1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Tư cách chủ thể của cá nhân khi tham gia giao dịch dân sự " pot

4 635 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 107,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, để đảm bảo sự ổn định và trật tự trong quá trình thiết lập và thực hiện các giao dịch, hướng tới việc bảo vệ lợi ích cho các chủ thể tham gia cũng như lợi ích chung của toàn x

Trang 1

T¹p chÝ luËt häc sè 2/2004 55

ể đáp ứng các nhu cầu trong đời sống,

mỗi cá nhân phải thông qua các giao

dịch dân sự Giao dịch dân sự nói chung và

hợp đồng dân sự nói riêng là “phương tiện”

không thể thiếu được của mọi chủ thể

Tuy nhiên, để đảm bảo sự ổn định và trật

tự trong quá trình thiết lập và thực hiện các

giao dịch, hướng tới việc bảo vệ lợi ích cho

các chủ thể tham gia cũng như lợi ích chung

của toàn xã hội, Bộ luật dân sự (BLDS) của

nước ta quy định về năng lực tham gia giao

dịch của các chủ thể Người tham gia giao dịch

dân sự phải có đủ năng lực chủ thể

Năng lực chủ thể được tạo thành bởi hai

thành tố, đó là năng lực pháp luật và năng lực

hành vi Trong đó, năng lực pháp luật là quyền

xử sự của chủ thể được luật ghi nhận và cho

phép thực hiện Năng lực hành vi là khả năng

tự có của chủ thể trong việc thực hiện, kiểm

soát và làm chủ hành vi của mình

Chủ thể tham gia giao dịch dân sự bao gồm

nhiều loại như cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác,

hộ gia đình Mặt khác, thuật ngữ “cá nhân”

bao gồm cả công dân Việt Nam và người nước

ngoài Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ

bàn về năng lực chủ thể của cá nhân là công

dân Việt Nam nhằm xác định rõ khi cá nhân

tham gia giao dịch dân sự thì trường hợp nào

được coi là có đủ năng lực chủ thể, trường hợp

nào là chưa đủ năng lực chủ thể

Như trên đã đề cập, cá nhân khi tham gia

giao dịch chỉ được coi là có đủ năng lực chủ

thể khi họ có năng lực pháp luật dân sự và

năng lực hành vi dân sự Điều 16 BLDS đã ghi nhận năng lực pháp luật dân sự của cá nhân như sau:

“1 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân

sự và có nghĩa vụ dân sự

2 Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau

3 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân

có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết”

Như vậy, có thể hiểu năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là phạm vi các quyền mà bằng pháp luật Nhà nước đã ghi nhận cho công dân của mình Theo quy định tại Điều 18 BLDS thì năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định Vì thế, mọi cá nhân đều được coi là có đủ năng lực pháp luật dân sự khi tham gia giao dịch, ngoại trừ những trường hợp cá nhân đó đã bị pháp luật hạn chế một quyền nào đó vốn là mục đích của giao dịch

mà cá nhân đó tham gia

Từ trên, có thể thấy rằng chỉ cần xem xét đến yếu tố năng lực hành vi dân sự của cá nhân là có thể xác định được tư cách chủ thể của họ khi họ tham gia giao dịch dân sự Theo nguyên tắc, cá nhân muốn tham gia giao dịch dân sự phải có đủ khả năng để tự mình thiết lập và thực hiện giao dịch đó Tuy

Đ

* Giảng viên chính Khoa luật dân sự Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

56 T¹p chÝ luËt häc sè 2/2004

nhiên, như thế nào thì được coi là “có đủ khả

năng”? Mặt khác, thực tế cho thấy có nhiều

trường hợp cá nhân rất cần thông qua một giao

dịch để thực hiện việc trao đổi lợi ích vật chất

nhằm đáp ứng cho nhu cầu chính đáng của

mình nhưng họ lại chưa đủ khả năng để thiết

lập và thực hiện giao dịch đó Trong những

trường hợp này, bằng cách nào để có thể vẫn

đáp ứng được nhu cầu của họ nhưng đồng thời

vẫn có thể đảm bảo được tính ổn định của giao

dịch để bảo vệ lợi ích chính đáng cho mọi chủ

thể cũng như lợi ích chung của toàn xã hội?

