1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Vài nét ảnh hưởng tư tưởng pháp trị của Hàn Phi trong lịch sử Việt Nam " ppt

4 621 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 107,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xung quanh vấn đề này hình thành một số tập tục thể hiện tính luật pháp của thời Hùng Vương như không cho người nghèo lấy người giầu chuyện công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử, như hình p

Trang 1

heo các sách biên niên sử và một số sách

thông sử đều ghi lịch sử Nhà nước ta bắt

đầu từ triều đại Hùng Vương trị vì nước Văn

Lang Thời gian tồn tại của nước Văn Lang vào

khoảng thiên niên kỉ thứ II trước công nguyên

(TCN) Vào thời kì này, Nhà nước Văn Lang đ:

có luật nhưng rất tiếc những tài liệu nói về luật

của nước ta TCN hầu như không còn tìm thấy

Căn cứ vào lời tâu của M: Viện với vua Hán

Quang Vũ có nói đến: “Luật Việt khác với luật

Hán hơn mười điều” Có lẽ luật ở thời Hùng

Vương chỉ là luật tục hay tập quán pháp nhưng

chắc đó không phải là luật riêng của từng vùng

mà là luật chung của người Lạc Việt Luật thời

đó mang tinh thần bình đẳng dân chủ thời xưa,

cộng với những phép tắc tín ngưỡng cổ truyền

nhưng nó cũng thể hiện tính nghiêm minh của

sinh hoạt cộng đồng Xung quanh vấn đề này

hình thành một số tập tục thể hiện tính luật

pháp của thời Hùng Vương như không cho

người nghèo lấy người giầu (chuyện công chúa

Tiên Dung và Chử Đồng Tử), như hình phạt

nghiêm khắc đối với kẻ phản bội lợi ích của

giống nòi (như truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng

Thuỷ), các tục thách cưới, lễ dạm, lễ hỏi

(chuyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh) Nếu ai làm trái

điều quy định thì sẽ bị dư luận lên án và có thể

bị đuổi ra khỏi công x: (truyện Mai An Tiêm)

Mặc dù vậy, thời đại Hùng Vương với sự

phát triển của nền văn minh sông Hồng và sự

xuất hiện của một hình thái nhà nước sơ khai đ:

chứng tỏ sự dựng nước sớm của dân tộc ta và

tương ứng với nhà nước đó là những luật lệ giản

đơn được thực hiện trong cộng đồng

Năm 179 TCN, chính quyền phong kiến cát

cứ ở Trung Hoa do Triệu Đà - vua nước Nam Việt đứng đầu đ: xâm lược và chinh phục được

Âu Lạc Từ đó đến năm 938 các triều đại phong kiến Trung Hoa thay nhau đô hộ nước ta và thi hành chính sách đồng hoá toàn diện trên các lĩnh vực ở lĩnh vực pháp luật, với những tài liệu ít ỏi và tản mạn chúng ta không thể biết một cách đầy đủ, chi tiết về tình hình pháp luật của nước ta suốt hơn 10 thế kỉ Bắc thuộc Nhưng chắc chắn pháp luật hiện hành của nước

ta lúc đó là pháp luật của nhà nước phong kiến Trung Hoa Từ năm 179 TCN đến năm 23, nhà Triệu và nhà Tây Hán đều dùng tục cũ để cai trị Việc áp dụng và thi hành luật pháp của các

đế chế phong kiến Trung Quốc ở Âu Lạc qua từng thời kì có khác nhau nhưng nhìn chung, cùng với sự mở rộng, củng cố và hoàn thiện của chính quyền đô hộ, pháp luật phong kiến Trung Hoa ngày càng được áp dụng phổ biến hơn Các ngành luật như luật hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình của thời Đường được áp dụng trên l:nh thổ nước ta Nói như vậy không có nghĩa là trong lĩnh vực pháp luật, dân tộc ta hoàn toàn theo pháp luật của các triều đại Trung Quốc Nhân dân ta vẫn tự điều chỉnh các quan hệ nội

bộ trong làng x: bằng các tập quán cổ truyền của mình

Sau khi giành được độc lập dân tộc, Nhà nước phong kiến Việt Nam vừa được xây dựng lên phải đối mặt với nhiều vấn đề mới nảy sinh Công cụ để củng cố địa vị của vua là hệ thống quan lại, là binh lính, là tư tưởng “thiên mệnh”

