KHOA MÔI TRƯỜNG & BẢO HỘ LAO ĐỘNG NGHÀNH BẢO HỘ LAO ĐỘNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN LÀM VIỆC TRÊN MÁY VI TÍNH ĐẾN SỰ MỆT MỎI THẦN KINH CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC B
Mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Bổ sung thêm cho những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của máy vi tính đến sức khỏe người sử dụng phù hợp với điều kiện hiện tại
Tìm hiểu ảnh hưởng của máy vi tính đối với sinh viên và góp phần cho những công trình nghiên cứu khác có quy mô lớn hơn Đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện điều kiện làm việc phù hợp hơn với sinh viên khi làm việc trên máy vi tính.
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những ảnh hưởng của việc sử dụng máy vi tính đến độ mỏi mệt thần kinh ở một số sinh viên
Khách thể nghiên cứu: Tại các phòng máy tính trường đại học bán công tôn Đức thắng Đối tượng khảo sát: Trên một số sinh viên của trường đại học bán công Tôn Đức Thắng
Phương pháp hồi cứu: Truy cứu và dựa trên những công trình đã nghiên cứu, sử dụng những số liệu và kết luận có từ những công trình nghiên cứu đó để so sánh với số liệu có được từ thực nghiệm đề tài
Phương pháp phi thực nghiệm: Là quá trình thu thập thông tin dựa trên sự quan sát những mặt đã và đang tồn tại, không can thiệp gây biến đổi trạng thái của đối tượng nghiên cứu Thể hiện qua hai phương pháp là: quan sát khách quan và phương pháp chuyên gia
NPhương pháp trắc nghiệm: Trắc nghiệm vòng Landolt: bản trắc nghiệm được trình bày trên khổ giấy A4 gồm 2 phần Phần 1 trước giờ học (làm việc), phần 2 sau giờ học (làm việc) Vòng Landolt được tạo thành từ các vòng tròn có các khe
Khi thực hiện trắc nghiệm vòng Landolt người thực hiện nắm rõ cách làm từ người hướng dẫn Tác giả chọn một số sinh viên không có các tật về mắt thực hiện, trong quá trình thực hiện là 150s tác giả phải đảm bảo không để các yếu tố khác làm ảnh hưởng đến người đang thực hiện Những sinh viên đó phải có thái độ học hành nghiêm túc trong giờ học, việc sử dụng bút đánh trắc nghiệm do tác giả cung cấp
Đo ánh sáng: Đo ánh sáng tại các phòng học máy vi tính: gồm có đo độ rọi bề mặt bàn phím, thành phần ánh sáng của màn hình và thành phần ánh sáng từ môi trường bên ngoài chiếu vào màn hình
Máy đo ánh sáng: do độ chiếu sáng bằng Luxmetre, Luxmetre được cấu tạo bằng hai bộ phận chính, một là tế bào quang điện và hai là điện kế Tế bào quang điện làm bằng một tấm kim loại phủ vàng và selen Khi có nguồn ánh sáng chiếu vào, tế bào quang điện biến quang năng thành điện năng và được đo bằng điện kế kim điện kế chỉ kết quả trực tiếp tính ra Lux
Phương pháp đo: đặt ngửa tế bào quang điện song song và cách màn hình máy tính từ 5 10cm để đo thành phần ánh sáng từ màn hình máy tính phát ra Lật ngược tế bào quang điện 180 0 đo thành phần ánh sáng ngoài chiếu vào màn hình
Đo kích thước bàn ghế
Dụng cụ đo: Sử dụng thước đo chuyên dùng có độ chia tới 1mm, là thước cuộn sắt Đo kích thước bàn bao gồm: chiều rộng, chiều dài, chiều cao, khoảng cách các dãy bàn, chiều cao bàn phím Đo kích thước của ghế bao gồm: chiều rộng, chiều dài, chiều cao
Đo khoảng cách mắt đến màn hình máy tính khi sinh viên ngồi học (hay được gọi là khoảng cách từ màn hình máy vi tính đến sinh viên)
Dùng thước đo khoảng cách từ đuôi mắt của sinh viên đến màn hình ở tư thế ngồi vuông góc với màn hình trong quá trình học Đo lần 1 lúc bắt đầu vào học và lần
2 cách lần 1 hai giờ đồng hồ
Đếm số lần chớp mắt của sinh viên khi làm việc trên máy tính
Chớp mắt là một hoạt động sinh lý của mi Có 3 loại chớp mắt: một chớp mắt tự phát theo chu kỳ, hai chớp mắt theo ý muốn và ba chớp mắt do phản xạ Khi đếm chớp mắt là đếm số lần chớp tự phát theo chu kỳ trong thời gian 60s Đếm lần 1 lúc sinh viên học được 15 phút đầu và lần 2 cách lần 1 là 60 phút
Đo độ chính xác Độ chính xác trong thao tác được thể hiện qua hoạt động của bàn tay Đây là sự phản ảnh của khả năng hoạt động thần kinh của người lao động Khi khỏe mạnh hoạt động thần kinh tốt, thao tác chính xác Khi mệt mỏi hoạt động thần kinh kém dẫn đến thao tác kém chính xác Dựa vào tính chất này mà người ta đã chế tạo ra nhiều test để thử khả năng hoạt động thần kinh
Tác giả lựa chọn test thử là một khe hở có kích thước là 4cm, độ dài khe hở
110cm, chúng tạo thành đường xoắn ốc Người thử nghiệm cầm bút thử (là một cực điện) có đường kính bằng một nửa bề rộng khe hở (2cm) và di chuyển dọc theo trong khe và không được chạm vào thành của khe và phía dưới khe Mỗi lần chạm vào thành hoặc khe thử là một lỗi Các lỗi đó sẽ được thiết bị đếm và được tính là kết quả sau lần thử nghiệm Thời gian thực hiện là trong 60s Sẽ đo 2 lần: lần 1 bắt đầu vào học và lần
2 sau 2 giờ học liên tục trên máy tính
Thiết bị đo độ chnh xác
HÌNH 1: Thiết bị đo độ chính xác
Đo lực bóp tay của sinh viên
Nguyên tắc đo: Đo ở trạng thái bình thường của cơ thể, cố gắng hạn chế sự tham gia của nhiều nhóm cơ
