diệu Đế có thể thấy được sự tiếp nối, kế thừa và phát triển liên tục của tư tưởng Ấn Độ như một chỉnh thể thống nhất với những vấn đề có tính truyền thống Hơn nữa, khi so sánh tư duy và văn hóa Đông-Tây, nếu khai thác các thành tựu của
Ấn Độ sẽ thấy Phật giáo là một ứng viên điển hình đại diện cho phương Đông trên nhiều phương diện mà Tứ Diệu Đế chính là một trong những điểm sáng đầy sức thuyết phục đối với các học giả phương Tây
Được du nhập vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu công nguyên, Phật giáo đã sớm dung hợp với các giá trị văn hóa truyền thống, hình thành nên Phật giáo mang màu sắc Việt Nam Sự dung hợp này đã được nhiều học giả trong và ngoài nước cũng như học giả trong
và ngoài Phật giáo đóng góp nhiều thành tựu, song phân tích sự dung hợp đó ở Việt Nam
từ tiếp cận vấn đề triết học của Tứ Diệu Đế vẫn sẽ là một đóng góp thêm cho triết học Phật giáo nói chung và cho lịch sử triết học Phật giáo Việt Nam nói riêng từ góc độ lý luận cũng như thực tiễn
Phật giáo Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử đã để lại nhiều đóng góp đáng kể cho dân tộc trên nhiều lĩnh vực khác nhau như đạo đức, văn hóa, nghệ thuật, nếp sống, nếp
tư duy của người Việt Phật giáo đã đồng hành cùng dân tộc Việt Nam trong công cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước từ những ngày đầu và đến nay đã trở thành một tôn giáo truyền
Trang 4===========================================================================
3
thống của người Việt Nam Ngày nay, Phật giáo ngày càng phát huy các giá trị tích cực của
nó trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội trong bối cảnh hiện đại của nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa Có thể nói, Tứ Diệu Đế và tư tưởng triết học của Phật giáo qua Tứ Diệu Đế chiếm vị trí quan trọng trong các ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội của người Việt Nam Nhiều giá trị tư tưởng tích cực của Tứ Diệu đế đã và đang được người Việt Nam tiếp tục phát huy trong đời sống thực tiễn
Hôm nay, trước yêu cầu xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc của
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước, việc nghiên cứu, khai thác các giá trị của Phật giáo từ góc độ triết học sẽ là một đóng góp có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn Với những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Học thuyết Tứ diệu đế trong triết học Phật giáo và ý nghĩa của học thuyết Tứ diệu đế đối với bản thân” làm đề tài tiểu luận Triết học
Trang 5
===========================================================================
4
CHƯƠNG 1 TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO VÀ TỨ DIỆU ĐỀ
1 Tiền đề tư tưởng của Phật giáo
1.1 Phật giáo khởi đầu một lựa chọn tư tưởng mới
Phật giáo ra đời như là một trào lưu tư tưởng tôn giáo mới chống lại những áp bức, bóc lột, bất bình đẳng giai cấp của Bà La Môn giáo trong xã hội Ấn Độ cổ đại, đáp ứng mong mỏi của đông đảo quần chúng thuộc các đẳng cấp xã hội bị áp bức Khởi nguồn của Phật giáo cũng tựa như các tôn giáo khác trong lịch sử, đều là sự phản ánh hiện thực xã hội,
