Trong khi đó, theo quy định của Điều 763 BLDS về chuyển giao quyền tác giả, quyền công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm; quyền cho hoặc không cho người khác sử
Trang 11 Về chủ thể của quyền tỏc giả
Theo quy định của BLDS, chủ thể của quyền
tỏc giả cú hai đối tượng là tỏc giả (Điều 745) và
chủ sở hữu tỏc phẩm (Điều 746) Tuy nhiờn trờn
thực tế, ngoài hai chủ thể núi trờn cũn cú một chủ
thể khỏ đặc biệt của quyền tỏc giả, họ khụng phải
là tỏc giả, cũng khụng phải là chủ sở hữu tỏc
phẩm nhưng lại là chủ sở hữu một số quyền (của
tỏc giả) Trường hợp tỏc giả khụng đồng thời là
chủ sở hữu tỏc phẩm qua đời, người thừa kế của
họ sẽ trở thành chủ sở hữu một số quyền của tỏc
giả theo quy định của phỏp luật như: Quyền
hưởng nhuận bỳt, quyền được hưởng thự lao khi
tỏc phẩm được sử dụng, quyền nhận giải thưởng
Vỡ vậy, bờn cạnh hai chủ thể hiện nay của quyền
tỏc giả là tỏc giả và chủ sở hữu tỏc phẩm, cỏc nhà
làm luật nờn xem xột để bổ sung thờm quy định về
chủ sở hữu một số quyền của tỏc giả, cụ thể:
"Người thừa kế của tỏc giả khụng đồng thời là
chủ sở hữu tỏc phẩm là chủ sở hữu những quyền
tỏc giả được thừa kế"
Điều 746 quy định về chủ sở hữu tỏc phẩm
trong đú khoản 1 liệt kờ cỏc loại chủ sở hữu tỏc
phẩm bao gồm: Chủ sở hữu tỏc phẩm đồng thời là
tỏc giả và chủ sở hữu tỏc phẩm khụng đồng thời là
tỏc giả Khoản 2 Điều 746 quy định: "Tỏc giả
sỏng tạo tỏc phẩm theo nhiệm vụ được giao
hoặc theo hợp đồng quy định tại điểm c và d khoản 1 điều này cú cỏc quyền quy định tại Điều 752 của Bộ luật này” Tỏc giả sỏng tạo tỏc
phẩm theo nhiệm vụ hoặc theo quy định của phỏp luật khụng phải là chủ sở hữu tỏc phẩm Việc quy định về chủ thể này trong Điều 746 là khụng phự hợp vỡ Điều 746 cú tiờu đề là "chủ sở hữu tỏc phẩm" chứ khụng quy định về tỏc giả Mặt khỏc, cỏc quyền của tỏc giả khụng đồng thời là chủ sở hữu tỏc phẩm cũng đó được quy định tại Điều
672 BLDS, vỡ vậy, quy định trờn là khụng cần thiết Để điều luật mang tớnh logic, Điều 746 nờn
bỏ quy định tại khoản 2 và chỉ giữ lại quy định về chủ sở hữu tỏc phẩm
2 Cỏc loại hỡnh tỏc phẩm được bảo hộ
- Về cỏc loại hỡnh tỏc phẩm được bảo hộ Điều 747 BLDS quy định về cỏc loại hỡnh tỏc phẩm được bảo hộ Điểm n khoản 1 đề cập cỏc tỏc phẩm phỏi sinh bao gồm: "Tỏc phẩm dịch, phúng tỏc, cải biờn, chuyển thể, biờn soạn, chỳ giải, tuyển tập, hợp tuyển" Theo quy định tại cỏc điểm g, h khoản 13 Điều 4 Nghị định số 76/CP
thỡ “tỏc phẩm tuyển tập tập hợp những tỏc
phẩm hoặc bài viết được chọn lọc của một hoặc nhiều tỏc giả”; “tỏc phẩm hợp tuyển
* Giảng viên Khoa luật dân sự Tr-ờng đại học luật Hà Nội
ThS Vũ Thị Hải Yến *
Trang 2được tuyển chọn từ nhiều tác phẩm của nhiều
tác giả theo một yêu cầu nhất định” Tác phẩm
tuyển tập hay hợp tuyển không có sự khác biệt
nhau, chúng đều là tác phẩm tuyển chọn từ nhiều
tác phẩm của một hoặc nhiều tác giả Mặt khác,
khi liệt kê các loại tác giả của tác phẩm "phái
sinh", điểm b khoản 2 Điều 745 quy định: “Người
biên soạn, chú giải, tuyển chọn tác phẩm của
người khác thành tác phẩm có tính sáng tạo là
tác giả của tác phẩm biên soạn, chú giải,
