1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Khi nào một hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch dân sự " doc

4 3,5K 37
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 91,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói cách khác, trong trường hợp chủ sở hữu tự mình tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu đối với một tài sản thì hành vi đó có được xem là hành vi pháp lí đơn phương không?. Nếu coi đó là hành vi

Trang 1

T¹p chÝ luËt häc sè 2/2004 51

iều 130 BLDS quy định: “Giao dịch

dân sự là hành vi pháp lí đơn phương

hoặc hợp đồng của cá nhân, pháp nhân và

thì giao dịch sự là hành vi pháp lí đơn

phương hoặc hợp đồng Tuy nhiên, mọi

hành vi pháp lí đơn phương có phải là giao

dịch dân sự không thì hiện nay trong khoa

học pháp lí cũng như trong thực tiễn tồn tại

nhiều cách hiểu và nhận thức rất khác

nhau, thậm chí trái ngược nhau Với mục

đích nhằm làm rõ vấn đề đặt ra, trong bài

viết này chúng tôi muốn đưa ra những tiêu

chí để xác định một hành vi pháp lí đơn

phương được coi là giao dịch dân sự

Trước hết, dựa trên sự kiện pháp lí rất

đặc biệt có tính chất viện dẫn để phân tích,

làm rõ vấn đề đặt ra đó là trường hợp chủ

sở hữu tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu đối

với tài sản Việc chấm dứt quyền sở hữu

của một người đối với một tài sản do nhiều

căn cứ khác nhau, một trong số những căn

cứ đó là chủ sở hữu tuyên bố từ bỏ quyền

sở hữu đối với tài sản Điều 257 BLDS quy

định: “Chủ sở hữu có thể tự chấm dứt

quyền sở hữu đối với tài sản của mình

bằng cách tuyên bố công khai hoặc thực

hiện những hành vi chứng tỏ việc mình từ

bỏ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt

tài sản đó”

Nếu kết hợp Điều 257 nói trên với Điều

130 BLDS thì sẽ nảy sinh vấn đề cần thiết phải được làm rõ, từ đó có căn cứ để phân biệt hành vi pháp lí đơn phương là giao dịch dân sự với các hành vi pháp lí đơn phương không phải là giao dịch dân sự Việc chủ sở hữu tự chấm dứt quyền sở hữu của mình đối với tài sản bằng cách tuyên

bố từ bỏ quyền sở hữu là giao dịch dân sự hay không? Nói cách khác, trong trường hợp chủ sở hữu tự mình tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu đối với một tài sản thì hành

vi đó có được xem là hành vi pháp lí đơn phương không? Nếu coi đó là hành vi pháp lí đơn phương thì chủ sở hữu tuyên

bố từ bỏ quyền sở hữu của mình có được xem là giao dịch dân sự không? Nhằm để giải quyết vấn đề được đặt ra ở trên, chúng tôi thấy cần phải làm sáng tỏ những điểm sau đây:

- Là hành vi pháp lí đơn phương theo quy định tại Điều 130 BLDS thì hành vi đó phải nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Trong trường hợp chủ sở hữu tự chấm dứt quyền

sở hữu có phải là giao dịch dân sự không? Vấn đề này trên thực tế có nhiều quan

Đ

* Giảng viên chính Khoa luật dân sự Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

52 T¹p chÝ luËt häc sè 2/2004

điểm khác nhau

Quan điểm thứ nhất: Có, nếu dựa vào

hành vi tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu của

sở hữu chủ cũng là hành vi nhằm làm chấm

dứt quyền sở hữu của chính mình đối với

tài sản thì hành vi pháp lí đơn phương đó

là giao dịch dân sự

Quan điểm thứ hai: Không, nếu dựa

trên cơ sở hành vi tuyên bố từ bỏ quyền sở

hữu của chủ sở hữu đối với tài sản chỉ là

việc chủ sở hữu thực hiện quyền định đoạt

đối với tài sản mà không nhằm làm phát

sinh quyền hay nghĩa vụ dân sự ở chủ thể

khác Do vậy, hành vi của chủ sở hữu

tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản

không phải là giao dịch dân sự

Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ

hai, vì chủ sở hữu tài sản công khai tuyên

bố từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài

sản hoặc thực hiện các hành vi chứng tỏ

việc mình từ bỏ quyền chiếm hữu, sử dụng

và định đoạt tài sản đó là một hành vi đơn

phương nhưng không làm phát sinh bất kì

giao dịch dân sự nào với những cơ sở lập

luận sau đây:

