1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHÍNH SÁCH CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VÀ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN SAU KHI VAY VỐN

128 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để khuyến khích, động viên, thúc đẩy tinh thần học tập của sinh viên cũng như tạo điều kiện để sinh viên chuyên tâm học hành, ngày 4/9/2007, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 21/2007/

Trang 1

TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH XÃ HỘI HỌC

Đề tài:

CHÍNH SÁCH CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG

VÀ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN SAU KHI VAY VỐN

Giảng viên hướng dẫn : TS LÊ THỊ MAI

Sinh viên thực hiện : VÕ TRÀ MY

Lớp : 06XH1D

Khoá : 10

TP Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2010

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục đại học – cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp là nơi đào tạo ra một lực lượng nhân lực lao động có trình độ nhận thức, tay nghề cao, chuyên môn đáp ứng nhu cầu xã hội Được vào đại học là ước mơ của rất nhiều người và là tâm

lý chung của nhu cầu xã hội Trong những năm qua tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông ở nước ta đã thấp, tỷ lệ đậu đại học còn thấp hơn với 15% số học sinh đậu tốt nghiệp trung học phổ thông được bước vào giảng đường đại học Trên thực tế không ít số sinh viên ấy phải bỏ học do không có khả năng chi trả học phí cũng như những sinh hoạt trong quá trình học Như vậy, ta cũng có thể thấy ước mơ đại học đã khó và để biến nó thành hiện thực còn khó hơn gấp nhiều lần, nhất là với những gia đình thuộc diện khó khăn

Để khuyến khích, động viên, thúc đẩy tinh thần học tập của sinh viên cũng như tạo điều kiện để sinh viên chuyên tâm học hành, ngày 4/9/2007, Thủ tướng

Chính phủ đã có Chỉ thị số 21/2007/CT-TTg về “thực hiện chế độ cho vay ưu đãi

để học đại học, cao đẳng và dạy nghề” với mục đích cho vay là để trang trải một

phần chi phí cho việc học tập, sinh hoạt của học sinh, sinh viên trong thời gian theo học tại trường Chính sách này là sự hợp tác giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ngân hàng chính sách xã hội với các bên liên quan: các trường đại học, cao đẳng, trung cấp dạy nghề; chính quyền các tỉnh, thành phố,

địa phương … hướng tới phương châm “giáo dục là quốc sách”

Chính sách vay vốn - ngân hàng chính sách là chương trình cho vay tín dụng tạo điều kiện, hỗ trợ kịp thời cho sinh viên có khó khăn được vay tiền phục vụ cho việc trang trải chi phí học tập, sinh hoạt Chương trình cho vay tín dụng sinh viên không chỉ giải quyết các vấn đề tài chính mà còn là cơ hội giúp cho sinh viên từng bước làm quen với các giao dịch tài chính qua ngân hàng, một yêu cầu không thể thiếu ở xã hội phát triển Đồng thời chương trình cho vay chia sẻ áp lực đối với nhà trường trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến công tác sinh viên

Sinh viên có nhu cầu về kinh tế rất lớn để có thể trang trải học phí cũng như chi tiêu sinh hoạt hàng ngày Ngoài ra việc học ở trường đại học sinh viên còn học thêm ngoại ngữ, vi tính…để bổ sung thêm kiến thức Chính sách cho vay vốn của ngân hàng chính sách xã hội giúp hỗ trợ về kinh tế cho sinh viên Bên cạnh những cải thiện về mặt tài chính thì có những vấn đề nảy sinh kéo theo Áp lực từ việc trả nợ là mối lo ngại lớn đối với sinh viên khi phải vừa đối mặt với áp lực học tập, vừa lo trả nợ Và cơ hội việc làm khi ra trường ngày càng ít nên khả năng hoàn

Trang 3

vốn sau khi ra trường của sinh viên lại càng bị thu hẹp Liệu sự chi phối về tâm lý

đó có ảnh hưởng đến kết quả học tập và tâm lý của sinh viên Sinh viên có sử dụng nguồn vốn cho vay vào đúng mục đích và số vốn đó có đủ trang trải học phí cũng như sinh hoạt phí của sinh viên

Từ đó việc nghiên cứu “Chính sách cho vay của Ngân hàng chính sách

tác động đến đời sống và học tập của sinh viên sau khi vay vốn” là mục đích

nghiên cứu của nhóm nghiên cứu không nhằm đề xuất cho Chính sách vay vốn được hoàn thiện hơn và sinh viên yên tâm học tập tốt hơn

2 Tổng quan đề tài

Qua quá trình tìm hiểu và thực hiện đề tài “Chính sách cho vay của Ngân

hàng chính sách xã hội tác động đến đời sống và học tập của sinh viên sau khi vay vốn”, nhóm nghiên cứu đã tham khảo được một số đề tài và tài liệu tham khảo

có liên quan Tuy nhiên, đây là một đề tài tương đối mới mẻ nên chưa có nhiều tài liệu đề cập và phản ánh thực chất với những nội dung mà đề tài nghiên cứu, nhưng nội dung của các tài liệu tham khảo đã giúp đề tài phần nào xác định rõ hơn mục đích nghiên cứu

Đề tài “Phản ứng của sinh viên TP.HCM về chính sách cho vay vốn của

ngân hàng chính sách xã hội hiện nay”, đây là đề tài nghiên cứu của nhóm nghiên

cứu khoa học lớp 05X1; chủ nhiệm đề tài Đinh Văn Long, khoa Xã hội học, trường Đại học Văn Hiến Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu xã hội học tập trung bằng phương pháp định lượng

Nội dung nghiên cứu về thái độ và sự đánh giá của sinh viên TP.HCM về chính sách cho vay vốn của Ngân hàng chính sách xã hội hiện nay, những khó khăn gặp phải khi làm thủ tục vay vốn, qui trình cho vay, qui mô vốn vay Đề tài thể hiện được tính tích cực của chính sách cho vay vốn của ngân hàng chính sách thông qua phản ứng đồng tình của đa số sinh viên được nghiên cứu Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa tìm hiểu mục đích sử dụng đồng tiền vay của học sinh - sinh viên để biết được hiệu quả thực sự của chương trình vay vốn, cũng như những ảnh hưởng của nó đến tình trạng học tập và đời sống của người vay

Một số bài báo nội dung đề cập về những quy định trong chính sách cho vay vốn học tập dành cho sinh viên; các trình tự, thủ tục cho vay, những khó khăn

mà sinh viên gặp phải trong quá trình làm thủ tục đi vay, các nguồn vốn cho vay Bên cạnh đó, cũng có một số bài báo các tác giả cũng cung cấp đề xuất về việc thu hồi tiền cho vay căn cứ vào kinh nghiệm của những quốc gia đi đầu về lĩnh vực tài chính, ngân hàng trên thế giới

Trang 4

Các bài báo cung cấp một lượng thông tin chính xác, rất phong phú, mở ra nhiều hướng tiếp cận vấn đề cho vay với ý kiến từ nhiều góc độ: người dân, sinh viên, nhà khoa học, nhân viên ngân hàng Tuy nhiên, do tính chất đa dạng đó mà thông tin đem lại không được chuyên sâu mà chủ yếu mang tính thông báo hoặc gợi

mở, đề xuất giải pháp và vẫn chưa được lưu tâm thoả đáng cũng như tập trung nhiều vào mặt tích cực, tính ưu việt của chính sách cho vay mà không đề cập đến tâm lý của sinh viên sau khi được vay vốn học tập

Về phương pháp các tài liệu này chủ yếu dùng các phương pháp chuyên ngành báo chí được sử dụng chủ yếu là: điều tra nhanh, thống kê mô tả, phỏng vấn nhằm thông báo hay đánh tiếng cho các cơ quan liên quan nhìn nhận về thực chất của thủ tục, qui trình của chính sách vay vốn đang thực hiện Các quyết định về tín dụng đối với học sinh, sinh viên, nội dung: Các quyết định xác định đối tượng, mục đích cũng như quy định rõ nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các bên tham gia

vào quá trình cho vay vốn Từ khởi nguyên là “Quyết định số 51/1998/QĐ-TTg

ngày 02 tháng 3 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về lập Quỹ tín dụng đào tạo”

đến “Quyết định số 107/2006/QĐ-TTg ngày 18 tháng 05 năm 2006 của Thủ tướng

Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên” là quá trình soạn thảo, sửa chữa

cho phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước, tạo cơ hội tiếp cận giáo dục đại học cho người nghèo

Chính sách cho vay ở nước ngoài

Chương trình cho vay du học đối với đa sốsinh viên nước ngoài của chính phủ Singapore ở các trường đại học: National University of Singapore (NUS - National University of Singapore), Singapore Management University (Welcome to Singapore Management University), Nanyang Technological University (Nanyang Technological University, Singapore - Global University of Excellencel)

Chế độ vay này không cần thế chấp và chỉ phải trả sau khi ra trường trong vòng 20 năm Ngoài ra, sau khi ra trường, bạn có nghĩa vụ đi làm 3 năm tại bất cứ công ty nào đăng kí thành lập tại Singapore hoặc các công ty Singapore họat động ở nước ngoài Dĩ nhiên, bạn không phải đi làm không công mà được hưởng lương như mọi người

Tổng cục Du lịch Singapore (STB):

+ Về thủ tục cho vay học phí: Sinh viên nước ngoài trúng tuyển vào NUS

được phép vay tiền của chính phủ Singapore để trả học phí Phần vay bằng 80% học phí khoá học (Tuition Loan) Số 20% còn lại có thể vay tiếp ở nhà trường NUS (NUS study loan) Như vậy, sinh viên được vay đủ để trang trải 100% học phí

Trang 5

Về sinh hoạt phí, nhà trường NUS cho vay 3.600 đô Sing/năm (khoảng 2.100 đô Mỹ) Số tiền này đủ trả tiền phòng, tiền ăn ở, đi lại tại ký túc xá Để có thêm chi phí cho việc ăn mặc, mua sách vở, giải trí, du lịch, sinh viên cần có thêm trợ giúp của gia đình hoặc đi làm thêm (từ học kỳ 1 trở đi sinh viên được phép đi làm thêm sau khi đã xin phép của nhà trường)

