TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM TIẾNG ỒN DO HOẠT ĐỘNG GIAO THÔNG VẬN TẢI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT
Tính cần thiết của đề tài
Giao thông vận tải, đặc biệt là giao thông đường bộ gắn liền với hoạt động của từng con người, là mạch máu của nền kinh tế và là một trong những thành phần chính cấu tạo nên không gian đô thị Vì vậy vấn đề ô nhiễm môi trường do hoạt động giao thông đường bộ đặc biệt là ô nhiễm tiếng ồn hiện đang là vấn nạn hàng đầu đối với các đô thị lớn
Bên cạnh các vấn nạn ô nhiễm hàng đầu hiện nay như ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn là một trong những nguồn ô nhiễm có tác động mạnh tới cuộc sống người dân đô thị, nhất là những đô thị lớn, có các hoạt động công nghiệp và giao thông vận tải sôi động Ô nhiễm tiếng ồn ở nước ta nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đang ngày một gia tăng, chưa có giải pháp xử lý và khống chế một cách có hiệu quả, đang là mối quan tâm không nhỏ của toàn xã hội và những người làm công tác bảo vệ môi trường
Nguồn gốc gây ra ô nhiễm tiếng ồn ở Thành phố chủ yếu do hoạt động giao thông vận tải, hoạt động công nghiệp và dịch vụ Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, chính sách của Nhà nước, tiếng ồn đang từng bước được xử lý và kiểm soát chặt chẽ Tuy nhiên trong lĩnh vực giao thông vận tải, tiếng ồn vẫn đang vượt tiêu chuẩn cho phép ở các tuyến đường giao thông, các nút giao thông lớn và gây tác động trực tiếp lên sức khỏe con người
Chính vì vậy luận văn: “Hiện trạng ô nhiễm tiếng ồn do hoạt động giao thông vận tải trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số giải pháp” là cần thiết với hy vọng sẽ đóng góp phần nào vào việc giảm ô nhiễm tiếng ồn từ giao thông đô thị, giúp cho công tác quản lý môi trường và quy hoạch đô thị phù hợp hơn.
Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá mức độ ô nhiễm tiếng ồn gây ra do hoạt động giao thông vận tải tại một số trục đường chính và tại một số nút giao thông quan trọng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất các giải pháp quản lý và các biện pháp kỹ thuật nhằm giảm thiểu ô nhiễm tiếng ồn.
Nội dung nghiên cứu
- Tổng hợp các số liệu về số lượng, chủng loại và tình trạng xe cơ giới ở thành phố Hồ Chí Minh
- Thu thập, tập hợp các tư liệu, số liệu của những kết quả nghiên cứu, khảo sát tiếng ồn giao thông trên địa bàn Thành phố
- Tham khảo các kết quả đo đạc ồn giao thông tại một số đường giao thông chính và các nút giao thông chính trên địa bàn Thành phố
- Phân tích tính toán và xử lý số liệu ồn, đánh giá hiện trạng ô nhiễm tiếng ồn
- Đề xuất các biện pháp quản lý và kỹ thuật nhằm giảm thiểu ô nhiễm tiếng ồn
Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp tham khảo tài liệu, nhằm mục đích thu thập các số liệu về hiện trạng tiếng ồn
2 Phương pháp khảo sát và đo đạc thực địa nhằm bổ sung các số liệu về hiện trạng tiếng ồn
3 Phương pháp tính toán và thực nghiệm nhằm mục đích nghiên cứu và đề xuất các biện pháp tổng hợp để chống ồn.
TỔNG QUAN
Giới thiệu chung về Thành Phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh nằm hai bên bờ sông Sài Gòn, địa hình tương đối bằng phẳng, có dạng kéo dài và nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, phía Bắc giáp với tỉnh Bình Dương và Đồng Nai, phía Đông giáp với sông Đồng Nai và Biển Đông, phía Tây giáp với Tây Ninh và phía Nam giáp với Long An, Vì vậy thành phố Hồ Chí Minh nằm ở vị trí trung tâm vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là đầu mối giao thông thuận lợi để giao lưu ở khắp khu vực phía Nam với cả nước và quốc tế
2.1.2 Dân số và hoạt động kinh tế xã hội
Thành phố Hồ Chí Minh là đầu tàu kinh tế của cả nước, là địa phương đứng đầu về tổng lượng vốn đầu tư nước ngoài Năm 2005, Thành phố nộp ngân sách 64.000 tỷ đồng, chiếm 1/3 tổng thu ngân sách của cả nước; kim ngạch xuất khẩu chiếm 1/3 tổng kim ngạch của cả nước, GDP chiếm 20% cả nước Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu: dầu khí, cơ khí, hóa chất, phần mềm, dệt may, dày da…GDP năm 2005 tăng 12,2% so với năm 2004, cao hơn mức phát triển năm 2004 so với 2003 là 11,7% GDP đầu người năm 2005 là 1850 USD, gấp 3 lần mức bình quân cả nước và xếp hàng đầu cả nước, Thành phố là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Diện tích của Thành phố vào khoảng 2056,5 Km 2 trong đó các quận nội thành có diện tích 140,3 Km 2 (chiếm 6,7%) và các huyện ngoại thành là 1916,2 Km 2 (chiếm 93,3% )
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong 7 Thành phố có mật độ dân cư cao nhất thế giới, khu vực nội thành chiếm 6,7% diện tích, nhưng tập trung đến 70% dân số toàn Thành phố Ước tính dân số thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 là 6,06 triệu, so với 5,87 triệu người trong năm 2003 Sang năm 2005 đã có khoảng 7 triệu dân cư đăng ký hộ khẩu tại Thành phố lớn nhất Việt Nam này, tuy nhiên số dân có mặt trong Thành phố thường cao hơn với khoảng 2 triệu dân ngoại tỉnh vào Thành phố làm ăn theo mùa vụ Bên cạnh người Việt, cộng đồng người Hoa gồm hơn 400.000 người đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của Thành phố
Bảng 2.1 Dân số Thành Phố Hồ Chí Minh [8]
( Ngu ồ n: Niên giám th ố ng kê 2003-C ụ c th ố ng kê TP/HCM)
2.1.3 Khí hậu và điều kiện tự nhiên
Nói chung thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ bình quân là 26,9 o C, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4 (40 o C), và tháng 12 có nhiệt độ bình quân nhỏ nhất là (25,5 o C), độ ẩm tương đối hàng năm là 77,83% Vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11) độ ầm thường cao trên 80% và vào mùa khô thường trên dưới 70% Hướng gió chủ yếu trong năm là Hướng Tây – Tây Nam và vào mùa mưa với tốc độ trung bình là 3,6m/s Hướng Đông – Đông Bắc với tốc độ trung bình là 2m/s Khí hậu trong nội thành (còn gọi là tiểu khí hậu) đã được nghiên cứu bước đầu và thấy cao hơn các huyện ngoại thành từ 2 – 2,5 o C.