Để giải quyết những vấn đề đã nêu trên,

chúng tôi xin đi vào hai vấn đề cụ thể sau đây:

1 Tổng quan về năng lực hành vi dân

sự của cá nhân

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân đã

được BLDS định nghĩa tại Điều 19 như sau:

“Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là

khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình

xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”

Về phương diện ngôn ngữ thì "năng lực"

là điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để

thực hiện một hoạt động nào đó, "hành vi" là

cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người

trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định Vì thế,

ở phương diện này, năng lực hành vi là khả

năng thực hiện xử sự và kiểm soát, làm chủ

các xử sự đó của cá nhân

Về phương diện tâm, sinh lí của con

người, bình thường có hai yếu tố: Lí trí và

mong muốn chủ quan Trong đó, lí trí là khả

năng nhận thức sự vật bằng suy luận, biểu hiện

mức độ khả năng làm chủ các xử sự của mình,

mong muốn chủ quan là sự theo đuổi một mục

đích nhất định nhưng thiên về cảm giác, tình

cảm chủ quan của bản thân Nếu một người

thực hiện một hành vi chỉ đơn thuần bằng cảm giác, tình cảm mà không có khả năng nhận thức về hành vi đó bằng suy luận, nghĩa là người đó không đủ khả năng làm chủ, kiểm soát hành vi của mình Trong trường hợp này

họ là người không có (hoặc không đủ) năng lực hành vi Vì thế, ở phương diện này thì năng lực hành vi dân sự của cá nhân là sự phù hợp giữa lí trí với mong muốn chủ quan của cá nhân đó Năng lực hành vi dân sự của cá nhân được xem xét ở phương diện này là cơ sở lí luận cũng như khoa học để xác định các mức

độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân Dựa vào mức độ phù hợp giữa hai yếu tố trên, chúng ta thấy rằng khi nào một cá nhân

đã đạt được sự phù hợp hoàn hảo giữa lí trí với mong muốn chủ quan sẽ được coi là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Họ là người

có đủ nhận thức bằng suy luận để kiểm soát và làm chủ được tất cả các xử sự của mình Nếu một cá nhân dù có lí trí nhưng chưa đạt được

độ phù hợp hoàn hảo giữa hai yếu tố trên thì

họ được coi là người có năng lực hành vi nhưng chưa đầy đủ Họ là những người có thể bằng nhận thức suy luận để làm chủ, kiểm soát được hành vi này nhưng chưa đủ nhận thức suy luận để có thể làm chủ, kiểm soát các hành

vi khác Nếu một cá nhân không có (hoặc mất) khả năng nhận thức bằng suy luận thì họ sẽ bị coi là người không có năng lực hành vi dân sự

Họ là những người không thể bằng nhận thức suy luận để có thể làm chủ, kiểm soát được bất

kì một hành vi nào của mình

Từ những phương diện trên, có thể đi đến định nghĩa mang tính tổng quan nhất về năng lực hành vi dân sự của cá nhân như sau: Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của

Trang 3

T¹p chÝ luËt häc sè 2/2004 57

cá nhân thực hiện các hành vi dân sự và khả

năng nhận thức bằng suy luận của cá nhân

trong việc làm chủ, kiểm soát các hành vi dân

sự đó

2 Các mức độ năng lực hành vi và năng

lực tham gia giao dịch dân sự của cá nhân

Có thể nói rằng khi ban hành BLDS, các

nhà làm luật đã căn cứ vào các phương diện

trên để xác định và ghi nhận các mức độ năng

lực hành vi dân sự của cá nhân BLDS căn cứ

vào độ trưởng thành về thể chất và nhận thức

của cá nhân để xác định cá nhân ở độ tuổi nào,

nhận thức ra sao thì được thừa nhận là có năng

lực hành vi ở mức độ tương ứng Theo quy

định tại các Điều 20, 21, 22, 23, 24, 25 của

BLDS chúng ta thấy rằng pháp luật đã thừa

nhận năng lực hành vi dân sự của cá nhân theo

các mức độ khác nhau Trong mỗi mức độ đó,

các cá nhân có quyền tham gia các giao dịch

dân sự với một phạm vi tương ứng

- Cá nhân có năng lực hành vi đầy đủ

Về mức độ này, Điều 21 BLDS quy định:

Người thành niên có năng lực hành vi dân sự

đầy đủ, trừ trường hợp có quy định tại Điều 24

và Điều 25 của Bộ luật này Chúng tôi cho

rằng điều luật trên cần phải được sửa đổi lại

cho phù hợp hơn bởi trong thực tế có nhiều cá

nhân đã tròn mười tám tuổi (đã thành niên)

nhưng vì bệnh tật nên họ không có khả năng

nhận thức từ nhỏ, thậm chí, khi vừa sinh ra

Nếu theo quy định trên thì vô hình trung vẫn

phải thừa nhận là họ có khả năng để tham gia

giao dịch khi họ chưa bị toà án ra quyết định

tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự? Vì thế

cần phải xác định rằng cá nhân chỉ được coi là

có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nếu họ là

người từ đủ mười tám tuổi trở lên và có sự

phát triển bình thường về nhận thức Các cá nhân được thừa nhận là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ sẽ được coi là có đủ năng lực để

tự tham gia mọi giao dịch dân sự

- Cá nhân có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ

Bao gồm các cá nhân từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi, có sự phát triển bình thường về nhận thức Ở lứa tuổi này, họ là những người đã có nhận thức lí trí nhưng chưa

