1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo "Quan niệm về doanh nghiệp - một số vấn đề về phương pháp luận " potx

8 496 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 167,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giới nghiên cứu, có quan điểm hiểu khái niệm doanh nghiệp với nội hàm rất rộng, bao gồm tất cả những chủ thể hành nghề kinh doanh không phân biệt chủ thể đó là pháp nhân hay thể nh

Trang 1

ThS §ång Ngäc Ba * oanh nghiệp là khái niệm pháp lí cơ bản

của hệ thống pháp luật kinh doanh Khái

niệm doanh nghiệp được sử dụng một cách

phổ biến để chỉ các chủ thể chủ yếu của quan

hệ pháp luật kinh doanh Tuy vậy, cho đến

nay xung quanh khái niệm doanh nghiệp vẫn

còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết triệt

để cả trên phương diện lí luận cũng như luật

thực định Để góp phần làm sáng tỏ khái niệm

doanh nghiệp, bài viết này trình bày một số

vấn đề có tính phương pháp luận về doanh

nghiệp Ở đây, doanh nghiệp được tiếp cận

với tính chất một khái niệm khoa học, không

lệ thuộc vào việc có hay không có việc sử

dụng chính thức thuật ngữ doanh nghiệp

trong pháp luật thực định ở các quốc gia qua

các thời kì khác nhau

Về mặt ngữ vựng, doanh nghiệp (tiếng

Anh là Enterprise) có nghĩa là công việc kinh

doanh.(1) Tuy nhiên, trên thực tế khái niệm

doanh nghiệp thường được dùng với nghĩa là

hình thức tổ chức các hoạt động kinh doanh

Trong giới nghiên cứu, có quan điểm hiểu

khái niệm doanh nghiệp với nội hàm rất rộng,

bao gồm tất cả những chủ thể hành nghề kinh

doanh (không phân biệt chủ thể đó là pháp

nhân hay thể nhân): “Doanh nghiệp được

hiểu là đơn vị kinh doanh được thành lập

nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt

động kinh doanh”;(2) “doanh nghiệp là một

đơn vị kinh doanh được thành lập hợp pháp,

nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh

doanh và lấy hoạt động kinh doanh làm nghề

nghiệp chính” (3) Theo quan điểm này, khái niệm doanh nghiệp được hiểu đồng nghĩa với khái niệm về chủ thể kinh doanh hay nhà kinh doanh Quan điểm khác lại cho rằng doanh nghiệp chỉ bao gồm những chủ thể kinh doanh đáp ứng được những điều kiện nhất định (về cơ cấu tổ chức, tư cách pháp lí ):

“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản riêng, trụ sở giao dịch ổn

định, được thành lập theo quy định của pháp

luật nhằm thực hiện hoạt động kinh doanh”.(4) Theo quan điểm này, doanh nghiệp chỉ là một loại chủ thể kinh doanh Từ đó có thể suy luận logic rằng sẽ có những chủ thể là chủ thể kinh doanh (thực hiện nghề nghiệp kinh doanh) nhưng không được coi là doanh nghiệp (nếu chủ thể kinh doanh đó không có trụ sở giao dịch ổn định chẳng hạn) Cách hiểu này có phần lệ thuộc vào các quy định của luật thực định hiện hành ở Việt Nam khi xác định khái niệm doanh nghiệp

Bên cạnh đó cũng có quan điểm cho rằng doanh nghiệp cần được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, doanh nghiệp là tất cả các “cơ sở sản xuất kinh doanh”; theo nghĩa hẹp, doanh nghiệp chỉ bao gồm các cơ sở kinh doanh thuộc khu vực chính thức (có đăng kí tư cách theo quy định của pháp luật), không tính các cơ sở thuộc khu vực phi kết cấu (non-structure).(5)