tuyển chọn đó” Như vậy, trong điều luật này lại
không đề cập tác phẩm "tuyển tập" hay "hợp
tuyển" mà lại gọi chung là tác phẩm "tuyển chọn"
Khi so sánh hai điều luật kể trên, chúng ta thấy
không có sự nhất quán Vì vậy, điểm n khoản 1
Điều 747 nên sửa cụm từ "tuyển tập, hợp tuyển"
thành "tuyển chọn" cho phù hợp
Một vấn đề nữa là Điều 747 quy định về các
loại hình tác phẩm được bảo hộ có nhiều điểm bất
hợp lí Khoản 1 điều luật liệt kê rất dài dòng (từ
điểm a đến điểm p) nhưng sắp xếp thiếu logic,
không dựa trên một tiêu chí nhất định nào để phân
loại vì thế gây nên sự lẫn lộn, trùng lặp, chồng
chéo giữa các loại hình tác phẩm được bảo hộ Ví
dụ các loại hình tác phẩm sau được liết kê trùng
lặp: Tác phẩm viết (điểm a), tác phẩm báo chí
(điểm e), công trình khoa học, sách giáo khoa,
giáo trình (điểm l), tác phẩm dịch, phóng tác, cải
biên, chuyển thể, tuyển tập, hợp tuyển (điểm n)
Theo chúng tôi, các tác phẩm này đều có thể gọi
là tác phẩm viết Tương tự như vậy, tác phẩm
kiến trúc (điểm h), các bức họa đồ, bản vẽ, sơ
đồ, bản đồ có liên quan đến địa hình, kiến trúc
(điểm m) có thể gọi chung là tác phẩm kiến trúc
Theo chúng tôi, để tránh trùng lặp, khi xác định các loại hình tác phẩm được bảo hộ cần phải căn cứ vào tiêu chí nhất định Nếu theo nội dung
tư tưởng của tác phẩm, có thể phân loại tác phẩm như sau:
- Tác phẩm văn học, nghệ thuật;
- Tác phẩm chính trị, xã hội;
- Tác phẩm khoa học, kĩ thuật
Hoặc nếu dựa vào hình thức thực hiện tác phẩm sẽ có các loại hình tác phẩm sau:
+ Tác phẩm viết;
+ Tác phẩm trình bày bằng lời nói (bài giảng, bài phát biểu);
+ Tác phẩm sân khấu và các loại hình biểu diễn nghệ thuật khác;
+ Tác phẩm điện ảnh, video;
+ Tác phẩm phát thanh, truyền hình;
+ Tác phẩm kiến trúc, tạo hình;
+ Tác phẩm nhiếp ảnh;
+ Phần mềm máy tính;
+ Các tác phẩm khác do pháp luật quy định
- Về tác phẩm không được Nhà nước bảo hộ (Điều 749)
Đối với lĩnh vực quyền tác giả, sự bảo hộ pháp lí hướng tới việc bảo hộ hình thức sáng tạo tác phẩm Đó là hình thức chuyển tải nội dung, ý tưởng thông qua các phương thức biểu hiện khác nhau như: Ngôn ngữ, kí tự âm nhạc, mầu sắc, hình khối Đây cũng là điểm khác biệt cơ bản với việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, là việc bảo hộ nội dung đối tượng sáng tạo Vì vậy, khi xem xét việc bảo hộ quyền tác giả đối với một tác phẩm, chủ yếu là xem xét tác phẩm đó có sự sáng tạo trong hình thức thể hiện hay không chứ không
Trang 3phải căn cứ vào nội dung hay giá trị nghệ thuật,
khoa học của tác phẩm Vì vậy, Điều 749 lấy tiêu
chí về nội dung để loại bỏ những tác phẩm không
được bảo hộ theo là không hợp lí
Bên cạnh đó, phương pháp điều chỉnh của
luật dân sự chủ yếu là bình đẳng, thoả thuận Vì
vậy, nên hạn chế việc đưa vào BLDS những quy
phạm mệnh lệnh dưới dạng "không cho phép" như
Điều 749
Hiện nay, chúng ta đã kí Hiệp định thương
mại Việt Nam - Hoa Kì, Hiệp định với Chính phủ
liên bang Thuỵ Sĩ về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ; trong
tương lai không xa, chúng ta sẽ tham gia Công
ước bên bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ
thuật Khoản 2 Điều 827 BLDS quy định:
"Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc
tham gia có quy định khác với quy định của
Bộ luật này, thì áp dụng quy định của điều ước
quốc tế" Trong các điều ước quốc tế kể trên
đều thể hiện nguyên tắc chung là không có sự
phân biệt trong việc bảo hộ tác phẩm, không quy
định về tác phẩm không được bảo hộ Ví dụ:
Theo nguyên tắc đối xử quốc gia được các bên
thoả thuận trong Hiệp định thương mại Việt Nam
- Hoa Kì, những tác phẩm được bảo hộ tại Mĩ thì
cũng được hưởng sự bảo hộ tại Việt Nam và
ngược lại Như vậy, có thể xảy ra tình trạng có
những tác phẩm vi phạm Điều 749 nhưng nếu
theo nội dung các điều ước quốc tế mà chúng ta
kí kết hoặc tham gia, tác phẩm đó được bảo hộ ở
một trong các nước tham gia kí kết điều ước quốc
tế thì chúng ta vẫn phải bảo hộ theo nguyên tắc
đối xử quốc gia Trong trường hợp này, Điều 749 không còn tính khả thi
Tuy nhiên, việc bảo vệ lợi ích quốc gia, thuần phong mĩ tục của dân tộc, bí mật nhà nước đương nhiên là rất quan trọng Vì vậy, để loại trừ những tác phẩm có nội dung như Điều 749 đã liệt
kê, chúng ta có thể có những quy định cấm lưu hành, xuất bản những tác phẩm đó trong các luật khác phù hợp hơn như: Luật xuất bản, Luật báo chí
3 Các quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm
Hiện nay, trong BLDS, các quyền của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm được quy định tại mục 2 từ Điều 750 đến Điều 766 Trong những quy định này vẫn còn tồn tại một số điểm bất hợp lí:
- Về quyền công bố, phổ biến tác phẩm, cho hoặc không cho người khác sử dụng tác phẩm Theo Điều 751, 753 BLDS, quyền công bố, phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác phẩm; quyền cho hoặc không cho người khác
sử dụng tác phẩm là thuộc nhóm quyền nhân thân của tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm hoặc chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả Tuy nhiên, những quyền này không mang tính chất của quyền nhân thân Điều 26 BLDS quy
định: “Quyền nhân thân được quy định trong
Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi
cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Như vậy, quyền nhân thân có tính chất
đặc trưng là luôn gắn liền với một chủ thể nhất định, không thể chuyển giao cho người khác như: Quyền đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm là những quyền nhân thân
Trang 4gắn bó vĩnh viễn với tác giả, ngay cả khi tác giả
chết đi nó cũng không được chuyển giao cho
người khác Những quyền nhân thân này theo
Điều 766 BLDS được bảo hộ vô thời hạn Trong
khi đó, theo quy định của Điều 763 BLDS về
chuyển giao quyền tác giả, quyền công bố, phổ
biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến tác
phẩm; quyền cho hoặc không cho người khác sử
dụng tác phẩm lại có thể chuyển giao cho người
khác theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp
luật thừa kế Không những thế, khi tác giả đồng
thời là chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu tác phẩm thực
hiện những quyền này, họ có thể được hưởng
những lợi ích vật chất nhất định theo tính chất trao
đổi ngang giá và đền bù tương đương của quan hệ