T

* Giảng viên Bộ môn Mác - Lênin Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

Nhưng như thế vẫn chưa đủ, cần phải có các

điều luật để ngăn ngừa những sự việc xảy ra và

nếu xảy ra thì có điều kiện để trừng trị Mặt

khác, trong dân, do có nhiều hoàn cảnh và tình

huống khác nhau mà luôn có các cuộc tranh

chấp, các vụ kiện tụng Để giải quyết vấn đề

này không thể không cần đến các điều luật của

triều đình làm căn cứ xét xử Rồi việc xét xử để

đề phòng sự tuỳ tiện, sự lộng quyền của các

quan lại, triều đình thấy cần thiết phải chế định

ra các điều luật làm chỗ dựa cho người thi hành

án và nguời thụ án Tóm lại, bản thân sự cai trị

x: hội cần đến pháp luật và mỗi triều đại đều

cần có bộ luật của riêng mình

Yều cầu trên xuất hiện ngay từ triều đại

Ngô, Đinh và Tiền Lê song lúc bấy giờ công

việc còn bề bộn, ngôi vua chưa vững vàng, triều

đại lại ngắn ngủi nên chưa kịp xây dựng những

đạo luật hoàn chỉnh của triều đại mình Công

việc đó chỉ ra đời ở các triều đại sau Nhà Lí sau

một thời gian cai trị, đến đời Lí Thái Tông thì

đưa ra được bộ “ Hình thư”, nhà Trần cũng phải

sau một thời gian, Trần Thái Tông mới ban bố

được cuốn “Hình luật” Các bộ luật có quy mô

đầy đủ thì phải đến triều Lê và triều Nguyễn

Các bộ luật của phong kiến Trung Quốc, dù

là triều Đường, triều Tống, triều Nguyên, triều

Minh hay triều Thanh đều với danh nghĩa là thể

theo “mệnh trời” của nhà Nho nhưng thực chất

bên trong lại thể hiện tư tưởng của phái pháp

gia Các học thuyết của quốc gia, dù là triết học

hay chính trị - x: hội, tuy có lúc mâu thuẫn

nhau, đối địch nhau song quá trình phát triển về

sau lại có sự học tập để bổ sung cho cái mình

còn thiếu sót Tư tưởng “chính danh” do người

sáng lập ra đạo Nho là Khổng Tử nêu ra ở thế

kỉ thứ VI TCN, lại được Hàn Phi là người tập

đại thành của pháp gia đề cao ở thế kỉ thứ III

TCN Ngược lại, nhiều nội dung và tính chất

các điều luật của các triều đại phong kiến

Trung Quốc lấy Nho gia làm tư tưởng cở bản

đều có nguồn gốc từ tư tưởng pháp trị của pháp

gia Nhưng hiện tuợng này không có nhà Nho nào thừa nhận Điều đó có thể là vì vụ án Tần Thuỷ Hoàng đốt sách Nho chôn sống các nhà Nho ở kinh đô Hàm Dương gây nên sự thâm thù pháp gia của các thế hệ nhà Nho sau này Phần khác là do các triều đại phong kiến Trung Quốc, dù thực chất bên trong như thế nào nhưng bên ngoài họ vẫn tự nhận là theo đường lối chính trị đức trị, đường lối nhân nghĩa của nhà nho nếu công khai thừa nhận vai trò cần thiết của tư tưởng Pháp gia thì đó là điều khó

xử Dù là Nho gia hay là Pháp gia cũng là các học phái có mục đích xây dựng chế độ phong kiến trung ương tập quyền, giữa chúng có nhiều