Sinh viên đã được nhận học bổng sẽ không được vay học phí và sinh hoạt phí nữa

Sau khi sinh viên trúng tuyển và nhập học, NUS sẽ chỉ định một ngân hàng Singapore trực tiếp ký hợp đồng cho vay với sinh viên Toàn bộ khoản vay học phí

và sinh hoạt phí sẽ chỉ phải trả sau khi ra trường và trả trong vòng 20 năm với lãi suất ưu đãi 5%/năm Mỗi tháng trả tối thiểu 100 đôla Sing (khoảng 60 đô Mỹ), thông qua ngân hàng

Thủ tục cho vay khá đơn giản Hợp đồng vay nợ quy định sinh viên muốn vay phải có một người đứng ra chịu trách nhiệm bảo lãnh (guarantor) Người này phải là người đang đi làm (có thu nhập thường xuyên) và không nhất thiết là cha mẹ của người vay Với những trường hợp khác với các điều kiện trên, nhà trường sẽ xem xét từng trường hợp một để có cách giải quyết riêng

Kinh nhiệm rút ra: chính sách cho vay ở nước ngoài linh hoạt và toàn diện hơn ở Việt Nam, quỹ vốn không chỉ hỗ trợ sinh viên về học phí mà còn cả sinh hoạt phí Ngoài sự tài trợ của chính phủ nhà trường cũng hỗ trợ cho sinh viên vay một phần kinh phí Thời hạn trả nợ rất ưu đãi cho sinh viên, thời hạn kéo dài và số tiền trả được chia nhỏ theo tháng Sinh viên có thể trả dài hạn và không bị áp lực nhiều

về việc trả nợ

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

+ Mục tiêu tổng quát:

Tìm hiểu chính sách cho vay của Ngân hàng chính sách xã hội tác động đến đời sống và học tập của sinh viên sau khi vay vốn từ Ngân hàng chính sách xã hội + Mục tiêu cụ thể:

- Mô tả thực trạng vay vốn của sinh viên sau khi được vay vốn

- Tìm hiểu mục đích sử dụng vốn vay của sinh viên

- Tìm ra một số ảnh hưởng tích cực, tiêu cực đến đời sống và học tập của sính viên sau khi được vay vốn từ Ngân hàng chính sách xã hội hiện nay

-Tìm hiểu đánh giá của sinh viên về mức tiền được vay đáp ứng như thế nào

Trang 6

nhu cầu của quá trình học tập và nhu cầu khác trong cuộc sống của sinh viên hay không

-Đánh giá của sinh viên về hiệu quả sử dụng vốn vay thể hiện qua kết quả học tập , đời sống và chất lượng sống của sinh viên

-So sánh sự khác nhau về đời sống, học tập của sinh viên vay vốn và sinh viên không vay vốn

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Chỉ ra được tình hình vay vốn hiện nay của sinh viên về một số thủ tục, qui trình, qui mô vốn vay, lãi suất và cả thời gian trả nợ của Ngân hàng chính sách xã hội

+ Mô tả vốn học tập được vay, sinh viên sử dụng cho mục đích gì và sử dụng như thế nào, hiệu quả ra sao

+ Tìm ra sự tác động giữa việc vay vốn và đời sống - học tập của sinh viên sau khi vay vốn, nhằm chỉ ra được sự ảnh hưởng để biết được tâm thế của sinh viên trong quá trình học đại học

+ Mô tả tác động của việc vay vốn đến đời sống - học tập của sinh viên sau khi vay vốn qua quan sát của những sinh viên không vay vốn, tìm hiểu nhận định của sinh viên không vay vốn với chính sách cho vay của NHCSXH

4 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chính sách vay vốn của Ngân hàng chính sách xã hội tác động đến đời sống và học tập của sinh viên sau khi được vay vốn hiện nay

+ Thời gian nghiên cứu: Năm học 2008-2009, từ tháng 09/2008 – tháng 05/2009

5 Phương pháp nghiên cứu: phân tích dữ liệu sẵn có; phân tích so sánh; khảo sát

Trang 7

thực địa, quan sát ; Kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng

+ Sử dụng lý thuyết xã hội học

Lý thuyết cấu trúc chức năng

Lý thuyết hành động

Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý

+ Phương pháp thu thập thông tin:

- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: dữ liệu thứ cấp từ các nguồn trường đại học có sinh viên vay vốn, ngân hàng chính sách, các công trình nghiên cứu có liên quan …

- Thu thập thông tin định tính bằng công cụ phỏng vấn sâu:

Dung lượng mẫu: 20 đơn vị Đối tượng phỏng vấn:

10 sinh viên đã từng vay vốn NHCSXH

10 sinh viên không vay vốn

- Thu thập thông tin định lượng bằng bảng hỏi:

Dung lượng mẫu: 210 bảng hỏi sinh viên có vay vốn

Chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện theo tiêu chí trường học

Đại học Mở TPHCM: 70 bảng hỏi Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM: 70 bảng hỏi Đại học Tôn Đức Thắng: 70 bảng hỏi

Xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS for Windows 13.5

6 Khung phân tích

Chính sách vay vốn của Ngân hàng chính sách xã hội

Thủ tục Phương thức Qui mô cho vay

Tình hình sinh viên vay vốn của NHCSXH

Trang 8

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Chính sách cho sinh viên vay vốn học tập của Ngân hàng chính sách xã hội phức tạp và chưa đáp ứng được nhu cầu chi phí học tập và chi phí sinh hoạt của sinh viên

- Sinh viên hiện nay sử dụng vốn vay từ Ngân hàng chính chưa đúng mục đích của chính sách cho vay

- Đời sống và học tập của sinh viên có sự ảnh hưởng sau khi vay vốn học tập

từ Ngân hàng chính sách xã hội

Trang 9

NỘI DUNG

Chương 1: Cơ sở lý luận

1.1 Một số khái niệm liên quan

1.1.2 Chính sách vay vốn học tập:

Để khuyến khích, động viên, thúc đẩy tinh thần học tập của sinh viên cũng như tạo điều kiện để sinh viên chuyên tâm học hành, ngày 4/9/2007, Thủ tướng

Chính phủ đã có Chỉ thị số 21/2007/CT-TTg về “thực hiện chế độ cho vay ưu đãi

để học đại học, cao đẳng và dạy nghề” với mục đích cho vay là để trang trải một

phần chi phí cho việc học tập, sinh hoạt của học sinh, sinh viên trong thời gian theo học tại trường bao gồm: tiền nộp học phí; chi phí mua sắm sách vở, phương tiện học tập, nghiên cứu; chi phí khác… Chính sách này là sự hợp tác giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Ngân hàng chính sách xã hội với các bên liên quan: các trường đại học, cao đẳng, trung cấp dạy nghề; chính quyền các tỉnh, thành phố, địa phương … hướng tới phương châm

“giáo dục là quốc sách”

Chính sách áp dụng cho sinh viên đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng trên cả nước với tỷ lệ lãi suất là 0.5%/tháng và hoàn trả vốn cộng lãi suất sau khi ra trường Chính sách cho vay vốn của Ngân hàng chính sách xã hội đáp ứng được nhu cầu thiết thực của một bộ phận không nhỏ người dân, điều này thể hiện

sự linh hoạt và sáng suốt ở các cấp ban ngành lãnh đạo

Chính sách vay vốn - ngân hàng chính sách là chương trình cho vay tín dụng tạo điều kiện, hỗ trợ kịp thời cho sinh viên có khó khăn được vay tiền phục

vụ cho việc trang trải chi phí học tập, sinh hoạt Chương trình cho vay tín dụng

Trang 10

sinh viên không chỉ giải quyết các vấn đề tài chính mà còn là cơ hội giúp cho sinh viên từng bước làm quen với các giao dịch tài chính qua ngân hàng, một yêu cầu không thể thiếu ở xã hội phát triển Đồng thời chương trình cho vay chia sẻ áp lực đối với nhà trường trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến công tác sinh viên

Chính sách vay vốn được nhà nước quan tâm và thường xuyên điều chỉnh, sửa đổi để ngày càng hoàn thiện và đem lại sự hỗ trợ tốt nhất cho sinh viên Hiện nay chính sách vay vốn đã khắc phục được những hạn chế và ngày càng phát huy vai trò tích cực đối vối việc hỗ trợ vốn cho sinh viên

1.1.3 Sinh viên:

Là tất cả những người cần học một nghề nào đó và không bao giờ ngại bỏ

công sức để theo đuổi tri thức ở bậc đại học (Manuel Benito)

1.1.4 Đời sống của sinh viên

+ Đời sống vật chất: là những điều kiện vật chất đáp ứng nhu cầu của con

người những ở đây tôi chỉ giới hạn ở nhu cầu ăn ở, mặc, đi lại nói chung của sinh viên Chi tiêu của sinh viên: ăn, uống, sách vở học tập, là nơi ở trọ, phương tiện đi lại, máy vi tính, tập sách tài liệu… là những điều kiện sống về vật chất của sinh viên

+ Đời sống tinh thần: là những ý nghĩ tình cảm những hoạt động thuộc

về đời sống nội tâm của sinh viên Những hoạt động giải trí, tâm tư tình cảm, mối

lo về học tập về cuộc sống Có nhiều yếu tố trong đời sống tinh thần nhưng đề tài của chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu về khí cạnh tâm sinh lý, các yếu tố khác chúng tôi không đi vào nghiên cứu sâu

1.1.5 Việc học tập của sinh viên

+ Học lực của sinh viên: là sức học của mỗi sinh viên được đánh giá dựa trên thành tích học tập thông qua đánh giá bằng điểm trung bình của từng học kì được đánh giá trên thang điểm 10 Xếp loại học lực trung bình được đánh giá theo thang điểm sau:

- Xuất sắc: từ 9,0 điểm đến 10,0 điểm

- Giỏi: từ 8,0 điểm đến 8,9 điểm

- Khá: từ 7,0 điểm đến 7,9 điểm

- Trung bình khá: từ 6,0 điểm đến 6,9 điểm

- Yếu - Kém: dưới 5,0 điểm

Trang 11

+ Hạnh kiểm của sinh viên: là phẩm chất, đạo đức biểu hiện trong việc đối

sử với mọi người từ trong trường học đến ngoài xã hội, việc tham gia các hoạt động phong trào của trường Hạnh kiểm thường được xét theo sự tích cực tham gia vào các phong trào của trường, lớp Bên cạnh đó, cách ứng sử tại địa phương

mà sinh viên cư trú và trong quá trình học tập tại nhà trường là căn cứ để xét hạnh kiểm Các căn cứ để đánh giá kết quả rèn luyện:

- Ý thức học tập

- Ý thức và kết quả chấp hành nội quy, quy chế trong nhà trường

- Ý thức và kết quả tham gia các hoạt động chính trị - xã hội, văn hoá, văn nghệ, thể thao, phòng chống các tệ nạn xã hội

- Phẩm chất công dân và quan hệ với cộng đồng

- Ý thức và kết quả tham gia phụ trách lớp sinh viên, các đoàn thể, tổ chức khác trong nhà trường

- Thưởng điểm trong các trường hợp đặc biệt

Kết quả rèn luyện được phân thành các loại: xuất sắc, tốt, khá, trung bình khá, trung bình, yếu và kém

- Từ 90 đến 100 điểm: loại xuất sắc

- Từ 80 đến 89 điểm: loại tốt

- Từ 70 đến 79 điểm: loại khá

- Từ 60 đến 69 điểm: loại trung bình khá

- Từ 50 đến 59 điểm: loại trung bình

- Từ 30 đến 49 điểm: loại yếu

- Dưới 30 điểm: loại kém

1.2 Lý thuyết tiếp cận

1.2.1 Lý thuyết chức năng

Lịch sử của lý thuyết này gắn liền với các tên tuổi A.Come, E.Dukhiem, H.Spencer, T.Parsons … Bất kì một hệ thống ổn định nào cũng bao gồm những bộ phận khác nhau nhưng liên hệ với nhau Chúng cùng vận động đồng hành để tạo nên cái toàn bộ, tạo nên sự ổn định hệ thống Có thể xem là hiểu được một bộ phận trong hệ thống khi hiểu được cái cách mà nó vận động trong hệ thống Sự đóng góp vào sự vận hành ổn định của hệ thống được gọi là chức năng Các bộ phận có tầm quan trọng chức năng đối với hệ thống

Lý thuyết nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận cấu thành nên

Trang 12

một chỉnh thể, mỗi bộ phận đều có một chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại, phát triển và ổn định xã hội

Theo cách tiếp cận này tôi sẽ giải thích đề tài theo hướng: Chức năng của sinh viên là học tập, để hỗ trợ cho việc học tập thì cần có nguồn hỗ trợ kinh phí Ngân hàng hính sách có chức năng cho vay vì lợi nhuận, ngoài ra chính sách vay vốn của ngân hàng chính sách dành cho sinh viên có chức năng hỗ trợ cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn góp phần trang trải chi phí cho việc học tập, sinh hoạt Ngoài ra chính sách vay vốn của ngân hàng chính sách sinh viên cũng sẽ giúp cho nhà trường thuận lợi trong việc thu học phí theo qui định Việc khắc phục những hạn chế của chính sách vay vốn của ngân hàng chính sách sẽ làm hiệu quả của chính sách và giúp sinh viên có điều kiện dẽ dàng hơn khi vay vốn Đồng thời chương trình cho vay chia sẻ áp lực đối với Nhà trường trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến công tác sinh viên – vấn đề chính sách để tập trung nhiều hơn cho công tác đào tạo Giúp cho sinh viên từng bước làm quen với các giao dịch tài chính qua Ngân hàng, một yêu cầu không thể thiếu ở xã hội phát triển

1.2.2 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý

Thuyết lựa chọn hợp lý trong xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học thế kỷ XVIII - XIX Một số nhà triết học đã từng cho rằng bản chất con người là vị kỷ luôn tìm đến sự hài lòng, sự thoả mãn và lảng tránh nỗi khổ đau Một số nhà kinh tế học cổ điển từng nhấn mạnh vai trò cơ bản của động

cơ kinh tế, động cơ lợi nhuận khi con người phải ra quyết định phải lựa chọn hành động

Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào tiền đề cho rằng con người luôn hành động

có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách có duy lý nhằm đạt đến một kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Theo Marx, mục đích tự giác của con người như là quy luật quyết định toàn bộ cấu trúc, nội dung, tính

chất, của hành động và ý chí của con người Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để

nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng loại phương tiện tối ưu trong số những điều kiện hiện có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực

Tương tự Homans, John Elster dùng câu nói có vẻ đơn giản sau đây đã tóm

lược nội dung cơ bản của thuyết lựa chọn hợp lý Thuyết này cho biết: “Khi đối

diện với một số cách hành động mọi người thường làm mà cái họ cho có khả năng đạt được kết quả cuối cùng tốt nhất”

Trang 13

Có thể tìm thấy câu trả lời trong một biến thể nổi tiếng của lý thuyết lựa chọn duy lý Đó là thuyết trò chơi do một số nhà kinh tế học hàng đầu của thế kỷ

XX dựng nên Về nguyên tắc, thuyết này cho rằng mỗi cá nhân đều xuất phát từ động cơ duy lý và sự lựa chọn hành động nào đem lại lợi ích lớn nhất với nguy cơ chi phí và thiệt hại nhỏ nhất Việc vay vốn của của ngân hàng chính sách sẽ đem lại cho sinh viên tiền trang trãi học phí với mức lãi suất thấp nhất và thời gian trả dài Sinh viên chấp nhận bị nợ khi vay vốn để có tiền đóng học phí, giảm bớt gánh nặng về kinh tế để tập trung học tập tốt hơn Nếu vay vốn ở các ngân hàng khác hoặc bên ngoài thì lãi suất cao hơn và thời gian trả tiền nhanh Việc chọn vay vốn của ngân hàng chính sách là sự lựa chọn hợp lý vì nó đem lại giúp sinh viên trang trải học phí và yên tâm học tập, trong khi thời gian hoàn trả tiền kéo dài đến lúc sinh viên đi làm một năm có đủ khả năng trả lại

Chính sách vay vốn của ngân hàng chính sách dành cho sinh viên ngoài mục đích lợi nhuận nó còn là sự đầu tư của chính phủ vào thế hệ trẻ tương lai Sinh viên là chủ nhân tương lai của đất nước nếu được đầu tư và hỗ trợ thì lực lượng lao động sẽ có trình độ tri thức cao đóng góp tài năng vào cho đất nước Đất nước phát triển thì ngân hàng có cơ hội phát triển hơn Đây là một sự đầu tư hợp

lý và có kết quả lâu dài

Ngoại cảnh

Nhu cầu Động cơ Chủ thể Mục đích

Trang 14

Theo Max Weber, muốn nghiên cứu con người thì phải đặt mình vào hoàn cảnh của từng đối tượng và thâm nhập vào thế giới nội tâm của con người Vì con người không chỉ hành động như một phản xạ mà còn bị chi phối bởi thế giới nội tâm: tình cảm, tư duy Người ta không chỉ hành động khi có lợi mà còn vì cái mà người ta coi là có ý nghĩa (có giá trị) Vì vậy, Max Weber đưa ra một hệ thống mẫu bao gồm bốn kiểu hành động để các nhà nghiên cứu có thể dựa trên đó phân tích: Hành động do cảm xúc, hành động mang tính truyền thống, hành động hợp lý về giá trị Về cơ bản, đặc điểm thuyết hành động của Max Weber là phương pháp ông vận dụng mô hình trên để phân tích các tư liệu lịch sử

Loại hành động thứ 2 do G.H.Mead khởi xướng, nếu Max Weber xuất phát

từ từng cá nhân riêng biệt thì G.H.Mead lại xuất phát từ mối quan hệ liên cá nhân (người - người) G.H.Mead đặt vấn đề: bằng cách nào mà con người lại có thể hiểu được mình, đó chính là kết quả của quá trình học hỏi được từ những người

khác “con người trở thành cá nhân tự phát triển như thế nào thông qua sự tương

tác với cá nhân khác”

Sinh viên có nhu cầu về kinh tế rất lớn để có thể trang trải học phí cũng như chi tiêu sinh hoạt hàng ngày Ngoài ra việc học ở trường đại học sinh viên còn học thêm anh văn, vi tính… để bổ sung thêm kiến thức và kỹ năng làm việc Hành động sinh viên vay vốn của Ngân hàng chính sách là hành động xuất phát từ nhu cầu thực tế vì nhu cầu của sinh viên thì lớn trong khi khả năng của họ dể đáp ứng các nhu cầu đó thì có giới hạn Có nhiều nguồn khác nhau để sinh viên có thể vay vốn nhưng Ngân hàng chính sách là nơi tạo điều kiện vay vốn tốt nhất cho sinh viên vì thời hạn trà nợ được kéo dài đến khi sinh viên ra trường và đi làm, mức lãi suất thấp Tuy nhiên mục đích vay vốn của mỗi người giống nhau nhưng hoàn cảnh lại khác nhau, chính vì thế dẫn đến hành động trong việc xử lý đồng vốn có khác nhau

Trang 15

Chương 2: Tình hình vay vốn học tập từ Ngân hàng chính sách xã hội của sinh viên hiện nay

2.1 Chính sách cho đối tượng sinh viên vay vốn học tập hiện nay của Ngân hàng chính sách xã hội

Với mục tiêu “Giáo dục là quốc sách”; ngay từ năm 1998 Thủ tướng chính

phủ đã ban hành quyết định 51/1998/QĐ-TTg về việc lập quỹ tín dụng đào tạo cho học sinh, sinh viên Trên cơ sở đó nhiều quyết định, chỉ thị cho học sinh, sinh

viên vay vốn NHCSXH đã ra đời, cụ thể là:

Quyết định số 107/2006/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ban hành ngày 18/05/2006

Nội dung: Tín dụng đối với học sinh, sinh viên - theo Quyết định số 107/2006/QĐ-TTg ban hành ngày 18/5/2006, Thủ tướng Chính phủ quyết định: Cho vay vốn đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn theo học tại các trường đại học (hoặc tương đương đại học), cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề để trang trải một phần chi phí cho việc học tập, sinh hoạt của học sinh, sinh viên trong thời gian theo học tại trường bao gồm: Tiền nộp học phí, chi phí mua sắm sách vở, phương tiện học tập,

nghiên cứu, chi phí khác

Điều kiện để được vay vốn là: Học sinh, sinh viên đang sinh sống trong Hộ gia đình có hộ khẩu thường trú hoặc có đăng ký tạm trú dài hạn tại địa phương nơi cho vay được theo học và đang theo học hệ chính quy tập trung tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy

nghề có thời gian đào tạo từ 1 năm trở lên

Lãi suất cho vay được áp dụng theo lãi suất cho vay hộ nghèo Lãi

suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất khi cho vay

Đối tượng được vay vốn phải trả nợ gốc và lãi tiền vay lần đầu tiên

trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày học sinh, sinh viên kết thúc khoá học