Ô nhiễm tiếng ồn và những tác hại
Người ta có thể đánh giá chính xác chất lượng môi trường không khí bằng nồng độ chất ô nhiễm chứa trong không khí cao hay thấp hay đánh giá chất lượng môi trường nước theo yêu cầu của lượng ôxi sinh hóa trong nước Nhưng thực khó khăn trong việc đánh giá nguồn tiếng ồn nào gây ảnh hưởng xấu hơn, bởi vì cùng một tiếng ồn xảy ra, nhưng mỗi người cảm thấy bị tác động với một mực độ khác nhau [ 1]
2.2.1.Định nghĩa tiếng ồn, nguồn ồn, phân loại nguồn ồn, tính chất của nguồn ồn
2.2.1.1 Định nghĩa: Tiếng ồn là những âm thanh mà con người chẳng cảm thấy thích thú tí nào Không chỉ là tiếng ồn ào của máy móc hay tiếng réo rắt của âm nhạc, nếu những âm thanh làm cho con người cảm thấy ghét thì đều thuộc loại tiếng ồn.[4]
Theo ý nghĩa vật lý, tiếng ồn là tổ hợp một cách hỗn loạn những âm phức tạp Sóng của nó là một đường cong không có quy luật, không có chu kỳ [3]
Do công nghiệp và giao thông ngày càng phát triển, trình độ cơ giới hóa trong đời sống ngày càng cao, do nhân khẩu tập trung ngày càng đông, mức ồn ngày càng tăng, gây ảnh hưởng đến con người ngày càng trầm trọng.[3]
2.2.1.3 Phân loại các nguồn ồn
Có rất nhiều cách để phân loại nguồn ồn như phân loại theo vị trí tương đối của nguồn, phân loại theo phương lan truyền tiếng ồn, theo nguồn phát sinh….Ở đây luận văn tập trung phân loại tiếng ồn theo nguồn phát sinh [8] a.- Ti ế ng ồ n do ho ạ t độ ng công nghi ệ p
Theo thống kê không đầy đủ, thành phố Hồ Chí Minh có khoảng trên 1.000 Nhà máy xí nghiệp có quy mô lớn và hàng chục ngàn cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp Trừ một số nhà máy xí nghiệp nằm trong các khu công nghiệp tập trung hoặc nằm tại khu vực xa dân cư, còn lại hầu hết các cơ sở sản xuất tiểu - thủ công nghiệp đều nằm trong khu vực dân cư đông đúc cho nên mức độ gây ồn và ảnh hưởng của tiếng ồn rất lớn đối với người dân đô thị.[8]
Bảng 2.2 Tiếng ồn tại một số nhà máy [8]
TT Tên Nhà máy Ngành nghề Mức ồn Trong
Mức ồn ngoài tường rào Nhà máy (dBA)
1 Dệt Thắng Lợi Dệt, nhuộm 98 – 99 62 – 65
2 Dệt Việt Thắng Dệt, nhuộm 90 – 92 58 – 60
3 Dệt Phước Long Dệt Nhuộm 96 – 100 57 – 62
4 Dệt Thành Công Dệt, nhuộm 85 – 97 62 – 64
5 Thép Thủ Đức Luyện Cán thép 84 – 90 58 – 68
6 Thép Tân Bình Luyện cán thép 86 – 90 62 – 68
7 Thép Nhà Bè Luyện cán thép 85 – 92 56 – 64
8 Giấy Vĩnh Huệ SX giấy 87 – 88 64 – 67
10 Gold – Rafi Chế biến gỗ 90 – 98 62 – 64
12 BT Hiệp Phú VL xây dựng 85 – 90 61 – 62
14 Dầu ăn Thủ Đức Thực phẩm 68 – 72 54 – 55
16 Công Ty KenKen Thực phẩm 71 – 78 54 – 62
17 Thuốc trừ sâu SG Hoá chất 84 – 86 64 – 68
18 Nhà máy Dizen Phát điện 107 – 108 92 – 93
19 Bột mì Bình Đông Thực phẩm 89 – 90 70 – 73
20 Thuận Xương Nhựa 82 – 88 59 - 63 b.- Ti ế ng ồ n do ho ạ t độ ng giao thông
Tiếng ồn do hoạt động giao thông vận tải tại Thành phố Hồ Chí Minh là một nguồn ô nhiễm thực sự đáng kể ảnh hưởng rất nhiều tới sức khoẻ, sinh hoạt của người dân đô thị
Tiếng ồn do hoạt động giao thông vận tải bắt nguồn từ các phương tiện vận tải khác nhau như vận tải đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và đường hàng không.[8]
+ Tiếng ồn do hoạt động giao thông đường bộ Đây là nguồn ô nhiễm tiếng ồn chủ yếu trong các loại hình giao thông vận tải Theo thống kê tại thành phố Hồ Chí Minh cho biết lượng xe cơ giới- nguồn gây ô nhiễm chủ yếu từ hoạt động giao thông ở thành phố Hồ Chí Minh tăng lên nhanh chóng trong các năm qua
Nguồn phát sinh tiếng ồn của các phương tiện giao thông đường bộ chủ yếu là xe bị rung động va đập khi vận hành Tiếng ồn do còi xe và do đóng cửa xe cũng là những loại tiếng ồn khó chịu, tuy nhiên những loại tiếng ồn này là không thường xuyên.[2,8]
Mức ồn của các loại phương tiện giao thông đường bộ khác nhau tạo ra sẽ khác nhau đáng kể Qua thống kê trên nhiều loại xe, người ta đưa ra một số kết quả về mức ồn của một số loại xe như sau:
Bảng 2.3 Mức ồn của một số loại phương tiện đường bộ [2,8]
Loại xe Mức ồn (dBA)
Xe xích lô máy và ba gác máy
Số liệu trên chỉ là mức ồn của từng xe tính theo các loại xe khác nhau Trong thực tế tiếng ồn do hoạt động giao thông tại đô thị là tiếng ồn của dòng xe liên tục, tức là tiếng ồn tổng hợp từ nhiều nguồn ồn hoạt động đồng thời Mức ồn của dòng xe liên tục phụ thuộc rất nhiều vào lưu lượng xe cũng như vận tốc trung bình của dòng xe
+ Tiếng ồn do hoạt động giao thông đường sắt
