NHÌN LẠI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ (2011-2012) GỢI Ý CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHỮNG NĂM TIẾP THEO
Trang 1NHÌN LẠI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ (2011-2012) GỢI Ý CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHỮNG NĂM TIẾP THEO
Nhóm nghiên cứu Học viện Chính sách Phát triển:
PGS.TS Đào Hùng TS.Nguyễn Thạc Hoát
TS Nguyễn Trọng NghĩaThS Nguyễn Thế VinhThS Nguyễn Việt Anh
Việt Nam bước vào giai đoạn 2011-2012 trong bối cảnh nền kinh tế trongnước đối mặt với nhiều thách thức to lớn Lạm phát của thế giới có xu hướngtăng lên, trong đó giá dầu thô, giá nguyên vật liệu cơ (bản đầu vào của sản xuất),giá lương thực, và thực phẩm trên thế giới tăng cao.Trong khi đó, vào năm
2011, giá cả trong nước tăng cao, áp lực lạm phát ngày càng tăng lên do nhiềunguyên nhân nội tại của nền kinh tế tích lũy từ trước đến nay và chính sách nớilỏng tiền tệ để ngăn chặn suy giảm, duy trì tăng trưởng trong thời gian 2008-
2010, làm tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta
Nghị quyết Hội nghị T.Ư 3 (khóa XI) tháng 10-2011 đã xác định giaiđoạn 2011-2015, ưu tiên hàng đầu của kinh tế Việt Nam là kiềm chế lạm phát,
ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đi đôi với đổi mới mô hình tăngtrưởng, cơ cấu lại nền kinh tế
Cùng với sự điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô, Chính phủ đã đổimới quan điểm, điều chỉnh mục tiêu chính sách tiền tệ thực hiện các Nghị quyếtcủa Đảng và Quốc hội về phát triển kinh tế xã hội, tập trung kiềm chế lạm phát,
ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, thể hiện rõ trong các nghị quyếtcủa Chính phủ 2011-20121
NHNN đã ban hành các văn bản chỉ đạo2 triển khai thực hiện CSTT,điều hành nhất quán, kiên định theo các định hướng mục tiêu của Đảng, Quốchội, Chính phủ về kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh
1 Nghị quyết 01/2011/NQ-CP; Nghị quyết 11/2011/NQ-CP, ngày 24/2/2011; Nghị quyết 01/2012/NQ-CP; Nghị quyết 13/2012/NQ-CP
2 Chỉ thị 01/2011/CT-NHNN, ngày 4/3/2011; Chỉ thị 01/2012/CT-NHNN; Công văn 3739/NHNN ngày
Trang 2tế vĩ mô và nhiệm vụ đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tíndụng(TCTD).
Về CSTT giai đoạn trước năm 2010 đã được đề cập trong nhiều côngtrình, dự án nghiên cứu cụ thể.Vì vậy, trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi
chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu của CSTT trong năm 2011 và 2012.Những số liệu liên quan đến thời kỳ trước được sử dụng để phân tích, so sánh để làm rõ hơn CSTT 2011-2012.
I ĐỊNH HƯỚNG MỤC TIÊU VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ2011-2012
1 Mục tiêu hàng đầu của CSTT:
Thời kỳ 1997-2010, theo quy định của Luật NHNN 19973, quy định rõquan điểm CSTT đa mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, gópphần thúc đẩy kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống
xã hội
Thời kỳ 2011-2012, Luật NHNN 20104, có hiệu lực từ 1/1/2011, chỉ quyđịnh một mục tiêu của CSTT, đó là:ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉtiêu lạm phát
Theo luật NHNN 2010, thì mục tiêu cao nhất, mục tiêu cuối cùng của CSTT của Việt Nam hiện nay là: Ổn định giá trị đồng tiền Đây là sự đổi mới, hoàn thiện đúng hướng của CSTT ở VN, theo hướng CSTT đơn mục tiêu, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế.
Nghiên cứu quá trình hoạch định và thực mục tiêu kiểm soátlạm phát thời
kỳ 2004-2012 cho thấy:
Bảng 1.Lạm phát: Mục tiêu và kết quả thực hiệngiai đoạn 2004-2012
Mục tiêu <5 <6.5 <8 <8 <10 15 7-8 <7 <10 Thực
Nguồn: Tổng cục Thống kê, * Ước thực hiện
Đồ thị 1: Lạm phát: Mục tiêu và kết quả thực hiện giai đoạn 2004-2012
3 Điều 2, Luật NHNN số 06/1997/QH, ngày 12/12/1997
Trang 3Chỉ tiêu lạm phát mục tiêu 2011 đặt ra với mức kỳ vọng cao hơn nhiều sovới thực tế, gây áp lực lớn cho điều hành CSTT và buộc phải sử dụng công cụ,các biện pháp hành chính, ngắn hạn, gây sốc cho nền kinh tế.
Năm 2011 lạm phát mục tiêu đề ra <7 %/năm, thấp hơn nhiều so với mứclạm phát thực tế bình quân của 3 năm trước đó 2008-2010 (12.73%) Điều nàycho thấykỳ vọng quá cao của chính phủ, muốn ổn định nhanh kinh tế vĩ mô Dovậy, NHNN bắt , buộc phải cắt giảm cung tiền và giảm tăng trưởng tín dụng độtngột, gây ra các hệ quả không như mong muốn: lãi suất cho vay và nợ xấu tăngcao, thanh khoản của hệ thống Ngân hàng căng thẳng, thị trường chứng khoánsuy kiệt, thị trường bất động sản đóng băng, nhưng lạm phát thực tế vẫn ở mứcquá cao 18.13% Nguyên nhân của mức lạm phát năm 2011 quá cao so với mụctiêu đề ra (<7%) là do những hệ quả , tất yếucủa việc mở rộng cung tiền quámức và tăng trưởng tín dụng quá nóng trong giai đoạn trước đó và một phầnxuất phát từ việc điều hành CSTT thiếu chủ động;
Xét về phía tổng cầu, tính trung bình, cung tiền M2 và tín dụngtăngkhoảng 31.17%/năm và 35.17% cho giai đoạn 2004-2010.Như vậy, tronggiai đoạn 2004-2010, tăng trưởng cung tiền M2 và tăng trưởng tín dụng củaViệt Nam là khá cao Điều này sẽ dẫn đến những hệ lụy liên quan đến ổn định
vĩ mô và lạm phát cho những năm tiếp theo
Xét từ phía điều hành CSTT:Trước tình hình lạm phát quý I/2011 ở mứccao(bình quân hơn2%/tháng), ngày 24/2/2011 NQ 11/NQ-CP mới được banhành và ngày 1/3/2011, chỉ thị 01/CT-NHNN triển khai thực hiện NQ11 mới rađời., Như vậy, việc châm trễ trong thực thi chính sách và những độ trễ nhất định
Trang 4trong điều hành chính sách cũng dẫn đến những ảnh hưởng nhất định tới lạmphát.Nếu các Nghị quyết và chỉ thị nói trên được ban hành vào cuối năm 2010,thì hiệu quả kiềm chế lạm phát năm 2011 chắc sẽ đạt được kết quả khả quanhơn.