Dụng cụ đo: Lực kế bóp tay loại 70Kg
Cách đo: Ta tiến hành đo lực bóp tay trước khi vào học trên máy vi tính và sau khi học xong (trước khi học cách sau khi học 2 giờ đồng hồ) Người thực hiện ở tư thế ngồi, đo tay thuận Tay dang ngang thẳng phía trước màn hình, lòng bàn tay hướng về phía trước Đặt lực kế có kim quay vào lòng bàn tay với mô cái và khớp 2 của ngón tay giữa làm điểm tựa sao cho chắc chắn, thuận tiện nhất Khi ngồi bóp không nâng tay lên hoặc hạ thấp xuống đồng thời cũng không được xoay tay, bóp dứt khoát hết sức một lần, đọc kết quả và thực hiện bóp lần 2 tương tự như trên cùng một tay Lấy kết quả đo lực bóp tay cao nhất
Hoạt động cơ bắp là do sự điều khiển của thần kinh, khi thần kinh mỏi mệt sẽ ảnh hưởng đến sức mạnh của cơ bắp Nó được thể hiện qua một thiết bị gọi là cơ lực kế
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu trên một số vấn đề cụ thể: sự mỏi mệt về thần kinh, sự mỏi mệt của cơ tay và mắt Thực hiện trên đối tượng khảo sát là sinh viên ở một trường đại học đại diện trong đề tài là trường đại học bán công Tôn Đức Thắng
HÌNH 2: Lực kế bóp tay
Những điều kiện mà sinh viên học tập trên máy vi tính ở trường đại học bán công Tôn Đức Thắng
Công cụ và phương tiện học tập 1 Phòng học tập máy vi tính 2 Bàn ghế học tập trên máy tính .3 Màn hình máy vi tính
Phòng học vi tính là không gian mà trong đó có máy vi tính, bàn ghế … và sự sắp xếp bố trí chúng, là nơi học sinh, sinh viên học tập phòng học liên quan đến tâm lý học tập của học sinh, sinh viên Một phòng học rộng, thoáng sẽ tạo cho chúng ta tâm lý thoải mái Nhưng một phòng học rộng và thoáng thì nó lại phụ thuộc vào việc bố trí các đồ vật và kế hoạch số lượng người học trong phòng
Trường đại học Tôn Đức Thắng có 5 phòng học vi tính chính, các phòng học khá lớn và cách biệt hoàn toàn với bên ngoài Phần này sẽ được trình bày rõ ở mục
3.3.1 (Tổ chức không gian học tập)
Tại từng phòng máy của trường được bố trí làm 4 dãy bàn ghế Số liệu kích thước bàn ghế của 5 phòng máy tính như sau:
BẢNG 3.1.2: Kích thước bàn ghế tại các phòng học máy vi tính
Kích thước bàn (cm) Kích thước khác (cm) Cao Đường kính
Cao Rộng Dài Cao phím k/c các bàn
Bàn phím khi kéo ra
TB 74,4 64,6 70 64,2 Để đánh giá việc thiết kế các kích thước bàn ghế trên thì sử dụng toán đồ trong tư thế làm việc:
HÌNH 3 Toán đồ xác định chiều cao mặt phẳng làm việc và mặt ghế ngồi để tiện sử dụng trong việc thiết kế và kiểm tra VTLĐ
Chiều cao mặt bàn làm việc tùy thuộc chiều cao sinh viên ở tư thế ngồi
1 Công việc chính xác cao
3 Công việc đọc viết trung bình
4 Công việc đánh máy, công việc đòi hỏi gắng sức về phía trước
5 Chiều cao chỗ để chân
6 Chiều cao ghế Độ tuổi sinh viên khoảng 18 tuổi đến 28 tuổi, ở độ tuổi này ước tính chiều cao trung bình 170cm Khi ta tính toán thiết kế dựa vào toán đồ ở chiều cao trung bình
170cm thì chiều cao của bàn làm việc khoảng 70cm và chiều cao của ghế khoảng
43cm Trong thực tế với kích thước đó chỉ thích hợp cho phần đông (ước tính 90%) còn những người quá thấp hoặc quá cao phải chấp nhận theo (ước tính 10%)
Kết quả đo đạc được: chiều cao ghế 45cm và chiều cao trung bình bàn của các phòng 74,2cm So sánh kết quả trên với tính toán, rút ra kết luận kích thước mặt bàn làm việc và chiều cao ghế là tương đối phù hợp
Chiều cao trung bình của bàn phím 64,2cm, chiều cao này thích hợp với tư thế thoải mái của cánh tay khi sinh viên ngồi gõ phím
Ngoài ra lựa chọn ghế có mặt ghế là hình tròn (đường kính 29cm) không đảm bảo được chức năng là nâng đỡ mông và 2/3 chiều dài đùi khi ngồi, vì vậy khi ngồi học trong 2 giờ liên tục dễ gây cho học sinh, sinh viên cảm giác tê cứng và mỏi vùng dưới của mông Ngoài ra loại ghế này không có tựa nên rất thường thấy mỏi lưng khi ngồi học trên máy
Mặc dù kích thước chiều rộng của bàn là 64,6cm trong đó đặt màn hình và hộp case đặt trên bàn đã chiếm 2/3 diện tích của bàn, với diện tích còn lại rất nhỏ và gây bất tiện khi ghi chép, để và đọc tài liệu
Khoảng cách của từng dãy bàn là quá gần, có những phòng có các dãy bàn chỉ cách nhau 60cm dành cho một dãy ghế và 140cm dành cho 2 dãy ghế Việc thiết kế và bố trí nhiều dãy bàn làm cho phòng học trở nên hẹp, phòng học không có lối đi lại và nếu có người đi qua sẽ gây ảnh hưởng đến tâm lý học và khả năng tập trung
Màn hình máy tính là một nguồn phát sáng nhân tạo, tất cả những màn hình ở trường sử dụng là màn hình của ống tia âm cực CRT (cathode ray tude) Trên cơ sở cấu trúc và nguyên lý làm việc của CRT ta thấy rõ các điện tử mang điện tích âm phát xạ từ catốt nung nóng và được tạo thành chùm (nhờ tác dụng của hệ thống điều khiển tiêu cự) bay thẳng về lớp phát quang (tức màn hình)
Tại các phòng học máy tính của trường được trang bị các loại màn hình như sau:
BẢNG 3.1.3: Màn hình máy vi tính
Thứ tự Hãng sản xuất Loại máy Kích cỡ