tài sản
Về bản chất, những quyền này là những
quyền tài sản - một trong các loại tài sản được liệt
kê tại Điều 172 BLDS; mặt khác, nếu là quyền
nhân thân thì không thể là đối tượng của hợp đồng
hoặc không thể là di sản thừa kế, vì chỉ có tài sản
mới có thể là đối tượng của hợp đồng hoặc là di
sản thừa kế Trong Công ước Berne - Công ước
quốc tế về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ
thuật mà Việt Nam trong tương lai không xa sẽ
phải tham gia, những quyền này cũng được coi là
những quyền kinh tế của tác giả hoặc chủ sở hữu
Chính vì vậy, BLDS nên xác định quyền công bố,
phổ biến hoặc cho người khác công bố, phổ biến
tác phẩm; quyền cho hoặc không cho người khác
sử dụng tác phẩm là những quyền tài sản thì sẽ
hợp lí hơn
- Về các quyền của tác giả dịch, phóng tác, biên soạn,
cải biên, chuyển thể (Điều 757 BLDS)
Theo Điều 757, tác giả dịch, phóng tác, biên soạn, cải biên, chuyển thể được hưởng các quyền tác giả đối với tác phẩm theo Điều 751 hoặc 752 BLDS Trong các chủ thể trên, điều luật chỉ quy định người phóng tác, biên soạn, cải biên, chuyển thể khi sử dụng tác phẩm phải được tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm gốc cho phép và phải trả thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm gốc mà không quy định người dịch tác phẩm phải có những nghĩa vụ này Đối chiếu với các quy định khác của BLDS, chúng ta có thể thấy những điểm mâu thuẫn sau:
- Khoản 2 Điều 751 và khoản 2 Điều 753 đều quy định tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm, chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là
tác giả “được hưởng lợi ích vật chất từ việc
cho người khác sử dụng tác phẩm dưới các hình thức sau đây:
+ Xuất bản, tái bản, trưng bày, triển lãm, biểu diễn, phát thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh;
+ Dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể; + Cho thuê”
Trong khi đó Điều 757 “Các quyền của tác giả dịch, phóng tác, biên soạn, cải biên, chuyển
thể” khoản 1 quy định: “Tác giả các tác phẩm
phóng tác, biên soạn, cải biên, chuyển thể phải trả thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm gốc ”; khoản 2 điều luật này lại không
quy định tác giả dịch phải thực hiện nghĩa vụ này Như vậy, giữa Điều 751, 753 với Điều 757 đã không có sự quy định thống nhất Thực chất, theo Điều 751, 753 người dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể tác phẩm đều có nghĩa vụ phải trả thù
Trang 5lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm gốc
nhưng Điều 757 lại không quy định người dịch tác
phẩm cũng có nghĩa vụ này Do đó, Điều 757 cần
phải bổ sung thêm người dịch cũng có nghĩa vụ trả
thù lao cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm
Khoản 1 Điều 757 cũng quy định: “Tác giả
các tác phẩm phóng tác, biên soạn, cải biên,
chuyển thể được hưởng các quyền tác giả đối
với tác phẩm đó theo quy định tại Điều 751
hoặc Điều 752 của Bộ luật này, nhưng phải
được tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm gốc
cho phép ”; khoản 2 Điều luật này quy định:
“Đối với tác phẩm dịch thì tác giả dịch được
