1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Những nội dung cơ bản trong học thuyết chính trị đạo đức của triết học Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với hoạt động doanh nghiệp

16 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 36,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài thảo luận “Những nội dung cơ bản trong học thuyết chính trị đạo đức của triết học Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với hoạt động doanh nghiệp” PHẦN 1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG HO.

Trang 1

PHẦN 1:

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ ĐẠO

ĐỨC CỦA TRIẾT HỌC NHO GIÁO 1.1 Học thuyết Nho giáo về tình người - cơ sở hình thành quan niệm của Nho giáo về đạo đức

Khi đưa ra học thuyết về tính người, mỗi nhà nho đều dựa trên những ý kiến chủ quan của mình, dựa trên việc đánh giá thực tế mà đưa ra quan điểm và sự luận giải hết sức khác nhau (tiêu biểu là quan niệm về tính người của Mạnh Tử, Tuần

Tử, Cáo Tử, Đổng Trọng Thư ) Tuy nhiên dù quan niệm bản tính con người là thiện hay ác hay cả thiện lẫn ác thì các nhà nho đều cho rằng bản tính con người có thể thay đổi dưới sự tác động của giáo dục Cũng theo các nhà nho giáo dục ở đây phải là giáo dục đạo đức, phải trang bị cho mọi người những phẩm chất đạo đức, chuẩn mực đạo đức, những hành vi ứng xử phù hợp với những mối quan hệ xã hội nhất định Chỉ có như vậy mới giúp con người giữ gìn được tính thiện, tránh xa cái

ác, trở về với đạo Đó cũng là cách hiệu quả nhất để đưa xã hội từ loạn về trị, là cơ

sở để xây dựng một xã hội thật sự tốt đẹp, thái bình, thịnh trị… Với những phân tích như vậy, có thể kết luận tằng, quan niệm của Nho giáo về tính người là một trong những cơ sở quan trọng để các nhà nho đưa ra những quan điểm về đạo đức Điều này cũng là câu trả lời cho việc tại sao Nho giáo lại coi trọng đạo đức và cho rằng đường lối đức trị dựa trên việc giáo dục, giáo hóa đạo đức cho tất cả mọi người là biện pháp hữu hiệu nhất để ổn định trật tự xã hội

1.2 Quan niệm của Nho giáo về đạo và đức

Trong học thuyết Nho giáo, có thể coi đạo đức là tư tưởng chủ đạo Cũng chính vì lẽ đó mà người ta gọi Nho giáo là học thuyết chính trị - đạo đức

Theo quan niệm của Khổng Tử, Đạo chính là năm mối quan hệ xã hội cơ bản của con người, được gọi là Nhân luân Mạnh Tử gọi là Ngũ luân bao gồm: vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, anh – em, bạn bè Trong đó ba mối quan hệ đầu tiên được coi là cơ bản nhất mà sau này Đổng Trọng Thư gọi là Tam cương

Đối với Đức, theo quan niệm của Nho giáo, đây chính xác là các phẩm chất đạo đức quan trọng mà con người cần phải có, cần phải được trang bị, được giáo dục nhằm thực hiện tối năm mối quan hệ cơ bản của Đạo được nêu ra ở trên Với Khổng Tử ông nhấn mạnh ba đức cơ bản của con người là nhân, trí, dũng Đến

Trang 2

Mạnh Tử ông lại cho rằng, những đức con người cần phải có là tứ đức: nhân, lễ, nghĩa, trí Đến Đổng Trọng Thư, ông nêu lên Ngũ thường: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín

1.3 Tam cương

Theo quan niệm của Nho giáo, Tam cương dùng để chi ba mối quan hệ cơ bản nhất của con người từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội, đó là các quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ Khái niệm Tam cương xuất hiện lần đầu tiên là trong Hán Nho thể hiện tư tưởng của Đổng Trọng Thư vào thời Hân Vũ đế Mục đích chính của tư tưởng này là quy định thân phận của bề tôi, của người vợ và của người con phụ thuộc vào vua, vào chồng, vào cha Theo Đổng Trọng Thư, trong mối quan hệ vua - tôi, bà tôi phải tuyệt đối trung thành với vua và vua giữ vai trò quyết định so với bề tôi, đến mức vua bảo thần chết, thần không thể không chết; trong mối quan hệ cha - con, yêu cầu người con phải có hiếu với cha mẹ và người cha giữ vai trò quyết định đối với con; trong mối quan hệ vợ - chồng yêu cầu vợ phải theo chồng, phải giữ tiết hạnh với chồng và trong mối quan hệ này thì người chồng giữ vai trò quyết định đối với người vợ Đạo Tam cương chứa đựng cả ưu điểm và hạn chế

1.4 Ngũ thường

Theo quan niệm của Nho giáo, Ngũ thường bao gồm các phạm trù đạo đức: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín

Nhân: là phạm trù đạo đức đầu tiên và cơ bản nhất trong Ngũ thường Nhân

được coi là hạt nhân lý luận trong hệ thống tư tưởng của Nho giáo và tất cả các phạm trù đạo đức còn lại đều xoay xung quanh phạm trù trung tâm này Nhân bao hàm trong nó mọi đức tính, mọi phạm trù đạo đức khác như: lễ, nghĩa, trí, tín, trung, hiếu các đức tính khác là bộ phận của nhân, là biểu hiện cụ thể của nhân trong các quan hệ ứng xử giữa con người với con người Người có nhân đồng nghĩa với người hoàn thiện nhất nên có thể xem nhân là nghĩa rộng nhất của đạo đức con người

Lễ: theo Nho giáo, lễ là những quy định về mặt đạo đức có tính bắt buộc,

ràng buộc đối với mọi hành vi ứng xử của con người trong các mối quan hệ xã hội

Lễ còn là trật tự, kỷ cương, phép nước mà mọi người phải tuân theo Do đó, nếu xã hội giữ được lễ thì “hữu đạo" và thịnh trị, còn nếu để mất lễ sẽ vô đạo" và đại loạn

Nghĩa: Theo Khổng Tử, nghĩa là điều nên nói, việc phải làm; là việc làm chí

thiện, hợp lý, là trách nhiệm đạo đức giữa những người khác nhau hoặc những

Trang 3

đẳng cấp khác nhau trong xã hội Nghĩa là việc làm phù hợp với lẽ phải và đạo lý,

do đó, nó cũng sẽ phù hợp với điều nhân và lễ, phù hợp với một trật tự xã hội có trên, có dưới

Trí: theo Nho giáo, trí là sự hiểu biết, là trí tuệ của con người về mình, và

các mối quan hệ xã hội của mình Con người phải có trí thì mới phân biệt được thiện – ác, trái – phải, mới thực hành đạo đức được tốt Con người phải có trí mới vươn tới được đức nhân, mới biết cách giúp người mà không làm hại mình, hại người Đồng thời, phải có trí mới biết yêu người đáng yêu, ghét người đáng ghét, gạt bỏ, đề bạt, giúp đỡ người chính trực, gạt bỏ người không ngay thẳng

Tín: đây cũng là một phẩm chất đạo đức quan trọng cần có của con người vì

người không có tin sẽ mất hết nhân, nghĩa, lễ, trí, là người bỏ đi Tín được hiểu là

sự tin tưởng, là lòng tin của con người Tín là lời nói và việc làm phải thống nhất với nhau, trước sau như một

Trang 4

PHẦN 2:

ẢNH HƯỞNG CỦA HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ ĐẠO ĐỨC CỦA TRIẾT

HỌC NHO GIÁO ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP

2.1 Ảnh hưởng của học thuyết chính trị đạo đức của Triết học Nho giáo đối với hoạt động doanh nghiệp

