Đó là chủ NHHH có thể sẽ thông qua các hợp đồng chuyển giao NHHH của mình để chia cắt thị trường thông qua việc khống chế luồng lưu thông hàng hoá hay để tạo ra những điều kiện kiểm soát
Trang 1ThS Vò ThÞ Ph−¬ng Lan *
rong số các quyền được bảo hộ của chủ
nhãn hiệu hàng hoá (NHHH), có một
quyền rất đáng lưu ý Đó là quyền chuyển
nhượng quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng
NHHH Thông thường, việc chuyển nhượng
này được thực hiện bằng hợp đồng Hợp đồng
chuyển giao quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu
NHHH được sử dụng phổ biến ở tất cả các nước
trên thế giới, giữa các đối tác ở hai nước khác
nhau hoặc các đối tác trong cùng một quốc gia
Một trong các nguyên tắc chi phối loại hợp
đồng này là bên chuyển giao (chủ NHHH) sẽ có
vai trò chi phối và khống chế bên nhận chuyển
giao ở mức độ nhất định đồng thời thu lợi từ
việc chuyển giao đó Đây được coi là những lợi
ích hợp pháp để bù đắp cho bên chuyển giao đã
bỏ tiền của và công sức để đầu tư và tạo uy tín
cho nhãn hàng của mình
Tuy nhiên, điều này cũng có mặt trái của
nó Đó là chủ NHHH có thể sẽ thông qua các
hợp đồng chuyển giao NHHH của mình để chia
cắt thị trường thông qua việc khống chế luồng
lưu thông hàng hoá hay để tạo ra những điều
kiện kiểm soát ngặt nghèo đẩy bên nhận chuyển
giao vào tình thế kém lợi thế cạnh tranh một
cách không bình đẳng Đặc biệt, trong nền kinh
tế ngày nay chủ những thương hiệu nổi tiếng
thường cũng là những nhà sản xuất độc quyền
và có ảnh hưởng chi phối thị trường Trong nền
kinh tế đó, NHHH thường được chuyển giao
cùng với những đối tượng SHCN khác hay
những yếu tố công nghệ và qua đó có tác động rất lớn về mặt kinh tế Điều này càng làm tăng thêm nguy cơ những nhà sản xuất này thông qua các hợp đồng chuyển giao NHHH tạo ra những ảnh hưởng không tốt tới công chúng và các đối thủ cạnh tranh
1 Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa với vấn đề chống chia cắt thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, điều quan trọng là sản phẩm phải được lưu thông tự do theo quy luật cung cầu Có như vậy thì người tiêu dùng ở khắp mọi nơi trên lãnh thổ quốc gia mới được tiêu thụ hàng hoá bình đẳng với nhau Không một doanh nghiệp nào có quyền bất kì dưới hình thức kinh tế nào được phép chia cắt thị trường quốc gia thành những phần độc lập với nhau, áp dụng ở đó những chế độ thương mại khác nhau và cản trở sự lưu thông tự do của hàng hoá
Trong phạm vi bảo hộ NHHH, chủ nhãn hiệu được pháp luật bảo hộ những quyền mang tính chất độc quyền sử dụng nhãn hiệu Chủ nhãn hiệu được độc quyền gắn nhãn hiệu lên sản phẩm của mình và độc quyền đưa sản phẩm vào lưu thông ở những nơi mà mình muốn và với mức giá mà mình lựa chọn Chủ nhãn hiệu lại được quyền chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng NHHH cho một hay một số
T
* Giảng viên Khoa luật quốc tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2người khác Và trong hoạt động chuyển giao đó,
chủ NHHH lại có quyền khống chế nhất định
đối với hoạt động sản xuất và phân phối hàng
của người nhận chuyển giao nhãn hiệu Một
trong những ví dụ điển hình là chủ NHHH
thường ràng buộc bên nhận chuyển giao chỉ
được phân phối hàng trong một phạm vi lãnh thổ
nhất định trong vùng lãnh thổ mà mình được bảo