Chỉ tiêu lạm phát mục tiêu năm 2012 đặt ra < 10% là sự lựa chọn hợp lý
so với mức lạm phát thực tế các năm trước và thực trạng nền kinh tế
Kết quả kiểm soát lạm phát 2012 ước đạt ở mức 7% là thành công bước đầu.Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát ở mức thấp trong điều kiện nền kinh tế đang khó khăn, tổng cầu suy giảm quá mức sẽ gây những khó khăn cho kinh tế vĩ mô.Nếu
tỷ lệ lạm phát 2012 ở mức 9% thì hiệu quả của CSTT đạt được sẽ cao hơn rất nhiều
Nhìn lạichỉ tiêulạm phát thực tế bình quân (2004-2012) là 11.16%/, lạmphát mục tiêu bình quân 2004-2012 là 8.6%/năm và thực trạng nền kinh tế thìmục tiêu kiểm soát lạm phát 2012 đề ra <10% là có cơ sở thực tiễn và quan điểmchính sách phù hợp
Mục tiêu lạm phát 2012 được Quốc hội đề ra <10%; đến cuối tháng 4/2012 Bộ chính trị đặt ra mục tiêu tiếp tục kiềm chế lạm phát năm 2012 ở mức 8-9% là một quyết sách đúng đắn, nhạy bén, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô 5
Việc điều hành tỷ lệ lạm phát 2012 đạt mức thấp, là tấm huân chương 2mặt, trong đó có mặt hạn chế là: phải trả giá bằng giản thời gian điều chỉnh giámột số hàng hóa và dịch vụ do Nhà nước định giá và kiểm soát giá (y tế, giáodục, nước sạch, xe buýt) theo chỉ thị 25/2012/CT-TTg ngày 26/9/2012 và chưa
hỗ trợ cải thiện được thực trạng tổng cầu nền kinh tế giảm, SXKD khó khăn,thất nghiệp tăng
Xu hướng lạm phát 2011-2012 là sự lặp lạivòng xoáy lạm phát từ
2004-2012, theo chu kỳ 3 năm 1 lần: 2 năm tăng vọt lên và 1 năm giảm xuống sâu đột ngột.
Điều này cho thấy, kết quả kiểm soát lạm phát chỉ mang tính thời điểm, không ổn định và chưa vững chắc, các yếu tố gây nên lạm phát cao chưa giải quyết được tận gốc rễ.
Trang 5Giai đoạn 2004-2012, trong 9 năm, xẩy ra 3 vòng xoáy lạm phát lặp lại
cùng 1 xu hướng: 2004-2006: 9.5% , 8.4% và 6.6%; 2007-2009: 12.6% , 19.9% và 6.5%; 2010-2012: 11.8%, 18.13% và 7%.
Đánh giá một cách khách quan, toàn diện cho thấy:Những nguyên nhânchủ quan làm bùng phát lạm phát cao từ trước đến nay do bất cập trong điềuhành CSTT đã bộc lộ rõ và đã khắc phục ngày càng tốt hơn trong giai đoạn2011-2012
Đối với các nguyên nhân khách quan của nền kinh tế, gây áp lực tạo nênlạm phát cao ở nước ta vẫn còn nguyên Đó là những yếu tố gây nên áp lực lạmphát chi phí đẩy của nền kinh tế như: xu thế giá cả hàng hóa thế giới ngày càngtăng cao với một nền kinh tế có tỷ lệ nhập khẩu/GDP cao hơn 80%; sự tăng lêncủa chi phí sản xuất do cơ cấu kinh tế, chất lượng tăng trưởng, quản lý kém hiệuquả và yêu cầu phải điều chỉnh tăng tiền lương; sự tăng giá các mặt hàng chủchốt và dịch vụ thiết yếu do quá trình điều chỉnh giá bao cấp sang giá thị trườngcủa các hang hóa, dịch vụ Nhà nước quản lý và kiểm soát giá
Như vậy, thách thức lớn nhất đối với vấn đề kiểm soát lạm phát và điềuhành CSTT của Việt Nam trong năm 2013 và những năm tới là từ các yếu tố gâynên lạm phát chi phí đẩy chứ không phải nguy cơ từ các yếu tố cầu kéo và cácnguyên nhân khác
Từ các phân tích nói trên, có thể rút ra một số quan điểm để xây dựng và thực hiện có hiệu quả mục tiêu cao nhất của CSTT ở VN sau đây:
- Hoạch định mục tiêu kiểm soát lạm phát không thể xây dựng theo chỉtiêu hàng năm như hiện nay, mà phải được hoạch định trong cả thời kỳ trung vàdài hạn, chia ra từng năm, theo một lộ trình phù hợp với quá trình tái cơ cấu vàđổi mới mô hình tăng trưởng của nền kinh tế;lựa chọn tối ưu mục tiêu ngắn hạn,trung và dài hạn
- Kiểm soát chặt chẽ các yếu tố gây nên áp lực tăng tổng cầu quá mức,
ngăn ngừa tái lập nguy cơ lạm phát tiền tệ từ kênh tín dụng, tài khóa và cung tiền
- Điều hành không để xẩy ra việc tăng tổng cầu dồn dập, tập trung vàomột thời điểm, đặc biệt là điều chỉnh tăng tiền lương và các loại giá hàng hóadịch vụ từ giá bao cấp sang cơ chế giá thị trường, không làm cho giá cả bị đẩy lên