từ những phong trào xã hội có tính cách mạng với những con người hiện thực và những cá nhân cấp tiến đấu tranh vì sự giải phóng con người khỏi những áp bức, bất công trong hiện thực ấy
Trong bối cảnh kinh tế - xã hội Ấn Độ lúc đó, Phật giáo là sự khởi đầu cho một lựa chọn mới tuy chỉ là ước mơ lý tưởng, nhưng có ý nghĩa chỗ dựa tinh thần cho quần chúng nhân dân bị áp bức, bóc lột, những người đã mất niềm tin trong xã hội hiện thực lúc đó và hướng tới mong muốn, khát vọng về một xã hội bình đẳng, tự do, về một cuộc sống tốt đẹp hơn trong tương lai
1.2 Các hệ thống tư tưởng và tôn giáo Ấn Độ tiền Phật giáo
Là một trong những cái nôi lớn của văn minh phương Đông, Ấn Độ là một quốc gia
có truyền thống triết học và tôn giáo lâu đời Tư tưởng triết học và tôn giáo của người Ấn rất độc đáo và đa dạng, thể hiện năng lực tư duy độc đáo với những triết lý cao siêu Tiền
đề cho sự ra đời của Phật giáo thể hiện trong các bộ kinh lớn có tính truyền thống như kinh Veda và Upanisad, cũng như hệ thống tư tưởng triết học chính thống (gồm sáu phái chính thống) của Ấn Độ cổ đại
Có thể nói rằng, các trào lưu tư tưởng và tôn giáo đó đã ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đối với sự ra đời của Phật giáo và nội dung giáo lý Tứ Diệu Đế của nó
Phật giáo kế thừa tư tưởng của Upanisad cho rằng ý chí, cảm giác, ham muốn dục vọng là cái thúc giục con người hành động để thỏa mãn ham muốn và dục vọng ấy Điều này tạo nên nghiệp báo, khiến linh hồn không được trở về với Brahma mà cứ truyền từ kiếp này sang kiếp khác, bị giam cầm trong thể xác đời này đến đời khác gọi là “luân hồi” Để
Trang 6===========================================================================
5
được giải thoát, con người phải tu luyện thân tâm, làm tốt lễ nghi và phục tùng Brahma khi
đó linh hồn cá nhân mới hòa nhập được vào linh hồn bất tử của vũ trụ tối cao
Mặt khác, Phật giáo cũng kế thừa tư tưởng Veda khi thừa nhận có kiếp luân hồi, tuy nhiên Phật giáo phủ định tồn tại linh hồn và những con đường giải thoát nhờ dựa vào thần quyền tối cao của Bàlamôn Phật giáo cũng vừa phê phán vừa kế thừa những quan niệm của Bàlamôn giáo về “kiếp”, “nghiệp”, “luân hồi”, vô minh”, “sắc”, “dục” khi xây dựng triết lý Tứ Diệu Đế
Phật giáo ra đời cũng trên cơ sở kế thừa và tiếp thu tư tưởng của sáu trường phái triết học chính thống của Ấn Độ cổ
2 Giáo lý cơ bản của Phật giáo và Tứ Diệu Đế
2.1 Khái lược hệ thống giáo lý cơ bản của Phật giáo và vị trí của Tứ Diệu Đế
Toàn bộ hệ thống giáo lý cơ bản của Phật giáo tập hợp thành Tam Tạng Kinh (Tripitaka) Tam Tạng kinh điển Phật giáo được chia làm 3 loại gồm Kinh, Luật và Luận
Cả ba tạng này đều phản ánh tư tưởng Tứ Diệu Đế như cốt lõi của giáo lý Phật giáo Qua quá trình lịch sử phát triển, Phật giáo chia thành các nhánh, tông phái, chi phái rất đa dạng, song Tam tạng kinh điển Phật giáo không thay đổi nhiều Tuy nhiên, cũng có
sự phân biệt thành kinh điển Phật giáo Nguyên thủy, kinh điển Phật giáo Đại thừa Tứ Diệu
