Ngoài các nguyên tắc nêu trên, hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự còn phải tuân theo các quy định về đường lối đối ngoại của Nhà nước CHXHCN Việt Nam được ghi nhận trong Điề
Trang 1PGS.TS Ph¹m Hång H¶i *
rong những năm gần đây, tình trạng
tội phạm ở nước ta và trên thế giới
diễn biến rất phức tạp và nghiêm trọng
Nhóm các tội phạm quốc tế như khủng bố,
không tặc, truyền thanh bất hợp pháp, các
tội xâm phạm sự phát triển kinh tế, văn
hoá, xã hội của các quốc gia như: Huỷ hoại
môi trường sống, trộm cắp, phá huỷ di sản
văn hóa dân tộc và nhân loại, buôn lậu, di
cư bất hợp pháp, gian lận thương mại,
buôn bán phụ nữ, trẻ em, cướp biển, rửa
tiền, tội phạm về máy tính đang có chiều
hướng gia tăng ở tất cả các quốc gia, các
khu vực trên thế giới Trước tình hình này,
vấn đề hợp tác quốc tế trong đấu tranh với
tội phạm đang là vấn đề thời sự được các
quốc gia quan tâm Việc hợp tác quốc tế
trong khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và
thi hành án hình sự để nâng cao hiệu quả
của cuộc đấu tranh với tình trạng người
nước ngoài phạm tội ở Việt Nam và người
Việt Nam phạm tội ở nước ngoài, phục vụ
cho quá trình hội nhập giữa nước ta với các
nước trong khu vực là đòi hỏi bức xúc với
chính chúng ta cũng như với cộng đồng
quốc tế
Trong xu thế hội nhập giữa nước ta với
các nước trong khu vực và trên thế giới
hiện nay, các cơ quan tiến hành tố tụng
Việt Nam ngày càng phải xử lí nhiều hơn các vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài và các cơ quan bảo vệ pháp luật của nước ngoài cũng phải xử lí nhiều vụ án hình sự liên quan đến người Việt Nam Chính vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 của nước ta đã dành toàn bộ Phần thứ VIII quy định về hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự
Tư tưởng về hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm đã xuất hiện
từ những ngày đầu tiên sau khi Cách mạng tháng Tám thành công Cùng với điều đó, vấn đề chủ quyền của toà án cách mạng xét
xử các vụ án mà người phạm tội là người nước ngoài đã được xác lập Trong Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 ấn định thẩm quyền của toà án và sự phân công giữa các nhân viên trong toà án, Điều 1 quy định:
“Trong toàn cõi Vi ệt Nam, các toà án Việt
Nam có th ẩm quyền đối với mọi người bất
c ứ quốc tịch nào” Sau này trong Bản
hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm hình
sự ban hành kèm theo Thông tư số 16/TATC ngày 27/9/1974, Toà án nhân dân tối cao đã cụ thể hoá Điều 1 Sắc lệnh
số 51 nói trên với nội dung: Toà án của
T
* Viện nhà nước và pháp luật
Trang 2nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có thẩm
quyền xét xử những người nước ngoài
phạm tội ở Việt Nam trừ trường hợp người
phạm tội là người có quyền được miễn trừ
ngoại giao và trong trường hợp này hành vi
phạm tội của họ sẽ do Chính phủ xử lí theo
thủ tục về ngoại giao
Sau khi ban hành các văn bản pháp luật
nêu trên trong thời gian dài ở nước ta, pháp
luật nói chung và pháp luật tố tụng hình sự
nói riêng ít có các quy định cụ thể về trình
tự, thủ tục điều tra, truy tố, xét xử vụ án
hình sự có yếu tố nước ngoài Hai văn bản
nêu trên đều mới chỉ xác định toà án nước
ta có thẩm quyền xét xử người nước ngoài
thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ
nước ta Điều này có thể được giải thích
rằng trong thời kì trước đây (đặc biệt từ
năm 1954 trở đi), ít vụ người nước ngoài
phạm tội ở Việt Nam và càng rất ít khi
người nước ngoài tham gia tố tụng hình sự
ở Việt Nam với tư cách khác nhau như
người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn
dân sự, người có quyền và lợi ích liên quan
tới vụ án Có thể là xuất phát từ các quy
định của Hiến pháp nước ta (Điều 91 Hiến