Trang 6- Đối với những ngành kinh tế chưa đạt đến mức sản lượng tiềm năng, thì việc kích cầu là một chính sách có hiệu quả, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Muốn kiểm soát được lạm phát mục tiêu trong những năm tới phải kiểm soát được các yếu tố gây nên “lạm phát chi phí đẩy” và không thể nóng vội giải quyết được mục tiêu lạm phát thấp ngay trong ngắn hạn.Quan điểm chính sáchcần quán triệt tầm nhìn trung dài hạn, phù hợp với lộ trình điều chỉnh cơ
cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, điều chỉnh các loại giá hàng hóa
và dịch vụ do nhà nước quản lý giá sang cơ chế thị trường, nâng cao chất lượng tăngtrưởng, cải thiện hiệu quả quản lý đầu tư công và doanh nghiệp nhà nước
Do đó, mục tiêu và giải pháp kiểm soát lạm phát phải gắn liền và đồng bộvới các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác của nền kinh tế.Đặc biệt là phải xác định rõmức độ ưu tiên của các mục tiêu; kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và
hỗ trợ tăng trưởng
2.Mục tiêu trung gian
Thực tế điều hành CSTT trong thời gian qua, NHNNVN đã lựa chọn biến
số “Tổng phương tiện thanh toán” và “Mức tăng trưởng Tín dụng” làm mục tiêutrung gian của CSTT VN
Hàng năm hoặc từng từng thời kỳ, NHNN trình Chính phủ phê duyệt vàban hành các Nghị quyết chỉ đạo quan điểm, định hướng và các chỉ tiêu cụ thểmức tăng cung tiền và mức tăng trưởng Tín dụng.Theo đó, mục tiêu trung giancủa CSTT 2011 là6:điều hành và kiểm soát để bảo đảm tốc độ tăng trưởng tíndụng năm 2011 dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán khoảng 15 - 16%; vàmục tiêu trung gian của CSTT 2012 là7:kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng 15%-17%, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 14% -16%
Bảng số 1.2 Diễn biến cung tiền và tăng trưởng tín dụng 2004-2012
Chỉ tiêu 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012* M2
Trang 7Từ trước đến nay, NHNN VN đã chọn biến số khối lượng tiền cung ứng M2 để tính toán Tổng phương tiện thanh toán, dùng hoạch định và điều hành
mục tiêu trung gian của CSTT
Nghiên cứu diễn biến chỉ tiêu cung tiền M2 của thời kỳ2011-2012 chothấy:
Kết quả điều hành M2 giai đoạn 2011-2012 theo xu hướng thực hiện sát với mục tiêu đề ra hơn nhiều giai đoạn trước đó Tuy nhiên, sự cắt giảm đột ngột và với mức độ giảm lớn M2 so với thực hiện bình quân giai đoạn 2004-
2010, làm suy giảm nghiêm trọng tổng cầu của nền kinh tế, phát sinh thêm những khó khăn cho kinh tế vĩ mô.
Xu hướng chênh lêch lớn giữa chỉ tiêu thực hiện với mục tiêu đề ra vàdiễn ra liên tục, trong suốt cả thời kỳ dài từ 2004-2010, với mức tăng M2 bìnhquân mục tiêu đề ra 24.14%/năm, thực hiện bình quân 31.17%, chênh lệch +7.03 điểm %
Mức chênh lệch của năm 2011 là +3.63% (mục tiêu 15-16%, thực hiện12.37%) và mức thực hiện của 2012 được dự báo khoảng 16-17%, vượt mục
tiêu không đáng kể, giảm 50% mức cung tiền thực tế thực hiện bình quân của 2004-2010.
Trong điều kiện nền kinh tế có tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt còn lớn;thực trạng đô la hóa, vàng hóa và thị trường tiền tệ phi chính thức vẫn chưa kiểm soát hết;dẫn đến cơ sở tính toán, dự báo chỉ tiêu tổng phương tiện thanh toán M2 còn nhiều bất cập Do vậy sẽ ảnh hưởng đến sự tính toán, hoạch định các mục tiêu giữa cung tiền với lạm phát và lạm phát với tăng trưởng kinh tế rất khó chính xác.
Theo lý thuyết kinh tế vĩ mô, tổng phương tiện thanh toán là khối lượngtiền có trong lưu thông bao gồm tất cả các phương tiện được chấp nhận làmtrung gian thanh toán để , trao đổi hàng hóa và , dịch vụ trên thị trường và khốilượng tiền trong lưu thông (Ms) bao gồm các yếu tố :
Ms = M3 + Các phương tiện thanh toán khác = M2 + Tiền trên các chứng
từ có giá (thương phiếu, trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu và các trái khoán khác) +Các phương tiện thanh toán khác(giấy chấp nhận thanh toán của Ngân hàng, )
Nếu chỉ tiêu tổng phương tiện thanh toán mà chỉ thống kê, tính toán được trong phạm vi M2 thì còn một khối lượng rất lớn các phương tiện
Trang 8thanh toán chưa được tính đến như: tiền trên các chứng từ có giá(trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu, ) và tiền trên các phương tiện thanh toán khác.