Chỉ thị số 21/2007/CT-TTg về thực hiện chế độ cho vay ưu đãi để học đại học, cao đẳng và dạy nghề

Nội dung: Chính sách ưu đãi đào tạo – Ngày 04/9/2007, Thủ tướng

Chính phủ đã ra Chỉ thị số 21/2007/CT-TTg về thực hiện chế độ cho vay ưu đãi để học đại học, cao đẳng và dạy nghề Thủ tướng Chính phủ yêu cầu: Phải bảo đảm cho các sinh viên này không phải bỏ học vì lý do không có khả năng đóng học phí và trang trải các nhu cầu sinh hoạt tối thiểu (ăn, ở,

đi lại, tài liệu học tập)

Trang 16

Bộ trưởng Bộ Tài chính chủ trì cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Ngân hàng Chính sách xã hội xây dựng phương án về mức cho mỗi sinh viên vay, điều kiện và phương thức cho vay, phương thức thanh toán sau khi đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng, công

bố trước ngày 30/9/2007…

Chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo Uỷ Ban Nhân Dân các cấp rà soát danh sách các sinh viên có hoàn cảnh gia đình khó khăn đã trúng tuyển đại học, cao đẳng năm học

2007 - 2008 hoặc đang học đại học, cao đẳng, có biện pháp hỗ trợ kịp thời, không để một học sinh nào đã trúng tuyển mà phải bỏ học vì không đủ tiền

tầu xe đến trường và ăn, ở trong hai tháng đầu tiên của năm học thứ nhất

Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 27/9/2007

Nội dung: Tín dụng đối với học sinh, sinh viên - Theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ban hành ngày 27/9/2007, Thủ tướng Chính phủ quyết định: Kể từ ngày 01/10/2007, mức vay vốn tối đa dành cho học sinh- sinh viên là 800.000 đồng/tháng Lãi suất cho vay ưu đãi là 0,5%/tháng và lãi

suất quá hạn không quá 130% lãi suất vay…

Theo đó, tất cả học sinh - sinh viên có hoàn cảnh khó khăn tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề, không phân biệt công lập và ngoài công lập; không phân biệt chính quy hay tại chức; không phân biệt thời gian đào tạo trên 1 năm hay dưới 1 năm Ngoài ra, đối với những học sinh - sinh viên thuộc hộ gia đình nói chung không thuộc diện hoàn cảnh khó khăn nhưng trong quá trình học tập mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, có xác nhận của Ủy Ban Nhân Dân nơi cư trú cũng sẽ được cho vay vốn để tiếp tục

học tập…

Ngoài ra, bên cạnh phương thức cho vay thông qua hộ gia đình đang

áp dụng hiện nay, bổ sung thêm phương thức cho vay trực tiếp đối với học sinh sinh viên mồ côi cha mẹ hoặc mồ côi một người nhưng người còn lại không có khả năng giao dịch với ngân hàng Điều này sẽ giúp cho việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của học sinh - sinh viên dễ dàng thuận lợi hơn… So với những quyết định về vay vốn trước thì quyết định này có những ưu

điểm sau:

- Đối tượng cho vay đã được mở rộng Theo quyết định mới của Thủ tướng thì tất cả học sinh - sinh viên có hoàn cảnh khó khăn tại các trường đại học, cao

Trang 17

đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề, không phân biệt công lập và ngoài công lập; không phân biệt chính quy hay tại chức; không phân biệt thời gian đào

tạo trên 1 năm hay dưới 1 năm

- Ngoài ra, đối với những học sinh - sinh viên thuộc hộ gia đình nói chung không thuộc diện hoàn cảnh khó khăn nhưng trong quá trình học tập mà gia đình gặp khó khăn về tài chính do tai nạn, bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, có xác nhận của Uỷ Ban Nhân Dân nơi cư trú cũng sẽ được cho vay vốn để tiếp tục

học tập

- Mức cho vay tối đa tăng từ 300.000 đồng lên 800.000 đồng/tháng

- Lãi suất cho vay giảm từ 0,65% xuống còn 0,5%/tháng

Tuy nhiên quá trình tổ chức thực hiện quyết định này vẫn còn một số hạn chế: tại một số địa phương, Uỷ Ban Nhân Dân cấp xã đã xác nhận sai đối tượng được vay vốn; một số gia đình và học sinh, sinh viên sử dụng vốn sai mục đích; quá trình tổ chức cho vay còn lúng túng, chưa có cơ chế trao đổi thông tin giữa các đơn vị thực hiện chương trình tín dụng học sinh, sinh viên

Điều 6 Thời hạn cho vay:

1 Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ ngày đối tượng được vay vốn bắt đầu nhận vốn vay cho đến ngày trả hết nợ (gốc và lãi) được ghi trong hợp đồng tín dụng Thời hạn cho vay bao gồm thời hạn phát tiền vay và thời hạn trả nợ

2 Thời hạn phát tiền vay là khoảng thời gian tính từ ngày đối tượng được vay vốn nhận món vay đầu tiên cho đến ngày học sinh, sinh viên kết thúc khoá học, kể cả thời gian học sinh, sinh viên được các trường cho phép nghỉ học có thời hạn và được bảo lưu kết quả học tập (nếu có) Thời hạn phát tiền vay được chia thành các kỳ hạn phát tiền vay do Ngân hàng Chính sách xã hội quy định hoặc thoả thuận với đối tượng được vay vốn

3 Thời hạn trả nợ là khoảng thời gian tính từ ngày đối tượng được vay vốn trả món nợ đầu tiên đến ngày trả hết nợ (gốc và lãi) Đối với các chương trình đào tạo có thời gian đào tạo không quá một năm, thời hạn trả nợ tối đa bằng 2 lần thời hạn phát tiền vay, đối với các chương trình đào tạo khác, thời hạn trả nợ tối đa bằng thời hạn phát tiền vay Thời hạn trả nợ được chia thành các kỳ hạn trả nợ do Ngân hàng Chính sách xã hội quy định

Điều 9 Trả nợ gốc và lãi tiền vay:

1 Trong thời hạn phát tiền vay đối tượng được vay vốn chưa phải trả nợ gốc và lãi; lãi tiền vay được tính kể từ ngày đối tượng được vay vốn nhận món vay đầu tiên đến ngày trả hết nợ gốc

Trang 18

2 Đối tượng được vay vốn phải trả nợ gốc và lãi tiền vay lần đầu tiên ngay sau khi học sinh, sinh viên có việc làm, có thu nhập nhưng không quá 12 tháng kể

từ ngày học sinh, sinh viên kết thúc khoá học

3 Mức trả nợ mỗi lần do Ngân hàng Chính sách xã hội hướng dẫn và được thống nhất trong hợp đồng tín dụng

Điều 10 Ưu đãi lãi suất trong trường hợp trả nợ trước hạn:

Trường hợp đối tượng vay vốn trả nợ trước hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng lãi suất phải trả sẽ được giảm lãi vay Ngân hàng Chính sách xã hội quy định cụ thể mức ưu đãi lãi suất trong trường hợp trả nợ trước hạn

Điều 11 Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn trả nợ và chuyển nợ quá hạn:

1 Đến kỳ trả nợ cuối cùng, người vay có khó khăn chưa trả được nợ, phải

có văn bản đề nghị gia hạn nợ thì được Ngân hàng Chính sách xã hội xem xét cho gia hạn nợ cho đối tượng vay vốn; thời gian gia hạn nợ tối đa bằng 1/2 thời hạn trả

nợ

2 Trường hợp đối tượng được vay vốn không trả nợ đúng hạn theo kỳ hạn trả nợ cuối cùng và không được phép gia hạn nợ, Ngân hàng Chính sách xã hội chuyển thành nợ quá hạn Ngân hàng Chính sách xã hội phối hợp với chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội có biện pháp thu hồi nợ

3 Ngân hàng Chính sách xã hội quy định cụ thể việc điều chỉnh kỳ hạn trả

nợ, gia hạn trả nợ và chuyển nợ quá hạn

Quyết định 1334/QĐ-TTg- Quyết định về điều chính mức cho vay đối với học sinh sinh viên

Năm học 2009 – 2010, mức vốn cho vay đã được tăng lên 860.000 đồng/tháng (8.600.000 đồng/năm) (năm 2008 – 2009: 8.000.000 đồng/năm học)

theo Quyết định 1334/QĐ-TTg Ngoài thay đổi về mức vay trên, các quy định về đối tượng, điều kiện, phương thức, thủ tục, thời hạn, lãi suất vẫn được thực hiện theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg

2.2 Tình hình sinh viên – học sinh vay vốn học tập từ Ngân hàng chính sách xã hội những năm qua

Sau hơn hai năm triển khai chương trình tín dụng học sinh, sinh viên (HSSV) theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, đến nay gần 1,3 triệu học sinh, sinh viên trên cả nước thông qua ngân hàng chính sách xã hội đã tiếp cận được nguồn vốn vay lên tới 9.535 tỉ đồng Ngân hàng chính sách xã hội hiện cũng mới thu nợ 92 tỉ đồng và dư nợ cho vay tính đến cuối năm 2008 vào khoảng 9.741 tỉ đồng, bao gồm 298 tỉ đồng dư đầu kỳ [Nguồn: http://www.laodong.com.vn/Home/] Số học

Trang 19

sinh, sinh viên tiếp cận với vốn vay thuộc nhiều nhóm ngành, hệ đào tạo khác nhau từ đại học, cao đẳng, trung cấp đến học nghề