Thời gian sử dụng màn hình một số màn hình trên 7 năm, còn một số màn hình còn lại sử dụng được 3 4 năm Tất cả các màn hình trong tình trạng sử dụng bình thường
Hiện nay ở nước ta chưa có một tiêu chuẩn nào quy định về màn hình máy tính, trên thế giới thì thường sử dụng 2 tiêu chuẩn: TCO99 và ISO 9241- 3/7/8 Trong đó tiêu chuẩn TCO99 là tiêu chuẩn của Thụy Điển yêu cầu trong quá trình sản xuất các thiết bị điện để lắp ráp màn hình máy tính về hàm lượng thành phần các chất như cadmi, thủy ngân (Hg), nhựa, CFCs, Pb …
Tiêu chẩn ISO 9241-3/7/8 tương đương với tiêu chuẩn ISO13406-2 quy định thiết kế màn hình Ergonomics cụ thể các yêu cầu về ánh sáng màn hình, độ tương phản, phản xạ ánh sáng, độ phân giải, chất lượng của hình ảnh, trường tĩnh điện … việc áp dụng 2 tiêu chuẩn này cho nhà sản xuất để đảm bảo an toàn hơn cho người sử dụng máy tính
Qua khảo sát chỉ thấy loại màn hình E71f và AC511 tại phòng máy vi tính của nhà trường là sử dụng tiêu chuẩn ISO 9241, còn các màn hình khác không có
Vậy việc áp dụng hai tiêu chuẩn trên cho nhà sản xuất màn hình có lợi cho sức khỏe người sử dụng và môi trường Trên thực tế một màn hình tốt nhất là phục vụ đa chức năng cho con người, còn nó có tốt với sức khỏe của con người hay không thì vẫn phụ thuộc vào các yếu tố khác như: vị trí đặt màn hình, ánh sáng trong phòng học … nếu như các yếu tố này không phù hợp sẽ gây lóa trên màn hình chính là gây khó khăn cho sự nhìn
Một số màn hình máy tính tại các phòng máy của trường được đặt chưa hợp lý ở chỗ góc nghiêng của màn hình gần như bằng không, mà theo tiêu chuẩn vệ sinh lao động góc nghiêng của màn hình thích hợp từ 100 200, vì đặt ở góc nghiêng thì khi nhìn vào màn hình đường giữa mắt và màn hình vuông góc với nhau tại chính giữa màn hình, điều này làm mắt nhận biết thông tin dễ dàng hơn
Môi trường học tập
Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp, bao gồm các yếu tố: nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt và tốc độ chuyển động của không khí
Vi khí hậu trong các phòng máy tính của trường và các cơ sở bên ngoài phần đông là giống nhau, đều khép kín, cách biệt với môi trường bên ngoài và được điều chỉnh bằng máy điều hòa khí hậu (chủ yếu là điều hòa nhiệt độ)
Dựa theo công trình nghiên cứu của PGS.PTS Võ Hưng thì đối với phòng học vi tính của trường có các yếu tố vi khí hậu sau:
Nhiệt độ: từ 22 25 0 C Độ ẩm tương đối: từ 60 75%
Tốc độ gió từ 0,2 0,6 m/s Để đánh giá điều kiện vi khí hậu trên có phù hợp với cơ thể của sinh viên thì ta sử dụng công thức tính nhiệt độ hiệu dụng như sau:
Trong đó thd là nhiệt độ hữu dụng Đối với công việc học tập trên máy vi tính thd
= 23 24 0 C là nhiệt độ dễ chịu nhất tk là nhiệt độ khô
T ư là nhiệt độ ướt: dựa vào biểu đồ I-d của không khí ẩm ta sẽ tìm được t ư v là vận tốc gió
Nếu như dựa vào những điều kiện trên thì ta phải tính cho nhiều phép toán, để giảm phép toán ta lựa chọn ở nhiệt độ tk = 250C, v = 0,6m/s
Với độ ẩm tương đối là 60% và 75% ứng với nhiệt độ tk = 250C và v = 0,6m/s,
Chiếu sáng là một trong những nhiệm vụ quan trọng, mục đích của chiếu sáng giúp mắt nhận biết thông tin một cách dễ dàng Khi thiết kế chiếu sáng cần quan tâm đến những vùng mà mắt thường xuyên tập trung nhìn
Vì vậy khi thiết kế chiếu sáng tại các phòng học vi tính cần chú ý độ rọi tại bề mặt bàn phím và sự đồng đều của ánh sáng Tại các phòng máy vi tính của trường sử dụng 2 hệ thống chiếu sáng song song (vào ban ngày)
Chiếu sáng tự nhiên tại các phòng máy vi tính: sử dụng ánh sáng mặt trời chiếu vào phòng thông qua cửa kính của phòng Ngoài ra trong phòng tại các cửa kính tất cả đều gắn màn sáo để điều chỉnh lượng ánh sáng đi vào phòng Điều này hạn chế hiện tượng gây lóa trên màn hình và giúp tận dụng được nhiều ánh sáng mặt trời hơn
Chiếu sáng nhân tạo: tại các phòng sử dụng loại đèn huỳnh quang ánh sáng trắng có kích thước 1200mm được bố trí sát trần phòng máy theo hình chữ nhật Tùy theo kích thước lớn hay nhỏ của từng phòng mà bố trí số lượng bóng đèn khác nhau
Với thiết kế như trên, tác giả đã tiến hành đo độ rọi trên bề mặt bàn phím để kiểm tra Cách đo ta chia đều mỗi phòng làm 10 điểm đều nhau và tại bàn phím nào gần điểm chia sẽ đo độ rọi trên bàn phím đó, thời gian đo lúc 13h30 (vào ngày trời nắng) Kết quả như sau:
BẢNG 3.2.2: Độ rọi trên bề mặt bàn phím tại các phòng máy của trường Điểm quy ước đo
Phòng vi tính ứng với độ rọi (Lux) từng điểm trong từng phòng P203 P204 P211 P212 P213
Chú ý Tại phòng có 33 người
Trung bình độ rọi tại các phòng máy vi tính là 205 Lux
Qua kết quả trên ta thấy độ đồng đều độ rọi trên bàn phím không cao Tại những vị trí gần cửa sổ thì có độ rọi cao hơn hẳn độ rọi tại các vị trí cách xa cửa sổ
Kết quả tính toán trung bình độ rọi trên bàn phím tại tất cả các điểm là 205Lux trong khi đó theo tiêu chuẩn Việt Nam về chiếu sáng phòng học máy vi tính đối với chiếu sáng chung là từ 300 700Lux Vậy độ rọi tại các phòng máy vi tính còn rất thấp so với tiêu chuẩn của nhà nước Điều này sẽ có tác động xấu đến chất lượng học tập và sinh lý thị giác của sinh viên Đó mới là độ rọi khi ta đo ban ngày, khi không có ánh sáng mặt trời độ rọi tại các phòng còn thấp hơn