2.1.1 Đạo – Tam cương

Trong doanh nghiệp, đạo tam cương thể hiện ở văn hóa ứng xử giữa cấp trên và cấp dưới, người sử dụng lao động và người lao động Thực tế có 5 cấp độ về văn hóa ứng xử giữa cấp trên và cấp dưới;

Cấp độ 1: Chức vị, người lãnh đạo ứng xử với cấp dưới dựa vào quyền lực được quy định kèm theo quyết định bổ nhiệm Đây là kiểu lãnh đạo cứng rắn, một chiều, theo triết lý “sếp luôn luôn đúng”; nhân viên chỉ làm việc khi bị yêu cầu, với tư tưởng miễn cưỡng, buộc phải phục tùng, đối phó, bị động

Cấp độ 2: Sự chấp nhận Cấp dưới đi theo bạn, không chỉ vì chức vụ mà còn vì các mối quan hệ mà bạn xây dựng được trong tổ chức Bạn có năng lực lãnh đạo vì đã tạo ra không khí vui vẻ, tự giác trong công việc

Cấp độ 3: Định hướng kết quả Ở đây, lãnh đạo không chỉ nói được mà còn làm được, tạo ra hiệu quả cao trong công việc, làm gương cho cấp dưới Bạn thường thích sự thẳng thắn, đi thẳng vào công việc, ngắn gọn trong giao tiếp

Cấp độ 4: Phát triển con người Đây là kiểu lãnh đạo tập trung vào phát triển con người dưới quyền, đào tạo, phát triển được những đồng nghiệp và người kế cận giỏi hơn mình Bạn rất coi trọng xây dựng văn hóa tổ chức mạnh, tạo nền tảng cho

sự phát triển bền vững Trong giao tiếp, bạn được tin yêu, chấp nhận sự phản hồi, giám sát, phản biện từ cấp trên, đồng cấp và cấp dưới

Cấp độ 5: Cá nhân Đây là cấp độ lãnh đạo cao nhất, rất hiếm có ai đạt được Mọi người đi theo lãnh đạo chỉ vì họ có một tình yêu lớn với một tài năng, nhân cách vĩ đại và tự nguyện trung thành với tư tưởng, sự nghiệp cao cả đó

Trang 5

Việc ứng xử giữa cấp trên và cấp dưới phụ thuộc vào môi trường và đặc điểm, văn hóa doanh nghiệp Phương thức ứng xử giữa cấp trên và cấp dưới trong doanh nghiệp được thể hiện rất đa dạng và phong phú, tùy thuộc vào đặc điểm tâm lý, tính cách của người lãnh đạo cụ thể đối với một nhân viên cụ thể, trong một thời kỳ phát triển nhất định của doanh nghiệp

Với các doanh nghiệp Nhà nước, văn hóa ứng xử thường ở cấp độ 1: cấp dưới tuyệt đối tuân thủ chỉ đạo của cấp trên, ít có sự linh hoạt

Với các doanh nghiệp tư nhân, các công ty cổ phần, các tập đoàn lớn, thì văn hóa ứng xử thường có sự giao thoa giữa các cấp độ Ví dụ tại tập đoàn FPT, văn hóa ứng xử cấp trên – cấp dưới không thật sự rõ nét, khi mọi người đều có quyền bình đẳng, nếu nhân viên nói đúng, sếp có thể nghe chỉ đạo từ nhân viên, cụ thể:

- Tôn trọng cá nhân:

+ Nói thẳng: Nói mọi ý nghĩ của cá nhân trên cơ sở tôn trọng đồng nghiệp, đó cũng chính là tôn trọng chính mình

+ Lắng nghe: Nghe và trao đổi bình đẳng, không phân biệt vị trí cao thấp, không trù úm cấp dưới khi không hợp ý mình