điểm giống nhau nên đ: học tập lẫn nhau ở

đây chỉ có điều Nho gia học tập Pháp gia nhưng không dám công khai thừa nhận

Trong lịch sử các học thuyết của Trung Quốc chuyển sang Việt Nam, chỉ thấy sử chép

là Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo, không thấy chép tư tưởng của Pháp gia Không những thế, một số nhà Nho Việt Nam vì muốn đề cao Nho gia do học được từ các nhà Nho Trung Quốc đ: phê phán Pháp gia Nhưng nói đến lĩnh vực pháp luật thì không giấu được ảnh hưởng của tư tưởng Pháp gia Công bằng mà nói đó là ảnh hưởng gián tiếp qua các bộ luật của các triều

đình phong kiến Trung Quốc chứ không phải

là ảnh hưởng trực tiếp Dù trực tiếp hay gián tiếp thì đó cũng là chịu ảnh hưởng và khó có thể ngăn cản sự phát triển tư tưởng đó trong lịch sử tư tưởng pháp lí của Việt Nam

Bộ luật Hồng Đức ra đời đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động lập pháp của Nhà nước phong kiến Việt Nam nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lí phức tạp trong mọi lĩnh vực

đời sống kinh tế chính trị x: hội, xác lập và phát triển mạnh mẽ chế độ phong kiến Năm