pháp năm 1992 và các điều tương ứng của
các bản hiến pháp trước đó quy định:
Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam phải
tuân theo hiến pháp và pháp luật Việt Nam,
được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản
và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật
Việt Nam) nên có quan niệm không cần
thiết phải có các quy định về thủ tục, trình
tự tố tụng riêng đối với các vụ án có yếu tố
nước ngoài tại Việt Nam Trong thời kì
trước đây, quan niệm trên có thể chấp nhận được nhưng trong những điều kiện hiện nay rõ ràng nó không còn nhận được sự ủng hộ từ phía các cán bộ làm công tác thực tiễn pháp luật nữa Người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam, việc đầu tiên xác minh họ có phải là thân phận ngoại giao, người được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hay không được tiến hành như thế nào, mối quan hệ giữa cơ quan cảnh sát của nước ta với cơ quan quản lí người nước ngoài của Việt Nam và của nước ngoài như thế nào chưa có văn bản nào quy định Người nước ngoài là bị đơn dân
sự trong vụ án hình sự đang do cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam giải quyết thì việc xác định tài sản, kê biên tài sản của
họ được tiến hành ra sao cũng chưa có văn bản nào giải quyết
Có thể nói, cho tới khi Nhà nước thông qua Bộ luật hình sự năm 1985 và sau đó là
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 mới có hai quy định liên quan tới người nước ngoài phạm tội ở Việt Nam được quy định tại văn bản pháp luật có tính hệ thống và tính chuyên ngành Khoản 2 Điều 5 Bộ luật
hình sự quy định: “Đối với người nước
ngoài ph ạm tội trên lãnh thổ nước
CHXHCN Vi ệt Nam thuộc đối tượng được
h ưởng các đặc quyền ngoại giao hoặc
quy ền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo
pháp lu ật Việt Nam, theo các hiệp định
qu ốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam đã kí
k ết hay cộng nhận theo tục lệ quốc tế thì
v ấn đề trách nhiệm hình sự của họ được
gi ải quyết bằng con đường ngoại giao” và
Trang 3Điều 76 BLTTHS năm 1988 quy định:
“Đối với bị can, bị cáo là người nước
ngoài thì c ơ quan điều tra, viện kiểm sát và
toà án có th ể cho họ đặt tiền bạc, tài sản
có giá tr ị để đảm bảo sự có mặt theo giấy
tri ệu tập Trong trường hợp bị can, bị cáo
v ắng mặt không có lí do chính đáng theo
gi ấy triệu tập của cơ quan điều tra, viện
ki ểm sát, toà án thì số tiền hoặc tài sản đó
s ẽ bị sung quỹ Nhà nước”
Cho tới thời điểm này, Nhà nước ta đã
kí kết hiệp định tương trợ tư pháp với trên
dưới 20 quốc gia trong đó có những nội
dung tương trợ tư pháp về các vấn đề hình
sự và tố tụng hình sự Các hiệp định tương
trợ tư pháp nêu trên đã có vai trò rất quan
trọng điều chỉnh các quan hệ xã hội phát
sinh trong quá trình giải quyết các vụ án
hình sự có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên,
với trên dưới 20 hiệp định tương trợ tư
pháp đó cũng không thể đủ để làm căn cứ
pháp lí cho hoạt động khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành các vụ án hình
sự liên quan đến người Việt Nam phạm tội
ở nước ngoài và người nước ngoài phạm
tội ở Việt Nam Kế thừa những kinh
nghiệm trong quá trình thực hiện các hiệp
định tương trợ tư pháp, các điều ước quốc
tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia về
lĩnh vực hình sự và tố tụng hình sự, Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2003 đã dành
Phần thứ tám với hai chương quy định về
hợp tác quốc tế giữa Việt Nam với các
quốc gia khác trên thế giới trong hoạt
động tố tụng hình sự
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng
hình sự là hoạt động phức tạp, được tiến hành bởi nhiều cơ quan, nhiều người khác nhau và diễn ra trong khoảng thời gian dài
ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau Vì vậy, nó phải tuân theo các nguyên tắc nhất định phù hợp với tập quán quốc tế nhưng không mâu thuẫn với lợi ích của từng quốc gia tham gia vào quá trình hợp tác Xuất phát từ những tư tưởng nêu trên, Điều 340 BLTTHS năm 2003 quy định các nguyên tắc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự,
đó là các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; bình đẳng và cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam
và các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế Theo Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 24/10/1970 về nguyên tắc
cơ bản của luật quốc tế thì có bảy nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ và nền độc lập chính trị của nước khác nhằm mục đích trái với các quy định của Hiến chương Liên hợp quốc;
- Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các phương pháp hoà bình;
- Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác;
- Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau;
- Nguyên tắc các dân tộc có quyền bình đẳng và tự quyết;
- Nguyên tắc các quốc gia bình đẳng về chủ quyền;
Trang 4- Nguyên tắc tôn trọng các cam kết
quốc tế (Pact Sunt Servanda)
Ngoài các nguyên tắc nêu trên, hợp tác
quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự còn
phải tuân theo các quy định về đường lối
đối ngoại của Nhà nước CHXHCN Việt
Nam được ghi nhận trong Điều 14 Hiến
pháp 1992 với nội dung: “Nước Cộng hoà
xã h ội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính
sách hoà bình, h ữu nghị, mở rộng giao lưu
và h ợp tác quốc tế với tất cả các nước trên
th ế giới, không phân biệt chế độ chính trị xã
h ội khác nhau, trên cơ sở độc lập, chủ
quy ền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không
can thi ệp vào công việc nội bộ của nhau,
bình đẳng và các bên cùng có lợi; tăng
c ường tình đoàn kết, hữu nghị và quan hệ
h ợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và
các n ước láng giềng, tích cực ủng hộ và
góp ph ần vào cuộc đấu tranh chung của
nhân dân th ế giới vì hoà bình, độc lập dân
t ộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” Trong thực
tế, có không ít trường hợp khi giải quyết
các vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài liên
quan tới quốc gia mà nước ta chưa có hiệp
định song phương hoặc nước ta hay quốc
gia đó chưa tham gia hoặc kí kết các điều
ước quốc tế Theo quy định của Điều 340
BLTTHS năm 2003 thì trong trường hợp
này việc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình
sự được thực hiện trên nguyên tắc có đi có
lại, không trái với pháp luật của nước ta,
pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế
Xuất phát từ các nguyên tắc của pháp
luật quốc tế và các nguyên tắc hợp tác
quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình sự được
quy định tại Điều 340 BLTTHS năm 2003, các yêu cầu tương trợ tư pháp của cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng nước ngoài đối với các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng của nước CHXHCN Việt Nam hoặc yêu cầu tương trợ tư pháp của
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng của nước CHXHCN Việt Nam với các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng của nước ngoài phải phù hợp với với các điều ước quốc tế mà các bên kí kết hoặc gia nhập và pháp luật của quốc gia tương ứng Yêu cầu tương trợ tư pháp không phù hợp với các điều ước quốc tế là những yêu cầu bên kia phải thực hiện những việc làm trái với các quy định của pháp luật quốc tế hoặc pháp luật quốc gia gây thiệt hại cho bên thực hiện yêu cầu hoặc gây thiệt hại cho bên thứ ba Trong trường hợp này, bên được yêu cầu tương trợ tư pháp có quyền
từ chối thực hiện các yêu cầu của bên kia Tuân theo các quy định của pháp luật quốc