+ Bao dung: Chấp nhận mọi người như họ vốn có, chấp nhận cả mặt mạnh, mặt yếu, cả điểm tốt và điểm không tốt, tạo điều kiện tối đa để mọi người được là chính mình, ủng hộ các sáng kiến, đề xuất hợp lý, động viên nhau khi thất bại

- Đổi mới: Tinh thần đổi mới, liên tục học hỏi, không giấu dốt

- Đồng đội: Tinh thần đồng đội, bao gồm đồng tâm, tập thể và chân tình

- Đồng tâm: Là cùng chung mục tiêu, cùng tâm huyết, vì sự hài lòng của khách hàng, vì sự phát triển trường tồn của công ty, vì một Việt Nam hưng thịnh, trí tuệ,

có trách nhiệm với xã hội và môi trường

- Chân tình: Một trăm cái lý không bằng một tí cái tình Chân tình là quan tâm tới từng thành viên, vì nhau, ứng xử như bạn bè, anh em một nhà, không phân biệt lãnh đạo với nhân viên

2.2 Đức – Ngũ thường (Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín)

- Nhân:

Chữ nhân trong môi trường doanh nghiệp thể hiện rõ nhất ở công tác quản trị nhân lực Cụ thể, tại mỗi doanh nghiệp phải có sự rõ ràng trong quan hệ giữa người làm quản trị và người được quản trị, “sếp” và “nhân viên” là hai thành phần khác nhau, có địa vị cũng như quyền lợi khác nhau trong doanh nghiệp, tuy nhiên không

Trang 6

vì thế mà “sếp” lơ là đời sống của nhân viên mà thực tế cần luôn tìm hiểu tâm tư nguyện vọng, giúp đỡ nhân viên trong công việc cũng như tạo cơ hội cho họ phát triển năng lực, bởi suy cho cùng, cả sếp và nhân viên đều hướng tới cùng một mục đích là giúp doanh nghiệp phát triển, tăng phần lợi nhuận, làm miếng bánh lợi ích

to ra

Hiện nay, các chủ công ty, doanh nghiệp - những nhà quản trị kinh doanh luôn mở rộng phạm vi tìm kiếm nhân viên, sau khi đã tìm được những người đủ điều kiện, họ trực tiếp tham gia phỏng vấn đề có cái nhìn trực quan hơn về năng lực của những “ứng cử viên”, sau đó quyết định tuyển những người mà họ cần và

có thể tạo cơ hội cho những cá nhân chưa đủ điều kiện nhưng có khả năng trong công việc nếu được qua đào tạo sâu hơn Mặc dù là một quốc gia đang phát triển, nền kinh tế có phần chậm tiến hơn so với nhiều nước khác trong khu vực châu Á nói riêng và thế giới nói chung, việc thành lập các công ty liên doanh, các công ty

có vốn đầu tư nước ngoài đang chiếm tỉ lệ cao, nhưng có một thực tế rằng, làm việc tại các công ty, doanh nghiệp - các tổ chức kinh tế của nước ta, ít có sự phân biệt và khoảng cách quá lớn giữa người làm quản trị và những người thuộc “cấp dưới” của họ Có rất nhiều ví dụ để minh họa cho điều này Sự quan tâm lẫn nhau không chỉ trong công việc mà còn cả trong đời sống đã thể hiện phần nào sự ảnh hưởng của tư tưởng nhân trị Cụ thể, ngoài việc nâng cao năng lực các cá nhân, trao cơ hội và giúp đỡ họ thể hiện khả năng hết mình trong công việc như cử họ đi học tập tại nước ngoài, mở lớp bồi dưỡng năng lực làm việc , các nhà quản trị còn quan tâm đến đời sống tinh thần của mỗi nhân viên, bởi với mỗi doanh nghiệp nguồn nhân lực là một tài nguyên quý giá, cũng là thành phần chủ chốt trong kinh doanh