Thành phố Hồ Chí Minh có một Ga Hoà Hưng nằm ngay trong khu vực nội thành và hàng ngày có 14 đoàn tàu ra vào Thành phố Hoạt động giao thông đường sắt cũng góp phần đáng kể vào việc tạo nên tiếng ồn của ngành giao thông vận tải Tiếng ồn của giao thông vận tải đường sắt chủ yếu từ sự vận chuyển của đoàn tàu Mức ồn đo được tại vị trí cách đường sắt 1,5m khi đoàn tàu chạy qua nằm trong khoảng từ 95 - 100dBA Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của loại tiếng ồn này không lớn mà chỉ giới hạn trong phạm vi đường tàu chạy qua và khu vực lân cận ga
+ Tiếng ồn do hoạt động giao thông đường thuỷ
Hoạt động của giao thông đường thuỷ cũng tạo nên mức ồn cho vùng bến cảng Nếu không tính đến tiếng ồn do xe cơ giới ra vào cảng (Đã tính đến trong phần giao thông đường bộ), thì mức ồn do hoạt động giao thông đường thuỷ là không đáng kể do
+ Tiếng ồn do hoạt động của đường hàng không
Tại thành phố Hồ Chí Minh, sân bay Tân Sơn Nhất là đầu mối hàng không lớn nhất nước, số lượng máy bay lên xuống ngày càng tăng Vấn đề tiếng ồn khu vực sân bay và khu vực lân cận cũng là một vấn đề đáng lo ngại Tiếng ồn do hoạt động hàng không tạo ra có ảnh hưởng đến đời sống đô thị chủ yếu là tiếng ồn của máy bay khi cất cánh và hạ cánh mức ồn do máy bay phản lực phát ra nằm trong khoảng từ 120 - 130dBA c.- Ti ế ng ồ n t ừ các ngu ồ n khác
Ngoài hai loại nguồn ồn nói trên còn rất nhiều loại nguồn phát sinh ồn khác trong cuộc sống đô thị
+ Tiếng ồn do hoạt động xây dựng
HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM TIẾNG ỒN DO HOẠT ĐỘNG GIAO THÔNG VẬN TẢI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 3.1 Đặc điểm hệ thống đường bộ và vài nét về tình trạng xe cơ giới tại Tp Hồ Chí Minh
Giao thông đường bộ
Mạng lưới giao thông đường bộ Thành phố bao gồm các trục quốc lộ do Trung ương quản lý và các đường tỉnh, đường nội đô do Thành phố quản lý Tổng chiều dài đường các cấp hạng khoảng 3.000km
Diện tích đất dành cho giao thông rất thấp lại không đồng đều trên địa bàn thành phố:
Toàn Thành phố có khoảng 727 con đường chính với tổng chiều dài 844km, tổng diện tích 6,5 triệu m 2 trong đó:
- Quốc lộ: 5 đường với chiều dài 110km
- Liên lộ : 42 đường với chiều dài 116,0km
- Tỉnh lộ : 12 đường với chiều dài 167,0km
- Nội quận: 665 đường với chiều dài 517,0km
- Cư xá-chung cư 14 đường với chiều dài 22,5km
Bảng 3.1 Bảng thống kê mạng lưới đường bộ TPHCM [8]
Tên khu vực Chiều dài (Km)
Nguồn: Sở GTCC TPHCM.( ghi chú:NTHH: Nội thành hiện hữu gồm 12 quận hiện nay, NTPT: Nội thành phát triển gồm Q2, Q9, Q7, Q12, Quận Thủ Đức) Ở các quận thuộc vùng Sài Gòn – Chợ Lớn cũ như Quận 1, Quận 3, Quận 5, diện tích đất dành cho giao thông trên diện tích đất đô thị đạt khoảng 17,4% – 21,4% song cũng chỉ đạt 0,31km/1000 dân do mật độ dân số quá cao Ở các quận cũ khác như Quận 4, Quận 6, Quận 8, Quận 10, Quận 11, Quận Tân Bình, Quận Bình Thạnh, Quận Phú Nhuận và Tân Phú diện tích đất dành cho giao thông trên diện tích đất đô thị chỉ đạt khoảng 5,2 – 15,0%; 0,24km/1000 dân là quá thấp.[15] Ở các quận mới như Quận 2, Quận 7, Quận 9, Quận 12, Quận Bình Tân và các huyện ngoại thành diện tích đất dành cho giao thông còn thấp hơn nữa chỉ chiếm khoảng 0,2 – 3,1%; 0,84km/1000 dân.[15]
Tình trạng kỹ thuật của mạng lưới đường trên các khu vực cũng có sự chênh lệch lớn: các đường ở các quận cũ hình thành khá rõ mạng ô bàn cờ thuận lợi cho giao thông, mặt đường rải thảm nhựa rất tốt, hệ thống thoát nước, chiếu sáng, vỉa hè, cây xanh hoàn chỉnh; các đường ở các quận mới mặt đường thấp so với mực nước triều, vỉa hè hẹp, không có cây xanh; các đường ở các huyện ngoại thành phần lớn mới chỉ được láng nhựa, tiêu chuẩn hình học thấp
Phần lớn các đường đều hẹp: chỉ khoảng 14% số đường có lòng đường rộng trên 12m để có thể tổ chức vận chuyển hành khách bằng xe buýt được thuận lợi; 51% số đường có lòng đường rộng từ 7m đến 12m chỉ có thể cho các xe ô tô con trong đó có xe Micro-buýt lưu thông; 35% số đường còn lại có lòng đường rộng dưới 7m chỉ đủ cho xe hai bánh lưu thông
Hệ thống các đường vành đai đã được hoạch định nhưng hầu hết chưa được xây dựng, các trục hướng tâm đã và đang được cải tạo, nâng cấp tuy nhiên vẫn còn thiếu, chưa đạt yêu cầu quy hoạch
Toàn Thành phố có trên 1350 nút giao thông cắt trong đó có khoảng 120 nút quan trọng thuộc 75 đường phố chính và các trục giao thông đối ngoại nhưng đều là giao cắt đồng mức
Hệ thống bến – bãi đỗ xe ở thành phố Hồ Chí Minh gồm có:
5 bến xe ô tô liên tỉnh chính: bến xe Miền Đông, bến xe Miền Tây, bến xe Chợ lớn, bến xe ngã tư Ga và bến xe Quận 8 với tổng diện tích khoảng 15,05 ha, công suất phục vụ 27,9 triệu hành khách/ năm
Một bến xe buýt chính bố trí ở khu vực chợ Bến Thành với diện tích 0,22 ha và các điểm đầu cuối tuyến nằm trong các bến xe Miền Đông, bến xe Chợ lớn, bến xe An Sương, khuôn viên trường Đại Học Nông Lâm- Thủ Đức, các khu vui chơi giải trí Đầm Sen, Suối Tiên…