So với chiếu sáng nhân tạo thì chiếu sáng tự nhiên tốt hơn vì giảm chi phí, phổ ánh sáng tự nhiên thích hợp với mắt hơn, ánh sáng ổn định và phân bố đều hơn Nhưng tại P211, P212 và P213 việc lấy ánh sáng mặt trời không hợp lý với thiết kế dãy bàn đặt màn hình máy vi tính
HÌNH 6: Hướng chiếu sáng 2 (HS2) HÌNH 5: Hướng chiếu sáng 1 (HS1)
HS1 thể hiện cách lấy ánh sáng mặt trời của P211, P212
HS2 thể hiện cách lấy ánh sáng mặt trời của P213
HS3 thể hiện cách lấy ánh sáng mặt trời của P203 và P204
Khi ánh sáng bên ngoài chiếu vào trong phòng qua cửa sổ thì tại các bề mặt sau màn hình có độ rọi lớn hơn trong phòng, ngồi trước màn hình vi tính như HS1 thì ta thấy khó quan sát hơn chính là do tương phản thấp Ngồi trước màn hình máy vi tính theo HS2 thì gây lóa trên màn hình và tạo bóng người ngồi gây khó quan sát trên màn hình và ngồi trước màn hình theo HS3 thì hợp lý hơn Thực tế tác giả đã tiến hành đo ánh sáng tại bề mặt thẳng đứng sát cửa sổ thấy được độ rọi từ 550Lux trở lên khi màn sáo được kéo lên (để cho ánh sáng vào), khi màn sáo tạo các khe hở thì độ rọi từ
250Lux trở lên Độ rọi này lớn hơn độ rọi trong phòng gây khó khăn khi quan sát trên màn hình Cho nên thực tế hầu như màn chắn nhằm mục đích là chắn tia sáng ngoài chiếu vào chứ không phải là lấy ánh sáng vào, vì đứng theo quan điểm lấy sáng như vậy sẽ gây bất lợi cho sinh viên ngồi trước màn hình Vậy các màn sáo phải kín để độ rọi sau màn hình máy vi tính phải thấp hơn độ rọi phía trước màn hình Cho nên lấy ánh sáng tự nhiên rất ít tại các phòng học vi tính của trường
Sử dụng đèn huỳnh quang có ánh sáng trắng không có lợi cho mắt vì có sự dao động của quang thông, chất lượng ánh sáng thấp
Ngoài ra tác giả tiến hành đo độ rọi trên bề mặt của màn hình máy vi tính Vì đây cũng là bề mặt mà sinh viên phải tập trung nhìn nhiều nhất Nhưng thời điểm đo là
HÌNH 7: Hướng chiếu sáng 3 (HS3)
BẢNG 3.2.2.1: Kết quả đo ánh sáng tại các phòng máy tính của trường
Thành phần ánh sáng trên màn hình
STT Ánh sáng từ màn hình phát ra (Lux) Ánh sáng bên ngoài chiếu vào màn hình (Lux) Ánh sáng trên màn hình (Lux)
Phòng có 8 bóng đèn đều bật, phòng có 41 bộ máy vi tính, diện tích phòng 6,3m9m
Số người có mặt tại phòng tại thời điểm đo 32 người.
Phòng có 8 bóng đèn đều bật, phòng có 55 bộ máy vi tính, diện tích phòng 6,9m9m
Số người có mặt tại phòng tại thời điểm đo 43 người.
Số người có mặt tại phòng tại thời điểm đo 50 người.
Phòng có 24 bóng đèn đều bật, phòng có 64 bộ máy vi tính, diện tích phòng 11,4m6,3m
Số người có mặt tại phòng tại thời điểm đo 35 người.
Phòng có 9 bóng đèn đều bật, phòng có 40 bộ máy vi tính, diện tích phòng 7,2m6,3m
Số người có mặt tại phòng tại thời điểm đo 27 người.
Trung bình độ rọi trên màn hình tại các phòng máy vi tính là 196,4Lux Ánh sáng trên màn hình gồm có hai thành phần: ánh sáng do bản thân màn hình và ánh sáng bên ngoài chiếu lên màn hình.
Ergonomic vị trí học tập
màu trắng, còn với một số phông nền như màu xanh thì độ sáng thấp hơn nhiều, có nghĩa là tương phản kém hơn
Tổng ánh sáng từ màn hình phát ra và ánh sáng bên ngoài chiếu vào màn hình, đó chính là độ rọi trên màn hình máy (ánh sáng trên màn hình) vi tính, tính độ rọi trung bình trên màn hình máy vi tính là 196,4Lux Kết luận độ rọi trên màn hình máy tính còn quá thấp
Do mỗi màn hình có tương phản khác nhau, khi lựa chọn màn hình sử dụng sinh viên cần chọn màn hình có ánh sáng phù hợp với mắt mình hơn
Trường tĩnh điện gây ảnh hưởng đến sự ion hóa không khí xung quanh máy tính và trong mức độ nào đó sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe người sử dụng Cường độ của trường tĩnh điện này vào cỡ 70kV/m trong khoảng cách 10cm và 20kV/m ở khoảng cách 40cm Đồng thời trường tĩnh điện sẽ giảm dần theo thời gian
Nếu như màn hình có kính chắn và được tiếp đất thì trường tĩnh điện triệt tiêu, nhưng thực tế thì các màn hình ở các phòng máy của trường không có kính chắn
3.3 Ergonomi vị trí học tập trên máy vi tính
3.3.1 Tổ chức không gian vị trí học tập Ở phần trên chúng ta đã tìm hiểu đặc điểm của từng yếu tố như phòng học, bàn ghế, bàn phím, màn hình máy tính … liên quan đến sức khỏe và chất lượng học tập khi học tập trên máy tính Còn trong phần này tác giả phân tích các yếu tố trên liên quan đến sức khỏe và chất lượng học tập của sinh viên
Nhìn chung ở các phòng vi tính của trường nhìn rất khang trang và rộng rãi, nhưng việc bố trí quá nhiều dãy bàn, máy tính làm không gian của phòng trở nên hẹp