Mặt khác, phân tích cơ cấu các yếu tố cấu thành của M2 ta thấy rằng:M2 = M1(tiền mặt, vàng, tiền đúc lẻ, tiền gửi không kỳ hạn tại TCTD)+Tiền gửi có kỳ hạn VND tại TCTD + Tiền gửi ngoại tệ của cá nhân và tổ chứctại TCTD
Như vậy, trong cơ cấu của M2, còn rất nhiều yếu tố biến động, ảnh hưởng làm thay đổi M2 rất khó có thể tính toán và dự báo chính xác được như: Dự trữ tiền mặt vượt mức nằm trong các TCTD;sự thay đổi tiền gửi ngoại
tệ của tổ chức và dân cư; sự thay đổi tài sản có ngoại tệ ròng của các TCTD;vàng và ngoại tệ trong dân cư; tiền mặt và tiền gửi khách hàng tại các công tychứng khoán; công ty quản lý quỹ; tiền mặt trong hệ thống công ty bảo hiểm;tiền gửi và tiền mặt trong hệ thống kho bạc Nhà nước;…
Kiểm soát lạm phát là mục tiêu cao nhất của CSTT và vấn đề cơ bản để
ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng Muốn nâng cao hiệu quả tác độngtruyền dẫn của mục tiêu trung gian đến mục tiêu cao nhất là kiểm soát lạm phát,cần phải nghiên cứu hoàn thiện phương pháp tính toán, dự báo chỉ tiêu tổngphương tiện thanh toán và biến số M2, đảm bảo chính xác và đầy đủ các yếu tốhơn
Tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế:
NHNN VN sử dụng chỉ tiêu Mức tăng trưởng tín dụng làm mục tiêutrung gian của CSTT, để tác động trực tiếp đến mục tiêu kiểm soát lạm phát và
hỗ trợ tăng trưởng
Trong thời gian qua, NHNN điều hành chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng theo
cơ chế: đưa ra chỉ tiêu định hướng tăng trưởng tín dụng từng năm chung chotoàn hệ thống(thời kỳ trước 2011) và giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho từngTCTD theo phân loại các TCTD theo 3 nhóm (2012)
Nghiên cứu mục tiêu và thực hiện tăng trưởng tín dụng của giai đoạn2011- 2012 cho thấy:
Mục tiêu tăng trưởng tín dụng bình quân 2004-2010 là 24.14%/năm, thựchiện bình quân 35.17%/năm; mức chênh lệch theo số tuyết đối bình quân thựchiện cao hơn mục tiêu là:+ 11.03%
Trang 9Như vậy, mục tiêu định hướng tăng trưởng tín dụng 2011-2012 là sự điều chỉnh hợp lý với mục tiêu kiểm soát lạm phát và tái cơ cấu hệ thống TCTD.Tuy vậy, kết quả thực hiện2 năm liên tục thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra, làm suy kiệt tín dụng, tác động bất lợi cho nền kinh tế và ảnh hưởng đếnmục tiêu tăng trưởng cho các năm sau.
Mức tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế 2011 + 14.41%, thấp hơn 5% so với mục tiêu 20% và giảm gần 60% so với chỉ tiêu thực hiện bình quân2004-2010(35.17%)
Mức tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế 2012 ước đạt 5, 5%, giảm 68% so với mục tiêu(15-17%), giảm -84.4%% so với mức tăng trưởng Tín dụngthực tế bình quân 2004-2010 (35.17%); giảm – 62%% so với thực hiện 2011
Xu hướng suy giảm tín dụng quá mức có nguyên nhân của điều hành CSTT và khó khăn từ nền kinh tế:
Về điều hành CSTT: lãi suất cho vay còn quá cao so với hiệu quả kỳ vọngSX-KD của khách hàng, chậm được điều chỉnh theo diễn biến CPI, cơ chế lãisuất chủ yếu dựa vào diễn biến của CPI chứ chưa căn cứ vào cung cầu vốn tíndụng trên thị trường
Thực tế cho thấy, 6 tháng cuối năm 2012, trừ một số ngân hàng trongdanh sách phải tái cơ cấu, còn lại các Ngân hàng đều thừa vốn không cho vayđược, nhưng các NHTM không điều chỉnh giảm lãi suất cho vay theo cung cầuvốn tín dụng Đây là điều bất bình thường trong hoạt động kinh doanh tiền tệ-tíndụng trong cơ chế thị trường
Về khó khăn từ nền kinh tế: khả năng hấp thụ vốn tín dụng của nền kinh
tế bị suy giảm mạnh; điều kiện tiếp cận vay vốn của khách hang khó khăn hơn
do rủi ro thị trường tăng lên, phương án kinh doanh không khả thi, giá trị tài sảnthế chấp sụt giảm nghiêm trọng
- Kiểm soát chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng mang tính hành chính, hình thức;chưa đi đôi với biện pháp nâng caochất lượng tăng trưởng và hiệu quả tín dụng, là nguồn gốc gây nên rủi ro và bất ổn của hệ thống TCTD hiện nay.
Nhìn lại chỉ tiêu thực hiện 2004-2012 chưa khi nào đạt được mục tiêu đề
ra, hiệu lực chấp hành thấp, cơ chế điều hành chưa xử lýđược tình trạng vượtquá cao hoặc không đạt mức mục tiêu định hướng Do đó, chỉ tiêu đề ra mangtính hình thức, tác dụng rất hạn chế.Mặt khác, cơ sở khoa học và phương pháp
Trang 10xác định hạn mức tăng trưởng tín dụng hàng năm còn có những vấn đề bất cập,mang nặng tính hành chính.
Các quyết định hành chính về chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng không đi đôivới cơ chế kiểm soát chất lượng hiệu quả tín dụng.Vì vậy, nguồn vốn tín dụng
đã bị phân bổ quá mức vào một số lĩnh vực đầu cơ(bao gồm: chứng khoán, bấtđộng sản), hoặc các lĩnh vực rủi ro cao, các lĩnh vực không có hiệu quả, làmcho tỷ lệ nợ xấu cao và tăng nhanh; thanh khoản căng thẳng; Đólà nguyên nhânchính làm gia tăng mức độ rủi ro bất ổn của hệ thống TCTD hiện nay cơ bảnvẫnchưa giải quyết được
Việc kiểm soát hạn mức tín dụng đối với nền kinh tế của VN có vai trò rấtquan trọng để hỗ trợ tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô.Để nâng cao hiệu quảđiều hành CSTT, cần tập trung hoàn thiện, đổi mới các giải pháp, công cụ điềuhành theo hướng: Bổ sung sửa đổi cơ chế tín dung, cơ chế lãi suất đảm bảo tăngtrưởng về khối lượng đi đôi với nâng cao chất lượng; tăng cường kiểm tra giámsát thực hiện, thắt chặt kỷ cương chấp hành của các TCTD
II ĐIỀU HÀNH CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ2011- 2012
Công cụ của CSTT là hệ thống các biện pháp mà NHNN có thể sử dụng
để điều chỉnh, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới mức cung cầu tiền tệ, nhằmđạt được mục tiêu cao nhất của CSTT đã đề ra
Theo quy định của luật NHNN 2010, Thống đốcNHNN có quyền quyếtđịnh lựa chọn sử dụng công cụ điều hành chính sách tiền tệ để thực hiện cácmục tiêu của chính sách tiền tệ đã được Chính phủ đề ra
Việc sử dụng công cụ chính sách tiền tệ chỉ phát huy được hiệu quả khi
nó tạo ra được cơ chế truyền dẫn tác động dây chuyền từ công cụ chính sách tiền
tệ tác động đến mục tiêu hoạt động, mục tiêu trung gian, mục tiêu cuối cùng củachính sách tiền tệ
Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ đã được NHNN sử dụng chủ yếutrong thời gian qua bao gồm: lãi suất, tái cấp vốn, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắtbuộc, nghiệp vụ thị trường mở, kiểm soát hạn mức tín dụng,
1 Công cụ lãi suất
Lãi suất là một trong những công cụ gián tiếp để điều hành CSTT, NHNthông qua công cụ này để điều khiển mức cung tiền cho nền kinh tế, nhằm đạtđược mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền của quốc gia
Trang 11Chính sách, cơ chế điều hành lãi suấtcủa NHNN được định hướng theonguyên tắc đảm bảo các mục tiêu của CSTT:kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăngtrưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.