D

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

Quan điểm này cũng cho rằng việc hiểu

doanh nghiệp theo nghĩa rộng và theo nghĩa

hẹp có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch

định và thực hiện các chế độ quản lí của Nhà

nước đối với các cơ sở kinh tế

Ở giác độ khác, lại có quan điểm cho rằng

doanh nghiệp chỉ là hiện tượng riêng có của

nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường

Đại diện cho quan điểm này là Gutenberg

Theo Gutenberg, xí nghiệp thì có cả trong nền

kinh tế kế hoạch hoá tập trung và nền kinh tế

thị trường nhưng doanh nghiệp là một hiện

tượng đặc biệt của kinh tế thị trường vì chỉ ở

đó mới có các đặc điểm cơ bản của các doanh

nghiệp Các đặc điểm đó là: (i) Nguyên tắc tự

chủ; (ii) Nguyên tắc thu nhập kinh tế; (iii)

Nguyên tắc sở hữu tư nhân và từ đó phát sinh

quyền tự quyết định.(6) Guttenberg đã xuất

phát từ góc độ điều kiện tồn tại và phát triển

của doanh nghiệp để khẳng định tính riêng có

của doanh nghiệp trong cơ chế kinh tế thị

trường Với quan điểm này, nền kinh tế vận

hành theo cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung

sẽ không bao hàm các yếu tố cần thiết cho sự

tồn tại và phát triển của doanh nghiệp; các

đơn vị kinh tế trong cơ chế kinh tế kế hoạch

tập trung như xí nghiệp công nghiệp quốc

doanh, xí nghiệp liên hợp hay liên hiệp các xí

nghiệp quốc doanh được suy luận là không

có cùng bản chất với doanh nghiệp

Quan điểm khoa học có ảnh hưởng nhất

định đến nội dung luật pháp Trên thế giới

hiện nay có nhiều trường phái pháp luật về

doanh nghiệp Ở mỗi quốc gia và trong từng

giai đoạn phát triển, với những đặc điểm về

kinh tế - xã hội, doanh nghiệp có thể được

tiếp cận không giống nhau về phương diện

pháp luật Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho

thấy đa số các nước không chế định khái niệm chung về doanh nghiệp trong pháp luật

mà chỉ đưa ra định nghĩa pháp lí về từng loại hình doanh nghiệp; nội hàm của khái niệm doanh nghiệp được giải nghĩa thông qua việc chế định đặc điểm pháp lí của những hình thức tổ chức kinh doanh cụ thể (cá nhân kinh doanh, hợp danh, công ti ) Thực tiễn pháp luật các nước phản ánh một quan điểm phổ biến coi doanh nghiệp là tất cả các đơn vị kinh doanh hợp pháp; khái niệm doanh nghiệp dường như đồng nghĩa với khái niệm chủ thể kinh doanh (Business Entity), theo

đó doanh nghiệp là các chủ thể pháp luật (cá nhân hoặc tổ chức), được xác lập tư cách theo quy định của pháp luật để hoạt động kinh doanh

Khác với nhiều nước trên thế giới, pháp luật hiện hành ở Việt Nam có đưa ra định nghĩa pháp lí về doanh nghiệp Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990, Luật công ti năm

1990 mà sau đó được thay thế bằng Luật doanh nghiệp năm 1999 là các văn bản đưa ra định nghĩa chính thức về doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam Trước khi có Luật doanh nghiệp năm 1999, nội hàm của khái niệm doanh nghiệp không được hiểu nhất quán trong toàn bộ hệ thống

pháp luật Theo Luật công ti thì “doanh

nghiệp là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt

động kinh doanh”.(7) Với quy định này, khái niệm doanh nghiệp có nội hàm rất rộng Có thể hiểu tất cả các chủ thể có nghề nghiệp kinh doanh (chủ thể kinh doanh) được xác lập

tư cách theo thủ tục do pháp luật quy định đều là doanh nghiệp Quan điểm về doanh nghiệp trong Luật công ti năm 1990 cho thấy