Hơn nữa, các dịp lễ, Tết đặc biệt trong năm, nhân viên luôn nhận được những quyền lợi đặc biệt: khoản tiền thưởng, phụ cấp tăng lương - đây là những món quà vật chất mang ý nghĩa tinh thần sâu sắc với mỗi người lao động Hay như khi một cá nhân nào đó có những khó khăn trong đời sống riêng, họ đều nhận được

sự thông cảm và quan tâm từ những người đồng nghiệp” của mình Vì vậy, giống như việc trị quốc trong xã hội xưa, các nhà quản trị tại doanh nghiệp đã sử dụng tư tưởng Nho giáo một cách khéo léo nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh hiệu quả, giúp tất cả các cá nhân phát huy được tối đa năng lực của mình, song vẫn có cảm giác được sống trong ngôi nhà thứ hai của mình

Trang 7

- Tín:

+ Chữ tín:

Chữ "TÍN" được thể hiện trong hầu hết trong các khâu sản xuất, các hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp Cụ thể

* Chữ “TÍN” trong giao dịch với khách hàng

Trong cơ chế thị trường, mọi thứ hàng hóa đều được niêm yết giá nhưng giá

cả thì biển đông Như vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn cập nhật thông tin từ giá

cả, nguồn cung cấp nguyên liệu, phụ liệu, nhiên liệu, cho đến đơn giá nhân công

và các loại chi phí mà không chỉ ở trong nước Từ đây mới xây dựng được cơ cấu giá thành sản phẩm và đưa ra được đơn giá ký kết (giá bán) trong Hợp đồng Đế đảm bảo số lượng sản phẩm và thời hạn giao hàng thì bộ phận kế hoạch phải nắm vững năng lực sản xuất của doanh nghiệp (nhân công và tay nghề, trang thiết bị, nhà xưởng ) cùng các điều kiện khách quan (điện, nước, nhiên liệu, nguồn cung cấp ) Từ đây sẽ lên được tiến độ thực hiện Nếu giao hàng đúng tiến độ, đủ số lượng, đảm bảo chất lượng thì doanh nghiệp đã xây dựng được những chữ "TÍN" đầu tiên với khách hàng Với các doanh nghiệp thương mại còn có phương thức kinh doanh hậu mãi Nghĩa là hàng hóa do khách hàng mua được chăm sóc định kỳ sau khi bán Đúng hẹn (dù trời nắng hay mưa) và làm không vụ lợi, nhân viên của doanh nghiệp đến bảo hành, bảo dưỡng hàng hóa của khách như chăm sóc cho chính mình Vậy là anh ta đã gây được chữ "TÍN" của doanh nghiệp trong lòng bạn hàng

* Chữ "TÍN" khí cạnh tranh với đối thủ

Nền kinh tế thị trường ra đời gắn liền với lợi nhuận và sự cạnh tranh khốc liệt, yêu cầu mỗi doanh nghiệp phải có một chiến lược riêng để tồn tại Có doanh nghiệp để ra lợi nhuận cao song vẫn đảm bảo được sự cạnh tranh lành mạnh với đối thủ nên thay vì sử dụng các tiêu sảo hoặc mánh khóe, đã tập trung đầu tư nghiên cứu sản phẩm mới, độc đáo hơn hoặc cải tiến kiểu dáng, tiết kiệm các chi phí không cần thiết trong sản xuất, đầu tư tuyển dụng nhân công giỏi từ đó đã tạo

ra ưu thế và dần chiếm lĩnh trên thị trường, khiến cho đối thủ phải tâm phục khẩu phục Đó là chữ "TÍN" trong làm ăn của những doanh nghiệp lớn,

* Chứ "TÍN" trong quản lý nguồn nhân lực

Việc tuân thủ nghiêm chỉnh những cam kết không chỉ giới hạn trong trách nhiệm của ban Giám đốc, Nhà quản lý mà còn là trách nhiệm của từng cán bộ,