Chính vì vậy trong phòng học không có lối qua lại để sinh viên và giáo viên qua lại khi cần thiết Khi mà có người qua lại làm cho sinh viên đang học thường phải cúi người hoặc xê dịch để tạo lối đi Để tránh người qua lại làm ảnh hưởng việc học tập của mình thì thường sinh viên phải ngồi tiến sát vào màn hình máy tính, điều này cũng là một lý do buộc sinh viên ngồi học trên màn hình máy tính ở một khoảng cách gần
Khoảng không ngồi học tập trước máy vi tính rất hẹp, bao gồm: hẹp về chiều rộng của bàn, hẹp về chỗ để chân, hẹp về bề rộng của một người trên một máy, hẹp về tầm nhìn lẫn trường nhìn, mà nguyên nhân do việc bố trí các dãy bàn, màn hình, thùng case gần nhau (ở một vài phòng vị trí thùng case được đặt ở trên bàn học)
Vị trí đặt bảng trong phòng học tương đối phù hợp với việc bố trí các bàn học và giúp sinh viên dễ dàng quan sát theo dõi Tuy nhiên việc bố trí bảng tại phòng vi tính chỉ mang tính chất phụ kèm khi dạy, nhưng trong thực tế ở một số môn học, ở một số cách dạy giáo viên buộc sinh viên đang học trên máy vi tính phải theo dõi trên bảng liên tục ở một tư thế xoay đầu sở dĩ xoay đầu là vì mặt phẳng bàn nằm trước mặt ở tư thế học trên máy vi tính và ghế ngồi cố định Theo thói quen khi thầy giảng bài trên bảng thì thường sinh viên xoay đầu theo dõi, mà không xoay người Ngồi học ở tư thế như trên thường rất dễ dẫn đến đau vùng cổ
3.3.2 Tư thế học tập và hoạt động học tập
Tư thế học tập trên máy vi tính là tư thế ngồi Một tư thế ngồi hợp lý khi thân mình thẳng, có độ cong tự nhiên của cột sống, trọng tâm cơ thể phân bố đều lên chân đế, tiết kiệm các chuyển động tay và tạo các góc tù với xương chi dưới Nhưng sự duy trì tư thế ngồi hợp lý còn phụ thuộc vào bàn ghế như chiều cao bàn, chiều cao ghế và bề rộng mặt ghế, vị trí của bàn phím, chuột vi tính và ánh sáng Để đánh giá tư thế ngồi học trên máy vi tính của sinh viên, tác giả đã sử dụng phương pháp đánh giá tư thế ngồi học gián tiếp qua các số đo góc giữa các đoạn cơ thể
HÌNH 8 Khoảng cách giữa sinh viên và phía sau màn hình
Hình ảnh sau thể hiện 9 góc đo cần thiết của các đoạn cơ thể cần thiết:
BẢNG 3.3.2: Góc giữa các đoạn của cơ thể
STT Tên các góc Cách xác định
Góc giữa đầu – đường thẳng đứng
Tạo bởi đường thẳng đứng và đường thẳng từ mỏm vai đến hốc tai 35
Góc giữa đầu -thân Tạo bởi đường thẳng giữa thân (nối mỏm vai với khớp chậu - đùi) và đường thẳng từ mỏm vai đến hốc tai
HÌNH 9: Các góc đo giữa các đoạn cơ thể a là tư thế ngồi và b là tư thế đứng tay) thẳng đứng tiếp cận bên sườn
Góc khuỷu tay Tạo bởi đường thẳng giữa cánh tay và cẳng tay (nối cổ tay và bàn tay)
Góc cẳng – bàn tay Tạo bởi đường thẳng giữa khuỷu tay và bàn tay (nối cổ tay và bàn tay)
Góc thân – đùi Tạo bởi đường thẳng giữa thân và đường thẳng đùi (nối khớp chậu – đùi với khớp gối)
Tạo bởi đường thẳng đùi và đường thẳng cẳng chân (nối khớp gối với mắt cá chân)
Góc cẳng chân – bàn chân
Tạo bởi đường thẳng cẳng chân và đường thẳng bàn chân (nối mắt cá chân với ngón chân)
Góc (–) khi cơ thể ngả ra sau so với đường thẳng đứng
Góc (+) khi cơ thể ngả ra trước so với đường thẳng đứng
Tác giả đã tiến hành quan sát tư thế ngồi học của một số sinh viên và tiến hành chụp hình trên 12 người Hình ảnh chụp gồm có mặt cắt bên và mặt sau của một người Tư thế chụp ảnh là tư thế mà sinh viên ngồi học thường xuyên trước máy tính
Sau đó dùng thước đo độ thông thường để xác định các góc giữa các đoạn cơ thể như sau:
BẢNG 3.3.2.1: Số đo góc giữa các đoạn cơ thể của sinh viên khi học trên máy tính
Trên thực tế việc tiến hành chụp hình và đo đạc góc của cơ thể trên 12 sinh viên là còn ít, nhưng qua đó tác giả muốn nói lên thực trạng tư thế ngồi học đó là kết quả việc trang bị kiểu bàn ghế ngồi học, ánh sáng trong phòng học
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Đặc điểm của sinh viên học tập trên máy vi tính
3.4.1 Các đặc điểm của sinh viên
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Tổng hợp vấn đề sức khỏe, công cụ học tập và trí lực của sinh viên để thấy rằng điều kiện học tập trên máy vi tính của sinh viên căng thẳng hơn những công việc của những đối tượng khác cùng làm việc trên máy vi tính
3.4.2 Thời gian học tập trên máy vi tính
Thời gian học tập trên máy vi tính có liên quan với các yếu tố như bàn ghế, chuột, cách gõ phím, tình trạng sức khỏe … và cùng các yếu tố đó tác động cộng gộp trực tiếp đến tình trạng sức khỏe của sinh viên
Sinh viên là đối tượng khó xác định cụ thể thời gian ngồi học trước màn hình máy tính trong 1 ngày, 1 tuần … Có những sinh viên học trên máy vi tính vài giờ trong một tuần, có những sinh viên ngồi hàng chục giờ trên máy vi tính trong một tuần và việc sử dụng máy vi tính có thường xuyên hay không cũng khó xác định được nhưng nếu sinh viên học vi tính ở trường, thời gian học thường liên tục trong hai giờ Vì vậy tác giả chỉ nghiên cứu ảnh hưởng của máy vi tính đến sinh viên trong hai giờ học tập trên máy, 2 giờ học tập là hai giờ học tại các phòng học máy vi tính của trường đại học bán công Tôn Đức Thắng, còn việc sử dụng ngoài thời gian đó và về lâu dài thì tác giả chưa có điều kiện thực hiện