Trang 3

sự phù hợp với cách hiểu phổ biến trên thế

giới Tuy nhiên, ở nhiều văn bản pháp luật

khác của Việt Nam, khái niệm doanh nghiệp

được xác định với nội hàm hẹp hơn nhiều

(Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993, Luật

đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và

các văn bản hướng dẫn thi hành ) Hệ quả

của nó là tạo ra sự không thống nhất ngay

trong hệ thống pháp luật cách hiểu về doanh

nghiệp, gây ra không ít rắc rối trong quá trình

giải thích và áp dụng pháp luật

Luật doanh nghiệp năm 1999 ra đời với

nhiều đổi mới, trong đó có vấn đề quan điểm

về doanh nghiệp Theo Luật doanh nghiệp,

chỉ có những chủ thể kinh doanh thỏa mãn

những điều kiện nhất định mới có tư cách

doanh nghiệp Luật doanh nghiệp quy định:

“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên

riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định,

được đăng kí kinh doanh theo quy định của

pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt

động kinh doanh”.(8) Phù hợp với quan điểm

chung về doanh nghiệp như vậy, các văn bản

pháp luật về tổ chức doanh nghiệp của Việt

Nam hiện nay chỉ chính thức ghi nhận "tư

cách doanh nghiệp" cho các chủ thể là:

Doanh nghiệp tư nhân, các loại công ti (quy

định trong Luật doanh nghiệp), công ti nhà

nước (quy định trong Luật doanh nghiệp nhà

nước), doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài (quy định trong Luật đầu tư nước ngoài

tại Việt Nam)

Có thể nhận thấy khái niệm doanh nghiệp

theo Luật doanh nghiệp có nội hàm hẹp hơn

khái niệm chủ thể kinh doanh theo cách hiểu

thông thường Đây cũng là cơ sở của quan

điểm cho rằng “theo suy luận lôgic từ pháp

luật hiện hành thì hiện nay, không phải tất cả

các đơn vị kinh doanh (chủ thể kinh doanh)

được thành lập “nhằm mục đích chủ yếu là

thực hiện các hoạt động kinh doanh” đều

được coi là doanh nghiệp”.(9) Nhận định này

là có cơ sở, bởi lẽ, có những chủ thể kinh doanh nhỏ (hộ kinh doanh cá thể) không thỏa mãn các điều kiện theo định nghĩa pháp lí về doanh nghiệp nêu trên và vì vậy không được gọi là doanh nghiệp Điều này dẫn đến trên thực tế, địa vị pháp lí của các chủ thể kinh doanh được quy định không giống nhau giữa những chủ thể kinh doanh là doanh nghiệp và những chủ thể kinh doanh không phải là doanh nghiệp (về các vấn đề chủ yếu như lựa chọn ngành nghề kinh doanh, giao kết hợp đồng kinh tế, tham gia quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài, xử lí tình trạng phá sản ) Trên cả bình diện nghiên cứu cũng như pháp luật thực định, có thể khẳng định quan niệm về doanh nghiệp hiện nay chưa có sự thống nhất Điều này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan song điều đáng quan tâm là, về mặt luật pháp, hiện đang tồn tại sự khác biệt lớn giữa Việt Nam và đa số các nước trong cách hiểu về khái niệm doanh nghiệp Theo quan điểm cá nhân, với điều kiện các nước đang chuyển đổi, trong đó có Việt Nam, quan niệm về doanh nghiệp với ý nghĩa tạo tiền đề lí luận cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp cần được tiếp cận phù hợp với

xu hướng phổ biến, đáp ứng đòi hỏi của hội nhập kinh tế Để thống nhất cách hiểu về doanh nghiệp, khái niệm doanh nghiệp phải được xem xét từ các góc độ kinh tế - xã hội