Theo lý thuyết sự lụa chọn hợp, lý thuyết này cho rằng mỗi cá nhân đều xuất phát từ động cơ duy lý và sự lựa chọn hành động nào đem lại lợi ích lớn nhất với nguy cơ chi phí và thiệt hại nhỏ nhất Việc vay vốn của của ngân hàng chính sách sẽ đem lại cho sinh viên tiền trang trãi học phí với mức lãi xuất thấp nhất và thời gian trả dài Sinh viên chấp nhận bị nợ khi vay vốn để có tiền đóng học phí, giảm bớt gánh nặng về kinh tế để tập trung học tập tốt hơn Nếu vay vốn ở các ngân hàng khác hoặc bên ngoài thì lại suất cao hơn và thời gian trả tiền nhanh Việc chọn vay vốn của ngân hàng chính sách là sự lựa chọn hợp lý vì nó đem lại giúp sinh viên trang trải học phí và yên tâm học tập, trong khi thời gian hoàn trả tiền kéo dài đến lúc sinh viên đi làm một năm có đủ khả năng trả lại Chính vì những ưu đãi trong chính sách cho vay nên sinh viên đã chọn vay vốn của của ngân hàng chính sách

Theo số liệu của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (tháng 2/2009), hiện nay tổng dư nợ của ngân hàng cho học sinh, sinh viên nghèo vay vốn học tập khoảng 293 tỷ đồng, bằng 70% so với kế hoạch cả năm và tăng hơn 4 lần so với cuối năm 2002 Cũng theo tính toán của Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam thì năm 2008 có khoảng 20% số học sinh, sinh viên trúng tuyển các trường đại học, cao đẳng có hoàn cảnh khó khăn, có nhu cầu vay vốn Như vậy tổng nhu cầu vốn để cho sinh viên nghèo vay trong năm học 2008 – 2009 lên tới 4.000 tỷ đồng

Một trong những điểm khó khăn đối với cho sinh viên nghèo vay vốn tín dụng ưu đãi là các thủ tục để được xác nhận hoàn cảnh khó khăn của sinh viên tại địa phương và việc tìm hiểu và làm các thủ tục để vay Có một thực tế, do căn bệnh thành tích nên rất nhiều địa phương không đưa số gia đình có hoàn cảnh khó khăn vào diện hộ nghèo Đó là chưa kể tình trạng hành chính, quan liêu hay tiêu cực trong việc xác nhận hoàn cảnh khó khăn cho học sinh, sinh viên để được vay vốn của Ngân hàng Chính sách xã hội Bên cạnh đó nhiều trường đại học, cao đẳng coi việc tạo điều kiện hỗ trợ cho học sinh, sinh viên vay vốn không phải là chức năng, nhiệm vụ của mình Vì vậy rất nhiều sinh viên gặp khó khăn trong việc tiếp cận và vay nguồn tín dụng ưu tiên này của chính phủ

Chính sách cho sinh viên nghèo vay vốn tín dụng ưu đãi của nhà nước đã thể hiện sự quan tâm của Đảng và Chính phủ tới những sinh viên nghèo có hoàn cảnh gia đình khó khăn Sinh viên khi vay vốn ưu đãi không cần tài sản thế chấp, không phải phải trả nợ gốc và lãi trong thời gian học tập, mức lãi ưu đãi là 0,5%/tháng thấp hơn so với lãi suất thông thường mà các Ngân hàng thương mại

Trang 20

đang cho vay Tuy nhiên, sinh viên vẫn phải có trách nhiệm trả nợ cả gốc và lãi sau khi đã tốt nghiệp, đi làm việc có nguồn thu nhập Có như thế Chính phủ mới

có đủ nguồn vốn để tiếp tục duy trì chính sách này cho các sinh viên nghèo có điều kiện khó khăn khác Vì vậy mỗi sinh viên khi được vay vốn tín dụng ưu đãi của Chính phủ thì phải ý thức được nghĩa vụ và trách nhiệm của mình

Ngay từ khi mới triển khai, chương trình tín dụng ưu đãi này đã nhận được

sự ủng hộ mạnh mẽ của những hộ gia đình, đặc biệt là hộ nghèo có cơ hội vay vốn cho con đi học, hạn chế được tình trạng bỏ học giữa chừng do gia đình không

đủ khả năng đáp ứng chi phí cho con em tiếp tục theo học Tuy nhiên qua quá trình thực hiện, chương trình cho vay học sinh, sinh viên thông qua hộ gia đình vẫn còn một số vấn đề cần quan tâm, đó là:

Thứ nhất, đối với giấy xác nhận của nhà trường: Theo qui định của ngân hàng chính sách xã hội, đối với học sinh, sinh viên năm thứ nhất thì dùng Giấy báo nhập học thay cho Giấy xác nhận của nhà trường Do trên giấy báo nhập học không ghi thời gian của cả khoá học vì vậy việc xác định thời hạn cho vay của Ngân hàng khi duyệt cho vay thiếu chính xác Mặt khác, theo qui định Giấy xác nhận của Nhà trường hay giấy báo nhập học được sử dụng làm căn cứ để giải ngân hai lần cho năm học đó nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh, sinh viên giảm bớt thủ tục trong quá trình vay vốn Tuy nhiên, trong trường hợp vào học kỳ

II của năm học mà hộ gia đình đang vay vốn, học sinh, sinh viên bỏ học, trốn học nếu không có giấy xác nhận của Nhà trường về việc học sinh, sinh viên đang theo học tại trường thì Ngân hàng không thể kiểm tra khi phát tiền vay ở kỳ tiếp theo (trong khi đó cha mẹ của học sinh, sinh viên vẫn có thể tiếp tục nhận tiếp tiền vay

kỳ tiếp theo của năm học) vì vậy dễ xảy ra tình trạng không thu hồi được nợ vay

Để việc xác định thời gian cho vay được chính xác đối với trường hợp học sinh, sinh viên mới nhập học, có thể qui định bắt buộc học sinh, sinh viên phải có giấy xác nhận của Nhà trường sau khi đã nhập học (thường chỉ khoảng 1 tháng sau khi nhập trường) mới được vay vốn

Thứ hai, về nguồn vốn: Để sinh viên nghèo có thể tiếp cận được nguồn vốn

ưu đãi của chương trình tín dụng này, bên cạnh nguồn vốn chính của Nhà nước cần khai thác, thu hút thêm nguồn từ các tổ chức nước ngoài và qui định ngân sách địa phương hàng năm hỗ trợ, bổ sung để Ngân hàng chính sách xã hội cho vay

Sự thay đổi về mặt chính sách về qui mô vốn cũng như việc ân hạn trả nợ của NHCSXH là điều kiện tích cực giúp đỡ cho sinh viên tiếp cận với việc vay vốn

để đảm bảo học tập

Trang 21

2.3 Thực trạng sinh viên đã vay vốn học tập qua khảo sát

2.3.1 Đặc điểm sinh viên vay vốn học tập

+ Về giới tính:

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Qua khảo sát phần lớn sinh viên nữ cĩ nhu cầu vay vốn nhiều hơn sinh viên Nam cĩ tới chiếm 65,4 %, trong khi đĩ nam giới chỉ chiếm 34,6%

+ Về hộ khẩu thường trú:

Tỷ lệ sinh viên vay vốn chủ yếu cĩ hộ khẩu thường trú ở tỉnh ngồi TP Hồ Chí Minh là 82.9% chiếm hơn 4/5 số sinh viên vay vốn tính theo hộ khẩu thường trú Trong khi đĩ số sinh viên vay vốn cĩ hộ khẩu tại TP Hồ Chí Minh chỉ chiếm

tỷ lệ thấp là 17.1% [phụ lục: 1.2, Nguồn khảo sát tháng 5/2009]

+ Về lĩnh vực đang học:

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Kết quả Bảng 3.2 cho thấy, tỷ lệ sinh viên vay vốn phân theo khối ngành cĩ

sự chênh nhau đáng kể, khối Khoa học Kỹ thuật- cơng nghệ chỉ cĩ 58 trường hợp chiếm 27,5%; trong khi đĩ khối Khoa học Kinh tế - Xã hội nhân văn cĩ 153 trường hợp chiếm 72,5%

+ Về năm đang học:

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Bảng 3.3: Năm đang học

Tần số % % Cộng dồn

Bảng 3.2: Lĩnh vực đang học

211 100.0

Lĩnh vực Khoa học kỹ thuật - Công nghệ Khoa học Kinh tế - Xã hội và nhân văn Tổng

Tần số % % Cộng dồn

Tần số %

Trang 22

Qua Bảng 3.3 cho thấy, tỷ lệ sinh viên vay vốn ở năm II, năm III chiếm đa

số (chiếm tỷ lệ 73,9%), và từ năm III trở đi lại vay vốn giảm dần Cao nhất là sinh viên năm II cĩ 81 trường hợp chiếm 38,4%; năm III là 35,5% và năm I chiếm 17,1%, trong khi đĩ sinh viên năm IV chỉ 9,0% Số năm học càng tăng thì tỷ lệ sinh viên đi vay càng ít hơn Sinh viên năm I nên gặp một số khĩ khăn trong việc học tập và thích nghi với cuộc sống mới nên số sinh viên này thường ít quan tâm đến chính sách vay vốn Đối với những sinh viên năm IV là những người sắp ra trường, họ phải tập trung cho việc ra trường nên họ cũng ít quan tâm đến chính sách vay vốn

“Bây giờ là sinh viên năm 4 rồi nên cũng khơng muốn vay nữa Một phần

là do khơng cần thiết, tại năm cuối rồi thời gian học khơng cịn nhiều, vay thì lại thêm nợ Mặt khác là do tiền học cũng ít, năm cuối khơng học gì nhiều, chủ yếu

là lo thi tốt nghiệp thơi”

[sinh viên nữ, đang học năm IV, đại học KHXH&NV, thành phố Hồ Chí Minh]

+ Về các khoản chi tiêu chính

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Theo kết quả nghiên cứu đại đa số sinh viên sử dụng số tiền được vay vào

ba khoản chính là: ăn uống hàng ngày (chiếm tỷ lệ 72%), học hành (chiếm tỷ lệ 71,1%) và trả tiền nhà ở (chiếm tỷ lệ 57,3%) Đây là những vấn đề quan trọng và thiết thực đối với đời sống của sinh viên Việc học tập là ưu tiên hàng đầu của sinh viên, nhưng những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống như ăn uống và chỗ ở ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tinh thần của họ