Theo cơ chế điều hành lãi suất hiện nay, NHNN trực tiếp quyết định cácmức lãi suất như: Lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãisuất OMO, trần lãi suất huy động ngắn hạn và trần lãi suất cho vay ngắn hạnthuộc4 đối tượng ưu tiên đối với nền kinh tế của các TCTD.Các TCTD đượcquy định lãi suất thỏa thuận đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên; lãisuất cho vay ngắn hạn đối với các đối tượng khác ngoài 4 đối tượng ưu tiên;lãisuất cho vay trung dài hạn cho tất cả các đối tượng khách hang
Một số chuyển biến tích cực của cơ chế điều hành lãi suất 2011-2012:
Cơ chế điều hành các loại lãi suất năm 2012đượcđiều chỉnh linh hoạt, hợp lý và đồng bộ hơn so với 2011, phát huy đượcvai trò Ngân hàng trung ương là người cho vay cuối cùng.
Từ tháng 6/2011 đến nay, các lãi suất chủ chốt của NHNN được điều
hành theo cơ chế: “trần” là lãi suất tái cấp vốn, “sàn” là lãi suất chiết khấu,
biên độ giao động +/- 2% để điều tiết thị trường, lãi suất cơ bản và lãi suất thịtrường mở được ấn định biến động trong biên độ giữa lãi suất tái cấp vốn(trần)
và lãi suất chiết khấu(sàn)
Các lãi suất điều hành của NHNN và lãi suất huy động vốn củaNHTMđược điều chỉnh giảm xuống theo xu hướng giảm thấp của CPI (3/2012-10/2012), đảm bảo nguyên tắc thực dương, nguồn vốn huy động 10 tháng tăng+14.2%, thanh khoản của hệ thống Ngân hành được cải thiện bằng nguồn vốnhút vào từ nền kinh tế chứ không phải từ nguồn tái cấp vốn như năm 2011
Từ tháng 6/2011-10/2012:Mối quan hệ giữa các loại lãi suất được điềuchỉnh hợp lý hơn thời kỳ trước đó, theo nguyên tắc: Lãi suất tái chiết khấu< lãisuất huy động vốn dưới 12 tháng < lãi suất tái cấp vốn; “sàn” là lãi suất tái chiếtkhấu; “Trần” là lãi suất tái cấp vốn; Biên độ 1-2%, lãi suất huy động vốn củaTCTD biến động trong biên độ nói trên
Sự đổi mới cơ chế lãi suất lãi suất nói trên đã khuyến khích các TCTDhuy động vốn từ nền kinh tế, hạn chế vay vốn từ NHNN, không còn cơ hội chocác TCTD lợi dụng vay tái cấp vốn của NHNN để cho vay lại trên thị trườngliên ngân hàng với lãi suất cao để hưởng chênh lệch lãi suất lớn
Trang 12Lãi suất huy động và cho vay của TCTD 2012 giảm hơn nhiều so với
2011, đặc biệt là chính sách cho vay lãi suất thấp hơn các đối tượng khác đối với 4 đối tượng sản xuất kinh doanh được ưu tiên, là quyết định đúng đắn, kịp thời;tác động tích cực đến giảm chi phí vay vốn cho doanh nghiệp, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng.
So với cuối năm 2011, lãi suất tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng giảmđược 6%/năm(14%/năm xuống 8%/năm), lãi suất cho vay 4 đối tương ưu đãigiảm được 4%-5%/năm (16-17%/năm xuống 12%/năm). Hiện nay, lãi suất chovay phổ biến đối với 4 lĩnh vực ưu tiên: nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu,doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ ở mức 11-12%/năm; cho vaylĩnh vực sản xuất kinh doanh khác ở mức 14-17%/năm. Đặc biệt, lãi suất liênngân hàng giảm mạnh 8-9%/năm so với đầu năm 2012, thị trường tiền tệ đã có
sự cải thiện tích cực hơn nhiều so với năm 2011
Cơ chếlãi suất thỏa thuận đối với lãi suất huy động vốn trên 12 tháng và lãi suất cho vay trung dài hạn là bước đi phù hợp, tạo điều kiện cho các NHTM hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc thương mại và thị trường.
Cơ chế lãi suất huy động lãi suất thỏa thuận được thực hiện theo Thông
tư 19/2012/TT-NHNN ngày 8/6/2012: “Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn 12 tháng trở lên do TCTD ấn định trên cơ sở cung cầu vốn thị trường”.
Lãi suất cho vay thỏa thuận được thực hiện từ 14/4/2010 theo Thông tư số12/2010/TT-NHNN vàthông tư 14/2012/TT-NHNN từ ngày 4/5/2012 Đối vớicác khoản cho vay ngoài 4 lĩnh vực ưu tiên TCTD cho vay theo lãi suất thỏa thuận
Đồ thị 2: CPI và các loại lãi suất
Trang 13Một số vấn đề cần nghiên cứu hoàn thiện trong cơ chế điều hành lãi suất 2011-2012 :
Duy trì quá lâu cơ chế điều hành trực tiếp lãi suất lãi suất huy động vốn
và cho vay của các TCTD, làm cho các mức lãi suất kinh doanh của TCTD không phù hợp với cung cầu vốn tín dụng trên thị trường và giảm tác dụng của các công cụ lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, lãi suất OMO, công cụ dự trữ bắt buộc.