hưởng các quyền tác giả theo quy định tại
Điều 751 hoặc Điều 752 của Bộ luật này, trừ
quyền đặt tên cho tác phẩm” Căn cứ vào điều
luật trên thì tác giả của tác phẩm dịch không có
nghĩa vụ bắt buộc phải xin phép tác giả hoặc chủ
sở hữu tác phẩm gốc như tác giả các tác phẩm
phóng tác, cải biên, chuyển thể Trong khi đó nếu
căn cứ vào Điều 760 và Điều 761 của BLDS thì
chỉ việc “dịch, phổ biến tác phẩm từ tiếng Việt
sang tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam và ngược
lại” là không phải xin phép, không phải trả thù lao
Có thể thấy giữa các điều luật này đã mâu thuẫn
nhau Khoản 3 Điều 8 Nghị định số 76/CP ngày
29/11/1996 quy định: “Quyền của tác giả cho
phép hoặc không cho phép người khác sử
dụng tác phẩm quy định tại Điểm d, khoản1
Điều 751 của Bộ luật được thực hiện dưới các
hình thức sau đây: Sao chép lại tác phẩm dưới
bất kì hình thức nào; dịch, phóng tác, biên
soạn, cải biên, chuyển thể”; Điều 11 Nghị định
số 76/CP quy định: “Trong trường hợp cá
nhân, tổ chức dựa vào tác phẩm dịch, phóng tác, biên soạn, cải biên, chuyển thể của người khác để sáng tạo ra tác phẩm mới thì phải được sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm” Như vậy, giữa quy định của BLDS
và văn bản hướng dẫn thi hành về vấn đề này cũng mâu thuẫn nhau Nghị định số
31/2001/NĐ-CP ngày 26/6/2001 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hoá thông tin tại điểm a khoản 2 Điều 43 quy định mức xử phạt từ 3.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi dịch tác phẩm mà không có sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm gốc Trong khi luật nội dung quy định không rõ ràng thì
cơ quan nhà nước có thẩm quyền khó có thể xác định hành vi “dịch tác phẩm mà không có sự đồng
ý của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm gốc” là vi phạm để ra quyết định xử phạt
Trên thực tế, việc dịch tác phẩm của người khác mà không được sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm gốc trong khi tác phẩm đang trong thời hạn bảo hộ rõ ràng là vô lí, bởi lẽ dịch
là hình thức sử dụng tác phẩm, nhất là khi việc sử dụng đó lại mang đến cho người dịch không chỉ những lợi ích tinh thần mà còn cả những lợi ích vật chất Hiện nay, chúng ta chưa tham gia vào Công ước Berne nhưng Việt Nam đã tham gia kí kết các Hiệp định song phương như: Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hoà XHCN Việt Nam và Chính phủ Liên bang Thuỵ Sĩ về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ; Hiệp định giữa Cộng hoà XHCN Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kì về quan hệ thương mại Trong các hiệp định này đều có điều khoản các bên cam kết
Trang 6thực hiện những nghĩa vụ và quyền hạn quy định
tại Hiệp định đa phương có liên quan đến quyền
tác giả là Công ước Berne Điều 8 Công ước
Berne quy định: “Tác giả của tác phẩm văn
học, nghệ thuật được Công ước này bảo hộ
được độc quyền dịch hay cho phép dịch tác
phẩm của mình trong suốt thời hạn hưởng
quyền bảo hộ trên các tác phẩm nguyên tác
của mình.” Từ những phân tích trên đây, theo
chúng tôi, BLDS nên quy định việc dịch tác phẩm
phải được sự cho phép của tác giả hoặc chủ sở