Đế trong Kinh tạng là những bài thuyết pháp của Đức Phật đóng vai trò là giáo lý gốc, cốt lõi của tư tưởng triết học Phật giáo.Tứ Diệu Đế trong Luật tạng chính là những giới luật nhằm cụ thể hóa việc thực hành Tứ Diệu Đế bằng hành vi đạo đức, những yêu cầu đảm bảo cho nội dung của Tứ Diệu Đế được thực thi để có thể đạt tới giải thoát và bỏ vệ tăng đoàn Phật giáo được phát triển lành mạnh Trong Luận tạng, nội dung chính vẫn không thể xa rời những bàn luận, chú giải, thuyết minh hay đánh giá của các đệ tử Phật về những nội dung trong Tứ Diệu Đế Như vậy, khi nghiên cứu toàn bộ hệ thống giáo lý của Phật giáo trên những vấn đề về thế giới, nhân sinh, đạo đức, niềm tin tất yếu phải gắn với những giáo thuyết chủ yếu của Tứ Diệu Đế Đó là nội dung hết sức quan trọng, được hình thành
và có mối quan hệ chặt chẽ với các giáo thuyết khác tạo nên một hệ thống thống nhất của giáo lý Phật giáo
Trang 7===========================================================================
6
2.2 Lịch sử, nguyên nhân, nội dung, cấu trúc Tứ Diệu Đế trong hệ thống giáo lý Phật giáo
Trong lịch sử hình thành giáo lý của Phật giáo, Tứ Diệu Đế được ghi nhận một cách
rõ ràng trong hầu hết các sử liệu trong và ngoài Phật giáo rằng, đó là nội dung chính trong lần thuyết pháp đầu tiên của đức Phật cho những đệ tử đầu tiên của đức Phật
Tứ Diệu Đế là sự phát hiện và tổng kết thực trạng hiện hữu bất như ý của con người,
về nguyên nhân của nó nói chung, và đồng thời nêu bật khả năng và phương pháp cho phép
tự thân con người có thể giải quyết vấn đề khổ mà thực tiễn mang đến (nghĩa là thực trạng, nguyên nhân và hậu quả; cứu cánh và phương tiện; đau khổ và hạnh phúc; mê và ngộ; thiên đường và địa ngục; Đức Phật và chúng sanh; sanh tử và Niết Bàn, …) Tất cả đều phụ thuộc vào trình độ nhận thức (tuệ) và đạo đức (thân, khẩu, ý) của con người với chính mình và trong quan hệ với tự nhiên và xã hội Chính con người có thể tạo địa ngục cho chính mình
và ngược lại cũng có thể tạo thiên đường cho chính mình Nhân quả là hai mặt đồng tồn tại của một thực tại người, đó là mâu thuẫn biện chứng diễn ra trong quá trình tồn tại và đấu tranh thống nhất giữa các mặt đối lập: khổ – giải thoát, liên tục vận động và phát triển của
tự thân sự sống của tự nhiên, xã hội con người trong quan hệ tương tác giữa chúng Nói theo thuật ngữ Phật giáo, đó là Nhân quả thế gian (Khổ Đế - Tập Đế) và nhân quả xuất thế gian (Diệt Đế - Đạo Đế), tức là bốn Đế trong giáo lý Tứ Diệu Đế
Tiểu kết chương 1
Tóm lại, ưu điểm của hệ thống triết học thời kỳ này luôn có sự phân định rõ ràng thành hai hệ thống tư tưởng chính thống và tư tưởng phi chính thống, căn cứ dựa trên kinh điển Veda và Upanisad Mặt khác, thời kỳ tiền Phật giáo, các hệ tư tưởng này đều mang ý nghĩa bảo vệ cho trật tự phân biệt đẳng cấp hà khắc của xã hội Ấn Độ cổ đại Bởi vậy, Phật giáo đã tiếp thu những tiền đề tư tưởng của sáu trường phái (dasanas) chính thống và sáu phái Lục sư ngoại đạo để tạo cơ sở cho mình trở thành một sự lựa chọn khởi đầu cho hệ tư tưởng mới Những tư tưởng đó được thể hiện thông qua hệ thống giáo lý cơ bản của đạo Phật mà đặc biệt quan trọng nhất đó là giáo thuyết về Tứ Diệu Đế Với Tứ Diệu đế, Phật giáo đã giải quyết vấn đề Khổ của con người nội tâm một cách rốt ráo, trên cơ sở giáo thuyết về khổ và con đường thoát khổ Tứ Diệu đế cũng là giáo lý căn bản mà bất kỳ một người xuất gia học Phật dù thuộc hệ phái nào đều phải biết tới và tu tập theo để mong cầu giải thoát, chứng ngộ Niết bàn
Trang 8