Bảy bãi đỗ xe taxi với tổng diện tích khoảng 3,2 ha
Nhìn chung, số lượng và diện tích bến bãi còn ít chỉ chiếm khoảng 0,1% diện tích đô thị Các bến xe liên tỉnh do tập trung ở trong nội thành, có vị trí không phù hợp, bị hạn chế về mặt bằng nên làm phức tạp thêm cho giao thông đô thị Hệ thống bến bãi chuyên nghiệp chưa hình thành.[15]
Thống kê số liệu về phương tiện giao thông đang lưu hành trên toàn địa bàn TP
Theo thống kê của Cục Thống Kê Thành phố, lượng phương tiện giao thông từ năm 1995 đến nay đã tăng khoảng trên dưới hai lần cả về số lượng và tải trọng, ngoại trừ xe lam tải, xe lam khách và xích lô, ba gác đạp Điều này chứng tỏ tốc độ cơ giới hoá trong vận tải rất cao và vẫn còn tiếp tục gia tăng trong những năm tới
Năm 2005 thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 262.663 xe ôtô các loại với mức gia tăng 14,5%năm, khoảng 2,51 triệu xe máy với mức gia tăng khoảng 5,4%năm, và hơn
1 triệu xe đạp Hiện nay, vấn đề lưu thông trên địa bàn Thành phố chủ yếu là xe hai bánh chiếm khoảng 96,3%, phương tiện công cộng chiếm khoảng 3,7%.[15]
Dân số Thành phố tính đến cuối năm 2004 khoảng 6,2 triệu (chưa kể khách vãng lai) nhưng hiện nay vẫn chưa có giao thông bánh sắt đô thị Nhìn lại lịch sử từ sau giải phóng (1976), toàn Thành phố có khoảng 1000 xe bus các loại đáp ứng 10% nhu cầu đi lại của khoảng 3 triệu dân Thành phố lúc đó Tới tháng 2/2004, toàn Thành phố có
2840 xe bus các loại song chỉ đáp ứng 3,2% nhu cầu đi lại của 2 triệu người Điều này phản ánh sự suy giảm nghiệm trọng của vận tải hành khách công cộng Nguyên nhân chủ yếu là do kết cấu hạ tầng không theo kịp với tốc độ phát triển kinh tế- xã hội và vận tải hành khách công cộng chưa được quan tâm một cách đúng mức
Bảng 3.2 Số lượng phương tiện ở TP.HCM [15]
Xe 4 bánh -Ôtô con -Xe tải -Các loại khác
( Nguồn : Ban an toàn giao thông TPHCM, Báo cáo tóm tắt của sở GTCC tháng 7/2005) ĐỒ THỊ BIỂU THỊ MỨC GIA TĂNG SỐ LƯỢNG XE CỘ TẠI TP.HCM [15]
3.2 QUAN TRẮC VÀ ĐO ĐẠC TIẾNG ỒN TẠI CÁC NÚT GIAO THÔNG VÀ CÁC TUYẾN ĐƯỜNG CHÍNH
3.2.1 Giới thiệu các trạm quan trắc ô nhiễm không khí do hoạt động giao thông
Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng được 6 trạm quan trắc ô nhiễm không khí giao thông bán tự động tại các nút giao thông chính, tại 6 trạm này tiến hành thu 5 thông số ô nhiễm chính đó là NO2, CO, bụi, Pb và tiếng ồn Địa điểm quan trắc:
Ngã tư Điện Biên Phủ - Đinh Tiên Hoàng
Ngã tư Nguyễn Văn Linh - Huỳnh Tấn Phát
Hình 3.1 Bản đồ vị trí các trạm quan trắc chất lượng không khí.[8]
Lấy mẫu và phân tích mẫu
+ Tại ngã tư Điện Biên Phủ - Đinh Tiên Hoàng, vòng xoay Hàng Xanh, ngã tư An Sương và ngã sáu Gò Vấp: mỗi ngày lấy mẫu vào 3 thời điểm: 7h30, 10h, 15h
+ Tại vòng xoay Phú Lâm và Huỳnh Tấn Phát- Nguyễn Văn Linh: mẫu được lấy liên tục trong 8h từ 7h đến 15h (từ tháng 1/2005 đến tháng 7/2005) Từ tháng 8 năm 2005 mỗi ngày lấy mẫu vào 3 thời điểm: 7h30, 10h, 15h
+ Tần suất lấy mẫu: hàng tháng và lấy 10 ngày trên tháng
Vị trí lấy mẫu trên vỉa hè cách mép đường 2m, độ cao 1,2 -1,5m
Phương pháp lấy mẫu: a L ấ y m ẫ u CO: Sử dụng chai thể tích 600ml chứa dung dịch hấp thu PdCl2 Tại vị trí lấy mẫu hút chân không rồi để không khí tại vị trí lấy mẫu tràn vào đầy chai CO có trong không khí sẽ tác dụng với dung dịch hấp thụ và thời gian tác dụng từ 20 -24giờ Mẫu thu được có trị số tức thời b L ấ y m ẫ u NO 2 : Sử dụng phương pháp Williems –Badge Dụng cụ lấy mẫu gồm một ống nhựa có đáy và nắp bên trong chứa một tấm giấy lọc thuỷ tinh ( Whatman GF- A) đã được tẩm dung dịch hấp thu và làm khô trong điều kiện không có NO2 Tại nơi lấy mẫu mở nắp đậy ra, không khí có chứa NO2 sẽ đi qua màng lọc Teflon và hấp thụ vào giấy lọc Dựa vào thời gian mở nắp mà có thể xác định nồng độ NO 2 trong không khí c L ấ y m ẫ u Chì(Pb) : Không khí có chứa Chì được bơm lấy mẫu không khí hút qua dung dịch hấp thu HNO 3 chứa trong ống hấp thụ (Impinger) có màng xốp với lưu lượng 8-10lít/phút Tại đó chì được giữ lại trong dung dịch d L ấ y m ẫ u B ụ i : Không khí được bơm lấy mẫu hút qua bộ lọc (Filter Holder) có đặt giấy lọc thuỷ tinh Không khí đi qua bụi được giữ lại trên giấy lọc Lưu lượng lấy mẫu là 30lit/phút Bụi thu được là bụi lơ lửng e Đ o Ti ế ng Ồ n: Tiếng ồn được đo nhiều lần và lấy trị số trung bình Mỗi lần kéo dài 5 phút và lấy trị số trung bình
Phân tích mẫu a Phân tích CO : Nguyên tắc của phương pháp là khi CO tác dụng với PdCl2 thì PdCl2 được khử thành Paladi kim loại theo phản ứng:
CO + PdCL2 + H2O CO2 + 2HCl +Pd
Sau đó cho thuốc thử Folin – Ciocalteu thì thuốc thử bị biến từ màu vàng sang màu xanh theo phản ứng sau:
H 3 PO 4 10MoO 3 + 4HCl + 2Pd 2PdCL 2 +2H 2 O +[(MnO 3 ) 4 - (MoO) 2 ]H 3 PO 4
Dùng quang phổ kế so màu dung dịch ở bước sóng e0nm và tính toán nồng độ
CO trong không khí b Phân tích NO 2 : Nguyên tắc của phương pháp là cho ion Nitrite phản ứng với Sulphonyl amide tạo thành muối diazonium Hợp chất này kết hợp N-(1 naphtyl) ethylene dihydrochlorine tạo thành hợp chất màu hồng Dùng quang phổ kế so màu d Phân tích B ụ i : Sử dụng phương pháp cân trọng lượng bằng cách cân giấy lọc ( Sử dụng giấy lọc Whatman GF/A) trước và sau khi thu mẫu trong củng một điều kiện để tính nồng độ bụi Trước khi cân giấy lọc được đem sấy ở nhiệt độ 105 o C trong 1 giờ, sau đó cho vào bình hút ẩm trong 1giờ
3.2.2 Quan trắc và đo đạc tiếng ồn tại các tuyến đường chính Để đánh giá mức ồn của khu vực thành Phố Hồ Chi Minh, dựa vào mật độ đi lại của người dân, theo nghiên cứu ETAP ( Năng lượng – Giao thông Vận tải – Ô nhiễm không khí) – “ L ấ y t ừ đề tài Xây d ự ng b ả n đồ hi ệ n tr ạ ng ti ế ng ồ n trên m ộ t s ố tr ụ c đườ ng chính t ạ i thành ph ố H ồ Chí Minh – PGS.TS Nguy ễ n Đ inh Tu ấ n ”, tiếng ồn được đo và đếm mật độ lưu lượng xe trên một số tuyến đường chính, thời gian tiến hành từ 6h sáng đến 22h tối Căn cứ theo mật độ xe trung bình trên tuyến đường, chia tuyến đường đánh giá làm 3 nhóm: nhóm tuyến đường có mật độ xe cao, nhóm tuyến đường có mật độ xe trung bình và nhóm có mật độ xe thấp
Bảng 3.3 Kết quả đếm xe năm 2000 ( cả hai chiều từ 6h đến 22h) [8]
Vị trí khảo sát Xe máy Xe đạp Xe con Bus Bốn bánh Xe tải
Sau 4 năm cũng bằng việc khảo sát điều tra vào đầu tháng 4/2004 trên 5 tuyến đường chính cùng 5 vị trí mà đã được thực hiện từ năm 2000 như bảng 3.2 vào 3 khoảng thời gian :
+ Sáng : từ 7giờ đến 9 giờ
+ Trưa : từ 11giờ đến 13 giờ
Bảng 3.4 Kết quả đếm xe năm 2004 ( cả hai chiều – 6 giờ trong ngày) [8]
Vị trí khảo sát Xemáy Xe đạp Xe con Bus Bốn bánh Xe tải
(Số lượng các loại xe xích lô, ba gác không được thống kê ở đây)
Sau 4 năm (từ 2000-2004) và cho tới nay hầu như phương tiện vận chuyển bằng xe đạp giảm dần, thay vào đó là xe con và xe bus lưu thông được tăng lên khoảng gần
Bảng 3.5 Các điểm đo tiếng ồn.[8]
TT TUYẾN ĐƯỜNG SỐ ĐIỂM
VỊ TRÍ ĐO ( giao lộ với)
1 Trường Chinh 5 1 Hoàng Hoa Thám
4 Tây Thạnh (Cổng KCN Tân
7 6 Ngã Tư Ga ( Quốc Lộ I)
4 Hai Bà Trưng - Phan Đình Phùng
24 Khách Sạn (đối diện cây xăng
5 Điện Biên Phủ 6 26 Ngã bảy ( Lý Thái Tổ)
31 Cầu vượt đi bộ (gần cầu văn
6 Võ Thị Sáu 5 32 Bà Huyện Thanh Quan
7 Ba Tháng Hai 6 37 Bùng binh cây Gõ
8 Nguyễn Thị Minh Khai 6 43 Ngã Sáu ( ngã tư MK – Lý Thái
9 Xô Viết Nghệ Tĩnh 5 49 Gần cầu Thị Nghè
6 54 Trung tâm TDTT Tân Bình
57 Vòng Xoay Công Trường Dân
11 Lý Thường Kiệt 7 60 Lạc Long Quân
12 Trần Hưng Đạo 6 65 Phùng Hưng
13 Nguyễn Đình Chiểu 7 71 Hoàng Sa
85 Nguyễn Thị Nhỏ (nhà thờ)
15 Lê Quang Định 6 86 Trần Quốc Tuấn
91 Cây Xăng sau Chợ Bà Chiểu
16 Bùi Đình Tuý 3 92 Đinh Bộ Lĩnh
17 Phạm Thế Hiển 5 95 Dương Bá Trạc
Các số liệu đo tiếng ồn
3.3.1 Số liệu đo tiếng ồn tại 6 nút giao thông chính
Số liệu ồn của cả sáu trạm quan trắc, được cập nhật từ năm 2002 đến hết tháng 6 năm 2006 Số liệu ồn được Chi Cục Bảo Vệ Môi Trường Tp.HCM quản lý- Phần phụ Lục “ Số Liệu – bảng phụ lục 1.1- bảng phụ lục 1.2”
3.3.2 Số liệu đo tiếng ồn trên một số tuyến đường chính a) Cách đo tiếng ồn trên các tuyến đường
Hiện nay, trên thế giới và trong nước để đo đạc tiếng ồn được sử dụng các thông số cơ bản sau: a M ứ c áp su ấ t âm theo đặ c tính” A” Đo bằng pascal: căn số áp suất toàn phương bình phương trung bình khi dùng đặc tính tần số “A” b M ứ c áp su ấ t âm, đ o b ằ ng decibel : Mức áp suất âm được tính bằng công thức:
với: - P: là áp suất toàn phương trung bình c M ứ c áp su ấ t âm , theo đặc tính A đo bằng decibel: mức áp suất âm thanh của áp suất âm theo đặc tính A, được tính theo công thức pA 2
d M ứ c ph ầ n tr ă m: Mức áp suất âm theo đặc tính A đo được khi dùng đạc tính thời gian “F” khi vượt N% của khoảng thời gian đo đạc
Ký hiệu: LAN,T thí dụ LA95,1h là mức theo đặc tính A vượt 95% trong một giờ e M ứ c áp su ấ t âm t ươ ng đươ ng liên t ụ c theo đặ c tính A, đ o b ằ ng decibel : Giá trị mức áp suất âm theo đặc tính A của một âm thanh liên tục ổn định trong khoảng thời gian T, có cùng giá trị áp suất âm toàn phương trung bình với âm thanh đang nghiên cứu có mức thay đổi theo thời gian Mức đó được tính theo công thức sau:
- LAeq,T: là mức áp suất âm tương đương liên tục theo đặc tính A, dB được xác định trong khoảng thời gian T, bắt đầu ở t1 và kết thúc ở t2
- po: là áp suất đối chiếu (20pa)
- PA(t): là áp suất âm tức thời theo đặc tính A của một tín hiệu âm thanh
- Mức áp suất âm tương đương liên tục theo đặc tính A, trong thời gian T cũng được gọi là mức âm trung bình trong 1 khoảng thời gian, Ký Hiệu L A, T , dB khoảng thời gian lấy trung bình được chỉ rõ theo trên chỉ số, thí dụ: mức âm trung bình trong 1 giờ được ký hiệu là LA,1h
- Mức áp suất âm tương đương liên tục theo đặc tính A, cũng được dùng để đánh giá tiếng ồn nghề nghiệp tiếp xúc
Các điều kiện tiến hành đo
1 Thời gian: (cài 51- 60 phút, cập nhật 3 phút):
Mỗi điểm đo 6 lần, mỗi lần dài 51 – 60 phút (ca ngày)
Ca đêm đo từ 30 – 60 phút (vào 2 thời điểm 11h – 05h)
Khoảng cách giữa hai lần đo tại cùng điểm : 4giờ
2 Vị trí đo : Cách lề đường 1-2m và đo ở độ cao khoảng 1,2m -1,5m so với mặt đất
3 Thiết bị đo : dùng máy ồn tích phân Quest 2900 và 1900
- 09:30 – 10:30, 13:30 – 14:30, 17:30 – 18:30 ….( chỉ đo một số tuyến điển hình)
Chọn một số trục đường chính trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ theo mật độ xe trung bình trên tuyến đường, được chia thành 3 nhóm: nhóm tuyến đường có mật độ xe cao, nhóm tuyến đường có mật độ xe trung bình và nhóm có mật độ xe thấp
Trên mỗi tuyến đường các điểm đo được lựa chọn chủ yếu ở các giao lộ b) Kết quả đo tiếng ồn trên các tuyến đường
Số liệu ồn tại các tuyến đường chính, được lấy từ đề tài [8]
Kết quả đo được tóm tắt trong bảng phần phụ lục số liệu - “ Bảng phụ lục 1.3”
( với các giá trị LeqA, L50, và Lmax)
Đánh giá số liệu đo
3.4.1 Đánh giá số liệu đo từ các trạm quan trắc
3.4.1.1 Đánh giá mức ồn theo mùa tại cùng một trạm a) MÙA KHÔ
Mức ồn tại nút giao thông vòng xoay Hàng Xanh trong mùa khô dao động từ năm 2002 tới năm 2005 như sau: Năm 2002 mức ồn dao động từ 73.27dBA – 81.07dBA; Năm 2003 mức ồn dao động từ 72.93dBA – 80.46dBA; Năm 2004 mức ồn dao động từ 73.5dBA – 80.74dBA và năm 2005 mức ồn dao động 73.62dBA – 81.86dBA
Nhìn chung mức ồn trung bình mùa khô tại nút giao thông vòng xoay Hàng Xanh tăng nhẹ từ năm 2003 tới năm 2005, và dao động từ 76 dBA – 78dBA Năm
2004, mức ồn tăng đột ngột so với năm 2003, điều này có thể giải thích là do việc thi công cải tạo tuyến đường Điện Biên Phủ trong năm 2004 (Hình 3.2)
Hình 3.2: Biểu đồ biểu thị mức ồn tại VXHX – Mùa Khô
- Ngã tư Đinh Tiên Hoàng - Điện Biên Phủ
Tại nút giao thông DTH-DBP, giá trị ồn đo được vào mùa khô như sau: Năm
2002 mức ồn dao động từ 80.40dBA – 87.25dBA; Năm 2003 mức ồn dao động 78.8dBA – 86.3dBA; Năm 2004 mức ồn dao động từ 80.1dBA – 86.06dBA; Năm
2005 mức ồn dao động từ 76.06dBA – 86.07dBA
Nhìn chung, tại nút giao thông DTH-DBP mức ồn vào mùa khô dao động liên tục và có xu hướng giảm dần từ năm 2002 – 2005 (Hình 3.3)
DTH-DBP-02 DTH-DBP-03 DTH-DBP-04 DTH-DBP-05
Hình 3.3: Biểu đồ biểu thị mức ồn tại Ngã Tư DTH-DBP – Mùa Khô
Tại nút giao thông vòng xoay Phú Lâm, tiếng ồn vào mùa khô dao động như sau: năm 2002 mức ồn dao động từ 73.1dBA – 81.3dBA; năm 2003 mức ồn dao động từ 72.4dBA – 80.5dBA; năm 2004 mức ồn dao động từ 73.1dBA – 80.5dBA; năm
2005 mức ồn dao động từ 73.2dBA – 80.1dBA
Nhìn chung, mức ồn trung bình vào mùa khô tại vòng xoay Phú Lâm dao động trong khoảng 76dBA – 78dBA và có xu hướng tăng nhẹ từ năm 2003 đến năm 2005
Hình 3.4: Biểu đồ biểu thị mức ồn tại VXPL - Mùa Khô
- Nút giao thông Vòng Xoay Hàng Xanh
Tại nút giao thông vòng xoay Hàng Xanh, mức ồn vào mùa mưa dao động từ năm 2002 đến năm 2005 như sau: mùa mưa năm 2002 mức ồn dao động từ 72.77dBA – 81.17dBA; năm 2003 mức ồn dao động từ 73.26dBA – 79.73dBA; năm 2004 mức ồn dao động 73.23dBA – 80.46dBA và năm 2005 mức ồn dao động từ 74.3dBA – 81.93dBA
Vào mùa mưa, mức ồn trung bình tại vòng xoay Hàng Xanh dao động ở mức 76dBA – 78dBA, qua diễn biến nhiều năm từ 2002 đến 2005 cho thấy có xu hướng tăng nhẹ qua các năm (Hình 3.5)
Hình 3.5 Biểu đồ biểu thị mức ồn tại VXHX – Mùa Mưa
- Nút giao thông ngã tư Đinh Tiên Hoàng - Điện Biên Phủ
Tại ngã tư DTH-DBP, giá trị mức ồn vào mùa mưa dao động như sau: năm
2002 dao động từ 80.68dBA – 87.14dBA; năm 2003 mức ồn dao động từ 78.8dBA – 85.63dBA; năm 2004 mức ồn dao động từ 79.73dBA – 86.03dBA và năm 2005 mức ồn dao động từ 76.46dBA – 82.72dBA Tương tự mùa khô, mức ồn tại ngã tư DTH- DBP dao động liên tục và có xu hướng giảm dần qua nhiều năm từ năm 2002 – 2005, và đặc biệt giảm đột ngột vào năm 2005 (Hình 3.6)
Hình 3.6 Biểu đồ biểu thị mức ồn tại Ngã Tư DTH-DBP- Mùa Mưa
DTH-DBP-02 DTH-DBP-03 DTH-DBP-04 DTH-DBP-05 76.00
- Nút giao thông Vòng Xoay Phú Lâm