Trang 8

công nhân viên Hợp đồng kinh tế đã ký kết giữa doanh nghiệp và khách hàng phải được coi là pháp lệnh mà mọi người phải thực hiện Mọi kế hoạch lập ra vẫn chỉ là

lý thuyết và thực tế luôn phát sinh những trục trặc làm ảnh hưởng tới tiến độ giao hàng Vì vậy, việc giãn ca, làm thêm giờ trong các xí nghiệp may xuất khẩu là

“chuyện thường ngày" Dĩ nhiên sẽ kèm theo việc tăng chi phí cho người lao động

(thậm chí lương trong ngày nghỉ phải "TÍN" với hệ số 2), tăng chi phí quản lý, chi phí điện, nước cho sản xuất Như vậy sẽ làm giảm đáng kể lợi nhuận nhưng doanh nghiệp vẫn phải làm Vì có như vậy, doanh nghiệp mới tạo được lòng tin từ nhân viên và bạn hàng Bên cạnh đó, việc các doanh nghiệp thực hiện những cam kết về lượng, chế độ đãi ngộ điều kiện phát triển, học tập được đưa ra khi tuyển dụng cũng là cách thể hiện chữ "TÍN" Nếu làm được như vậy thì doanh nghiệp sẽ có được người tài và người tài mới tìm đến với doanh nghiệp

* Chữ “TÍN” trong hình ảnh của người lãnh đạo

Người lãnh đạo của một doanh nghiệp là đầu tàu trong các hoạt động, vì vậy để có được chữ “TÍN” trong doanh nghiệp, trước tiên người lãnh đạo phải hiểu

và sử dụng chữ "TÍN" với chính bản thân, với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, khách hàng, bạn hàng của mình và trong các hoạt động của doanh nghiệp (quản lý, sản xuất, kinh doanh, trách nhiệm xã hội ) Nếu người lãnh đạo làm được vậy, tức là đạo tạo ra sự "TÍN" nhiệm trong nhân viên, tạo ra một hình ảnh đẹp cho nhân viên học tập và người ngoài soi vào Từ đó, người lãnh đạo tạo ra giá trị riêng cho bản thân mình trong các hoạt động quản lý và đối ngoại Ngoài ra, chữ "TÍN" còn được thể hiện trong Phong cách làm việc của lãnh đạo và nhân viên, Bày tỏ ý kiến, quan điểm, biểu hiện hành vi của mọi người trong doanh nghiệp và quan hệ của doanh nghiệp với xã hội và môi trường Hay nói cách khác, chữ "TÍN" được thể hiện trong từng thành viên của doanh nghiệp, trong công việc, trong đời thường và cao hơn là trong cả cách thể hiện trách nhiệm của họ với xã hội và với môi trường như: Xóa đói giảm nghèo, cam kết bảo vệ môi trưòng Nếu doanh nghiệp đạt được những điều này, chính doanh nghiệp đã tạo cho mình một thương hiệu trên thị trường

- Lễ:

+ Mọi hoạt động kinh doanh cần phải tuân thủ quy định pháp luật của Đảng, Nhà nước về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, nghiêm cấm mọi hành vi kinh doanh phi pháp, ảnh hưởng tới xã hội, môi trường

Trang 9

Cụ thể, mỗi doanh nghiệp cần đảm bảo:

1 Đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh khi kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật đầu tư và bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh

2 Tổ chức công tác kế toán, lập và nộp báo cáo tài chính trung thực, chính xác, đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê

3 Kê khai thuế, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật

4 Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động theo quy định của pháp luật về lao động; không được phân biệt đối xử và xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người lao động trong doanh nghiệp; không được sử dụng lao động cưỡng bức và lao động trẻ em; hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tham gia đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng nghề; thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và bảo hiểm khác cho người lao động theo quy định của pháp luật

5 Bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa, dịch vụ theo tiêu chuẩn do pháp luật quy định hoặc tiêu chuẩn đã đăng ký hoặc công bố