Hành vi pháp lí đơn phương chỉ được

coi là giao dịch dân sự khi hành vi đó thoả

mãn các điều kiện có hiệu lực của giao

dịch được quy định tại Điều 131 BLDS,

đó là:

+ Người tham gia giao dịch có năng lực

hành vi dân sự;

+ Mục đích và nội dung của giao dịch

không trái pháp luật, đạo đức xã hội;

+ Người tham gia giao dịch hoàn toàn

tự nguyện;

+ Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật

Tuy rằng hành vi của chủ sở hữu tuyên

bố từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản của mình là hành vi đơn phương nhưng không làm phát sinh bất kì giao dịch dân sự nào

Về phía người tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản, sau khi người đó tuyên bố công khai hoặc thực hiện các hành vi chứng tỏ mình từ bỏ quyền sở hữu thì quyền sở hữu của người đó chấm dứt đối với tài sản Nếu dựa trên sự tuyên bố

đó thì không thể xác định được quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh đối với chủ thể nào? Người tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản không bị ràng buộc bởi bất

kì ai, với bất kì lí do gì sau khi đã tuyên

bố từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản Trong trường hợp việc từ bỏ tài sản đó có thể gây hại đến trật tự, an toàn xã hội, ô nhiễm môi trường thì việc từ bỏ quyền sở hữu phải tuân theo quy định của pháp luật (đây là một trách nhiệm pháp lí khác) Như vậy, hành vi mà chủ sở hữu tuyên bố

từ bỏ quyền sở hữu đối với một tài sản không phải là giao dịch dân sự

Như vậy, bản chất của quan hệ vật quyền đã bộc lộ ở chính hành vi thực hiện quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu Nội dung của sự định đoạt này do quyền năng của chủ sở hữu tài sản do pháp luật cho phép, không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác Chủ sở hữu thực hiện quyền định đoạt tài sản của mình bằng việc tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu không nhằm mục đích chuyển giao

Trang 3

T¹p chÝ luËt häc sè 2/2004 53

quyền nghĩa vụ đối với tài sản đó sang

người khác Tài sản mà chủ sở hữu tuyên

bố từ bỏ quyền sở hữu là vật vô chủ Theo

khoản 1 Điều 247 BLDS thì: “Vật vô chủ

quyền sở hữu đối với vật vô chủ theo các

điều kiện do pháp luật quy định mà không

phải do vật đó được chuyển giao theo một

giao dịch dân sự

- Việc tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu đối

với tài sản được thể hiện dưới một trong

hai hình thức: Tuyên bố công khai hoặc

thực hiện các hành vi chứng tỏ việc mình

sở hữu tài sản đó Sự tuyên bố công khai

được thể hiện dưới dạng lời nói, thông báo

bằng văn bản nơi công cộng để người

khác hiểu được là chủ sở hữu từ bỏ quyền

sở hữu Chủ sở hữu tài sản thực hiện các

hành vi chứng tỏ việc mình từ bỏ quyền sở

hữu đối với tài sản như chuyển tài sản là

động sản đến địa điểm đổ rác công cộng

hoặc những nơi chứa vật phế thải Tuyên

bố từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản là

việc chủ sở hữu thực hiện quyền định đoạt

tài sản của mình do pháp luật quy định; do

vậy, người tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu tài

sản phải là người có năng lực hành vi dân

sự (Điều 202 BLDS) Điều 257 BLDS chỉ

quy định về cách thức từ bỏ quyền sở hữu

mà không quy định thủ tục từ bỏ quyền sở

hữu Việc tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu đối

với tài sản của chủ sở hữu có hiệu lực khi

thoả mãn các điều kiện sau:

+ Người tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu

phải là chủ sở hữu của tài sản;

+ Người tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu tài sản của mình phải có năng lực hành vi dân sự;

+ Hình thức tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu tài sản có thể bằng cách tuyên bố công khai cho người khác được biết hoặc thực hiện những hành vi chứng tỏ sự từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản; + Người tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản của mình phải bảo vệ trật tự

an toàn xã hội, không gây ô nhiễm môi trường, không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác

Từ cách lập luận trên, việc xác định một hành vi pháp lí đơn phương không được coi

là giao dịch dân sự phải dựa trên các căn cứ

và thoả mãn các điều kiện sau đây:

1 Hành vi pháp lí đơn phương là hành

vi của một chủ thể nhất định được biểu hiện ra bên ngoài dưới hình thức khách quan mà sự biểu lộ đó do ý chí của chủ thể

có hành vi đó quyết định ;

2 Hành vi pháp lí đơn phương đó được thực hiện phù hợp với những quy định của pháp luật, hậu quả của hành vi đó làm chấm dứt một quyền dân sự cụ thể nhưng không trực tiếp làm phát sinh quyền hoặc nghĩa vụ dân sự nào ở người khác;

3 Người có hành vi pháp lí đơn phương không nhằm hưởng một quyền tài sản hay một quyền nhân thân hoặc thực hiện một nghĩa vụ dân sự nào với người khác do hậu quả của hành vi đó mang lại Theo hành vi pháp lí đơn phương của chủ thể, đã không có bất kì một chủ thể nào khác được xác định nhằm vào hành vi

Trang 4

54 T¹p chÝ luËt häc sè 2/2004

đó để hưởng quyền dân sự hoặc để thực

hiện nghĩa vụ dân sự với người đã thực

hiện hành vi pháp lí đơn phương đó hoặc

phải thực hiện một nghĩa vụ dân sự liên

quan đến quyền, lợi ích của bất kì người

thứ ba nào

Tóm lại, một hành vi pháp lí đơn

phương có chứa đựng đủ ba nội dung như

đã đề cập ở trên thì hành vi pháp lí đơn

phương đó không phải là giao dịch dân sự

Ngược lại, một hành vi pháp lí đơn phương

của một chủ thể nhằm làm chấm dứt một

quyền dân sự của mình đồng thời lại nhằm

làm phát sinh quyền dân sự hoặc nghĩa vụ

dân sự ở chủ thể khác mà có mối quan hệ

nhân quả đến hành vi pháp lí đơn phương

đó thì hành vi pháp lí đơn phương này là

giao dịch dân sự

Khi xác định một hành vi pháp lí đơn

phương không phải là giao dịch dân sự cần

phân biệt với trường hợp chấm dứt nghĩa

vụ dân sự do bên có quyền miễn việc thực

hiện nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ trong

quan hệ nghĩa vụ dân sự cụ thể Theo quy

định tại khoản 3 Điều 380 BLDS về các

căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự thì nghĩa

vụ của một người được chấm dứt trong

trường hợp "bên có quyền miễn việc thực

hiện nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ" Việc

bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ

cho bên có nghĩa vụ là hành vi pháp lí đơn

phương và hành vi này là giao dịch dân sự,

bởi vì hành vi đơn phương của bên có

quyền thoả mãn quy định tại Điều 130

BLDS Hành vi của bên có quyền miễn

việc thực hiện nghĩa vụ đối với bên có

nghĩa vụ đã thoả mãn các điều kiện của giao dịch dân sự về chủ thể, về sự thể hiện

ý chí, về đối tượng của nghĩa vụ Việc bên

có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho bên kia trong quan hệ nghĩa vụ dân sự cụ thể là hành vi đơn phương làm chấm dứt nghĩa vụ Trong trường hợp bên có nghĩa

vụ không chấp nhận lời đề nghị của bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ thì khi

đó giao dịch chấm dứt nghĩa vụ không được xác lập

Việc phân biệt hành vi pháp lí đơn phương là giao dịch dân sự hay không phải

là giao dịch dân sự có ý nghĩa pháp lí trong việc giải quyết những tranh chấp phát sinh

từ hành vi pháp lí đơn phương Nếu một hành vi pháp lí đơn phương là giao dịch dân sự thì việc giải quyết những tranh chấp phát sinh từ quan hệ được áp dụng các quy phạm pháp luật dân sự về giao dịch những hậu quả pháp lí phát sinh từ giao dịch Ngược lại, những hành vi pháp lí đơn phương được xác định không phải là giao dịch dân sự thì trong trường hợp có tranh chấp việc giải quyết được áp dụng những quy định của pháp luật tương ứng với từng hành vi đơn phương (một sự kiện pháp lí

cụ thể) mà không thể áp dụng những quy

định về giao dịch dân sự Ví dụ, hành vi

tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu theo những phân tích trên không phải là giao dịch dân

sự Trong trường hợp có tranh chấp về tài sản phát sinh liên quan đến hành vi pháp lí đơn phương thì cần phải áp dụng Điều 247 BLDS để giải quyết./

Ngày đăng: 17/03/2014, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w