tế, Hiến pháp và pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam, Điều 342 BLTTHS năm 2003 của nước ta quy định cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng của nước ta
có thể từ chối thực hiện yêu cầu tương trợ
tư pháp trong hoạt động tố tụng của bất kì
cơ quan tiến hành tố tụng thuộc quốc gia nào khi yêu cầu tương trợ tư pháp không phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước
ta kí kết hoặc gia nhập và pháp luật của nước ta hoặc yêu cầu tương trợ tư pháp gây phương hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia, lợi ích quan trọng khác của nước ta hoặc nước khác
Trang 5Từ chối thực hiện yêu cầu tương trợ tư
pháp là việc cơ quan được yêu cầu tương
trợ tư pháp không thực hiện một hành vi,
hoạt động tố tụng mà cơ quan tiến hành tố
tụng của nước khác yêu cầu Việc từ chối
thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp được
thể hiện bằng văn bản trong đó nêu rõ lí
do của việc từ chối thực hiện yêu cầu
tương trợ tư pháp Văn bản từ chối thực
hiện yêu cầu tương trợ tư pháp được gửi
cho cơ quan đã yêu cầu ngay sau khi cơ
quan được yêu cầu có quyết định từ chối
thực hiện tương trợ tư pháp
Dẫn độ là một trong những hình thức
hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tố tụng hình
sự giữa các quốc gia Dẫn độ có hai mục
đích: Để truy cứu trách nhiệm hình sự và
để thi hành án Dẫn độ là việc cơ quan tiến
hành tố tụng của quốc gia được yêu cầu
dẫn độ, bắt giữ người phạm tội hoặc người
đã bị kết án bởi bản án có hiệu lực pháp
luật của quốc gia yêu cầu dẫn độ giao cho
các cơ quan tiến hành tố tụng của quốc gia
yêu cầu dẫn độ để truy cứu trách nhiệm
hình sự hoặc thi hành án Vấn đề dẫn độ để
truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành
án được quy định tại Điều 343 BLTTHS
năm 2003
Khi thực hiện hợp tác quốc tế trong
việc dẫn độ người phạm tội, các cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng của nước
CHXHCN Việt Nam có thể yêu cầu dẫn độ
hoặc thực hiện việc dẫn độ trên cơ sở yêu
cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng của nước ngoài Việc thực hiện yêu
cầu dẫn độ hoặc thực hiện việc dẫn độ phải
căn cứ vào các quy định của các điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam kí kết hoặc gia nhập hoặc theo nguyên tắc có
đi có lại và cùng có lợi cho các bên tham gia vào quá trình hợp tác quốc tế trong các hoạt động tố tụng hình sự
Điều 6 Bộ luật hình sự năm 1999 quy
định: "1 Công dân Việt Nam phạm tội ở
ngoài lãnh th ổ nước CHXHCN Việt Nam
có th ể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại
Vi ệt Nam theo Bộ luật này
Quy định này cũng được áp dụng với
ng ười không quốc tịch thường trú ở nước
2 Ng ười nước ngoài phạm tội ở ngoài
lãnh th ổ nước CHXHCN Việt Nam có thể
b ị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ
lu ật hình sự Việt Nam trong những trường
h ợp được quy định trong các điều ước
qu ốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam kí kết
ho ặc tham gia"
Từ quy định trên đây của Bộ luật hình
sự năm 1999, có thể rút ra mấy điểm cần chú ý có liên quan tới hoạt động tương trợ
tư pháp sau đây:
+ Người Việt Nam phạm tội ở nước ngoài có thể bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo luật tố tụng hình sự Việt Nam; điều này cũng được áp dụng đối với người không có quốc tịch thường trú ở nước CHXHCN Việt Nam;
+ Người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ của nước CHXHCN Việt Nam nếu không được miễn trừ về ngoại giao hoặc miễn trừ về lãnh sự thì bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo luật tố tụng hình sự
Trang 6Việt Nam; điều này cũng được áp dụng với
người nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh
thổ Việt Nam trong những trường hợp
được quy định trong các điều ước quốc tế
mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia
Theo quy định của BLHS nước ta,
người Việt Nam phạm tội ở nước ngoài có
thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt
Nam và người nước ngoài phạm tội ở Việt
Nam hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể
bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo BLHS
Việt Nam Trong khi đó, pháp luật hình sự
của rất nhiều nước trên thế giới cũng quy
định tương tự như cách quy định của luật
hình sự nước ta và như vậy đã dẫn tới tình
huống sau:
- Người Việt Nam phạm tội ở nước
ngoài vừa có thể bị khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử theo các quy định của BLTTHS
Việt Nam lại vừa có thể bị truy cứu trách
nhiệm hình sự theo luật hình sự của nước
sở tại thì có thể bị dẫn độ về Việt Nam để
truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật hình
sự Việt Nam;
- Người nước ngoài phạm tội trên lãnh
thổ Việt Nam cùng một lúc có thể bị truy
cứu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự
Việt Nam hoặc luật hình sự quốc gia mà
người phạm tội mang quốc tịch thì có thể
bị dẫn độ về nước mà người đó mang quốc
tịch để truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Nếu người Việt Nam thực hiện ở
nước ngoài một hành vi nguy hiểm cho xã
hội mà cả luật hình sự Việt Nam và nước
ngoài đều coi đó là tội phạm mà gây
phương hại cho nước ngoài hoặc công dân
nước đó thì người Việt Nam phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật hình
sự của quốc gia đó và cũng có thể bị dẫn
độ về Việt Nam để truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam;
- Nếu người Việt Nam thực hiện ở nước ngoài hành vi nguy hiểm cho xã hội
mà cả luật hình sự Việt Nam và nước ngoài đều coi đó là tội phạm mà gây phương hại cho Nhà nước Việt Nam hoặc xâm hại tới công dân Việt Nam thì người Việt Nam phạm tội phải bị dẫn độ về Việt Nam để truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật hình
sự Việt Nam;
- Nếu người Việt Nam thực hiện ở nước ngoài hành vi nguy hiểm cho xã hội
mà luật hình sự Việt Nam coi là tội phạm còn luật hình sự nước ngoài không coi là tội phạm thì người đó phải bị dẫn độ về Việt Nam để truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam;
- Nếu người Việt Nam thực hiện ở nước ngoài hành vi nguy hiểm cho xã hội
mà luật hình sự Việt Nam không coi là tội phạm nhưng luật hình sự nước ngoài lại coi là tội phạm thì người đó phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật của nước sở tại và không được dẫn độ về Việt Nam;
- Nếu người Việt Nam thực hiện ở nước ngoài hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại tới lợi ích của quốc gia thứ ba hoặc công dân của nước đó trong khi luật hình sự của Việt Nam và luật hình sự của nước sở tại không coi là tội phạm thì cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam
Trang 7không có quyền yêu cầu nước sở tại dẫn độ
người đó sang nước thứ ba cũng như nước
thứ ba không có quyền yêu cầu các cơ
quan tiến hành tố tụng Việt Nam thực hiện
dẫn độ;
- Nếu người Việt Nam thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội ở Việt Nam mà
cả luật hình sự Việt Nam và luật hình sự
nước ngoài đều coi là tội phạm xâm hại
đến lợi ích của nước ngoài thì người đó bị
truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp
luật hình sự Việt Nam Trong trường hợp
này cơ quan tiến hành tố tụng của nước
ngoài không có quyền yêu cầu cơ quan
tiến hành tố tụng của Việt Nam dẫn độ
người đó ra nước ngoài;
- Nếu người Việt Nam thực hiện ở Việt
Nam hành vi xâm hại tới lợi ích của nước
ngoài mà luật hình sự nước ngoài coi đó là
tội phạm nhưng luật hình sự Việt Nam