6 Thực hiện đầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ về đăng ký doanh nghiệp, đăng

ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, công khai thông tin về thành lập và hoạt động, báo cáo và các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan

7 Chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và các báo cáo; trường hợp phát hiện thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phải kịp thời sửa đổi,

bổ sung các thông tin đó

8 Tuân thủ quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn

xã hội, bình đẳng giới, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo vệ di tích lịch sử-văn hóa và danh lam thắng cảnh

9 Thực hiện nghĩa vụ về đạo đức kinh doanh để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng và người tiêu dùng

+ Mặt khác, mỗi doanh nghiệp đều có những nội quy, quy chế, quy định riêng, ví dụ: Nội quy lao động; Chính sách nhân sự; Quy chế quản lý tài sản; Quy chế chi tiêu nội bộ; Quy chế làm việc; Quy định về thang lương, bảng lương; Quy định về

Trang 10

việc đảm bảo bí mật sản xuất-kinh doanh,… Người lao động làm việc tại doanh nghiệp bắt buộc phải tuân thủ, chấp hành nghiêm chỉnh những nội quy, quy định

đó Nếu không chấp hành, người lao động có thể bị kỷ luật (cảnh cáo, kiển trách, sa thải) tùy mức độ vi phạm

- Nghĩa:

Thể hiện rõ ràng nhất ở trách nhiệm đạo đức trong kinh doanh Đạo đức kinh

doanh là một tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ

có tác dụng chỉ dẫn, điều chỉnh và kiểm soát hành vi nhằm bảo đảm chuẩn mực và

sự trung thực trong hoạt động của chủ thể kinh doanh Đạo đức kinh doanh bao gồm hai yếu tố quan trọng: tính trung thực và sự tôn trọng con người

+ Tính trung thực đòi hỏi chủ thể kinh doanh không dùng các thủ đoạn gian xảo hoặc phi pháp để kiếm lời, cạnh tranh không lành mạnh Đối với đối tác, khách hàng và người tiêu dùng, chủ thể kinh doanh phải giữ chữ tín trong kinh doanh, theo đó doanh nghiệp, doanh nhân phải giữ chữ tín trong quan hệ, bảo đảm thực hiện đúng nghĩa vụ và cam kết; không sản xuất kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, hàng độc hại cho sức khỏe con người, quảng cáo sai sự thật,

vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, nhãn mác và xuất xứ hàng hóa Chủ thể kinh doanh phải chấp hành nghiêm luật pháp của Nhà nước, theo đó doanh nghiệp, doanh nhân không trốn thuế, lậu thuế, sản xuất kinh doanh những mặt hàng quốc cấm Đối với

xã hội, chủ thể kinh doanh không được làm ô nhiễm môi trường tự nhiên (xả thải độc hại ra môi trường, tàn phá hệ sinh thái) và môi trường xã hội (kinh doanh những hàng hóa hay dịch vụ có hại cho thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng đến giáo dục con người), thực hiện các trách nhiệm xã hội

+ Nguyên tắc tôn trọng con người đòi hỏi chủ thể kinh doanh phải tôn trọng phẩm giá, quyền lợi chính đáng (lương, bảo hiểm, hưu trí, các chế độ chính sách); bảo đảm an toàn lao động; tạo điều kiện phát triển về thể lực và trí tuệ của đội ngũ cán bộ, công nhân viên trong doanh nghiệp; mở rộng dân chủ và khuyến khích phát huy sáng kiến, cải tiến công nghệ; tôn trọng nhu cầu, sở thích và tâm lý khách hàng; cạnh tranh lành mạnh và công bằng với đối thủ cạnh tranh, thúc đẩy không khí vừa hợp tác vừa cạnh tranh lành mạnh; gắn lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của khách hàng và xã hội, coi trọng hiệu quả kinh doanh gắn với trách nhiệm xã

Ngày đăng: 30/10/2022, 23:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w