và pháp lí, gắn với những yếu tố của kinh tế thị trường

Trang 4

1 Tiếp cận khái niệm doanh nghiệp từ

góc độ kinh tế - xã hội

Bản chất của doanh nghiệp là những thực

thể xã hội, sinh ra với chức năng chủ yếu là

hoạt động kinh doanh Doanh nghiệp được

cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau như cơ

sở vật chất (vốn, tài sản), bộ máy quản lí điều

hành, người lao động Với chức năng kinh

doanh, doanh nghiệp sử dụng các yếu tố đầu

vào của quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm,

hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của nền

kinh tế cũng như toàn xã hội Chức năng kinh

doanh của doanh nghiệp tạo cho doanh

nghiệp vai trò của một "mắt xích" trọng yếu

trong toàn bộ hệ thống kinh tế - xã hội Sự tồn

tại của doanh nghiệp luôn được đặt trong môi

trường kinh tế - xã hội xác định Không thể

hiểu rõ bản chất cũng như xu hướng vận

động, phát triển của doanh nghiệp nếu không

xem xét nó trong mối quan hệ với những điều

kiện kinh tế - xã hội cụ thể Các yếu tố của

môi trường kinh tế - xã hội (cơ chế kinh tế,

trình độ phát triển kinh tế, hệ thống luật pháp,

trình độ dân trí, phong tục tập quán, triết lí

sống, văn hóa kinh doanh ) đều có tác động

đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

ở những phương diện và mức độ khác nhau

Về thực tiễn, sự hình thành các doanh

nghiệp là hệ quả tất yếu của sự phát triển hoạt

động kinh doanh: “Kinh doanh là hoạt động

mang tính nghề nghiệp, điều đó có nghĩa là

trong xã hội đã có những người, nhóm người,

tổ chức mà nghề nghiệp chính của họ là kinh

doanh, sống bằng nghề kinh doanh”.(10) Thực

tiễn đã chứng minh, kinh doanh với tính chất

là một nghề chỉ ra đời và phát triển khi phân

công lao động trong xã hội đã phát triển đến

trình độ nhất định và hình thành nền sản xuất

hàng hóa; “kinh doanh là một phạm trù gắn

liền với sản xuất hàng hóa, là tổng thể các hình thức, phương pháp và biện pháp nhằm

tổ chức các hoạt động kinh tế, phản ánh quan

hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng của cải vật chất xã hội nhằm mục đích thu về một giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu”.(11) Điều này cho phép khẳng định, những yếu tố tạo nên sự ra đời của nền sản xuất hàng hóa cũng chính là cơ sở duy trì sự tồn tại và phát triển của hoạt động kinh doanh

Doanh nghiệp không phải là hiện tượng riêng có của nền kinh tế thị trường nhưng lí luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng chỉ trong điều kiện kinh tế thị trường, doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển với đúng ý nghĩa đích thực của nó Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp là hình thức phù hợp nhất để tổ chức hoạt động kinh doanh chứ không phải là các mô hình cá nhân, gia đình hay toàn xã hội

Điều kiện căn bản để hoạt động kinh doanh có thể phát triển với tính chất là một nghề trong xã hội và làm xuất hiện doanh nghiệp, đó là sự tồn tại của thị trường Thị trường với những nguyên tắc khách quan của

nó đã tạo ra động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy

sự phát triển hoạt động kinh doanh Ngược lại, kinh doanh có tác động sâu sắc tới sự vận hành của thị trường Kinh doanh là yếu tố quyết định thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa phát triển đến giai đoạn đỉnh cao - giai đoạn kinh tế thị trường Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là kinh doanh chỉ tồn tại trong nền kinh tế thị trường và sẽ càng sai lầm nếu cho rằng kinh doanh chỉ tồn tại trong điều kiện kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Thực