===========================================================================
7
CHƯƠNG 2 PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA PHẬT GIÁO QUA TỨ DIỆU ĐẾ
1 Quan điểm về cái khổ và sự giải thoát:
Mục đích cuối cùng xuyên suốt của tư tưởng Phật giáo là sự giải thoát chúng sinh thoát khỏi vòng luân hồi Muốn giải thoát, Phật giáo đã đưa ra thuyết Tứ diệu đế, tức 4 chân lý
vĩ đại bao gồm: Khổ đế, Nhân đế (Tập đế), Diệt đế, Đại đế
Khổ đế: là chân lý nói về sự khổ của người đời Phật giáo khái quát trong thuyết Bát khổ:
Sinh lý: sinh, lão, bệnh, tử ; sở cầu bất đắc khổ (điều con người muốn mà không đạt được),
ái biệt ly khổ (xa lìa người mình thương yêu là khổ), oán tang hội khổ (sống với người mình không thích là khổ), ngũ thụ uẩn khổ (khổ vì sự hội tụ của ngũ uẩn)
Thuyết Bát khổ của nhà Phật cho ta thấy dường như cuộc đời con người ngoài cái khổ ra không còn cái gì khác Đời là bể khổ, dù ở đâu làm gì cũng phải khổ, nước mắt chúng sinh chứa đầy bể khổ
Nhân đế: là chân lý nói về nguyên nhân tạo ra sự khổ Nguyên nhân sâu sa tạo ra sự khổ
là do thập nhị nhân duyên, tức 12 nhân duyên tạo ra chu trình khép kín của mỗi con người:
vô minh, hành, thức, danh-sắc, lục nhập, xuất, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão-tử
Trong đó vô minh là căn nguyên, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân Vô minh nghĩa là
mê hoặc, tối tăm, nhầm lẫn, ngu dốt, đần độn là trạng thái trí tuệ không đúng, vi thế sinh
ra “vọng tâm chấp ngã” cho rằng cái ta trường tồn trên hết và vĩnh viễn, từ đó sinh ra vị kỷ, tham lam, dục vọng và có những hoạt động tương ứng,những hoạtđộng tươngứng đó đã tạo
ra nghiệp (Tam nghiệp: thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp) Do đã tạo ra nghiệp, đặc biệt
là nghiệp ác mà con người phải chịu đau khổ, không dứt ra khỏi vòng luân hồi sinh tử được
Diệt đế: là chân lý nói về khả năng có thể tiêu diệt được sự khổ nơi cuộc sống chúng sinh
để đạt đến Niết bàn (Nivana)
Trang 9===========================================================================
8
Niết bàn: Nghĩa rộng là trạng thái tâm hồn đã đoạn trừ được các rang buộc của trần thế, những đau khổ phiền não do vô minh, do tham dục gây ra; Nghĩa hẹp: là tâm hồn hoàn toàn được giải thoát
Niết bàn sẽ giải phóng cho tinh thần
Niết bàn bao gồm hai bộ phận: hữu dư niết bàn và vô dư niết bàn Hữu dư niết bàn:là hình thức chỉ đạt được trong lúc con người đang mang thân ngũ uẩn, niết bàn ngay ở trong tâm của mình Vô dư niết bàn: là hình thức chỉ đạt được sau khi lìa bỏ thân xác, niết bàn ở một thế giới vô tư mà ở đó ngự trị đức Phật, Chúa, Các Mác…
Đạo đế: Là chân lý nói về con đường tu tập phải theo.Phật giáo chủ trương lấy trí tuệ để diệt trừ vô minh phá vòng luân hồi, lại vừa chủ trương lấy tu tập chuyên nghiệp để đạt đến
sự giải thoát
Phép tu tập: bao gồm 6 con đường:
Tứ niệm xứ: 4 nơi cần hướng sự suy nghĩ vào: thân, tâm, thụ, pháp
Tứ chính cần: 4 điều siêng năng chân chính trong tu tập để bỏ ác làm điều thiện
Tứ thần túc: 4 nơi nương tựa để định tâm (thiền, niệm, tinh tiến, tuệ) Ngũ căn, ngũ lực
2 Bát chính đạo và tam học:
Trong những con đường tu tập thì bát chính đạo là quan trọn nhất, bao gồm:
1 Chính ngữ: giữ cho lời nói thanh tịnh, thẳng thắn, không nói hai lời, đơm đặt, giả dối
2 Chính mệnh: sống bằng nghề nghiệp chân chính để tam nghiệp (tâm, khẩu, ý) được trong sạch
3 Chính nghiệp: hành động phải chân chính, có lợi cho nhân sinh
4 Chính tinh tiến: tiến tới trong con đường tu hành
Trang 10===========================================================================
9
5 Chính niệm: luôn suy nghĩ về chính pháp, gạt bỏ những suy nghĩ sai lệch, hoạt động bất chính
6 Chính định: giữ cho thâm tâm vẳng lặng không vọng đông để trí tuệ bừng sáng
7 Chính tri kiến: quan niệm chân chính về đạo, nhất là Tứ Diệu Đế
3 Các tư tưởng của Thập bát chính đạo tạo thành tam học:
1, 2, 3 gói thành tư tưởng về giới: ngũ giới, thập giới là những điều răn cấm quy định giùp người tu hành không phạm phải những điều do tam nghiệp gây ra
4 ,5, 6 hợp thành tư tưởng về định, giúp người tu hành không tán đoạn thân tâm, nhờ đó loại trừ được những ý nghĩ xấu
7, 8 hợp thành tuệ: sự bừng sáng của tư duy
Trong tư tưởng của tam học thì giới là quan trọng nhất Có thực hiện giới thì mới thực hiện định, từ đó tâm mới sáng để diệt trừ vô minh
Quan điểm của Phật đã tạo ra quan điểm nhân văn và khát vọng giải phóng cho con người
ở chỗ hướng con người đến sự giải thoát, và sự giải thoát này không phải dành riêng cho giới nào, mà dành cho tất cả mọi người
Tuy nhiên quan điểm của tư tưởng Phật giáo và quan điểm của Các Mác, đó là:
Hồi giáo, Phật giáo, Kitô giáo đều hướng đến giải thoát cho con người Nhưng lý thuyết của những Đạo này không gắn vớit thực tiễn Còn những quan niệm của Các Mác lại gắn liền tới thực tiễn
Con đường của Phật giáo vẫn theo phương pháp duy tâm, không khoa học; Mác quan niệm giải phóng là con đường (vừa có cả nhận thức, lý luận mà còn có cả đấu tranh cách mạng)
Trang 11
===========================================================================
10
CHƯƠNG III TỨ DIỆU ĐẾ TỪ GÓC ĐỘ PHƯƠNG PHÁP LUẬN KHOA HỌC
Những câu chuyện cổ tích mà người lớn kể về Bụt đã để lại hình ảnh một ông cụ râu tóc bạc phơ đầy từ bi, luôn hiện ra đúng lúc, đúng chỗ, dùng phép lạ cứu giúp muôn chúng sinh qua mọi cảnh khổ nạn
Lớn lên khi trở thành một Phật tử, PGS.TS Hà Vĩnh Tân (Viện Vật lý, Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam) mới hiểu ra rằng Bụt không dùng phép lạ để cứu giúp chúng ta,
mà Bụt chỉ trao truyền cho chúng ta những phương pháp để tự mình tu tâm, dưỡng tính, hoàn thiện nhân cách và hơn nữa cho chúng ta một nghệ thuật sống và làm việc để mang lại niềm hạnh phúc đích thực cho chính mình và mọi người, theo tinh thần “ tự độ độ tha,
tự giác giác tha”
Trong một bài báo PGS.TS Hà Vĩnh Tân đã lý giải giáo lý Tứ diệu đế từ góc độ khao học, chia sẻ tâm nguyện của mình với những ai quan tâm đến việc hiện đại hoá Đạo Phật,
và kết hợp Phật Pháp với khoa học kỹ thuật trong việc truyền bá và áp dụng vào cuộc sống
Như ta biết, Tứ diệu đế là bài thuyết pháp đầu tiên của Phật sau khi thành Đạo cho năm anh em A nhã Kiều Trần Như, diễn ra tại vườn Lộc Uyển, phía bắc thành Ba la nại Xem lại đoạn Phật truyền giảng về Tứ diệu đế trong kinh Chuyển pháp luân - bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu, ta cảm nhận sâu sắc rằng, Tứ diệu đế chính là một trong những tuệ giác sáng chói nhất của Phật Ngài đã tìm ra sự thật đen tối nhất của cõi đời là