NHNN có nhiều giải pháp và công cụ gián tiếp để tác động điều chỉnh lãisuất kinh doanh của các TCTD Cụ thể, khi muốn điều chỉnh lãi suất kinh doanhcủa các TCTD đối với nền kinh tế, NHNN sẽ thực hiện thông qua việc điềuchỉnh các mức lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu đối với TCTD.Từ đó tác độngđến lãi suất thị trường liên ngân hàng.Cuối cùng sẽ tác động đến lãi suất kinhdoanh của các TCTD đối với khách hàng.Nếu NHNN trực tiếp quyết định cảmức lãi suất cho vay và huy động vốn của các TCTD thì công cụ lãi suất điềuhành của NHNN sẽ không phát huy hết tác dụng
Trên thực tế, trong suốt thời kỳ 2011-2012, NHNN quyết định trực tiếpcác mức lãi lãi suất huy động cho vay của TCTD đối với khách hang đối vớitừng kỳ hạn và đối tượng khách hàng(trừ lãi suất huy động trên 12 tháng theoThông tư 19/2012/TT-NHNN ngày 8/6/2012 và lãi suất cho vay thỏa thuận theoThông tư số 12/2010/TT-NHNN và Thông tư 14/2012/TT-NHNN ngày4/5/2012);Cơ chế điều hành trực tiếp quyết các mức lãi suất kinh doanh của cácTCTD đã làm vô hiệu hóa các mức lãi suất điều hành chủ chốt của NHNN( lãisuất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu)
Lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam theo quy định pháp luật hiện hành là lãi suất thực hiện vai trò định hướng thị trường tiền tệ, nhưnghiện nay chỉ mang tính hình thức, chưa trở thành lãi suất cơ sở, chuẩn mực để định hướng cho các loại lãi suất khác trên thị trường.Vì thế làm tăng rủi ro pháp lý trong hoạt động kinh doanh tiền tệ tín dụng và các quan hệ dân sự khi có phát sinh tố tụng.
Luật dân sự 2005 quy định các TCTD không được phép huy động và cho vay với lãi suất cao hơn 150% mức lãi suất cơ bản do NHNN công bố Luật NHNN số 46/2010/QH12 “Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi”.
Trang 14Trên thực tế, lãi suất cơ bản hiện nay là lãi suất mang tính hình thức,không có cơ sở kinh tế và không liên quan đến bất kỳ quan hệ cung cầu vốn trêncác thị trường.
Vai trò đinh hướng và tác động của các loại lãi suất điều hành của NHNN (lãi suất tái cấp vốn, tái chiết khấu, OMO) đến lãi suất thị trường rất hạn chế.Một trong những nguyên nhân chủ yều là phương pháp xác định các loại lãi suất trên còn bất cập, không dựa trên cơ sở lãi suất cơ bản là lãi suất chuẩn; cơ chế điều hành cụ thể các loại lãi suất chưa được ban hành rõ ràng.
Thực tế trong thời gian qua, NHNN chưa ban hành được cơ chế điều hành
và phương pháp xác định cụ thể từng loại lãi suất trên Khi quyết định các loạilãisuất chủ yếu dựa vào diễn biến số liệu báo cáo thực hiện chỉ số CPI, các chỉ sốkinh tế vĩ mô tháng trước và quan điểm chỉ đạo điều hành mục tiêu CSTTcủaChính phủ, thiếu các thông tin, phân tích dự báo thị trường về cung cầu, sốlượng giao dịch, lãi suất, ; Do đó các lãi suất được điều hành không sát vớicung cầu tiền tệ và lãi suất thực trên thị trường, hạn chế tác dụng điều tiết củacác công cụ lãi suất
Sự điều chỉnh các mức lãi suất chưatheo sát kịp với diễn biến hàng tháng của chỉ số CPI cả về biên độ và xu hướng, làm giảm hiệu quả và tác dụng của công cụ lãi suất.
Phân tích diễn biến CPI và các mức lãi suất thời kỳ 2011-2012 có thểthấy: đường biến thiên của các loại lãi suất và chỉ số CPI chỉ có 4 tháng là cùng
xu hướng(2/2012-6/2012)còn lại là lệch pha với biên độ chênh lệch quá lớn,nên hiệu quả tác động đến dự trữR của các TCTD và M2 không đáng kể
- Phân tích biến động lãi suất tái cấp vốn với CPI (2011-2012):
Trong giai đoạn 2011-2012, NHNN có 6 lần điều chỉnh lãi suất (%/năm)theo xu hướng tăng liên tục(1/2011-2/2012): 9%, 11%, 12%, 13%, 14%, 15%;
có 4 lần điều chỉnh giảm liên tục (3/2012-10/2012): 14%, 13%, 12%, 11%, 10%nhằm thực hiện mục tiêu…
Nhưng do các biên độ mỗi lần điều chỉnh quá hẹp, xu hướng điều chỉnhrất hiếm khi phù hợp với xu hướng biến động của CPI nên tác động lên cungtiền và lãi suất thị trường tiền tệ rất kém hiệu lực
Trang 15Đồ thị 3: CPI và lãi suất tái cấp vốn
- Phân tích sự biến động của lãi suât tái chiết khấu và CPI.
Đồ thị 4: CPI và lãi suất tái chiết khấu
Trang 16-Phân tích sự biến động của lãi suất OMO với CPI
Đồ thị 5: CPI và lãi suất OMO
-Phân tích biến động của Lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện
tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ
Đồ thị 6: CPI và lãi suất qua đêm
Duy trì quá lâucơ chế cố định “trần” lãi suất huy động và “thả nổi” lãi suất cho vay thỏa thuận, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho các TCTD đẩy lãi suất cho vay lên tối đa, làm tăng rủi ro tài sản có và nợ xấu của cả hệ thống NHTM
và các TCTD khác.
Trang 17Từ tháng 1/2011-4/2012, NHNN quy định “trần” lãi suất huy động cốđịnh theo xu hướng giảm dần (14%/năm, 13%/năm, 12%/năm, 11%/năm) và lãisuất cho vay thỏa thuận ở tất cả các đối tượng và kỳ hạn vay vốn của khách hàng.