hộ NHHH Quyền này của chủ nhãn được hầu
hết các quốc gia công nhận và bảo hộ như một
phần của quyền SHCN đối với NHHH
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, chủ
NHHH không những quy định bên nhận chuyển
giao chỉ được phân phối sản phẩm trong một
lãnh thổ nhất định mà còn buộc bên nhận
chuyển giao phải bằng mọi cách ngăn cản việc
lưu thông hàng hoá có gắn nhãn do mình sản
xuất sang các vùng lãnh thổ khác Đây là thực
tiễn phổ biến trong hoạt động chuyển giao
NHHH giữa một bên là chủ nhãn hiệu nổi tiếng
ở những nước có nền kinh tế phát triển với
nhiều bên nhận chuyển giao ở những nước có
nền kinh tế kém phát triển hơn Bên nhận
chuyển giao thường muốn có được quyền phân
phối sản phẩm mang nhãn hiệu nổi tiếng nên
sẽ sẵn sàng buộc những nhà đại lí phân phối
của mình không được bán sản phẩm ra ngoài
lãnh thổ đã quy định Mục đích của chủ nhãn
hiệu trong trường hợp này là tuỳ thuộc vào
mức sống của người tiêu dùng mà sẽ ấn định
mức giá cao hay thấp khác nhau đối với từng
vùng lãnh thổ khác nhau Nhiều khi những
mức giá này chênh lệch lớn tới mức ngay cả
nhà thương mại độc lập cũng có thể mua hàng
bán lẻ ở nơi có giá thấp đem bán ở nơi có giá
cao mà vẫn có lợi nhuận
Trong những nền kinh tế phát triển trình độ
cao như Mĩ, Nhật Bản và EU những hợp đồng
như trên rất phổ biến trong thực tiễn Pháp luật
của các nước và khu vực này đều coi đó là những hợp đồng dựa vào sự bảo hộ NHHH để chia cắt thị trường quốc gia hay thị trường một khu vực lưu thông hàng hoá tự do (như đối với EU) Bởi vì, với những điều khoản như vậy, hàng hoá được sản xuất và mang nhãn hiệu một cách hợp pháp có nguy cơ sẽ chỉ được lưu thông trong phạm vi lãnh thổ nhất định, trong thị trường mà hàng hoá lẽ ra phải được lưu thông
tự do Chủ nhãn hiệu cũng có thể dựa vào đó
mà tạo ra những sự cân bằng cung - cầu giả tạo giữa các khu vực khác nhau trong cùng một thị trường qua đó thu lợi bất chính Đồng thời các nhà thương mại độc lập cũng không thể tham gia vào quá trình lưu thông hàng hoá vì họ không thể mua hàng hoá ở khu vực này để đem bán ra khu vực khác của thị trường
Vì những lẽ trên, pháp luật EU, Mĩ và Nhật Bản đều quy định chủ NHHH chỉ được dùng quyền SHCN đối với NHHH của mình để buộc bên nhận chuyển giao đưa sản phẩm vào lưu thông thương mại lần đầu tiên tại khu vực nhất định mà không được ở khu vực khác trong cùng một thị trường Sau khi bên nhận đã bán ra hàng hoá gắn nhãn hiệu ở khu vực mà họ được phép thì hàng hoá đó coi như đã được bán ra bởi chủ NHHH và chủ NHHH sẽ không được quyền khống chế sự lưu thông tiếp theo của hàng hoá
đó trên thị trường Có nghĩa là chủ NHHH không thể yêu cầu bên nhận chuyển giao buộc bên thứ
ba đến mua hàng của họ không được bán sản phẩm ra khỏi phạm vi khu vực thị trường mà họ được chủ NHHH cho phép
Trên cơ sở đó, pháp luật EU, Mĩ và Nhật Bản thiết lập nên nguyên tắc “vắt kiệt quyền” (exhaustion of right) hay còn gọi là nguyên tắc
sử dụng hết quyền SHCN Theo đó, chủ NHHH
sẽ chỉ có quyền khống chế địa điểm đưa hàng hoá có gắn nhãn đã đăng kí của mình vào
Trang 3thương mại lần đầu tiên.(1) Sau khi hàng hoá đã
được đưa vào thương mại với sự chấp thuận
của chủ NHHH thì chủ NHHH không thể
khống chế sự luân chuyển tự do hàng hoá đó