hữu tác phẩm gốc
- Về các quyền tài sản của tác giả, chủ sở
hữu tác phẩm
Khoản 2 Điều 751 BLDS quy định: “Tác giả đồng
thời là chủ sở hữu tác phẩm có các quyền tài sản đối
với tác phẩm của mình bao gồm:
a Được hưởng nhuận bút;
b Được hưởng thù lao khi tác phẩm được
sử dụng;
c Được hưởng lợi ích vật chất từ việc cho
người khác sử dụng tác phẩm dưới các hình
thức xuất bản, tái bản, trưng bày, triển lãm,
biểu diễn, phát thanh, truyền hình, ghi âm, ghi
hình, chụp ảnh; dịch, phóng tác, cải biên,
chuển thể; cho thuê;
d Nhận giải thưởng đối với tác phẩm mà
mình là tác giả, trừ trường hợp tác phẩm
không được Nhà nước bảo hộ"
Đối chiếu với khoản 2 Điều 752 và khoản 2
Điều 753 thì tác giả không đồng thời là chủ sở
hữu tác phẩm được hưởng các quyền tài sản nói
tại điểm a, b và d; còn chủ sở hữu tác phẩm được
hưởng quyền tài sản quy định tại điểm c Tuy
nhiên, giữa ba quyền tài sản quy định tại điểm a,b
và c của điều luật trên hiện nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể để phân biệt rạch ròi ba quyền tài sản này dẫn đến việc áp dụng không thống nhất trong thực tế Cũng cần có hướng dẫn cụ thể tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm sẽ đồng thời được hưởng cả ba quyền tài sản này hay chỉ được hưởng từng quyền năng nhất định trong từng trường hợp cụ thể? Về quyền được hưởng nhuận bút và quyền được hưởng thù lao khi tác phẩm được sử dụng, hiện nay đang tồn tại hai quan điểm khác nhau:
Quan điểm 1 cho rằng nhuận bút là khoản lợi ích vật chất được trả cho tác giả khi tác phẩm được hoàn thành, không phân biệt tác phẩm được thể hiện dưới hình thức nào (chỉ tác giả mới được hưởng và chỉ hưởng một lần) Còn thù lao là khoản lợi ích vật chất được hưởng khi tác phẩm được sử dụng hoặc tái sử dụng Theo quan điểm này, tác giả có thể đồng thời hưởng cả nhuận bút
và thù lao từ bên sử dụng tác phẩm
Quan điểm 2 cho rằng nhuận bút là khoản tiền
do bên sử dụng tác phẩm trả cho tác giả khi tác phẩm được sử dụng dưới một trong các hình thức: Xuất bản, đăng báo, tạp chí, công diễn, điện ảnh, phát thanh, truyền hình Còn thù lao là khoản lợi ích vật chất mà tác giả được hưởng khi tác phẩm đó là tác phẩm đơn chiếc, có đặc thù riêng như tranh, ảnh, công trình mĩ thuật, tượng đài, điêu khắc, tạo hình và thường được sử dụng dưới hình thức trưng bày triển lãm hoặc khi tác giả hưởng lợi ích vật chất do người khác sử dụng tác phẩm để chuyển thể, cải biên, phóng tác Theo chúng tôi, những cách phân biệt trên
Trang 7đều chưa thật sự thoả đáng Trong khi vẫn chưa
có sự phân biệt rạch ròi giữa nhuận bút và thù lao
thì ngày 11/6/2002 Chính phủ ban hành Nghị định
số 61/2002/NĐ-CP về chế độ nhuận bút, thể chế
hoá những quyền lợi của người sáng tác về mặt
vật chất nhằm động viên, khuyến khích hoạt động
sáng tạo Tuy nhiên, Điều 5 Nghị định số 61/CP
định nghĩa: “Nhuận bút là khoản tiền do bên sử
dụng tác phẩm trả cho tác giả hoặc chủ sở
hữu tác phẩm khi tác phẩm được sử dụng”
Nội dung các điều 2, 8, 13, 19, 23, 27 đều thể
hiện tinh thần này Theo Nghị định số 61/CP, tiền
thù lao được trả cho những người thực hiện các