Tại vòng xoay Phú Lâm, giá trị mức ồn trong mùa mưa dao động như sau: năm
2002 mức ồn dao động từ 72.7dBA – 81dBA; năm 2003 mức ồn dao động từ 73dBA – 79.4dBA; năm 2004 mức ồn dao động 72.7dBA – 80.6dBA và năm 2005 mức ồn dao động từ 74.9dBA – 80.1dBA
Nhìn chung, mức ồn trung bình vào mùa mưa tại vòng xoay Phú Lâm dao động trong khoảng từ 76dBA – 78dBA và có xu hướng tăng nhẹ từ 2002 – 2005 (Hình 3.7)
Hình 3.7 Biểu đồ biểu thị mức ồn tại VXPL – Mùa Mưa
3.4.1.2 Đánh giá mức ồn theo mùa giữa các trạm quan trắc a) MÙA KHÔ
Qua diễn biến 4 năm (2002 – 2005) cho thấy, giá trị mức ồn đo được tại 3 trạm quan trắc đều vượt tiêu chuẩn cho phép (TCVN 5937-1995) Đặc biệt mức ồn trung bình vào mùa khô tại ngã tư DTH-DBP cao hơn hẳn so với hai trạm còn lại từ 1,2 – 1,6 lần (Hình 3.8)
Hình 3.8 Biểu đồ biểu thị mức ồn giao động trong mùa khô tại cả 3 trạm b) MÙA MƯA
So sánh giá trị đo ồn giữa các trạm quan trắc trong mùa mưa, mức ồn trung bình tại ngã tư DTH-DBP cao hơn hẳn so với hai trạm còn lại từ 1,1 – 1,2 lần Hai trạm vòng xoay Hàng Xanh và vòng xoay Phú Lâm có giá trị mức ồn trung bình qua các năm thay đổi không nhiều (Hình 3.9)
Hình 3.9 Biểu đồ biểu thị mức ồn tại 3 trạm – Mùa Mưa
- So sánh số liệu đo ồn trung bình trong suốt 4 năm giữa hai mùa
Tại hầu hết các trạm, giá trị trung bình mức ồn vào mùa khô luôn cao hơn mùa mưa khoảng từ 1- 2 dBA và luôn vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,1 – 1,2lần (Hình 3.10)
Hình 3.10 Biểu đồ biểu thị mức ồn giữa hai mùa – Mùa Khô – Mùa Mưa
3.4.1.3 Đánh gía mức ồn giữa 6 trạm trong sáu tháng đầu năm 2006
Năm 2005 Thành phố đã xây dựng thêm 3 trạm quan trắc là trạm quan trắc ở ngã tư An Sương, trạm quan trắc ngã sáu Gò Vấp, và ngã tư Nguyễn Văn Linh - Huỳnh Tấn Phát
Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm 2006, mức ồn giữa các trạm quan trắc dao động trung bình từ 75dBA – 83dBA, hầu hết các giá trị max (khoảng dao động trên) đều không đạt TCCP (TCVN 5937-1995)
So sánh mức ồn giữa các trạm quan trắc, giá trị trung bình của mức ồn trong 6 tháng đầu năm 2006 tại trạm An Sương là cao nhất, kế đến là trạm Gò Vấp
So sánh với cùng kỳ năm ngoái giữa 6 trạm quan trắc, nhận thấy tại 3 trạm có mức ồn tăng nhẹ là VXHX, VXPL và ngã tư AS Riêng ở 3 trạm còn lại DTH-DBP, NSGV, NVL – HTP giá trị mức ồn trung bình giảm nhẹ, đặc biệt tại nút giao thông ngã sáu Gò Vấp mức ồn trung bình giảm 1,6 lần so với cùng kỳ năm ngoái (Hình
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP 4.1 Các Giải pháp tổng hợp
Các Giải pháp quy hoạch
Trong đô thị nguồn ồn thường gặp là do: Xe cộ và các loại máy móc, Luồng giao thông trên các trục đường chính Giao thông đường sắt Các xí nghiệp công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Sinh hoạt và dịch vụ như đã nói trong phần phân loại
Trên thực tế, theo thống kê thì 60% đến 80% tiếng ồn trong đô thị là do các phương tiện giao thông lưu hành trên các luồng và các trục đường chính Muốn chống ồn trong Thành phố một cách hiệu quả cần phải áp dụng tổng hợp các biện pháp quy hoạch kiến trúc, quy hoạch giao thông, kiến trúc công trình và các biện pháp kỹ thuật xây dựng khác.và việc quy hoạch không gian tiếng ồn cần phải được làm toàn diện ngay từ đầu
Trong quy hoạch không gian tiếng ồn phải giải quyết đồng thời một cách hiệu quả nhất các vấn đề sau:
- Xác định khoảng cách cần thiết giữa nguồn ồn và công trình cần được bảo vệ
- Bố trí một cách hợp lý khu vực các công trình có độ ồn cao, thấp và nơi cần được bảo vệ, trong đó vấn đề mật độ công trình có độ ồn cao, thấp, khoảng cách giữa chúng với khu dân cư … cần được tính toán phố hợp với các yếu tố khác của môi trường (như bụi, khói, hơi khí độc, chiều gió thịnh hành …)
- Tận dụng các sự cao thấp của địa hình như công trình, bờ dốc, tấm chắn … làm vật cản âm
- Bố trí hợp lý các đường giao thông chính
- Sử dụng các khoảng cách hợp vệ sinh, các dãi cây xanh chuyên dụng để chống ồn
1 Biện pháp quy hoạch kiến trúc giao thông
Một biện pháp có hiệu quả chống tiếng ồn rất cao là phân vùng quy hoạch xây dựng Thành phố theo mức ồn cho phép Thành phố có thể chia thành 4 vùng xây dựng sau:
Vùng I Vùng công nghiệp – vùng ồn nhất của Thành phố, mức ồn có thể đạt trên
75dBA, thậm chí lên tới 90dBA Trong những vùng này chỉ cho phép bố trí các nhà máy, xí nghiệp với các đường giao thông vận tải có cường độ cao, đường xe lửa Trong vùng này không bố trí nhà ở, trừ những ngôi nhà bắt buộc dùng cho phục vụ công nhân