trong toàn bộ thị trường được Chúng ta có thể
lấy một ví dụ điển hình ở Mĩ, khi một hàng hoá
đã được người nhận chuyển giao NHHH bán
ra ở một bang của nước Mĩ với sự đồng ý của
người chủ NHHH thì người chủ NHHH không
thể cấm sự lưu thông thương mại của hàng hoá
đó sang các bang khác cho dù là ở các bang khác
cũng có những bên nhận chuyển giao khác đối
với NHHH của chủ nhãn và chủ NHHH cũng
muốn bảo hộ các lợi ích của họ
Trong pháp luật Việt Nam, các trường hợp
tương tự như phân tích trên đây chưa được đề
cập Song, ngay cả khi trình độ phát triển kinh
tế chưa cao như hiện nay thì những quy phạm
pháp luật điều chỉnh về vấn đề này vẫn là
không thừa Bởi lẽ, trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế các doanh nghiệp nước ngoài
có thể sẽ tận dụng lỗ hổng này của pháp luật
Việt Nam dẫn tới chỗ chia cắt một cách bất
hợp lí thị trường Việt Nam Hơn nữa, với nền
kinh tế đang trên đà phát triển như Việt Nam
thì trong tương lai không xa trình độ phát triển
của nền kinh tế cũng sẽ làm phát sinh những
tình huống tương tự này và đòi hỏi cần phải
được điều chỉnh bởi pháp luật Vì thế, kinh
nghiệm điều chỉnh của các nước nêu trên đây,
đặc biệt là nguyên tắc sử dụng hết quyền có thể
là kinh nghiệm quý báu cho chúng ta xây
dựng quy phạm phù hợp
2 Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa với vấn đề
chống cạnh tranh không lành mạnh
Có thể thấy ngay rằng, đối với lĩnh vực này
chắc chắn cũng sẽ có nhiều sự khác biệt giữa
pháp luật Việt Nam và pháp luật của Mĩ, EU
và Nhật Bản Bởi lẽ, luật về vấn đề chống cạnh
tranh không lành mạnh của Việt Nam vẫn chưa
ra đời và thực tiễn cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường vẫn chưa được chú trọng Vấn
đề cần đề cập đầu tiên ở đây là cạnh tranh là gì
và thế nào là cạnh tranh không lành mạnh Cạnh tranh là khái niệm phức tạp chưa có khoa học pháp lí nước nào đưa ra định nghĩa
cụ thể Tuy nhiên, có thể hiểu cạnh tranh là một trạng thái trong nền kinh tế mà ở đó các doanh nghiệp không phải chịu một cách không công bằng các điều kiện bất lợi áp đặt bởi nhà nước hay các doanh nghiệp khác có thể ảnh hưởng tới khả năng phát huy tối đa năng lực sản xuất kinh doanh của mình Trách nhiệm của nhà nước là ban hành các văn bản pháp luật để xác định, ngăn chặn và trừng phạt các hành vi của
cơ quan nhà nước hay các doanh nghiệp có khả năng tạo ra những điều kiện hạn chế một cách không công bằng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khác Văn bản
pháp luật đó thường là một đạo luật, ví dụ, ở Mĩ,
Nhật hay có thể là một số quy phạm pháp luật
cơ bản trong một văn bản có giá trị luật cao nhất
trong vùng lãnh thổ, ví dụ, ở EU
Các hành vi bị coi là cạnh tranh không lành mạnh từ phía các doanh nghiệp diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau Có thể là hành vi cấu kết với nhau trong một hiệp hội để đưa ra các điều kiện kinh doanh nhất định và buộc các doanh nghiệp khác phải tuân thủ, cũng có thể
là lợi dụng lợi thế kinh doanh của mình áp đặt các điều kiện khống chế không công bằng đối với đối tác Vấn đề bảo hộ NHHH trong các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng NHHH thường dẫn đến các giao dịch có thể rơi vào loại thứ hai này
Như trên đây đã đề cập, chủ NHHH thường phải bỏ ra nhiều công sức, tiền bạc và