công việc liên quan đến tác phẩm, phụ giúp tác giả
trong quá trình hoàn thành tác phẩm Trong khi đó
Điều 752, 753 BLDS quy định chỉ có tác giả là
người được hưởng nhuận bút, thù lao, còn chủ sở
hữu tác phẩm thì chỉ được hưởng lợi ích vật chất
từ việc sử dụng tác phẩm dưới các hình thức xuất
bản, tái bản, trưng bày, triển lãm, biểu diễn, phát
thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình, chụp ảnh;
dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể; cho thuê
Có thể thấy rõ Nghị định số 61/CP có những
điểm không phù hợp với quy định của BLDS và
việc phân biệt giữa nhuận bút và thù lao trong
Nghị định số 61/CP là không hợp lí
Theo chúng tôi, để phân biệt quyền hưởng
nhuận bút và thù lao nên tuỳ thuộc vào hình thức
sử dụng tác phẩm Nếu tác phẩm được sử dụng
dưới hình thức xuất bản (như sách, báo, thơ,
nhạc ) thì tác giả được hưởng nhuận bút khi tác
phẩm được công bố, phổ biến; còn khi tác phẩm
được sử dụng dưới các hình thức khác như biểu
diễn (tác phẩm sân khấu, múa ), trưng bày triển
lãm (tác phẩm tạo hình, tranh, tượng, phần mềm máy tính ), sử dụng để sản xuất chương trình âm nhạc trên băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình hoặc sử dụng để chuyển thể, cải biên, phóng tác thì tác giả được hưởng tiền thù lao
- Về việc thừa kế các quyền liên quan đến tác phẩm của chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời
là tác giả
Theo quy định của Điều 764 và Điều 765 BLDS cũng như các văn bản pháp luật liên quan thì chỉ có tác giả (bao gồm tác giả đồng thời là chủ
sở hữu tác phẩm và tác giả không đồng thời là chủ
sở hữu tác phẩm) mới có quyền để lại thừa kế; hay nói cách khác, chỉ những người thừa kế của tác giả mới được hưởng thừa kế các quyền của tác giả Trong khi đó, chủ sở hữu tác phẩm dù không phải là tác giả cũng có các quyền từ tác phẩm mà mình là chủ sở hữu quy định trong Điều
753 Đây là những quyền tài sản của chủ sở hữu tác phẩm Vì vậy, khi chủ sở hữu tác phẩm chết, những quyền này trở thành di sản của họ và phải được để lại thừa kế BLDS nên bổ sung thêm quy định về việc thừa kế các quyền liên quan đến tác phẩm của chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời
là tác giả Cụ thể: "Trường hợp chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả chết, người thừa
kế của họ được hưởng các quyền quy định tại Điều 753 của Bộ luật này
Trong trường hợp không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không có quyền nhận di sản thì các quyền đó thuộc Nhà nước
Trong trường hợp người thừa kế của chủ sở hữu tác phẩm không đồng thời là tác giả chết
Trang 8trước khi hết thời hạn bảo hộ thì người thừa kế
của người đó được hưởng các quyền nói trên cho
đến hết thời hạn bảo hộ"
Tôn trọng và bảo vệ quyền tác giả nói riêng,
quyền sở hữu trí tuệ nói chung luôn là biểu hiện
của quốc gia tiến bộ, vì sự phát triển của nhân
loại Đối với nước ta hiện nay, đó còn là bước đi
tất yếu trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới
Việc sửa đổi những quy định pháp luật về lĩnh vực
này là hết sức cần thiết để phù hợp với mục đích
khuyến khích các sáng tạo tinh thần trên phạm vi
toàn cầu./