Trang 5

tiễn vận hành nền kinh tế kế hoạch tập trung

ở Việt Nam cũng như các nước xã hội chủ

nghĩa trước đây đã biết đến hoạt động kinh

doanh, cho dù có những biến dạng nhất định

Khái niệm kinh doanh xã hội chủ nghĩa đã

được nhắc đến với cách hiểu là “tổng thể các

hình thức, phương pháp và biện pháp nhằm

tổ chức các hoạt động kinh tế dưới chủ nghĩa

xã hội Nó phản ánh mối quan hệ sản xuất xã

hội chủ nghĩa, quan hệ giữa người với người

trong quá trình sản xuất, trao đổi và tiêu

dùng của cải vật chất xã hội, dựa trên chế độ

công hữu về tư liệu sản xuất Mọi hoạt động

kinh doanh xã hội chủ nghĩa phải nhằm đạt

hiệu quả kinh tế cao, không ngừng nâng cao

đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân

lao động, luôn gắn với sản xuất và thúc đẩy

sản xuất phát triển”.(12) Có thể khẳng định

rằng nền sản xuất hàng hóa mới chính là cơ

sở quyết định sự tồn tại của hoạt động kinh

doanh Trong khi đó "sản xuất hàng hóa và

lưu thông hàng hóa là những hiện tượng

thuộc về nhiều phương thức sản xuất hết sức

khác nhau, tuy rằng quy mô và tầm quan

trọng của chúng không giống nhau".(13) Điều

này dẫn đến hệ quả là nghề kinh doanh trong

mỗi một cơ chế quản lí kinh tế đều có những

nét đặc thù nhất định Trong cơ chế kinh tế kế

hoạch tập trung thì "nhà nước xã hội chủ

nghĩa không chỉ thực hiện quyền lực chính trị,

mà chính nó còn kinh doanh";(14) hoạt động

kinh doanh vì vậy bị chi phối sâu sắc (quyết

định) bởi ý chí nhà nước thông quan hệ thống

chỉ tiêu kế hoạch mang tính mệnh lệnh hành

chính Với cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung,

các doanh nghiệp (các tổ chức kinh tế xã hội

chủ nghĩa) không phải và không thể là nhân

vật trung tâm của thị trường mà thay vào vị trí

đó chính là Nhà nước Trong cơ chế kinh tế thị trường, nghề kinh doanh chủ yếu được quy định và chi phối bởi các quy luật kinh tế khách quan, hoạt động kinh doanh, vì vậy có điều kiện thuận lợi nhất để phát triển Đó cũng chính là động lực thúc đẩy sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các loại hình doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong các

hoạt động kinh tế, “các doanh nghiệp là

những khối chủ chốt của thị trường, sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ, tạo thành cơ

sở của trao đổi thị trường”.(15)

2 Tiếp cận khái niệm doanh nghiệp từ góc độ pháp lí

Từ góc độ pháp lí, doanh nghiệp được hiểu là một loại chủ thể pháp luật (có tư cách chủ thể pháp lí độc lập) và có nghề nghiệp kinh doanh (thực hiện hoạt động kinh doanh với tính chất nghề nghiệp) Trong điều kiện kinh tế thị trường, doanh nghiệp trở thành đối tượng trung tâm chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật kinh doanh Doanh nghiệp có những đặc điểm pháp lí cơ bản sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp là loại chủ thể pháp luật, có năng lực để tham gia các quan

hệ pháp luật, trong đó trước hết và chủ yếu là các quan hệ kinh doanh Tư cách chủ thể pháp luật của doanh nghiệp có thể là tư cách

cá nhân hoặc tổ chức Trong trường hợp doanh nghiệp với tư cách là cá nhân, năng lực chủ thể pháp luật của doanh nghiệp chính là năng lực chủ thể pháp luật của cá nhân trong việc tham gia các quan hệ kinh doanh theo quy định của pháp luật Trong trường hợp doanh nghiệp là một tổ chức, năng lực chủ thể của doanh nghiệp được phân biệt với năng lực chủ thể của những người (tổ chức hoặc cá