Trang 4trí tuệ để nâng cao uy tín nhãn hiệu của mình
trong công chúng Công việc kinh doanh ngày
càng phát triển thì NHHH gắn lên sản phẩm
ngày càng trở thành tài sản vô giá đối với
doanh nghiệp Thực tế đã có những nhãn hiệu
nổi tiếng đến mức người ta đã đánh giá nó
thậm chí còn không thua kém gì toàn bộ tài sản
hữu hình của doanh nghiệp (ví dụ: Coca Cola,
Adidas hay McDonald) Đối với công chúng
và người tiêu dùng, NHHH còn là sự bảo đảm
cho chất lượng của hàng hoá mang nhãn Mỗi
khi mua một hàng hoá hay sử dụng một dịch
vụ mà họ dựa vào nhãn hiệu gắn lên đó để lựa
chọn, họ đều tin tưởng hoặc mong muốn nhận
được chất lượng sản phẩm như ý hoặc đã từng
biết đến Vì thế, vấn đề quan tâm hàng đầu đối
với chủ NHHH là làm sao duy trì và ngày càng
nâng cao chất lượng sản phẩm mang nhãn của
mình cho dù là sản phẩm đó do chính mình sản
xuất hay đặt hàng gia công ở nơi khác
Hơn nữa, mối quan hệ chuyển giao quyền
sử dụng NHHH về bản chất tự nhiên của nó
vốn đã không hoàn toàn bình đẳng giữa các
bên chuyển giao Thông thường một NHHH
nổi tiếng ở mức độ nhất định mới có thể khiến
cho bên nhận chuyển giao quan tâm Mà chủ
những NHHH nổi tiếng thì lại thường có tiềm
lực kinh tế rất mạnh Họ có rất nhiều “ứng cử
viên” sẵn sàng thoả mãn các yêu cầu đặt ra để
được “làm ăn” với họ Điều này đặc biệt thể
hiện rõ trong xu hướng đầu tư toàn cầu của
những thập kỉ gần đây khi các doanh nghiệp,
chủ nhân của những nhãn hiệu nổi tiếng của
các nước phát triển đưa vốn sang đầu tư hoặc
đặt hàng gia công hoặc thâm nhập thị trường ở
các nước đang phát triển
Bởi những lí do và thực tế trên, khi kí kết
các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng
NHHH cho một doanh nghiệp khác, chủ NHHH thường muốn áp đặt nhiều điều khoản mang tính chất hạn chế năng lực cạnh tranh của
bên nhận chuyển giao Ví dụ, bên nhận chuyển
giao chỉ được bán hàng mang nhãn trong phạm
vi lãnh thổ nhất định hay bên nhận chuyển giao phải nhập khẩu bắt buộc những nguyên vật liệu nào đó do bên chuyển giao cung cấp hoặc bên nhận chuyển giao chỉ được bán sản phẩm ở mức giá nhất định Lí do chủ NHHH đưa ra để áp đặt những điều khoản kiểu này để hạn chế năng lực cạnh tranh của bên nhận chuyển giao thường là
để duy trì chất lượng sản phẩm hay để bảo đảm
uy tín của nhãn hiệu đối với người tiêu dùng hay đơn giản là chỉ để bán quyền sử dụng NHHH của mình cho nhiều bên nhận chuyển giao khác nhau trên cùng một thị trường quốc gia
Dưới sự điều chỉnh của các hệ thống pháp luật liên quan đến cạnh tranh và chuyển giao NHHH ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển cao như Mĩ, EU và Nhật Bản, những điều khoản mang tính chất hạn chế khả năng cạnh tranh của bên nhận chuyển giao trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng một NHHH được chia ra làm hai loại: 1) Những điều khoản được phép ghi trong hợp đồng (white clauses); 2) Những điều khoản không được phép ghi trong hợp đồng (black clauses)
- Những điều khoản được phép ghi trong hợp đồng là những điều khoản tuy hạn chế khả năng cạnh tranh của bên nhận chuyển giao nhưng những sự hạn chế đó là phù hợp để bảo
vệ những lợi ích hợp lí của bên chuyển giao Những điều khoản này về cơ bản bao gồm: + Điều khoản cho phép bên nhận chuyển giao độc quyền khai thác NHHH trong phạm vi lãnh thổ nhất định, bên chuyển giao cam kết