Tháng 5/2012, NHNN quy định “trần” lãi suất huy động (11%/năm) và
“trần” lãi suất cho vay ngắn hạn theo biên độ (lãi suất cho vay = lãi suất huyđộng + 3%/năm) với 4 đối tượng cho vay ưu tiên, còn các đối tượng cho vaykhác và cho vay trung dài hạn đều lãi suất thỏa thuận
Từ tháng 6/2012- nay, NHNN quy định “trần” lãi suất huy động cố định(9%/năm) và “trần” lãi suất cho vay cố định(13%/năm) với 4 đối tượng sản xuấtkinh doanh ưu tiên còn các đối tượng khác đều cho vay theo lãi suất thỏa thuận
Trong điều kiện kinh tế khó khăn, lợi nhuận của hầu hết các doanh nghiệprất khí có thể cao hơm lãi suất cho vay thỏa thuận của các TCTD Với cơ chế lãisuất cho vay thỏa thuận các khách hàng tốt không dám vay vốn, còn các kháchhàng chấp nhận được lãi suất cao là những khách hàng đang thực sự khó khăn
về tài chính, hoặc có nhu cầu tài trợ cho những dự án có rủi ro rất cao.Vì vậy cơchế lãi suất thỏa thuận chỉ mang lại lợi ích trước mắt cho TCTD, nhưng lại tăngthêm các rủi ro do lựa chọn khách hàng, rủi ro tín dụng, tăng nguy cơ tiềm ẩn
nợ xấu, tạo ra một danh mục tài sản có rủi ro cao
Cố định mức lãi suất trầnhuy động vốn trong thời gian quá dài(trong suốt
12 tháng từ 3/2011-2/2012)trong khi CPI đã giảm mạnh và liên tục từ tháng 6/2011-12/2011, làm tăng áp lực thanh khoản của hệ thống, tăng thêm các rủi
ro kỳ hạn, rủi ro thanh khoản, rủi ro đạo đức trong hệ thống Tài chính - Ngân hàng.
Nhìn vào đồ thị biểu thị quan hệ giữa CPI và lãi suất huy động vốn củacác TCTD dễ thấy rằng, : đường lãi suất gần như đi ngang trong khi đường CPIbiến động lên xuống hình sin với biên độ rất lớn và chu kỳ dài
Hậu quả của cơ chế điều hành này đã gây thiệt hại cho người gửi tiền(7tháng liên tục lãi suất tiền gửi ở mức thực âm); các NHTM phá rào trần lãi suấthuy động vốn bằng mọi cách (hoa hồng, chi tiền mặt ngoài sổ sách, nhận ủythác đầu tư trá hình, ) thanh khoản căng thẳng, thị trường tiền tệ, thị trường liênNgân hang đua nhau cạnh tranh lãi suất “ngầm”
Trang 18Trong suốt 12 tháng liên tục từ tháng 3/2011-2/2012, mức lãi suất “trần”huy động vốn của các TCTD vẫn cố định 1, 17%/tháng(14%/năm).Trong khiCPI biến động liên tục hàng tháng với biên độ lớn và xu thế giảm rõ rệt lần lượtlà:2.25%;3.53%;2.43%;1.22%;1.32%;1.07%;0.95%;0.42%;0.45%;0.63%;1.00%
; 1.37%.Kết quả là rủi ro kỳ hạn, rủi ro thanh khoản của các TCTD tăng lên dotiền gửi huy động được của các NHTM chủ yếu là không kỳ hạn và tiền gửi có
kỳ hạn 1-2 tháng, tiền gửi từ 3 -12 tháng chiểm tỷ lệ rất ít;tiền gửi trung dài hạntrên 12 tháng không thể huy động được
Đồ thị 8: CPI và lãi suất huy động
2 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Theo quy định của Luật NHNN 2010, dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổchức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước để thực hiện chính sách tiền tệquốc gia.Ngân hàng Nhà nước quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loạihình tổ chức tín dụng và từng loại tiền gửi tại tổ chức tín dụng nhằm thực hiệnchính sách tiền tệ quốc gia
Cơ chế điều hành tỷ lệ dự trữ bắt buộctheo Quyết định số 379/QĐ-NHNN
áp dụng từ ngày 24/2/2009 (đối với VND) và Quyết định 79/QĐ-NHNN ápdụng từ 01/2/2010 (đối với ngoại tệ), thông tư 20/2010/TT-NHNN ngày29/9/2010
Theo cơ chế nói trên, chính sách dự trữ bắt buộc được căn cứ vào tínhchất kỳ hạn tiền gửi(ngắn, trung, dài hạn), loại tiền gửi(VND và ngoại tệ) và ưu
Trang 19Đối với TCTD có tỷ trọng dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp nôngthôn trên tổng dư nợ bình quân cuối các quý trong năm tài chính liền kề từ 40%đến dưới 70% và trên 70%: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồngViệt Nam bằng 1/5 (một phần năm) và 1/20 so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc thôngthường tương ứng với từng kỳ hạn tiền gửi.
Từ năm 2009 -2012, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các TCTD đối với tiền gửiVND cố định 3% và không thay đổi
Một số vấn đề hạn chế về sử dụng công cụ tỷ lệ dự trữbắt buộc trong giai đoạn 2011-2012 :
NHNN cố định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi VND trong suốt thời gian dài từ 2009-2012 trong cả quá trình lạm phát cao năm 2011 và xu hướng thiểu phát 6 tháng 2012.Công cụ tỷ lệ DTBB không phát huy tác dụng điều chỉnh nguồn vốn thanh toán và cho vay của TCTD.Vì vậyhạn chế vai trò, tác dụng của tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong việc điều chỉnh lãi suất cho vay, lượng tiền cung ứng và hệ số tạo tiền của hệ thống TCTD.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là công cụ có tác động rất mạnh đến khối lương tiềncung ứng trong lưu thông theo cấp số nhân, là công cụ kiểm soát lạm phát cóhiệu quả nhất, nhưng NHNNkhông tăng hoặc giảm tỷ lệ trong suốt thời giandài, trong bối cảnh lạm phát cao(2011) và xu hướng thiểu phát(6 tháng đấu năm2012), nên không phát huy được vai trò và tác dụng của công cụ này để thựchiện mục tiêu chính sách tiền tệ
Để phát huy được vai trò và tác dụng của công cụdự trữ bắt buộc phảiđiều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc để tác động đến cả khối lượng và lãi suất chovay tín dụng của các NHTM, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng vàkhả năng tạo tiền của hệ thống NHTM theo mục tiêu của chính sách tiền tệ trongtừng thời kỳ
Trong giai đoạn lãi suất cho vay còn ở mức cao như thời gian vừa qua,nếu tăng tỷ lệ DTBB sẽ tăng chi phí đầu vào của nguồn vốn cho vay làm tăng lãisuất cho vay của các TCTD, nhưng NHNN có thể tăng lãi suất tiền gửi DTBBlên một mức hợp lý để bù đắp chi phí huy động vốn cho các TCTD, giảm áp lựctăng lãi suất cho vay
Chính sách dự trữ bắt buộc áp dụng một mức chung cho tất cả các NHTM, không căn cứ vào quy mô vốn và tài sản, chất lượng hoạt động và mức
Trang 20độ an toàn của từng ngân hàng, chưa phù hợp với quy mô và trình độ phát triển không đồng đều của các NHTM VN, làm cho công cụ dự trữ bắt buộc hoàn toàn trở thành vô tác dụng.