Thời gian học trên máy vi tính ở trường trong liên tục 2 giờ, mặc dù theo lịch bố trí thời gian học của trường, sinh viên được nghỉ 15 phút, nhưng thường ít người thực hiện mà học liên tục đến hết 2 giờ Trong suốt thời gian này hầu như sinh viên phải tập trung suy nghĩ, mắt phải luôn tập trung nhìn vào màn hình máy vi tính và thực hiện thao tác chuột, gõ phím thường xuyên (tùy môn học)
3.4.3 Thói quen sử dụng máy vi tính của sinh viên
Là sinh viên khi ngồi học trên máy vi tính, họ thường chỉ chú tâm đến nhiệm vụ của mình, thao tác sử dụng bàn phím, chuột nhanh, đạt được mục tiêu bài học đề ra Ít người biết, để ý đến những cách sử dụng chuột, bàn phím, màn hình máy tính, tư thế ngồi thế nào là hợp lý, thế nào là an toàn Họ bị động trước việc chuẩn bị công cụ học tập trên máy vi tính, có nghĩa là nếu như nhà trường bố trí bàn phím, chuột, màn hình như thế nào thì theo thói quen sinh viên chỉ biết sử dụng Ngoài ra sinh viên chưa biết hết được vị trí và tư thế ngồi học trên máy vi tính thế nào cho hợp lý, an toàn
3.5 Mắt và sinh lý mắt
Cuộc sống khác với sự tồn tại đơn giản từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc là một quá trình không ngừng thu nhận, xử lý và đánh giá thông tin nhận được từ môi trường xung quanh Trung tâm xử lý thông tin là não, cả hai bán cầu đại não được bao phủ bởi một lớp mỏng chất màu xám, gọi là vỏ đại não Não bị chia nhỏ bởi các rãnh và nếp gấp, diện tích bề mặt não tới 1500cm 2 Chất xám chứa khoảng 10000 triệu tế bào thần kinh hay là nơtron Khi các tế bào này nhận được thông tin qua cảm giác bằng các sợi thần kinh, trong não xuất hiện các cảm giác và hình ảnh chủ quan của thế giới bên ngoài
Cơ thể người cấu tạo từ rất nhiều tế bào và một số tế bào cảm giác – tế bào cảm giác được dành riêng cho việc thu nhận thông tin từ môi trường xung quanh và truyền nó về não Tự mình não không thể nghe, nhìn, cũng như cảm thấy những cảm giác khác nào đó Thực tế có 8 cảm giác khác nhau, đó là thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác, cảm giác về nhiệt độ, cảm giác về vị trí và chuyển động, cảm giác đau
Các gnuồn thông tin về thế giới xung quanh mà cơ thể rất cần tới, là các tác nhân kích thích có bản chất vật lý hay hóa học Chẳng hạn như ánh sáng, âm thanh …
Các tế bào cảm giác nhận năng lượng từ các tác nhân kích thích bên ngoài và sau đó biến sự kích thích đó cùng với các biến thái của nó thành các tín hiệu thần kinh truyền theo các sợi thần kinh về não Đáng lưu ý các dây thần kinh và xung thần kinh đi từ các tế bào cảm giác về não đều giống nhau đối với mọi cảm giác và chúng khác chỉ bởi một điều là chúng kết thúc tại các phần khác nhau của vỏ đại não Bởi vậy sự hoạt động của các dây thần kinh, mang các tín hiệu đi về vùng thị giác thuộc phần não ở gáy đưa tới cảm giác ánh sáng, còn sự hoạt động của các dây thần kinh đưa các tín hiệu tương tự về vùng thính giác dẫn tới sự cảm thụ về âm thanh Dĩ nhiên chức năng của não phức tạp hơn nhiều so với sự thụ cảm đơn giản các tác nhân kích thích
Trên thực tế chúng ta biết rất ít về vấn đề chính não biến đổi các xung động
Nhãn cầu gồm ba thành phần có nguồn gốc mô học hoàn toàn khác nhau:
Võng mạc bắt nguồn từ hệ thần kinh trung ương, là thành phần giác quan chủ yếu
Thủy tinh thể (thể thủy tinh) trực tiếp bắt nguồn từ lớp ngoại bì Là một thấu kính hội tụ trong suốt, đảm nhiễm khoảng 1/3 (20 điôp) tổng công suất khúc xạ hội tụ của mắt Thủy tinh thể bình thường là một cấu trúc không có thần kinh và mạch máu
Thủy tinh thể nằm ở phía sau của mống mắt và phía trước của màng dịch kính Nó được giữ nguyên ở bên trong nhờ áp lực của thủy dịch và thủy tinh dịch (dịch kính) và đặc biệt là nhờ hệ thống dây treo thủy tinh thể (dây Zimn) xuất phát từ nếp thể mi đến bám vào xích đạo, bao trước và bao sau thủy tinh thể
Giác mạc là một mô trong suốt, liên tiếp tại vùng rìa với kết mạc và củng mạc ở phía sau, chiếm 1/6 trước vỏ nhãn cầu Giác mạc giống như một thấu kính với một mặt lồi (mặt trước bán kính khoảng 7,8mm) và một mặt lõm (mặt sau bán kính 6,6mm), hình dạng hơi oval với đường kính dọc 9 11mm và đường kính ngang 11 12mm độ dày giác mạc ở trong tâm khoảng 0,5mm
Các thành phần khác từ lớp trung bì cấu tạo nên:
Những ghi nhận ban đầu và bàn luận
Khoảng cách mắt và số lần chớp mắt
Kết quả đo được thống kê theo bảng sau:
BẢNG 4.1.1: Số đo khoảng cách mắt đến màn hình máy tính
STT sinh viên ngồi học
K/ c ban đầu ngồi học (cm)
K/ c sau 2 giờ liên tục ngồi học (cm)
K/c trung bình từng người (cm)
Khoảng cách TB từ mắt đến màn hình máy tính
Sở dĩ tác giả tiến hành đo khoảng cách mắt đến màn hình mà thực hiện trước khi học và sau 2 giờ liên tục ngồi học là vì khi ngồi học trên ghế không tựa và đế giữ thăng bằng nhỏ (bề rộng ghế nhỏ và chiều dài hẹp) thì trong quá trình ngồi học cơ thể có xu hướng cúi về phía trước Kết quả tính toán thống kê được trung bình khoảng cách từ mắt đến màn hình là 41cm