Trang 6

nhân) đã tạo ra nó Ngoại trừ trường hợp

doanh nghiệp cá nhân, doanh nghiệp tồn tại

với tư cách pháp lí độc lập (tương đối) với

chủ sở hữu của nó Mối quan hệ giữa chủ sở

hữu của doanh nghiệp và doanh nghiệp không

chỉ đơn thuần là mối quan hệ giữa chủ sở hữu

với đối tượng của quyền sở hữu mà còn là

mối quan hệ giữa các chủ thể pháp lí độc lập

Đối với những doanh nghiệp là tổ chức cần

lưu ý tư cách tổ chức của doanh nghiệp không

đồng nghĩa với tư cách pháp nhân theo đúng

nghĩa kinh điển của từ này Thực tiễn pháp luật

kinh doanh trên thế giới cũng như ở Việt Nam

đã ghi nhận những doanh nghiệp không phải là

pháp nhân và cũng không phải là cá nhân (như

công ti hợp danh chẳng hạn) Theo cách này,

pháp luật kinh doanh đã thể hiện sự linh hoạt

trong việc phát triển quan điểm của dân luật cổ

điển về chủ thể của quan hệ pháp luật

Như vậy, khái niệm doanh nghiệp có bản

chất là "danh tính pháp lí" của những chủ thể

hành nghề kinh doanh, cho phép phân biệt

những chủ thể có nghề nghiệp kinh doanh với

những chủ thể không có nghề nghiệp này

Trong nền kinh tế thị trường, với việc thừa

nhận quyền tự do kinh doanh, tất yếu có sự

tham gia hoạt động kinh doanh của các cá

nhân, tổ chức thuộc các thành phần kinh tế và

hình thức sở hữu khác nhau Việc đặt ra khái

niệm doanh nghiệp với cách hiểu như vậy là

tiền đề cần thiết để xây dựng cơ chế điều

chỉnh pháp luật đảm bảo sự bình đẳng trong

kinh doanh - một đòi hỏi quan trọng của cơ

chế kinh tế thị trường

Tồn tại trong xã hội, doanh nghiệp tất yếu

tham gia vào các quan hệ xã hội thuộc nhiều

lĩnh vực khác nhau Điều đó đã tạo cho doanh

nghiệp tính chất của “một tổ chức sống, có

vòng đời (ra đời, tăng trưởng, phát triển và

có thể diệt vong)”.(16) Về lí luận, các quan hệ

xã hội phát sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trước hết và chủ yếu là các quan hệ thuộc lĩnh vực pháp luật tư, vì vậy, vấn đề tổ chức hoạt động của doanh nghiệp cần được tiếp cận điều chỉnh chủ yếu bằng phương pháp của luật tư, trên cơ sở đó mới có thể đảm bảo tính độc lập cần thiết cho doanh nghiệp Tất nhiên, tính độc lập trong hoạt động của doanh nghiệp không phải là tuyệt đối Trong hoạt động của mình, doanh nghiệp luôn bị chi phối bởi các quy định của pháp luật, với những điều kiện liên quan đến môi trường xung quanh, với những hợp đồng mà doanh nghiệp kí kết với đối tác

Tính chất chủ thể pháp lí độc lập của doanh nghiệp cho phép doanh nghiệp có quyền tự chủ đồng thời phải tự chịu trách nhiệm trong việc tổ chức hoạt động, bất cứ là doanh nghiệp tự hoạt động kinh doanh hay những người làm công, những người được ủy quyền theo hợp đồng của doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kinh doanh nhân danh doanh nghiệp Trách nhiệm pháp lí cơ bản của doanh nghiệp về hoạt động kinh doanh thể hiện ở chỗ, những cam kết tài chính, những nợ nần trong kinh doanh doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình và còn có thể vượt ra khỏi phạm

vi những tài sản đó trong những trường hợp nhất định do pháp luật quy định (trường hợp những doanh nghiệp theo quy chế trách nhiệm vô hạn)

Thứ hai, doanh nghiệp được xác lập tư cách (thành lập và đăng kí kinh doanh) theo thủ tục do pháp luật quy định Việc thành lập