Trang 5không chuyển giao thêm cho ai khác trong
phạm vi lãnh thổ này và cũng không tự mình
khai thác NHHH trong lãnh thổ này, bên nhận
chuyển giao cũng cam kết không khai thác
NHHH ngoài lãnh thổ này;
+ Điều khoản cấm bên nhận chuyển giao
tiến hành các hoạt động bán hàng hoá hay cung
cấp dịch vụ gắn NHHH chuyển giao một cách
tích cực ra các vùng lãnh thổ được cấp cho các
bên nhận chuyển giao khác trong thời gian nhất
định, đặc biệt là không được quảng cáo trực tiếp
nhằm vào các lãnh thổ này hoặc thành lập các
kho hàng hay chi nhánh ở đó;
+ Điều khoản buộc bên được chuyển giao
tuân thủ những tiêu chuẩn kĩ thuật nhất định kể
cả việc phải mua những vật tư hoặc dịch vụ nhất
định do người cấp phép hoặc người được chỉ
định cung cấp để bảo đảm sự khai thác đúng
đắn về mặt kĩ thuật của công nghệ hoặc bảo
đảm sản phẩm đạt được tiêu chuẩn chất lượng
tối thiểu nhất định
- Những điều khoản không được phép ghi
trong hợp đồng là những điều khoản thể hiện sự
hạn chế năng lực cạnh tranh của bên nhận
chuyển giao một cách quá đáng, vượt quá mức
hợp lí để bảo vệ quyền của chủ nhãn đối với
NHHH đã đăng kí của mình Về cơ bản, các
điều khoản này là:
+ Điều khoản khống chế hoặc hạn chế
quyền quyết định giá, các yếu tố cấu thành giá
hoặc khấu trừ ảnh hưởng đến giá của sản phẩm;
+ Điều khoản cấm một trong hai bên từ chối
không có lí do chính đáng việc đáp ứng yêu cầu
cung cấp hàng hoá cho người mua trong lãnh thổ
được cấp phép mặc dù đối tác này sau đó có thể
sẽ bán sản phẩm ra khỏi lãnh thổ
Nếu pháp luật về chống cạnh tranh không
lành mạnh trong các hợp đồng chuyển giao NHHH nói riêng và các đối tượng SHCN nói chung đã rất phát triển ở EU, Mĩ và Nhật Bản thì ở Việt Nam lĩnh vực này vẫn còn rất mới
mẻ Các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam về bảo hộ SHCN cũng có quy định về một
số điều khoản mà hợp đồng li-xăng NHHH nói riêng và các đối tượng SHCN nói chung không được phép có Những trường hợp cấm đưa ra chủ yếu là do chúng là những hạn chế không xuất phát từ quyền của bên chuyển giao đối với NHHH tương ứng hoặc không nhằm bảo vệ các quyền đó chứ không phải là vì chúng hạn chế một cách bất hợp lí năng lực cạnh tranh của bên nhận chuyển giao Với cách tiếp cận đó, các điều khoản cấm chủ yếu là điều khoản trực tiếp hoặc gián tiếp hạn chế việc xuất khẩu sản phẩm gắn nhãn chuyển giao sang các vùng lãnh thổ
mà NHHH chưa đăng kí; hay điều khoản cấm bên nhận chuyển giao khiếu kiện về hiệu lực của văn bằng bảo hộ NHHH hay quyền chuyển giao NHHH cho bên nhận chuyển giao.(2) Tuy vậy, cũng có một điều khoản cấm rất gần với mục đích ngăn chặn những hành vi cạnh tranh không lành mạnh Đó là điều khoản cấm hợp đồng chuyển giao NHHH nói riêng và các đối tượng SHCN nói chung buộc bên nhận chuyển giao nhãn hiệu phải mua toàn bộ hoặc tỉ
lệ nhất định các nguyên liệu, linh kiện hoặc thiết
bị của bên chuyển giao hoặc của người do bên chuyển giao chỉ định mà không nhằm mục đích bảo đảm chất lượng hàng hoá mang nhãn hiệu
do bên nhận chuyển giao sản xuất(3)./
(1).Xem: Điều 13 Quy định số 40/1994; Điều 2 Luật nhãn hiệu hàng hóa Mĩ năm 1946
(2), (3).Xem: Phần 17.4 Thông tư số 3055/TT-BKHCNMT