bệnh, già, chết và tự phiền não thường trực trong lòng mỗi người, ngài gọi là Khổ (Khổ đế) Sự thật thứ hai ngài tìm ra là nguyên nhân đau khổ, ngài gọi là Khổ tập (Tập đế) Sự thật thứ ba ngài tìm ra là pháp môn tu tập để dứt trừ nguyên nhân đau khổ, ngài gọi là Khổ
tập diệt (Diệt đế) Và sự thật thứ tư ngài tìm ra là con đường cho mọi người đi tới hạnh
phúc, an vui vĩnh cửu, ngài gọi là Khổ tập diệt đạo (Đạo đế)
Thiền sư Minh Đăng Quang trong bộ sách “Chân lý” có luận giảng một cách hình ảnh về vai trò then chốt của giáo lý Tứ diệu đế như sau:
“Pháp chánh giác có ra là do tứ diệu đế Pháp là chánh giác, là pháp của trong tứ diệu đế,
do tứ diệu đế sinh ra Chánh giác là Pháp, là tiếng trống, tứ diệu đế là dùi trống, mặt đất cõi đời là mặt trống Bởi có mặt trống, Phật mới chỉ ra dùi trống, dùi chạm mặt, mới sinh tiếng trống, tiếng ấy là pháp chánh giác Còn chúng sanh là người nghe
Trang 12Phương pháp màu nhiệm diệt khổ đau trong Giáo lý Tứ diệu đế của Phật tổ Thích Ca mâu
Ni đã được trao chuyền qua bao trái tim khối óc con người, vượt bao sự thăng trầm biến động của lịch sử, ngày nay may mắn lại đến tận tay và đi vào tâm trí thế hệ chúng ta Được sống và tu nương vào ánh sáng của Tứ diệu đế
Trong giáo lý của Phật cũng hàm chứa một cách vi diệu, những phương pháp luận
có nhiều điểm tương đồng với phương pháp luận khoa học Chúng ta biết rằng, khoa học là một động lực quan trọng trong quá trình nhận thức và tiến hoá của nền văn minh nhân loại Rất nhiều nhà khoa học đã có những phát minh quan trọng, cũng như chịu sự hy sinh to lớn
vì bảo vệ chân lý như Nicolai Copecnic hay Galileo Galilei Trong số các nhà khoa học cận đại như Thomas Edison, nhà phát minh công nghệ vĩ đại với 1,093 bằng sáng chế riêng tại Hoa Kỳ, Albert Einsntein - nhà Vật lý học vĩ đại đặt nền móng cho vật lý hiện đại với năng lượng hạt nhân và khoa học kỹ thuật không gian, hay Von Neumann - nhà toán học lỗi lạc,
mà riêng sự phát minh ra máy tính điện tử của ông đã đem đến cho chúng ta một loạt các thiết bị khoa học kỹ thuật cốt lõi của kỷ nguyên văn minh thông tin
Nhân loại đã chế tạo ra các công cụ lao động và sáng tạo ra cả các phương pháp tư duy cùng các thiết bị nghiên cứu khoa học Các phương pháp hay các lập luận khoa học là một quá trình, thường được trình bày như các bước nối tiếp nhau theo một trình tự logic
Có một nhận xét đáng chú ý là: đa số các quá trình lập luận này mang tính tuần hoàn, còn gọi là “chu trình logic” Có nghĩa là, cứ là sau một số bước nhất định, các bước lại được lặp
lại Ở đây tôi xin gọi các phương pháp lập luận có bốn bước trong một chu trình là “Tứ
Trang 13Phật chỉ ra một sự thật là trong cuộc đời này, chúng sinh gặp bao phiền não, sầu khổ
về hoàn cảnh, về thể xác và tâm hồn Phật trao cho chúng ta Tứ diệu đế như một sự thực tập, một phương pháp tu tập nhằm giúp con người tự mình giải phóng khỏi mọi phiền não khổ đau, đi đến niềm hạnh phúc an lạc đích thực Có một vị thiền sư đã nói rằng: “Tứ diệu
đế không phải là một lý thuyết, tứ diệu đế là một công trình thực tập Tứ diệu đế không chỉ