Việc xác định khoảng cách từ mắt đến màn hình máy vi tính hợp lý giúp cho chúng ta: thứ nhất tránh được ảnh hưởng của trường tĩnh điện của màn hình máy tính, thứ hai tránh được khả năng thu hẹp tầm nhìn lẫn trường nhìn mà yếu tố này dễ gây sự mỏi mắt và ức chế tâm lý trong quá trình học tập (ví dụ như việc chúng ta ngồi học trên bàn phía trước là một bức tường nó khác với việc chúng ta học mà phía trước mặt là một cửa sổ mà phía trước là cây xanh, là bầu trời trong xanh) và cuối cùng giúp mắt ta ít phải điều tiết khi quan sát đối tượng trên màn hình điều này làm giảm sự điều tiết của mắt (sẽ đỡ mỏi mắt hơn)
Theo quyết định của Bộ trưởng Bộ y tế số 3733/2002/QĐ-BYT ngày
10/10/2002 thì khoảng cách mắt đến màn hình máy tính lớn hơn 50cm Tuy nhiên theo
PGS.PTS Võ Hưng thì khoảng cách đó thích hợp là từ 45 70cm là thích hợp Qua hai ý kiến trên kết hợp với việc sử dụng màn hình của nhà trường tại các phòng học
Trong quá trình học tập cũng như lao động, mắt là cơ quan giúp chúng ta thu nhập thông tin từ bên ngoài Bình thường nếu chúng ta ngủ thì hai mi khép lại, khi đó xem như mắt nghỉ hoàn toàn Còn khi đọc sách, nghỉ ngơi và học tập trước máy vi tính
… thì cơ chế chớp mắt ngược hoàn toàn với sinh lý chớp mắt bình thường Hay nói cách khác cơ chế chớp mắt trong quá trình lao động ngược với cơ chế chớp mắt lúc không lao động Cụ thể khi chúng ta học tập trên máy vi tính cũng như đọc sách thì mắt chúng ta phải tự điều chỉnh số lần chớp để theo dõi được liên tục, mà sự điều chỉnh này có khuynh hướng làm giảm số lần chớp mắt (chớp mắt nhiều làm gián đoạn quá trình nhìn ) Nhưng không hẳn thế mà khi mắt hoặc cơ thể đã mệt mỏi thì số lần chớp mắt lại tăng lên để bù lại, vì chớp mắt là tạo điều kiện cho mắt được nghỉ ngơi trong một thời gian ngắn, mắt và cơ thể mệt thì có một cơ chế ngược giúp mắt phục hồi Ngoài ra tùy vào lúc mà số lần chớp mắt tăng giảm ngẫu nhiên Nhưng với mục đích là đếm số lần chớp mắt khi sinh viên ngồi học trước máy màn hình vi tính để nghiên cứu, tác giả tiến hành đếm số lần chớp mắt Tác giả là người trực tiếp đếm chớp mắt ở sinh viên và sử dụng kèm theo một chiếc đồng hồ báo giờ mục đích khi tác giả quan sát đếm chớp mắt ở sinh viên khi nào quan sát trong thời gian 60s đồng hồ sẽ tự động báo đã hết giờ Tác giả sẽ ngồi ở một vị trí thuận lợi cho việc đếm chớp mắt của đối tượng lựa chọn Tác giả đã tiến hành đếm chớp mắt trên 30 sinh viên, kết quả như sau:
BẢNG 4.1.2: Số lần chớp mắt của sinh viên khi học trước máy vi tính
STT Số lần chớp mắt lần 1 Số lần chớp mắt lần 2
Trung bình số lần chớp mắt của sinh viên khi học trước máy vi tính là 7,7 lần
Qua kết quả trên khi sinh viên ngồi ở một khoảng cách gần màn hình máy vi tính mà số lần chớp mắt chỉ có trung bình từ 7,7 lần Số lần chớp mắt khi sinh viên
Số lần chớp mắt từ 7,7 lần, trong khi khoảng cách từ màn hình máy vi tính tới mắt nhỏ So sánh với số lần chớp mắt khi đọc sách và nghỉ ngơi thì số lần chớp mắt khi ngồi học trước màn hình máy vi tính là rất thấp Chính vì đó có thể là nguyên nhân gây căng thẳng đối với mắt và làm khô giác mạc mắt.
Trắc nghiệm vòng Landolt
Bản trắc nghiệm vòng Landolt gồm 2 phần được trình bày trên khổ giấy A4, gồm 2 phần trên đều giống nhau hoàn toàn Trong một phần là tập hợp 480 vòng tròn có khe hở chỉ các giờ khác nhau giống đồng hồ treo tường, cụ thể có 49 vòng tròn chỉ
1 giờ, 45 vòng tròn chỉ 2 giờ, 43 vòng tròn chỉ 3 giờ, 39 vòng tròn chỉ 4 giờ, 36 vòng tròn chỉ 5 giờ, 30 vòng tròn chỉ 6 giờ, 38 vòng tròn chỉ 7 giờ, 36 vòng tròn chỉ 8 giờ,
39 vòng tròn chỉ 9 giờ, 45 vòng tròn chỉ 10 giờ, 49 vòng tròn chỉ 11 giờ, 36 vòng tròn chỉ 12 giờ
Trên thực tế tác giả chọn khe hở chỉ 5 giờ để yêu cầu người thực hiện tìm và thời gian thực hiện ở một số người là 150s và một số 180s Tác giả chọn những người thực hiện trong trạng thái sức khỏe bình thường và không bị các tật về mắt Trong quá trình sinh viên thực hiện không để các yếu tố khác làm gián đoạn hoặc làm ảnh hưởng đến Tác giả đã thực hiện trắc nghiệm ở 33 sinh viên tại vị trí ngồi học của sinh viên tại các phòng máy
Kết quả mà tác giả thu được thống kê theo bảng sau:
BẢNG 4.2: Lượng đơn vị thu nhận thông tin (bit/giây)
Mã số người thực hiện
T1 T2 Lượng thu nhận thông tin (bit/giây) trước giờ học (T3)
Lượng thu nhận thông tin (bit/giây) trước giờ học (T4)
% lượng thu nhận thông tin giảm
28 7 9 1,609 1,571 2,4% Thực hiện trong thời gian 150s
32 32 33 1,141 1,122 1,7% Ứng với các giá trị T1, T2 thay vào công thức S t
Trong đó N là tổng số vòng Landolt ở một phần, T là số lỗi hay bỏ sót, t là thời gian thực hiện Dựa vào các giá trị T1, T2 ta tính được lượng thông tin thu nhận được trước giờ học trên máy tính là T3 và sau 2 giờ học liên tục là T4
% lượng thu nhận thông tin giảm được tính theo công thức là
Qua việc tính toán trên ta thấy tốc độ thu nhận thông tin đã giảm đi trung bình là 6,1%.