Ngồi ra, sinh viên cịn sử dụng số tiền đĩ vào các khoảng như: phương tiện đi lại (chiếm tỷ lệ 39,8%); mua sắm tiện nghi sinh hoạt (chiếm tỷ lệ 25,6%); quan hệ bạn bè, hiếu hỉ (chiếm tỷ lệ 11,4%); Hoạt động vui chơi, giải trí (chiếm tỷ

Bảng 3.4: Tiền vay thường dành cho các khoản chi tiêu

Quan hệ bạn bè, hiếu hỉ Hoạt động vui chơi, giải trí Tiết kiệm để trả nợ ngân hàng Tham quan, du lịch

Khác

Tần số %

Trang 23

lệ 10,9%); tiết kiệm để trả nợ ngân hàng (chiếm tỷ lệ 6,6%); tham quan, du lịch (chiếm tỷ lệ 3,3%); khác (1,4%)

2.3.2 Tình hình sinh viên vay vốn học tập

Số liệu khảo sát cho thấy, đa số sinh viên vay vốn 2 lần với tỷ lệ 38,4% [phụ lục 5, Nguồn khảo sát tháng 5/2009] Trung bình số lần vay là 2,7 lần

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Qua Bảng 3.5, phần lớn sinh viên nữ cĩ nhu cầu vay vốn nhiều hơn nam (tần số nữ vay vốn 138 trong khi đĩ sinh viên nam là 73 trường hợp) Nhưng trung bình số lần vay vốn của sinh viên nam và nữ gần bằng nhau 2,7 lần và bằng trung bình chung số lần vay vốn của cả hai giới Qua đĩ cho thấy, nam hay nữ đều đã được vay Ngân hàng gần như nhau

Biểu đồ 1:Trung bình số lần vay vốn của sinh viên trong một năm

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Bảng 3.5: Trung bình số lần vay vốn theo giới tính

Tần số Trung bình Số lần vay vốn

Trang 24

Trung bình chung số lần vay vốn của sinh viên trong một năm là 2,7 lần Mỗi năm sinh viên cĩ hai đợt vay vốn, mỗi học kì là một đợt vay Trung bình mỗi sinh viên vay vốn một năm khoảng 2 lần Sinh viên năm thứ I vay khoảng 1,6 lần; Sinh viên năm thứ II vay khoảng 2,8 lần; Sinh viên năm thứ III vay khoảng 3 lần

và chỉ cĩ sinh viên năm thứ IV trung bình chỉ vay 2,7 lần Năm đang học

Ngồi ra, số lần vay vốn cịn cĩ sự khác nhau giữa các sinh viên học các ngành khác nhau Sinh viên Khoa học kinh tế - Xã hội và nhân văn cĩ số lần vay vốn trung bình 2,8 lần nhiều hơn sinh viên Khoa học Kỹ thuật - Cơng nghệ cĩ số lần vay vốn trung bình 2,3 lần [phụ lục 5.4, Nguồn khảo sát tháng 5/2009]

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Qua khảo sát, trung bình số tiền vay vốn ngân hàng 10.862.550đồng/sinh viên Trong khi đĩ, sinh viên vay nhiều nhất là 24.000.000đồng và sinh viên vay thấp nhất chỉ cĩ 4.000.000đồng

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Một lần nữa số liệu Bảng 3.7 đã chứng minh cĩ sự khác biệt giữa sinh viên các năm học về việc vay vốn, sinh viên năm thứ I (vay trung bình 6.888.888.9đồng/năm); thứ II (vay trung bình 11.456.790.1đồng/năm); thứ III (vay trung bình 12.160.00đồng/năm), sinh viên năm thứ IV (vay trung bình 10.736.842đồng/năm)

Kết quả nghiên cứu cũng cĩ sự khác biệt trong trung bình số tiền vay vốn khi xét theo biến hộ khẩu: sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh trung bình vay 13.000.000 đồng/năm, nhưng sinh viên ở các tỉnh thành ngồi thành phố Hồ Chí Minh trung bình chỉ vay cĩ 10.422.850 đồng/năm [phụ lục 6.3 Nguồn khảo sát tháng 5/2009]

Bảng 3.7: Trung bình số tiền vay theo năm học

36 6888888.9

81 11456790.1

75 12160000.0

19 10736842.1 211

10862559.2

thứ 1 thứ 2 thứ 3 thứ 4 Năm đang học

Trung bình chung

Tần số Trung bình

Tổng số tiền được vay (VNđồng)

Bảng 3.6: Trung bình số tiền vay vốn (VNđồng)

211 400000 2400000 1086255.92 Tổng số tiền được vay

Tần số thấp

nhất

nhiều nhất Trung bình

Trang 25

Qua khảo sát, sinh viên thuộc lĩnh vực Khoa học kinh tế - xã hội nhân văn vay vốn trung bình 11.503.268 đồng/năm, ngược lại sinh viên thuộc lĩnh vực Khoa học cơng nghệ - tự nhiên vay trung bình 9.172.413 đồng/năm [phụ lục 6.4

Nguồn khảo sát tháng 5/2009]

Biểu đồ 2: Mục đích của sinh viên khi vay vốn

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Mục đích mà sinh viên vay vốn, tức là sinh viên sử dụng vốn vay từ ngân hàng vào các việc như sau: đĩng học phí (chiếm tỷ lệ 79,6%), trang trải nhu cầu sinh hoạt (chiếm tỷ lệ 42,2%) là những mục đích sử dụng nhiều nhất; thứ đến là mua sắm thiết bị học tập (chiếm tỷ lệ 25,1%) và đĩng học phí học thêm ngồi nhà trường (chiếm tỷ lệ 22,7%) Một tỷ lệ khá thấp dùng cho các chi phí ngồi việc học tập (chiếm tỷ lệ 10,4%) Cĩ nhiều nguồn khác nhau để sinh viên cĩ thể vay vốn nhưng Ngân hàng chính sách là nơi tạo điều kiện vay vốn tốt nhất cho sinh viên vì thời hạn trả nợ được kéo dài đến khi sinh viên ra trường và đi làm, mức lãi suất thấp Tuy nhiên mục đích vay vốn của mỗi người giống nhau nhưng hồn cảnh lại khác nhau, chính vì thế dẫn đến hành động trong việc xử lý đồng vốn cĩ khác nhau

Như vậy, mục đích sử dụng vốn vay ngân hàng của sinh viên vay vốn đều hướng đến việc hỗ trợ học tập là rất phù hợp với chính sách cho vay của nhà nước hiện nay

Việc vay vốn hỗ trợ cho việc học đại học của sinh viên hiện nay khơng đi ngồi mục đích đề ra của nhà nước, khảo sát tìm hiểu xem ý thức của sinh viên đã từng vay vốn ngân hàng trong điều kiện cĩ thể trả nợ, sinh viên cĩ thực hiện trách nhiệm trả nợ hay khơng, kết quả khảo sát:

79.6

42.2 25.1

22.7 10.4

Đó ng học phí (học phí học đại học)

Trang trả i cá c nhu cầ u sinh hoạt thiế t yế u

M ua sắ m trang thiế t bị học tậ p

Đó ng học phí cho việ c học thê m ngoà i trườ ng

Chi phí cho cá c hoạt độ ng sinh hoạt ngoà i việ c học tậ p

Trang 26

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 ) Sinh viên cho rằng, nếu cĩ đủ điều kiện trả nợ cho ngân hàng thì sinh viên

sẽ trả nợ trước thời hạn chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 71,1%; chỉ trả đúng thời hạn chiếm chỉ cĩ 28% Nhìn chung, sinh viên vay vốn rất cĩ ý thức và trách nhiệm trong việc hồn trả nợ cho ngân hàng

Từ khi được vay vốn thì tâm trạng của mình bình thường, mình khơng lo lắng lắm đối với khoản nợ đĩ bởi vì mình sẽ trả sau khi ra trường và cĩ việc làm Mà cĩ thể gia đình sẽ trả cho mình nếu mình khơng cĩ điều kiện để trả nhưng đĩ chỉ phương án sau cùng, mình sẽ cố gắng kiếm việc làm thật nhanh

và lương thật cao sau khi tốt nghiệp[sinh viên nam, đang học năm III, đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh]

Mặc dù hệ thống ngân hàng tại Việt Nam nĩi chung và TPHCM trong những năm gần đây phát triển mạnh mẽ nhưng người dân vẫn chưa xây dựng cho mình một mối liên kết lâu dài với ngân hàng thơng qua hệ thống tín dụng Trong thời gian gần đây xã hội xuất hiện nhiều dịch vụ mua sắm trả gĩp và các dịch vụ này phổ biến rộng rãi hơn các dịch vụ cho vay tín dụng dành cho tiêu dùng Đây cũng là một dạng của cho vay tín dụng nhưng với cách thức và tên gọi khác thì lại được xã hội đĩn nhận Chính sách vay vốn dành cho sinh viên được xây dựng trên

cơ sở đĩ, sinh viên được vay với số lượng ít trong một thời gian dài với lãi suất tương đối thấp Chính vì những ưu tiên đĩ mà chính sách này được đĩn nhận nồng nhiệt, khi cĩ điều kiện thì đa phần các bạn cho rằng nên tranh thủ trả nợ vay trước thời hạn Chính sách Nhà nước rất ưu đãi nhưng học sinh - sinh viên vay vốn phải

cĩ ý thức cao trong việc trả nợ Trả nợ vay học tập khơng chỉ là nghĩa vụ của người vay, mà cịn là trách nhiệm hồn trả và bảo tồn nguồn vốn để các lớp sau

cĩ điều kiện vay vốn học tập

2.3.3 Đánh giá chính sách vay vốn của Ngân hàng chính sách xã hội:

+ Về quy mơ vốn cho vay:

Chính sách cho sinh viên vay vốn học tập của Ngân hàng chính sách xã hội một năm học giải ngân 2 lần, mỗi lần 4.000.000đồng Qua khảo sát sinh viên đánh giá về qui mơ vốn vay:

Bảng 3.8: Tình trạng mong muốn trả nợ nếu có đủ điều kiện

Không trả Tổng

Tần số % % Cộng dồn

Trang 27

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Sinh viên cho rằng qui mơ vốn được vay 800.000 đồng/tháng là ít (thiếu) chiếm tỉ lệ 63,5%, chỉ cĩ tỷ lệ 34,1 % sinh viên cho là qui mơ vốn như vậy là đủ

và tỷ lệ 2,4% sinh viên đánh giá vay như thế là dư So với tình hình trước đây học phí ngày càng tăng, đặc biệt là các trường dân lập học phí cao hơn nhiều lần so với các trường cơng lập Mức vốn cho vay được đưa ra vào thời điểm cách đây đã khơng cịn phù hợp với tình hiện nay Các trường đại học hiện nay đang nâng cấp

cơ sở vật chất và các phương tiện hỗ trợ cho việc giảng dạy để giúp cho việc dạy

và học được tốt hơn vì vậy mà cĩ rất nhiều trường đại học tăng học phí lên Trong khi đĩ, các trường cơng lập vẫn giữ nguyên mức học phí theo quy định của Bộ GD&ĐT và đề xuất cĩ cơ chế để sớm được tăng học phí Bên cạnh đĩ sinh hoạt phí ngày càng đắt đỏ và tăng theo giá xăng dầu, chính vì vậy qui mơ vốn cho vay chỉ vừa đủ đĩng học phí khơng thể trang trải thêm cho các khoảng sinh hoạt phí

Vì vậy mà quy mơ vốn được vay hàng tháng của Ngân hàng chính sách xã hội chỉ

đủ đáp ứng việc đĩng học phí

Do vậy, Ngân hàng chính sách xã hội cần phải xem lại mức vốn cho sinh viên vay sao cho phù hợp hơn với từng đối tượng Nhìn chung vốn cho vay vẫn cịn nằm ở mức khá thấp, chưa đủ cho sinh viên chi phí sinh hoạt học tập Từ sự đánh giá đĩ, sinh viên đề xuất mức vốn cho vay phù hợp hơn là khoảng 1.200.000 đồng/tháng (tức là 6.000.000 đồng/học kỳ) Trong đĩ, mức vốn vay sinh viên đề xuất thấp nhất là 1.000.000 đồng/tháng và cao nhất là 1.500.00đồng/tháng [phụ lục 9.2 Nguồn khảo sát tháng 5/2009]

“Theo em thì nên tăng nguồn vốn cho vay ít nhất phải 6 triệu 1 học kỳ, thì như vậy học sinh nghèo mới cĩ thề đĩng học phí và trang trải chi phí sinh hoạt”

[Sinh viên nữ, đang học năm III, trường Đại học Tơn Đức Thắng]

Bảng 3.9: Đánh giá qui mô vốn được vay 800 000đồng/tháng

Tần số % % Cộng dồn

Trang 28

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Bảng 3.10 cho thấy sự khác nhau trong đánh giá về quy mơ vốn vay giữa sinh viên cĩ hộ khẩu thường trú khác nhau Nhìn chung các bạn đều cho rằng vốn vay 800.000đồng/ tháng là thiếu nhưng sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh cho rằng dư (chiếm tỷ lệ 2,8%) và vừa đủ (chiếm tỷ lệ 36,1%) nhiều hơn sinh viên ở các tỉnh thành ngồi thành phố Hồ Chí Minh cho rằng dư (chiếm tỷ lệ 2,3%) và vừa đủ (chiếm tỷ lệ 33,7%)

“Theo mình thì do mình là người thành phố nên các khoản chi tiêu ít hơn các bạn ở tỉnh, thêm nữa là mình chỉ đĩng học phí nên đối với mình quy mơ vốn vay 800.000đ/tháng là dư do được bố mẹ chu cấp phần sinh hoạt phí Hơn nữa mình khơng phải chi các khoản như: tiền nhà, tiền điện, tiền nước, tiền ăn nên tất nhiên số vốn vay đĩ là đủ so với mình Cịn các bạn ở tỉnh sẽ thiếu nếu khơng được bố mẹ chu cấp thêm”

[Sinh viên nam, đang học năm III, trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh]

Ngược lại, đánh giá qui mơ vốn vay thiếu sinh viên ở các tỉnh thành ngồi thành phố Hồ Chí Minh (chiếm tỷ lệ 64,0%) cao hơn sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh (chiếm tỷ lệ 61,1%)

NHCSXH nên điều chỉnh mức cho vay lên 1,2 triệu/tháng Giá cả sinh hoạt ở Sài Gịn bây giờ đắt đỏ lắm, khơng tăng vốn cho vay thì sinh viên ở tỉnh như mình khơng cĩ đủ để chi tiêu”.

[Sinh viên nam, đang học năm II, trường Đại học Tơn Đức Thắng thành phố Hồ Chí Minh]

Ngồi ra, sự khác nhau trong việc đánh giá qui mơ vốn cho vay cịn khác nhau giữa các sinh viên học các chuyên ngành khác nhau Sinh viên thuộc lĩnh vực Khoa học cơng nghệ - tự nhiên thì đánh giá qui mơ vốn vay là chưa đủ chiếm

tỷ lệ 69,0% nhiều hơn tỷ lệ 61,4% của các sinh viên thuộc lĩnh vực Khoa học kinh

tế - xã hội và nhân văn [phụ lục 9.4 Nguồn khảo sát tháng 5/2009] Nguyên nhân sự khác nhau trên cĩ thể do học phí và phụ kiện học tập Sinh viên theo học lĩnh vực Khoa học cơng nghệ - tự nhiên cĩ số mơn học địi hỏi thời gian thực hành và thí

Bảng 3.10: Đánh giá qui mô vốn được vay từ NHCSXH theo hộ khẩu

Đánh giá qui

mô vốn được

Tần số % Tổng

Trang 29

nghiệm nhiều hơn các sinh viên theo học lĩnh vực Khoa học kinh tế - xã hội và nhân văn nên số tiền đĩng học phí cao hơn nên với qui mơ vốn vay như thế sẽ khơng đủ cho sinh hoạt và học tập

“Nếu vay 4 triệu một học kỳ thì ngành nào cũng đủ để đĩng học phí nhưng

số tiền dư ra sau khi đĩng học phí sẽ khác nhau Theo mình để vừa đĩng học phí

và trang trải sinh hoạt phí thì những bạn học những ngành khơng phải thực hành nhiều sẽ dễ thở hơn những bạn mà chương trình học phải thực hành nhiều”

[Sinh viên nữ, đang học năm IV, trường Đại học KHXH&NV, thành phố Hồ Chí Minh ]

+ Về lãi suất cho vay

Chính sách cho sinh viên vay vốn học tập của Ngân hàng chính sách xã hội một năm học giải ngân 2 lần, mỗi lần 4.000.000 đồng và lãi suất 0,5% được tính

từ khi sinh viên tốt nghiệp ra trường Qua khảo sát, sinh viên đánh giá mức lãi suất hiện nay nhìn chung là tạm được:

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Phần lớn với lãi suất cho vay như hiện nay, sinh viên cho rằng tạm phù hợp

và thấp chiếm tỷ lệ đến 70,1%, trong đĩ phù hợp chiếm tỷ lệ 61,1% vì theo các bạn nếu so sánh với lãi suất của các ngân hàng khác ở bên ngồi thì mức lãi suất như vậy là hợp lý và khơng cĩ những thủ tục phức tạp như những ngân hàng ở bên ngồi Mức lãi suất này phù hợp với khả năng trả nợ của các bạn sinh viên làm việc sau khi ra trường

“Mức lãi suất 0,5%/tháng là tương đối thấp với mặt bằng lãi suất của các ngân hàng hiện nay, cĩ thể mức lãi suất này đã được Nhà nước hỗ trợ Theo mình được được biết thì Nhà nước cũng như NHCSXH đã tạo rất nhiều điều kiện cho sinh viên khi giảm lãi suất vay, trước đây lãi suất vay vốn tới 0,65%/tháng Ngân hàng ngồi việc giúp đỡ sinh viên học tập thì họ cịn phải tính đến cái lợi ích kinh tế của mình”

[Sinh viên nam, đang học năm III, trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh]

Chỉ cĩ một tỷ lệ khá ít cho rằng mức lãi suất như thế là cao chiếm 29,9%

Bảng 3.11: Đánh giá lãi suất cho vay vốn của NHCSXH

Tần số % % Cộng dồn

Trang 30

Trong số sinh viên cho rằng lãi suất cao, sinh viên đề suất mức lãi suất 0,14%/tháng là phù hợp [phụ lục 10.1 Nguồn khảo sát tháng 5/2009]

“NTL: Về quy mơ vay vốn như vậy là tương đối tốt, cịn mức lãi suất giảm

thêm chút thì càng tốt

NTL :Theo mình mức lãi suất khoảng chừng 0,3% đi

[Sinh viên nam, đang học năm II, trường Đại học Tơn Đức Thắng]

+ Về Thủ tục cho vay

Qua khảo sát phần lớn ý kiến cho rằng phương thức vay vốn, thủ tục vay vốn và quy trình xét duyệt cho vay vốn hiện nay là khơng phức tạp Phương thức vay vốn, thủ tục vay vốn, quy trình xét duyệt cho vay vốn hiện nay từ các khâu: xin dấu xác nhận của trường, làm thủ tục ở xã, phường cho đến làm thủ tục vay vốn ở ngân hàng chính sách đều đơn giản và dễ dàng hơn rất nhiều so với các ngân hàng bên ngồi do thủ tục được cải thiện rất nhiều so với trước đây Với nhu cầu vay vốn ngày càng nhiều, tại mỗi địa phương đều cĩ ngân hàng chính sách xã hội để phục vụ bà con vay vốn một cách nhanh chĩng và tiện lợi nhất Đánh giá bình thường và khơng phức tạp: phương thức cho vay chiếm tỷ lệ 77,3%; thủ tục hành chính cho vay chiếm tỷ lệ 80,1% và qui trình xét duyệt cho vay vốn chiếm tỷ

lệ 65,8% [phụ lục 11; 12; 13 Nguồn khảo sát tháng 5/2009]

Với tỷ lệ ít cịn lại đánh giá phương thức vay vốn, thủ tục vay vốn và qui trình xét duyệt vay vốn là phức tạp cĩ thể là lần đầu các bạn vay vốn nên chưa quen với các thủ tục cũng như trình tự vay vốn Bên cạnh đĩ, sự khác biệt về trình

tự thủ tục tại một số địa phương nên đơi lúc gây khĩ khăn cho người đi vay vốn

“Ở địa phương mình khơng cĩ ngân hàng, khi vay phải thơng qua phường để lấy tiền, rồi thơng qua tổ trưởng của chỗ mình ở làm giấy tờ giúp nên việc vay vốn cũng khĩ khăn lắm Gia đình mình khơng được nhận tiền trực tiếp từ ngân hàng mà do người làm bên hành chính đưa xuống, đơi khi cĩ xảy ra việc lấy hoa hồng”