là nguyên tắc của sự thực tập, tứ diệu đế là bản thân của sự thực tập” giúp ta thoát khỏi u minh - nguồn gốc của mọi phiền não khổ đau, đi đến mục tiêu là giác ngộ chân chính và xây dựng Tịnh độ trong tâm mỗi con người và trên cả thế gian này
Có một nhận xét thú vị là, những phương pháp luận mang tính tứ đoạn luận trong thực tiễn khoa học thuộc loại rất phổ biến và thường là phương pháp tổng quát (general method) trong việc giải quyết vấn đề (problem solving), thu nhận kiến thức (obtaining knowledge), và phát minh bí quyết công nghệ (obtaining know-how)
Đấy chính là các phương pháp luận quan trong nhất trong thực tiễn:
1 PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC (Scientific method) dùng trong nghiên cứu và phát
minh khoa học nói chung, mà ở đây ta gọi là tứ đoạn luận “Khoa học”
Bây giờ ta xem xét cụ thể các bước trong tứ đoạn luận “Khoa học” là
Bước 1 - Mô tả đặc tính (Characterization from experience and observation): Mô
tả đặc tính của hiện tượng vấn đề
Bước 2 - Lập giả thiết (Hypothesis: a proposed explanation): Đặt giả thiết, căn cứ
để giải thích
Bước 3 - Suy luận logic (Deduction: prediction from the hypothesis): Các suy luận,
tiên đoán từ giả thiết
Bước 4 - Kiểm chứng (Test and experiment): Các pháp thử và thí nghiệm kiểm
chứng
Trang 14===========================================================================
13
Bước 5 (lặp lại bước 1 ở mức độ cao hơn) Lại mô tả đặc tính mới: Mô tả đặc tính
của hiện tượng một cách đúng hơn chi tiết hơn
2 PHƯƠNG PHÁP TOÁN HỌC (Methematical method) dùng riêng trong nghiên
cứu và sáng tạo toán học, mà ở đây ta gọi là tứ đoạn luận “Toán học”
Các bước trong tứ đoạn luận “Toán học”:
Bước 1 - Sự hiểu (Understanding): Đây là sự hiểu tương đối xuất phát về đối tượng Bước 2 - Phân tích (Analysis): Sự mổ xẻ đi sâu vào chi tiết sự hiểu của mình so với
thực tại
Bước 3 - Tổng hợp (Synthetic): Tập hợp hay tích hợp lại những sự phân tích và
nhận xét lẫn phát hiện mới của ta thu được trong sự mổ xẻ cái đã hiểu lại
Bước 4 - Tổng quan và mở rộng (Review/Extend): Liên hệ với những điều ta hoặc
người ta đã biết khác và mở rộng cái hiểu bao quát hơn
Bước 5 (lặp lại bước 1 ở mức độ cao hơn) Làm lại mới thêm sự hiểu: Ta thu được
cái hiểu mới về đối tượng nghiên cứu
3 PHƯƠNG PHÁP THỬ VÀ SAI MỞ RỘNG (Generalized triel and error method)
dùng phổ biến trong nghiên cứu và phát minh các bí quyết công nghệ (know - how),
mà ở đây ta gọi tắt là tứ đoạn luận “Thử và sai”
Các bước trong tứ đoạn luận “Thử và sai” là:
Bước 1 - Thử (Trial): Mô tả phép thử làm một việc nào đó với một ý tưởng xuất phát, thử dùng một phương pháp, một công cụ phương tiện mà mình cho là hợp lý, thử lên một kế hoạch nhằm đạt một mục đích mong muốn nào đó…
Bước 2 - Sai (Error): Sau khi thử thực hiện những điều đã dự định, kết quả thu được lại không như ý, hoặc không đúng như ta dự báo, mong muốn …
Bước 3 - Phân tích (Analysis): Phân tích tìm hiểu ngọn ngành nguyên nhân cái sai nằm ở đâu
Bước 4 - Sửa sai (Correction): Có nghĩa, tìm ra cách khác mà ta cho là tốt hơn và không chứa những điều sai mà ta đã nhận ra ở bước “hiểu cái sai”
Bước 5 (lặp lại bước 1 ở mức độ cao hơn) Lại thử thêm nữa: Tiếp tục thử một lần nữa với khắc phục hay loại trừ cái sai