1483 Lê Thánh Tông sai các triều thần sưu tập tất cả các điều luật mà các triều vua Lê trước đó

đ: ban hành và trên cơ sở của những quan hệ

Trang 3

kinh tế x: hội mới phát sinh cần có sự điều

chỉnh và bổ sung thêm một số điều mới cho phù

hợp để xây dựng thành bộ luật hoàn chỉnh Đó

là Bộ Lê triều hình luật mà sử sách thường chép

là Bộ luật Hồng Đức Bộ luật này áp dụng phổ

biến trong thời Lê sơ và trong các triều đại sau

này cho đến tận thế kỉ XVIII Bộ luật Hồng

Đức là bộ luật tổng hợp, bao gồm nhiều ngành

luật như hình sự, dân sự, hôn nhân, hành chính

và quân sự Gồm 722 điều chia làm 6 quyển

Tất cả đều được trình bày dưới dạng những quy

phạm pháp luật hình sự và đều áp dụng chế tài

hình sự Luật này bảo vệ tuyệt đối quyền lực

chính trị và kinh tế của Nhà nước phong kiến

Biểu hiện tập trung nhất là các điều khoản quy

định các nhóm tội phạm cụ thể như tội vi phạm

luật cấm vệ, tội thập ác, tội đạo tặc Luật bảo vệ

lợi ích của giai cấp phong kiến và các đặc

quyền của tầng lớp quý tộc quan liêu Mặc dù

vậy, do kế thừa được một số yếu tố tích cực của

luật tục như coi trọng quyền của người phụ nữ

nên luật Hồng Đức phát huy được tính dân tộc,

xứng đáng là bộ luật tiêu biểu cho pháp luật

phong kiến Việt Nam

Bộ luật thứ hai là luật Gia Long được ra đời

năm 1815 dưới thời Gia Long nên được gọi là

Bộ luật Gia Long Đây là sản phẩm cao nhất

của hoạt động lập pháp dưới triều Nguyễn,

được áp dụng dưới tất cả các đời vua Nguyễn và

là tài liệu cơ bản nhất cho chúng ta biết về tình

hình pháp luật thời Nguyễn Nhà nước phong

kiến triều Nguyễn là nhà nước quân chủ chuyên

chế, đứng đầu triều đình là vua, quyền lực của

nhà vua đứng trên triều đình, vua là người thay

trời trị dân Cho nên khi Bộ luật được hình

thành thì chính Gia Long là người phê chuẩn,

viết bài tựa cho Bộ luật Trong bài tựa Gia Long

đ: nêu lên rằng phải dùng hình phạt hà khắc để

ngăn ngừa và trừng trị những người có hành vi

vi phạm pháp luật “chẩn theo điều lệnh của các

triều, tham chước các điều luật của đời Hồng

Đức và của nhà Thanh, lấy bỏ cân nhắc, cốt sao cho đúng mà vựng tập thành biên Trẫm tự thân sửa chữa ban hành cho thiên hạ khiến người ta biết được phép lớn cần ngừa, rõ như mặt trăng không thể ẩn giấu Điều cấm răn dạy nghiêm như sấm sét không thể xâm phạm".(1)

Bộ luật gồm có 938 điều, chia làm 22 quyển,

do quá lệ thuộc vào luật nhà Thanh nên các

điều khoản trong Bộ luật Gia Long đ: loại bỏ các chế định tương đối tiến bộ của luật Hồng

Đức, trở thành Bộ luật hà khắc nhất trong lịch

sử dân tộc

Tình hình chung thì như vậy nhưng cũng có một vài trường hợp ngoại lệ, đó là Lê Quý Đôn

ở triều Lê - Trịnh và vua Minh Mệnh dưới triều Nguyễn Lê Quý Đôn do học rộng và do có

điều kiện được đi sứ Trung Quốc có dịp đọc tài liệu của Pháp gia nên trong tư tưởng của ông cũng có yếu tố chịu ảnh hưởng trực tiếp của Pháp gia Lê Quý Đôn trong cuốn “Quần thư khảo biện” ông chủ trương trị nước phải kết hợp

“lí” (tư tưởng nhà nho) với “ Thế” (tư tưởng của Thận Đáo và Hàn Phi ) và cho rằng: “chỉ có một cách để ước thúc nhân tâm và chế ngự thế biến đó là pháp chế mà thôi” Chính vì vậy mà một số nhà nghiên cứu Việt Nam hiện nay cho

Lê Quý Đôn là người chịu ảnh hưởng của tư tưởng Pháp gia Nhưng đối với đương thời, ý kiến của Lê Quý Đôn chỉ là ý kiến cá biệt Hơn nữa lúc bấy giờ, triều đình Lê - Trịnh đ: suy tàn, không còn khả năng vực dậy nên tư tưởng của Lê Quý Đôn cũng chưa có tác dụng thực tế Giáo sư Cao Xuân Huy cho rằng về chính trị, Lê Quý Đôn muốn tổng hợp thuyết đức trị của Nho gia và thuyết pháp trị của Pháp gia mà nặng về Pháp gia Giáo sư Nguyễn Tài Thư cũng cho rằng đường lối trị nước của Lê Quý

Đôn là đức trị kết hợp với pháp trị nhưng càng

về sau tư tưởng pháp trị càng chiếm ưu thế Vào năm 1997, ông Văn Tân trong bài kỉ niệm 250 năm ngày sinh Lê Quý Đôn khẳng định: “Lê

Trang 4

Quý Đôn là nhà chính trị, có những hoài bEo

lớn, muốn cho nước giàu dân mạnh bằng một

con đường mới là con đường pháp trị”

Người thứ hai chịu ảnh hưởng tư tưởng

Pháp gia là vua Minh Mệnh Minh Mệnh là

người tôn sùng đạo Nho, luôn tuân thủ nguyên

lí “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”

nhưng lại là người nghiêm khắc về việc áp dụng

hình phạt trong lịch sử phong kiến Việt Nam

Hơn 20 năm trị vì (1820-1841), ngoài việc ban

hành số lượng lớn các văn bản pháp luật, ông

còn chú ý tới hiệu lực thực tế của các văn bản

ấy Vua Minh Mệnh rất nghiêm khắc đối với

mọi trường hợp phạm tội, bất kể là quan đại

thần hay thường dân Thường thì người vi phạm

pháp luật nhiều nhất là các quan đại thần cho

nên ông đ: tập trung vào đối tượng đó để trừng

trị Ông chủ trương dùng hình phạt nặng kể cả

hình phạt tử hình để ngăn chặn tình trạng phạm

tội Trong sách Đại Nam Thực lục ông nói:

“Thánh nhân xưa đặt ra pháp luật là ý muốn trị

tội để mong khỏi phải trị tội nữa, giết người để

khỏi giết người nữa Thế là giết một người mà

làm muôn người sợ Nay nếu không theo luật

nặng mà trị tội thì chỉ được tiếng suông khoan

hồng mà không đúng với cái đạo sáng hình

phạt mà nghiêm khắc luật, sau này sẽ phạm

pháp nhiều ra thì giết không xuể nữa”.(2) Trong

hình phạt tử hình, vua Minh Mệnh áp dụng hai

hình thức là trảm (chém) và giảo (thắt cổ cho

chết) Trong 17 người phải chịu trảm có cả một

tả tham tri (tương đương với thứ trưởng thứ nhất

hiện nay) Có nhiều vụ, vua Minh Mệnh áp

dụng tới 3 án tử hình một lúc như vụ giữa năm

1832 (xử một số quan trong văn phòng của

vua)

Vua Minh Mệnh cũng rất công minh trong

việc áp dụng hình phạt đối với các đối tượng

phạm tội dù người đó thuộc thành phần nào, là

quan lại hay dân thường, thậm chí cả người

thân của mình ông đều căn cứ vào các mức độ

phạm tội mà xử Ông từng nói với các quần thần: “Ta từ khi lên ngôi, chỉ giữ phép công bằng, không hề thiên vị, dù các hoàng tử, tước công hay hầu, những khi nhàn hạ, họ cũng chưa từng dám thỉnh thác việc tư bao giờ".(3) Ông đ: từng cách chức, giáng chức bốn thượng thư, cả thượng thư bộ hình vì họ thiếu trách nhiệm hoặc móc ngoặc, gây hậu quả xấu Sự công minh và nghiêm khắc trong áp dụng hình phạt của vua Minh Mệnh qua việc phân biệt giữa tình và lí còn thể hiện ở chỗ ông không chấp nhận việc dùng “chữ hiếu” để trị tội thay Các nhà Nho do coi trọng chữ hiếu nên chấp nhận việc chịu tội thay nhưng vua Minh Mệnh có cách nhìn khác về quy định này Ông không cho bất kì trường hợp nào con chịu tội thay cha

Ông nói: “Theo phép thường của nhà nước, có tội thì xử hình, nếu cứ thuận nghe cho con chịu tội thay cha thì thiên hạ sẽ bắt chước nhau, há chẳng phải tha kẻ có tội mà phạt người vô tội sao” (Đại Nam Thực lục) Tính nghiêm khắc của vua Minh Mệnh trong việc áp dụng hình phạt còn thể hiện ông là người rất sâu sát trong việc điều tra xét án, ông phân tích kĩ tội của từng người, trên cơ sở đó định ra hình phạt

đúng mức với hành vi của tội phạm Ông rất nhạy cảm với các khuyết tật của quan lại, rất cảnh giác với những lời tâu có ý đồ cá nhân của

họ Đ: có bốn vị quan (hai quan đầu tỉnh, hai quan triều đình) bị ông tống giam vì có những lời tâu vụ lợi

Trong số các vua triều Nguyễn thì Minh Mệnh là hiện tượng đặc biệt (Xem tiếp trang 29)

(1).Xem: Đại Nam thực lục (chính biên) Nxb Sử học

Hà Nội 1963, tập 4, tr 159

(2).Xem: Bùi Xuân Đính (2000) - "Vua Minh Mệnh với việc áp dụng hình phạt" Tạp chí Luật học số 1,

tr 8 - 9

(3) Sđd, tr 11

Ngày đăng: 17/03/2014, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w