Vùng II Trung tâm công cộng và thương nghiệp của Thành phố với mức ồn cho phép lên tới 75dBA Tại đây có thể bố trí các đường phố có cường độ vận tải cao, các đường bộ đi lại tấp nập, các công trình phục vụ công cộng như cửa hàng, nhà hàng, rạp chiếu bóng…
Vùng III Vùng nhà ở là vùng tương đối yên tĩnh của Thành phố, mức ồn cho phép 60dBA Trong vùng này chỉ bố trí các đường giao thông vận tải nhẹ
Vùng IV Vùng yên tĩnh của Thành phố mức ồn không cho phép vượt quá 50dBA Tại đây chỉ bố trí các công trình cần yên tĩnh cao như, bệnh viện, trại dưỡng lão, viện nghiên cứu, thư viện, trường học…
Hình 4.1 Phân vùng quy hoạch chống ồn [5] a, B ả n đồ quy ho ạ ch thành ph ố b, S ơ đồ nguyên t ắ c phân vùng
3,- Khu th ươ ng m ạ i, ti ể u th ủ công, công c ộ ng
Trong quy hoạch cần phải quan tâm đến hướng gió, hướng gió có ảnh hưởng lớn đến sự lan truyền tiếng ồn Khi lan truyền theo chiều gió, tiếng ồn đi nhanh hơn và ít bị tổn thất hơn Vì vậy khi quy hoạch Thành phố, các khu công nghiệp cần bố trí ở rìa Thành phố, cuối hướng gió chính mùa nóng, một mặt vừa giảm được ồn, và còn chống ô nhiễm môi trường do bụi, khói, khí độc hại… tiếng ồn, cấp phép lưu hành phương tiện giao thông trong mỗi loại Đường giao thông có thể chia làm bốn cấp
- Đườ ng liên v ậ n: Đường chính nối các vùng lớn trong nước có vận tốc dòng xe cao, thường đạt 80 đến 100km/h
- Đườ ng huy ế t m ạ ch : Là đường nối các vùng trong một Thành phố có cường độ dòng xe cao và vận tốc 60 – 80km/h
- Đườ ng m ạ ng l ướ i: Phục vụ giao thông nội vùng, có vận tốc nhỏ (40 đến
- Đườ ng nh ỏ : Được phép vào các khu dân cư và các khu công cộng khác, có vận tốc yếu ( từ 20 – 40km/h)
Giải pháp tổ hợp không gian bên trong mỗi ngôi nhà cũng có ảnh hưởng đến điều kiện tiện nghi âm thanh Ví dụ trong nhà ở, các phòng ngủ, phòng làm việc nên bố trí vào phía trong của khu nhà, còn các phòng phụ như cầu thang, bếp, kho, vệ sinh…thì hướng ra đường phố Các nguồn âm trong nhà là cầu thang, khối vệ sinh, bếp, ống rác v.v…nên tập trung về một phía cách xa phòng ngủ
Việc quy hoạch trước đây chúng ta đã có quy định khoảng cách giữa các nhà, độ cao bao nhiêu thì khoảng cách giữa chúng là bao nhiêu, giữa đường giao thông và nhà ở khoảng cách vệ sinh là bao nhiêu tuy nhiên các quy định đo vì nhiều nguyên nhân mà tính khả thi không cao (Chẳng hạn tập tục buôn bán nhỏ lẻ của người Việt) nên việc áp dụng không nhiều, có khi có nhiều người không biết Nhưng về phía quy hoạch tiếng ồn khu đô thị vấn đề này cần được đặt ra nghiêm túc trên cơ sở khoa học môi trường có cân nhắc đến điều kiện kinh tế, kỹ thuật của khu vực Với việc chống ồn thì càng xa nguồn ồn độ ồn càng giảm tuy nhiên không thể để giảm ồn mà khoảng cách vệ sinh quá lớn và ngược lại không thể vì những điều kiện khác mà bỏ qua khoảng cách ly vệ sinh Vấn đề đặt ra là từ mức ồn nền của khu vực và số lượng xe cộ qua lại, mật độ dân cư sinh hoạt của khu vực dự định là bao nhiêu thì kích thước đường giao thông, mật độ xe, khoảng cách vệ sinh… sẽ được đặt thành những bài toán có lời giải chính xác theo ý muốn
Thực tế nhiều đô thị trên thế giới đã có những quy hoạch về tiếng ồn như tại
Mỹ, Pháp, Nga…Có nơi người ta quy hoạch những nơi gây ồn lớn làm thành một khu vực riêng biệt so với khu vực dân cư, có nơi lại quy hoạch đưa các công trình gây ồn, không cần phải bảo vệ ồn nghiêm ngặt ra gần với các trục giao thông chính có mật độ xe lớn Nhiều nơi trên thế giới đã xuất hiện “ Thành phố ngủ” vì tại đây tiếng ồn được quy hoạch và kiểm soát chặt chẽ đến mức ảnh hưởng của nó đến khu dân cư hầu như không có
2.Giải pháp kỹ thuật: sử dụng cây xanh, tường chắn chống tiếng ồn
Sử dụng cây xanh để chống tiếng ồn là biện pháp có hiệu quả và kinh tế Cây xanh còn có tác dụng cải tạo khí hậu, chống bụi và ô nhiễm môi trường
Theo kinh nghệm các nước trong khoảng cách vệ sinh nếu tổng các loại cây xanh (màn chắn bê tông xanh) tăng và bố trí theo các lớp thì việc giảm ồn cho khu vực càng có lợi Thậm chí khoảng cách vệ sinh có thể giảm lại đáng kể Theo các nhà khoa học tác dụng giảm ồn của cây xanh là do các giải cây xanh có tác dụng như một màn chắn nhờ phản xạ âm và do cây xanh có tác dụng hút âm và khuếch tán sóng âm trên chiều rộng của dải cây xanh Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy độ giảm ồn có hiệu quả cao trong khoảng 12 đến 20m đầu của giải cây tính từ nguồn âm
Vấn đề tận dụng địa hình của khu vực là vấn đề rất có lợi trong việc ngăn cản âm trong khu vực Những địa hình có thể sử dụng làm màn chắn âm học như các bờ đất, các vách ngăn con lươn, các tường ngăn của các công trình công cộng như thương mại, văn hoá, thể thao, dọc theo đường giao thông hình 4.2a,b,c hình 4.3 hình 4.4