không coi đó là tội phạm thì người đó
không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự
và cũng không thể bị dẫn độ
Người nước ngoài có thể bị dẫn độ về
nước để truy cứu trách nhiệm hình sự trong
các trường hợp sau:
- Nếu người nước ngoài thực hiện ở
Việt Nam một hành vi nguy hiểm cho xã
hội mà cả luật hình sự Việt Nam và luật
hình sự nước ngoài đều coi đó là tội
phạm thì người đó có thể bị dẫn độ về
nước nếu cơ quan tiến hành tố tụng của
nước đó yêu cầu;
- Nếu người nước ngoài thực hiện ở
Việt Nam một hành vi nguy hiểm cho xã
hội mà luật hình sự Việt Nam coi là tội
phạm và luật hình sự nước ngoài không coi
là tội phạm thì người đó vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật Việt Nam và không được dẫn độ về nước nếu giữa hai quốc gia không có thoả thuận khác;
- Nếu người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam một hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự Việt Nam không coi là tội phạm trong khi luật hình sự của nước ngoài mà người đó mang quốc tịch lại coi
là tội phạm thì người đó bị dẫn độ về nước
để truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự của nước đó nếu cơ quan tiến hành
tố tụng của nước đó yêu cầu;
- Người nước ngoài thực hiện ở Việt Nam một hành vi xâm phạm tới lợi ích của quốc gia thứ ba nhưng nếu luật hình sự của Việt Nam và luật hình sự của quốc gia mà người đó mang quốc tịch không coi là tội phạm thì người đó và cũng không thể bị dẫn độ;
- Nếu người nước ngoài thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội ở Việt Nam
mà cả luật hình sự Việt Nam và luật hình
sự của nước ngoài đều coi đó là tội phạm nhưng gây thiệt hại cho nước ngoài hoặc xâm hại tới công dân của nước đó thì có thể bị dẫn độ về nước để truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật của nước đó;
- Nếu người nước ngoài thực hiện ở nước ngoài một hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự Việt Nam và luật hình
sự nước ngoài đều coi đó là tội phạm nhưng xâm hại tới lợi ích của Nhà nước Việt Nam hoặc công dân Việt Nam thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự
Trang 8theo luật hình sự nước ngoài hoặc bị truy
cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật
hình sự Việt Nam và nếu có sự thoả thuận
giữa hai quốc gia thì người đó có thể bị
dẫn độ về Việt Nam để truy cứu trách
nhiệm hình sự;
- Nếu người nước ngoài thực hiện ở
nước ngoài một hành vi xâm hại tới lợi ích
của Nhà nước hoặc công dân Việt Nam mà
luật hình sự Việt Nam coi là tội phạm
nhưng luật hình sự nước ngoài không coi
là tội phạm thì người đó chỉ có thể bị dẫn
độ về Việt Nam để truy cứu trách nhiệm
hình sự theo luật hình sự Việt Nam nếu hai
quốc gia có thoả thuận
Hiện nay, ở nước ta đã có hai văn bản
liên quan đến việc thi hành bản án hoặc
quyết định dân sự của toà án nước ngoài và
quyết định của trọng tài nước ngoài tại
Việt Nam Đó là Pháp lệnh công nhận và
thi hành tại Việt Nam bản án và quyết định
dân sự của toà án nước ngoài ngày
17/4/1994 và Pháp lệnh công nhận và thi
hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài
nước ngoài ngày 14/9/1995 Vấn đề thi
hành các bản án hình sự của toà án nước
ngoài tại Việt Nam hoặc của Việt Nam tại
nước ngoài mới chỉ được quy định trong
một số hiệp định tương trợ tư pháp giữa
nước ta với nước ngoài Căn cứ vào các
quy định trong các hiệp định tương trợ tư
pháp đó và các quy định trong các điều ước
quốc tế mà Việt Nam đã kí kết hoặc gia
nhập, các cơ quan tiến hành tố tụng của
Việt Nam và các cơ quan tiến hành tố tụng
của nước ngoài tiến hành việc dẫn độ
người Việt Nam hoặc người nước ngoài để thực hiện các bản án đó