và đăng kí kinh doanh là cơ sở để xác định

Trang 7

tính chất chủ thể pháp lí độc lập của doanh

nghiệp, gắn với những đặc điểm của hoạt

động kinh doanh Đặc điểm này xuất phát từ

yêu cầu của quản lí nhà nước đối với hoạt

động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường

Thủ tục xác lập tư cách pháp lí cho doanh

nghiệp có sự khác nhau giữa các loại hình

doanh nghiệp, phù hợp với những đặc điểm

về mặt tổ chức của từng loại hình doanh

nghiệp Ngoài ra, về phương diện chủ quan,

thủ tục thành lập và đăng kí kinh doanh được

quy định cho các doanh nghiệp phụ thuộc rất

nhiều vào quan điểm của các quốc gia trong

việc sử dụng quyền lực nhà nước để can thiệp

vào thị trường Tuy vậy, xuất phát từ yêu cầu

của tự do kinh doanh, xu hướng phổ biến hiện

nay trên thế giới là thủ tục xác lập tư cách

pháp lí cho doanh nghiệp ngày càng được đơn

giản hóa nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các

nhà đầu tư

Thứ ba, doanh nghiệp thực hiện hoạt

động kinh doanh với tính chất nghề nghiệp

Doanh nghiệp có nghề nghiệp kinh doanh

được biểu hiện ở chỗ, hoạt động kinh doanh

của doanh nghiệp được thực hiện có hệ thống,

độc lập, trên danh nghĩa và trách nhiệm của

doanh nghiệp, với mục đích sinh lợi và trong

điều kiện do pháp luật quy định Tính chất có

hệ thống của hoạt động kinh doanh có thể

hiểu theo ý nghĩa thông thường của nó, tức là

hoạt động kinh doanh có khuynh hướng lâu

dài, không gián đoạn trong thời gian nhất

định và tiềm ẩn khả năng tái diễn thường kì

Tính chất hoạt động kinh doanh có hệ thống

là dấu hiệu cơ bản để xác định nghề nghiệp

kinh doanh của doanh nghiệp Đây cũng là

căn cứ quan trọng để phân biệt doanh nghiệp

với các chủ thể khác Khi một chủ thể nào đó

chỉ thực hiện hành vi kinh doanh có tính chất đơn lẻ, vụ việc thì không thể xem chủ thể đó hành nghề kinh doanh và vì vậy không thể coi chủ thể đó là doanh nghiệp

Ngoài ra, bản thân nghề kinh doanh đã quy định mục đích thu lợi nhuận trong các hoạt động của doanh nghiệp Khi xác định mục đích lợi nhuận trong các hoạt động của doanh nghiệp cần hiểu "ý định" thu lợi nhuận của doanh nghiệp mới là tiêu chí quyết định còn việc có đạt được lợi nhuận hay không cũng như việc sử dụng lợi nhuận đạt được cho mục đích gì không phải là dấu hiệu quyết định Nói cách khác, cơ sở để quy kết mục đích lợi nhuận không phải là xem doanh nghiệp có đạt được lợi nhuận hay không mà phải xem xét tính chất của hoạt động để sinh lợi Trên thực tế, những tổ chức được thành lập không phải vì mục đích kinh doanh cũng

có thể hoạt động kinh doanh trong những trường hợp nhất định, tuy nhiên hoạt động chính của tổ chức này không phải là hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận và vì vậy không được xem là doanh nghiệp, cho dù doanh số mà tổ chức đó thu được từ hoạt động kinh doanh có thể là rất lớn Theo logic

đó, có phần khiên cưỡng, không nói là thiếu

cơ sở khoa học khi đặt ra khái niệm "doanh nghiệp công ích" với cách hiểu chúng có cùng bản chất với doanh nghiệp, trong khi những

"doanh nghiệp" này lại có nghề nghiệp chính

là "hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ

công cộng theo các chính sách của Nhà nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh".(17)

Mặt khác, cũng cần thống nhất rằng doanh nghiệp coi kinh doanh là nghề nghiệp nhưng điều đó không có nghĩa là doanh