Độ chính xác
Chọn một số sinh viên học tập trên máy vi tính ở các phòng học trường đại học bán công Tôn Đức Thắng để thực hiện đo độ chính xác Những sinh viên lựa chọn phải tuân theo những nguyên tắc đặt ra là trong quá trình học không đi ra khỏi phòng học máy tính, có thái độ tích cực tham gia và làm theo sự hướng dẫn của tác giả (không lựa chọn người có tật tay run) Thiết bị đo sẽ được đặt trên bàn học máy tính, vị trí mà sinh viên dễ thao tác mà không để các yếu tố bên ngoài làm ảnh hưởng đến như việc đi qua người đang thực hiện hoặc đứng xem người đang thực hiện
Kết quả đo độ chính xác ở 30 sinh viên tại vị trí ngồi học của sinh viên tại các phòng máy vi tính trường ĐH BC Tôn Đức Thắng như sau:
BẢNG 4.3 Độ chính xác của sinh viên T ĐH BC Tôn Đức Thắng học trên máy tính
STT người thực hiện R1(lần) R2(lần)
% mức độ chính xác giảm (%)
Trong đó: R1 là số lần lỗi trước khi học và R2 là số lỗi sau khi học 2 giờ đồng hồ liên tục học tập trên máy vi tính
% mức độ chính xác giảm (%R) được tính theo công thức
Vậy số lỗi khi bắt đầu học tập trước máy vi tính ít hơn sau học tập 2 giờ đồng hồ liên tục mà cụ thể tính trung bình số lỗi tăng lên là 27,3% Vậy có thể nói trải qua quá trình lao động sự điều khiển chính xác của thần kinh đã giảm thể hiện qua số lỗi tăng (có nghĩa độ chính xác giảm)
Lựa chọn một số sinh viên học tập trên máy vi tính ở các phòng học trường đại học bán công Tôn Đức Thắng để thực hiện đo lực bóp tay Những sinh viên lựa chọn phải tuân theo những nguyên tắc đặt ra là trong quá trình học không đi ra khỏi phòng học máy tính và làm theo sự hướng dẫn của tác giả
Kết quả đo lực bóp tay ở 35 sinh viên tại vị trí ngồi học của sinh viên tại các phòng máy vi tính trường đại học BC Tôn Đức Thắng như sau:
BẢNG 4.4: Lực bóp tay của sinh viên trường ĐH BC Tôn Đức Thắng khi học trên máy tính
STT người thực hiện L1 (Kg) L2(Kg)
% Mức giảm lực bóp tay từng người tương ứng(%)
Trong đó L1 là lực bóp tay trước khi làm việc trước máy tính và L2 là lực bóp tay sau 2 giờ đồng hồ liên tục học tập trên máy tính
% mức giảm lực bóp tay được tính theo công thức
L Kết quả tính toán được mức giảm lực bóp của cánh tay là 6,9%
Mọi hình thức lao động có sự mệt mỏi riêng, học tập trên máy vi tính cũng là một hình lao động và học tập trên máy vi tính là hoạt động tĩnh nên mệt mỏi ở đây là mệt mỏi âm (thí dụ người đứng im với người đi bộ) Những thí nghiệm trên rút ra kết luận : khi học tập hay làm việc trên máy tính con người có thể chịu sự tác động xấu của điều kiện làm việc trên máy vi tính, sự tác động này mạnh hay yếu còn phải tùy thuộc vào nhiều yếu tố Ảnh hưởng của máy vi tính không chỉ đến mắt, còn có thể đến sự mệt mỏi thần kinh và đến nhiều vấn đề khác mà khoa học đang nghiên cứu Để tránh và làm giảm ảnh hưởng của máy vi tính tác giả đề xuất một số biện pháp sau
Khi học tập hay làm việc trên máy vi tính, cần phải quan tâm tới vấn đề đảm bảo an toàn khi học tập Xuất phát từ thực tế đó để giúp sinh viên có được kiến thức có ích khi học tập trên máy vi tính, tác giả đề ra một số khuyến nghị sau nhằm giảm ảnh hưởng xấu khi học tập trên máy vi tính
Bước đầu sinh viên cần xác định tư thế ngồi học hợp lý trước máy vi tính và duy trì tư thế ngồi đó là chính trong quá trình học Điều này được xem là cần thiết Tư thế ngồi có ưu điểm hơn tư thế đứng, nhưng tư thế ngồi không hợp lý lại mang lại một số vấn đề nghiêm trọng Thời gian học tập trước máy vi tính là trong khoảng 2 giờ liên tục, nếu duy trì ngồi ở một tư thế không hợp lý trong khoảng thời gian đó thì có thể làm cho cơ thể chóng mỏi (Mỏi này là mỏi về lưng, vai, cổ, chân và vùng mông) Dấu hiệu nhận biết dễ dàng nhất đó là cảm giác không thoải mái và gò bó khi ngồi học
Ngoài ra xác định tư thế ngồi trước máy vi tính hợp lý giúp cho sinh viên giảm hoặc tránh được những ảnh hưởng của màn hình máy vi tính, thông qua xác định tư thế ngồi (ngồi vuông góc với màn hình máy vi tính và khoảng cách từ màn hình máy vi tính đến sinh viên lớn hơn 50cm) Tuy nhiên việc xác định và duy trì tư thế học tập hợp lý còn phải phụ thuộc vào các yếu tố khác như chiều cao ghế, bề rộng mặt ghế, ghế có tựa hay không có tựa …
Thứ hai cần sử dụng chuột và bàn phím an toàn: Để giảm ảnh hưởng của việc sử dụng chuột và bàn phím thì chúng ta có thể thực hiện như sau:
Đối với sử dụng chuột: không nên bóp chặt, chỉ giữ lỏng trong lòng bàn tay và giữ thoải mái Khi nắm chặt sẽ gây khó khăn khi di chuyển và nhấp chuột Giữ chuột vi tính phải giữ cổ tay thẳng, cẳng tay; cổ tay; ngón tay nên được nằm trên một đường thẳng Di chuyển chuột vi tính chỉ di chuyển trong tầm với thoải mái Đối với sử dụng bàn phím: Sinh viên cần lưu ý cách gõ phím và nhấn phím
Trong quá trình học, đối với phần mềm như Microsoft Word để cải thiện điều kiện nhìn thoải mái thì chúng ta cần định dạng kích thước font chữ lớn càng tốt
(định dạng font chữ 13 14 là phù hợp khi cửa sổ màn hình 100%) Bởi vì kích thước ký hiệu càng lớn mắt càng dễ phân biệt
Thường xuyên phóng xa tầm mắt ra xa: thay vì lúc nào chúng ta cũng tập trung mắt vào màn hình máy vi tính, thỉnh thoảng chúng ta cần phải phóng xa tầm nhìn
Làm như vậy chính là tạo điều kiện cho mắt nghỉ ngơi trong quá trình học tập, tức là giảm sự căng thẳng đối với mắt
Chủ động tăng số lần chớp mắt: chúng ta chủ động tăng số lần chớp mắt (tức là tăng số lần chớp mắt nhiều lên) khi học tập để hạn chế ảnh hưởng của việc giảm số lần chớp mắt tự phát theo chu kỳ Hoặc chúng ta sẽ tăng số lần chớp mắt khi chúng ta tập trung nhìn trước màn hình máy vi tính sau 10 15 phút
Nên dừng học tập trước máy vi tính khi thầy cô giáo giảng bài trên bảng: sinh viên dừng học để quay tư thế ngồi đối diện với bảng để thuận tiện cho việc theo dõi trên bảng và tránh được khả năng đau vùng cổ do phải nhìn bảng ở tư thế vặn cổ