Trong các hiệp định tương trợ tư pháp giữa nước ta với nước ngoài, vấn đề tương trợ tư pháp về dẫn độ thường được quy định thành chương riêng bao gồm các nội dung trách nhiệm dẫn độ, đơn (công văn) yêu cầu dẫn độ, bắt giữ để dẫn độ Các quy định trên đây trong các hiệp định tương trợ tư pháp về cơ bản tương đối giống nhau Trách nhiệm dẫn độ được quy định: Chiếu theo yêu cầu của nhau, các nước kí kết có trách nhiệm căn cứ vào các điều kiện đã được hiệp định tương trợ tư pháp quy định, dẫn độ những can phạm đang có mặt trên lãnh thổ của mình cho nước kí kết kia để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc để thi hành án Chỉ dẫn độ những người đã có những hành vi mà theo pháp luật của cả hai nước kí kết là tội phạm bị phạt tù từ 01 năm trở lên Văn bản yêu cầu dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự phải kèm theo lệnh bắt giữ, bản mô
tả các tình tiết thực tế về tội trạng và bản ghi nhận các chứng cứ về tội phạm, điều luật dùng làm căn cứ yêu cầu dẫn độ và trong trường hợp tội phạm đã gây thiệt hại
về vật chất thì trong công văn yêu cầu dẫn
độ phải ghi rõ mức thiệt hại Văn bản yêu cầu dẫn độ để thi hành án phải kèm theo bản án đã có hiệu lực pháp luật và điều luật của bộ luật hình sự là căn cứ để kết án Nếu người bị kết án đã thi hành một phần hình phạt thì trong văn bản bên yêu cầu dẫn độ phải thông báo cho bên được yêu cầu dẫn độ biết về việc này Trong phạm vi
Trang 9có thể, văn bản yêu cầu dẫn độ sẽ kèm theo
một bản nhận dạng, một ảnh căn cước của
người bị dẫn độ và những thông tin liên
quan đến quốc tịch và nơi cư trú của người
đó nếu những thông tin này chưa được ghi
trong lệnh bắt giữ hoặc trong bản án Nếu
văn bản yêu cầu dẫn độ chưa đủ những nội
dung cần thiết thì các cơ quan tiến hành tố
tụng của quốc gia được yêu cầu dẫn độ có
thể đề nghị các cơ quan tiến hành tố tụng
tương ứng của quốc gia yêu cầu dẫn độ bổ
sung trong thời hạn nhất định
Khi nhận được văn bản yêu cầu dẫn độ
phù hợp với các quy định của hiệp định
tương trợ tư pháp, quốc gia được yêu cầu
dẫn độ phải tiến hành ngay những biện pháp
cần thiết theo pháp luật của nước mình để
bắt giữ người được yêu cầu dân độ Theo đề
nghị của quốc gia yêu cầu dẫn độ, quốc gia
được yêu cầu có thể bắt giữ ngay người bị
yêu cầu dẫn độ trước khi nhận được văn bản
yêu cầu dẫn độ Trong trường hợp này, cơ
quan tiến hành tố tụng của quốc gia đã yêu
cầu dẫn độ phải sao lệnh bắt giữ hoặc bản án
đã có hiệu lực pháp luật cho cơ quan tiến
hành tố tụng của quốc gia được yêu cầu dẫn
độ và sẽ báo trước rằng văn bản yêu cầu dẫn
độ sẽ được gửi ngay cho bên được yêu cầu
Cơ quan có thẩm quyền của mỗi nước kí kết
hiệp định tương trợ tư pháp có thể bắt giữ
tạm thời một người đang cư trú trên lãnh thổ
nước mình nếu được thông báo là người đó
đã phạm tội trên lãnh thổ nước kia thuộc
trường hợp phải dẫn độ mặc dù chưa có công
văn yêu cầu dẫn độ Việc bắt giữ người trong
những trường hợp nói trên phải được thông
báo ngay cho các cơ quan tiến hành tố tụng của quốc gia yêu cầu dẫn độ biết Nếu trong thời hạn do hai bên thoả thuận, bên được yêu cầu dẫn độ không nhận được văn bản yêu cầu dẫn độ của bên kia thì cơ quan đã bắt người phải trả tự do cho người bị bắt đồng thời thông báo cho bên kia biết
Từ chối dẫn độ là việc cơ quan tiến hành
tố tụng của quốc gia được yêu cầu dẫn độ không thực hiện dẫn độ khi có những lí do không thể thực hiện sự dẫn độ đó Điều luật quy định bốn trường hợp từ chối dẫn độ (khoản 1) và hai trường hợp có thể bị từ chối dẫn độ (khoản 2)
Cơ quan tiến hành tố tụng của nước CHXHCN Việt Nam từ chối dẫn độ công dân nước mình cho cơ quan tiến hành tố tụng của nước ngoài để tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án Quy định này khẳng định chủ quyền, độc lập của nước CHXHCN Việt Nam đối với việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội và thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đối với người đó Quy định này vừa phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam đã kí kết hoặc gia nhập vừa phù hợp với pháp luật của nước ta Khoản 1 Điều 5 BLHS năm 1999 quy định:
"Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi
hành vi ph ạm tội thực hiện trên lãnh thổ
n ước CHXHCN Việt Nam"; khoản 1 Điều 6 BLHS năm 1999 quy định: "Công dân Việt
Nam ph ạm tội ở ngoài lãnh thổ nước
CHXHCN Vi ệt Nam có thể bị truy cứu trách
nhi ệm hình sự tại Việt Nam theo Bộ luật
này " Quy định này cũng được áp dụng đối
Trang 10v ới người không quốc tịch thường trú tại
n ước CHXHCN Việt Nam" Từ các quy định
trên đây thấy rằng nếu công dân Việt Nam
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trên
lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam mà luật
hình sự Việt Nam coi là tội phạm thì đương
nhiên người này phải bị truy cứu trách nhiệm
hình sự theo luật hình sự Việt Nam bởi các
cơ quan tiến hành tố tụng hình sự của Việt
Nam Trong trường hợp hành vi nguy hiểm
cho xã hội đó xâm hại tới lợi ích của nước
ngoài hoặc công dân nước ngoài, người thực
hiện hành vi đó vẫn bị truy cứu trách nhiệm
hình sự ở Việt Nam và theo luật hình sự Việt
Nam vì quyền và lợi ích hợp pháp của nước
ngoài hoặc công dân nước ngoài đều là đối
tượng bảo vệ của luật hình sự Việt Nam
Trước đây, trong Bộ luật hình sự năm 1985
đã có một số điều luật thể hiện chính sách
hình sự của Nhà nước ta đối với trường hợp
tương tự Thí dụ, Điều 86 BLHS năm 1985
với tên gọi: "Các tội chống nhà nước xã hội
chủ nghĩa anh em" quy định: "Người nào có
nh ững hành vi quy định ở các Điều từ 72 đến
85 (bao g ồm các tội đặc biệt nguy hiểm xâm
ph ạm an ninh quốc gia) nhằm chống một
nhà n ước xã hội chủ nghĩa anh em, thì bị xử
ph ạt theo các điều tương ứng"; Điều 141 Bộ
luật hình sự 1985 với tên gọi "Các tội xâm
phạm tài sản của nhà nước khác hoặc các tổ
chức quốc tế" quy định: "Người nào xâm
ph ạm tài sản của các nhà nước khác hoặc
c ủa các tổ chức quốc tế thì bị xử phạt theo
nh ững điều tương ứng trong Chương này"
Trong BLHS năm 1999 của nước ta không
còn các điều luật tương ứng nêu trên Tuy
nhiên, điều đó không có nghĩa là hiện nay quyền và lợi ích hợp pháp của nước ngoài, người nước ngoài không được bảo vệ bằng luật hình sự của Việt Nam Cho tới thời điểm này, Nhà nước ta đã kí kết hoặc gia nhập hầu hết các điều ước quốc tế liên quan đến tư pháp hình sự đồng thời kí nhiều hiệp định song phương về hình sự cũng như các hiệp định tương trợ tư pháp với các quốc gia trên thế giới nên trong Bộ luật hình sự không cần thiết có những điều luật khẳng định đối tượng bảo vệ của luật hình sự là quyền và lợi ích của nước ngoài và công dân nước ngoài
Vì vậy, khi công dân Việt Nam thực hiện tội phạm xâm phạm tới lợi ích của nước ngoài hoặc công dân của nước ngoài không thể bị dẫn độ ra nước ngoài Nếu cơ quan tiến hành
tố tụng của một nước ngoài nào đó yêu cầu
cơ quan tiến hành tố tụng của nước ta dẫn độ công dân Việt Nam thì cơ quan tiến hành tố tụng của nước ta không thực hiện yêu cầu dẫn độ đó
Nếu một công dân nước ngoài hoặc một người không có quốc tịch đang tạm trú hay thường trú trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam mà theo pháp luật nước CHXHCN Việt Nam họ không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì họ không phải là đối tượng
bị dẫn độ Thí dụ, người chưa đến tuổi chịu
trách nhiệm hình sự, người không thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người không
có năng lực trách nhiệm hình sự, đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, người có thân phận ngoại giao mà hành vi của họ không được xử lí bằng biện pháp hình sự mà bằng con đường ngoại giao, những người