Trang 8

nghiệp chỉ thực hiện hoạt động kinh doanh

Với tính chất là một thực thể "sống" trong xã

hội, để có thể tồn tại và hoạt động kinh

doanh, doanh nghiệp có thể và cần phải thực

hiện nhiều hoạt động khác không phải là hoạt

động kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu của

mình hoặc theo quy định của pháp luật Điều

này làm xuất hiện trên thực tế có nhiều hoạt

động được thực hiện bởi doanh nghiệp nhưng

không phải là hoạt động kinh doanh theo đúng

nghĩa Đó chính là cơ sở thực tiễn của khái

niệm "hành vi kinh doanh phụ thuộc" trong

khoa học pháp lí và trong luật thực định của

một số quốc gia trên thế giới Thực chất đây là

những hoạt động có bản chất dân sự (theo

nghĩa hẹp) nhưng do doanh nghiệp tiến hành

nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh nên

trong nhiều trường hợp chúng được điều chỉnh

bởi cơ chế của pháp luật kinh doanh

Tóm lại, khái niệm doanh nghiệp có thể

được tiếp cận nghiên cứu dưới các góc độ kinh

tế - xã hội và pháp lí Dưới góc độ kinh tế - xã

hội, doanh nghiệp là một thiết chế kinh tế-xã

hội, được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác

nhau, có chức năng thực hiện các hoạt động

kinh doanh, doanh nghiệp tồn tại trong sự

tương tác với các yếu tố khác của hệ thống

kinh tế - xã hội Dưới góc độ pháp lí, doanh

nghiệp là một loại chủ thể pháp luật, được xác

lập tư cách theo trình tự do pháp luật quy định

để thực hiện nghề nghiệp kinh doanh Trong

cơ chế thị trường, doanh nghiệp có nội hàm

pháp lí rất rộng và được tổ chức dưới nhiều

hình thức tổ chức khác nhau Thay cho lời kết,

tác giả bài viết chia sẻ với quan điểm cho rằng:

“Trong cơ chế thị trường hiện đại, đã và sẽ

xuất hiện rất nhiều mô hình pháp lí của việc tổ

chức các hoạt động kinh doanh mà ta quen gọi

là doanh nghiệp Điều đó có nghĩa rằng, doanh nghiệp là khái niệm chung, không có nội hàm pháp lí cụ thể và không biểu hiện một mô hình pháp lí cụ thể của việc tổ chức và quản lí các hoạt động kinh tế, thương mại”(18)./

(1).Xem: Black’ Law Dictionary, Centennial Edition (1891-1991), page 531

(2), (16).Xem: "Quản trị kinh doanh", Học viện hành chính quốc gia, Nxb Lao động, H.2003, tr.8

(3).Xem: "Giáo trình thương mại doanh nghiệp", Trường đại học kinh tế quốc dân, Nxb Thống kê,

2002, tr.5

(4).Xem: "Từ điển giải thích thuật ngữ luật học", Trường đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân năm 2000; tr 36

(5).Xem: "Quản lí kinh tế", Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, H 2003,

tr 278

(6) E Gutenberg - Grundlagen der Betriebwirtschaftslehre, 24 Auflage, Berlin 1983

(7).Xem: Điều 3 Luật công ti ngày 21/12/1990 (8).Xem: Khoản 1 Điều 3 Luật doanh nghiệp năm 1999 (9).Xem: PGS.TS Nguyễn Như Phát (đồng tác giả),

"Luật kinh tế Việt Nam", Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, tr.30

(10), (11).Xem: TS Bùi Ngọc Cường, "Xây dựng và

hoàn thiện pháp luật kinh tế đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở nước ta hiện nay", Luận án tiến sĩ luật học, H 2001, tr 7, 9

(12).Xem: Mai Hữu Khuê, "Danh từ kinh tế", Nxb

Sự thật, H.1987, tr 185

(13).Xem: C.Mác và Ph.Ăng-ghen Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1993, Tập 23, tr.175

(14).Xem: Laptev V.V, "Luật kinh tế", Nxb Khoa học, Maxcơva 1975, tr 7

(15).Xem: "Xây dựng thể chế hỗ trợ thị trường", Ngân hàng thế giới, Nxb Chính trị quốc gia, H 2002, tr 35 (17).Xem: Khoản 4 Điều 3 Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995

(18).Xem: PGS.TS Nguyễn Như Phát, "Dự thảo Luật doanh nghiệp - Một số vấn đề phương pháp luận", Tạp chí nhà nước và pháp luật số 5/1999, tr 46

Ngày đăng: 17/03/2014, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w