đủ để có thể làm chủ, kiểm soát mọi hành vi của mình Họ có thể nhận thức hành vi này nếu hành vi đó có tính chất và mức độ đơn giản nhưng lại không thể nhận thức được các hành vi khác nếu hành vi đó có tính chất và mức độ phức tạp Vì thế luật chỉ thừa nhận họ

có tư cách chủ thể để xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nào nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của họ và có sự phù hợp giữa giao dịch đó với nhận thức lứa tuổi của họ Mặt khác, để đảm bảo nhu cầu chính đáng của các cá nhân ở mức độ năng lực hành

vi này, luật còn cho phép họ xác lập các giao địch khác nếu có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật hoặc tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự nếu họ có đủ tài sản riêng

để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ (Điều 22 BLDS) Chúng tôi cho rằng để tránh tình trạng lợi dụng sự hạn chế về nhận thức đối với người trong độ tuổi này của những người phía bên kia giao dịch cũng như để đảm bảo tính ổn định của hợp đồng dân sự nói riêng và giao dịch dân sự nói chung, điều luật trên cần phải sửa đổi theo hướng: Trừ những giao dịch có tính chất phù hợp với nhận thức của lứa tuổi,

cá nhân trong độ tuổi này muốn thông qua giao dịch để đáp ứng nhu cầu nào đó thì phải

Trang 4

58 T¹p chÝ luËt häc sè 2/2004

do người đại diện theo pháp luật của họ xác

lập và thực hiện thay

- Cá nhân chưa có năng lực hành vi dân sự

BLDS không quy định về mức độ này mà

chỉ quy định về người không có năng lực hành

vi dân sự (Điều 23) Chúng tôi cho rằng Điều

23 xác định cá nhân dưới sáu tuổi là người

không có năng lực hành vi dân sự là chưa chính

xác, không biện chứng Vì thế, chúng tôi mạnh

dạn xác định cá nhân dưới sáu tuổi là người

chưa có năng lực hành vi Chỉ bị coi là không

có năng lực hành vi nếu người dưới sáu tuổi

đồng thời là người bị bệnh tâm thần hoặc các

bệnh khác nên không có khả năng nhận thức

Ngược lại, nếu họ là người có sự phát triển

bình thường về nhận thức thì cần xác định họ

là người chưa có năng lực hành vi Tuy nhiên,

dù xác định ở tình trạng nào đi chăng nữa thì

cá nhân ở độ tuổi này cũng là người không thể

bằng nhận thức suy luận để có thể điều khiển

được bất kì một hành vi nào của mình Vì vậy,

họ là người không có năng lực chủ thể để tham

gia bất kì một giao dịch dân sự nào Các giao

dịch nhằm phục vụ cho nhu cầu của những

người này đều phải do người đại diện theo

pháp luật của họ xác lập và thực hiện

- Cá nhân bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Trước hết, cần phải phân biệt hai cụm từ

“người có năng lực hành vi hạn chế” và

“người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự” là

hoàn toàn khác nhau Nếu như cụm từ “người

có năng lực hành vi hạn chế” nhằm để chỉ

người đã có năng lực hành vi nhưng chưa đầy

đủ (là những người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ

mười tám tuổi, có sự phát triển bình thường về

nhận thức) thì cụm từ “người bị hạn chế năng

lực hành vi dân sự” nhằm để chỉ những người

đã bị toà án ra quyết định tuyên bố là người bị

hạn chế năng lực hành vi dân sự Vì vậy, cần xác định người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự trước hết phải là người đã thành niên,

có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nhưng lại rơi vào tình trạng như Điều 25 của BLDS đã

dự liệu Nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho những người liên quan, pháp luật quy định toà án được quyền tuyên bố hạn chế năng lực hành vi của những người rơi vào tình trạng “nghiện ma tuý hoặc nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình” theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan Kể từ thời điểm quyết định tuyên bố người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự của toà án có hiệu lực pháp luật cho đến khi quyết định đó bị huỷ bỏ thì cá nhân đó không được quyền tự mình xác lập, thực hiện tất cả các giao dịch dân sự Họ chỉ được coi là

có đủ năng lực để tự xác lập, thực hiện những giao dịch nhỏ nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của bản thân họ Họ muốn tham gia các giao dịch khác phải có sự đồng ý

của người đại diện theo pháp luật của họ

- Cá nhân không có năng lực hành vi dân sự

Là những người không thể bằng nhận thức suy luận để có thể làm chủ, kiểm soát được bất

kì hành vi nào của mình Rơi vào tình trạng này bao gồm những người không có khả năng nhận thức từ khi chưa thành niên và những người tuy đã thành niên nhưng bị toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân

sự theo Điều 25 của BLDS Những người này

bị coi là hoàn toàn không có năng lực chủ thể nên họ không được tự mình xác lập, thực hiện bất kì giao dịch dân sự nào Mọi giao dịch dân

sự nhằm đáp ứng cho nhu cầu của họ đều phải

do người đại diện theo pháp luật của họ xác lập và thực hiện./

Ngày đăng: 17/03/2014, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w