Đặc điểm quan trọng của hệ thống NHTM của VN là trình độ phát triểnkhông đồng đều về lịch sử phát triển, quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô tài sản,chất lượng hoạt động và mức độ an toàn Trong đó nhóm 4 NHTM cổ phần Nhànước và Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank) có kinhnghiệm hoạt động kinh doanh 24 năm và chiếm khoảng gần 50% thị phần trênmọi lĩnh vực hoạt động, nhóm G12 (12 ngân hàng TMCP lớn nhất) chiếm thịphần khoảng 80-85%, nhóm 13 NHTMCP tư nhân, quy mô vốn rất nhỏ bé, mức
độ an toàn hoạt động rất thấp, mới chuyển đổi từ Hợp tác xã tín dụng và Ngânhàng Nông thôn lên từ những năm 2002-2006
Theo quan điểm của một số chuyên gia và NHNN, thời gian qua, do hệthống ngân hàng thiếu thanh khoản nên nếu Ngân hàng Nhà nước tăng tỷ lệ dựtrữ bắt buộc thì sẽ gây khó khăn cho nền kinh tế
Quan điểm trên rất đúng với nhóm 13 NHTM cổ phần nông thôn mớichuyển đổi thành NHTM triền miên khó khăn thanh khoản Nhưng đối vớinhóm G12, gồm 12 NHTM chiếm gần 80-85% thị phần không phải là cácNHTM thiếu thanh khoản, thậm nhiều NHTM thừa tiền đi gửi vào các TCTDkhác.Mặt khác, trong suốt thời gian quá dài 2009- 2012, hệ thống NHTM khôngphải thiếu thanh khoản liên tục.Vì vậy, cần phải tiếp tục nghiên cứu bổ sunghoàn thiện cơ chế điều hành công cụ dự trữ bắt buộc, để phát huy hiệu quả caohơn
3 Tái cấp vốn
Theo quy định hiện hành, NHNN sử dụng công cụ Tái cấp vốn để cấp tíndụng cho các TCTD theo các hình thức: cho vay có đảm bảo bằng giấy tờ cógiá, chiết khấu giấy tờ có giá và cho vay lại hồ sơ tín dụng, nhằm mục đích:cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho tổ chức tín dụng
Ngân hàng Nhà nước đã ban hành được hệ thống các văn bản pháp lý đầy
đủ và đồng bộ về chính sách, cơ chế nghiệp vụ tái cấp vốn phù hợp với các quy
Trang 21định của pháp luật hiện hành, làm cơ sở để điều hành của NHNN và thực hiệnđối với các TCTD8.
Thông qua các hình thứctái cấp vốn:cho vay đảm bảo giấy tờ có giá, chiếtkhấu giấy tờ có giá và cho vay lại hồ sơ tín dụng, công cụ tái cấp vốn củaNHNN đãphát huy được vai trò chủ đạo trong việc giải quyết vấn đề rủi ro thanhkhoản cho các NHTM trong thời gian qua
Tuy vậy, cơ chế sử dụng công cụ tái cấp vốn hiện hành của NHNN vẫncòn một số vấn đề cần nghiên cứu bổ sung hoàn thiện sau đây:
Trong thời gian qua, công cụ tái cấp vốn chưa đủ tiềm lực vốn và điều kiện để phát huy hiệu quả, vai trò cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các TCTD, chưa tác động được nhiều đến cung cầu vốn và các loại lãi suất trên thị trường.
Nguyên nhân chủ yếu do nguồn vốn cho vay hạn hẹp, NHNN chỉ đượccho vay tái cấp vốn trong một giới hạn nhất định, nằm trong hạn mức tăng tổngphương tiện thanh toán M2 đã được Chính phủ duyệt hàng năm;nhiều TCTDcần vay nhưng không điều kiện được vay tái cấp vốn; một số TCTD đủ điềukiện vay vốn nhưng không có nhu cầu vay Do đó, doanh số cho vay và dư nợtái cấp vốn đối với các TCTD không lớn;mức độ tác động tới lãi suất và cungcầu vốn trên thị trường hạn chế
Trong điều kiện lạm phát đang bùng phát cao từ 1/2011- 2/2012, việc lựa chọn sử dụng công cụ tái cấp vốn tuy giải quyết được khó khăn thanh khoảncho một số TCTD, nhưnglàm tăng thêm tiền cung ứng trong lưu thông, gây áp lực thêm cho mục tiêu kiểm soát lạm phát
Công cụ tái cấp vốn chỉ phát huy hiệu quả cao trong điều kiện lạm phátbình thường và mục đích cho vay nhằm giải quyết khó khăn chi trả có tính chấttạm thời Đối với các trường hợp mất thanh khoản có nguyên nhân từ rủi ro cơcấu kỳ hạn nguồn vốn và sử dụng, chất lượng tài sản sản thấp, nợ xấu cao nhưcác TCTD nông thôn mới chuyển đổi thành NHTM không phải là sự mất thanhkhoản có tính tạm thời và phải giải quyết bằng biện pháp tái cơ cấu tài chính, tái
cơ cấu tài sản nợ, tài sản có mới đúng bản chất
8 [Thông tư số 17/2011/TT-NHNN ngày 18/8/2011 quy định cho vay có bảo đảm giấy tờ có giá;Thông tư số 37/2011/TT-NHNN ngày 12/12/2011 bổ sung sửa đổi Thông tư 17/2011/TT-NHNN; Thông tư số 01/2012/TT- NHNN ngày 16/2/2012 chiết khấu giấy tờ có giá đối với các TCTD; Thông tư số 15/2012/TT-NHNN ngày