[Sinh viên nam, đang học năm II, Đại học Tơn đức Thắng]

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Bảng 3.12 cho thấy tỷ lệ khá thấp 12,3% sinh viên cho rằng là khơng phù hợp, tỷ lệ cịn lại được đánh giá là tạm được chiếm tỷ lệ 62,6% và phù hợp chiếm

Bảng 3.12: Đánh giá về thời gian giải ngân

Tần số % % Cộng dồn

Trang 31

tỷ lệ 25,1% Nhìn chung, sinh viên đánh giá về thời gian giải ngân của Ngân hàng chính sách như vậy là tạm ổn với các thủ tục hành chính hiện nay

Việc đánh giá qui định về thời gian sinh viên bắt đầu trả nợ và lãi suất cho ngân hàng, với mức lãi suất cho vay ưu đãi đối với học sinh – sinh viên hiện nay là 0,5%/tháng, lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất khi cho vay

và phải trả nợ gốc và lãi lần đầu tiên ngay sau khi tốt nghiệp cĩ việc làm, cĩ thu nhập nhưng khơng quá 12 tháng kể từ ngày kết thúc khố học

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Bảng 3.13 là số liệu khảo sát cho thấy, khơng hài lịng với qui định thời gian trả nợ vay ngân hàng chiếm 47,4% và tỷ lệ cịn lại đánh giá tạm được (chiếm

tỷ lệ 42,2%) và phù hợp (chiếm tỷ lệ 10,4%) Hiện nay, trong các khâu của vay vốn ngân hàng thì khâu trả nợ ngân hàng vẫn là phức tạp và khĩ khăn nhất Đĩ cũng là một trong những yếu tố làm cho sinh viên vay vốn nhiều lo lắng và quan tâm nhiều

Nhìn chung, Chính sách cho sinh viên vay vốn của Ngân hàng chính sách hiện nay đa phần được sinh viên chấp nhận, được đánh giá là phù hợp, sinh viên

an tâm trong khâu thủ tục hành chính khi đi vay vốn học tập.Ngân hàng, nhà trường và địa phương nơi cư trú của sinh viên cần phát huy tính phù hợp và bổ sung thủ tục sao cho sinh viên dễ dàng tiếp cận vốn hỗ trợ học tập, sinh viên ổn định học tập và chuyên tâm học hành tốt hơn Bên cạnh đĩ, sinh viên cũng phải nhận biết được và ý thức tốt hơn trong học tập, sử dụng vốn vay đúng mục đích, thể hiện tinh thần trách nhiệm với nguồn vốn đã được vay – trả nợ, trả lãi suất đúng thời hạn Đĩ chính là gĩp phần cho sự phát triển của xã hội, của đất nước

Bảng 3.13: Đánh giá về thời gian bắt đầu trả nợ

Đánh giá thời gian bắt

đầu trả nợ

Không phù hợp Tạm được Phù hợp Tổng

Tần số % % Cộng dồn

Trang 32

Chương 3: Chính sách cho vay của Ngân hàng chính sách xã hội tác động

đến đời sống và học tập của sinh viên sau khi được vay vốn

3.1 Tác động của chính sách vay vốn của ngân hàng chính sách đến đời sống

và học tập của sinh viên sau khi vay vốn

Chính sách cho sinh viên vay vốn là việc quan tâm hỗ trợ cho nguồn nhân lực lao động cĩ chất lượng của xã hội Việc tiếp cận nguồn vốn của sinh viên chưa được nhiều cũng cĩ thể cĩ nhiều nguyên nhân Nhưng trong đĩ khơng thể thiếu sự mặc cảm của người đi vay vốn, ý nghĩ “bị” mắc nợ…là mối lo lắng Nhưng cũng

cĩ thể nhờ được vay vốn mà sinh viên cố gắng học tập tốt hơn, an tâm mà chuyên tâm vào việc học tập, ý thức hơn trong việc sử dụng nguồn vốn mà sống tốt hơn xứng đáng được nhận sự quan tâm như thế Cĩ nghĩa chính sách vay vốn cĩ thể tác động đến đời sống của người đi vay vốn tích cực và cả tiêu cực

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Qua khảo sát, sinh viên khi đi vay vốn học tập tỷ lệ 2,8% rất mặc cảm; tỷ lệ 18% hơi mặc cảm, nghĩa là cĩ đến 20,9% sinh viên mặc cảm khi bản thân là người đi vay Tỷ lệ 12,3% sinh viên khơng quan tâm về việc mặc cảm hay khơng mặc cảm và sinh viên bình thường khi đi vay vốn học tập chiếm tỷ lệ cao nhất (chiếm 66,8%)

”NTL : Em khơng cảm thấy việc đi vay vốn là mặc cảm gì cả, em thấy cũng

bình thường.”

[Sinh viên nữ, đang học năm III, Đại học Tơn đức Thắng]

” NTL :Bình thường bạn bè ai cũng vay vốn,hầu như ai ở quê lên cũng vay vốn hết nên cũng khơng sao.”

[Sinh viên nam, đang học năm II, Đại học Tơn đức Thắng]

Qua đĩ cho thấy, vẫn cịn một bộ phận khơng nhỏ sinh viên mặc cảm mình

là người nghèo, chưa hiểu thấu đáo mục đích của chính sách cho vay Sự mặc cảm của những sinh viên này ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống và học tập trong quá trình vay vốn Nguyên nhân bắt nguồn từ nhiều phía, xã hội cũng như kinh tế của chúng ta vẫn độc lập với hệ thống tài chính – tín dụng của ngân hàng so với các

Bảng 3.14: Tình trạng mặc cảm khi bản thân đi vay vốn học

Tình trạng mặc cảm khi đi vay vốn

Rất mặc cảm Hơi mặc cảm Bình thường Không quan tâm Tổng

Tần số % % Cộng dồn

Trang 33

nước trên thế giới, đặc biệt là các vùng nơng thơn việc giao dịch với ngân hàng vẫn cịn lạ lẫm Thực hiện các thủ tục vay vốn đã tạo ra tâm lý mặc cảm ở một số bạn sinh viên cũng như gia đình của các bạn Bên cạnh đĩ, một bộ phận của dư luận xã hội vẫn cịn chưa thay đổi cách nhìn đối với những đối tượng vay vốn do

một thời gian thực hiện chương trình vay vốn dành cho các đối tượng “xố đĩi

giảm nghèo”

Biểu đồ 3: Tâm trạng của sinh viên sau khi vay vốn

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009)

Về tâm trạng của sinh viên sau khi vay vốn số liệu khảo sát Biểu đồ cho thấy sinh viên yên tâm học tập tốt hơn chiếm tỷ lệ 42,7% (cao thứ nhất); sinh viên

cố gắng tìm việc làm để mong trả nợ vay sớm hơn thời hạn chiếm tỷ lệ 40,8% (cao thứ hai); sinh viên sợ gia đình phải gánh thêm lo lắng vì nợ nần chiếm tỷ lệ 3,6% (cao thứ ba) và bản thân sinh viên vay vốn lo lắng vì phải trả nợ cho ngân hàng sau khi tốt nghiệp chiếm tỷ lệ 29,9% (cao thứ tư) Nhìn chung, sau khi vay vốn tâm trạng của sinh viên cĩ nhiều diễn biến lo lắng về số nợ vay ngân hàng, nhưng tâm trạng an tâm học tập vẫn vẫn chiếm vị trí hàng đầu, mục đích của chính sách vay vốn rất cĩ hiệu quả đối với sinh viên

3.1.1 Tác động đến đời sống

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Bảng 3.15: Cuộc sống sinh viên bị ảnh hưởng sau khi vay

Tần số % % Cộng dồn

%

4 2 7 4 0 8

3 3 6 2 9 9

7 6 4 70

Trang 34

Sau khi vay vốn từ ngân hàng chính sách, sinh viên cho rằng cuộc sống khơng bị ảnh hưởng chiếm tỷ lệ 48,3% và cuộc sống cĩ bị ảnh hưởng chiếm 51,7% Những ảnh hưởng trong cuộc sống của sinh viên:

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Trong số 51,7% sinh viên cho rằng sau khi vay vốn cuộc sống cĩ bị ảnh hưởng: (1) ảnh hưởng nhiều nhất là điều kiện sinh hoạt hàng ngày chiếm 87,7%, trong đĩ ảnh hưởng xấu đi chỉ chiếm 7,1%, cịn ảnh hưởng theo chiều hướng tốt hơn chiếm đến 38,8%; (2) ảnh hưởng thứ đến là phương tiện đi lại chiếm 84,2%, trong đĩ ảnh hưởng xấu đi chiếm 7,4% và ảnh hưởng tốt hơn chiếm 22,1%; (3) ảnh hưởng đến quan hệ bạn bè, tình yêu chiếm 71,9%, trong đĩ ảnh hưởng xấu đi

và ảnh hưởng tốt hơn chiếm tỷ lệ gần như nhau 9,9%; (4) ảnh hưởng đến các hoạt động vui chơi, giải trí chiếm 71,1%, trong đĩ ảnh hưởng xấu đi, tức là thời gian tham gia và giải trí ít đi chiếm 12% và ảnh hưởng tốt hơn chiếm 14,5%; (5) ảnh hưởng đến tinh thần, tâm lý chiếm 76,3%, trong đĩ ảnh hưởng xấu đi chiếm 21,2% và ảnh hưởng tốt hơn chiếm 17,6% [phụ lục 18.2 Nguồn khảo sát tháng 5/2009]

Khi xem xét sự ảnh hưởng của chính sách vay vốn đến đời sống của sinh viên, khảo sát đã xác định những yếu tố nổi bật như: “điều kiện sinh hoạt”;

“phương tiện đi lại”; “quan hệ bạn bè, tình yêu”; “hoạt động vui chơi, giải trí”;

“tinh thần, tâm lý” nhằm thể hiện sự ảnh hưởng đĩ trên cả 2 mặt: Vật chất và tinh thần

Nhưng qua số liệu trên cho thấy, ảnh hưởng theo chiều hướng tốt lên về đời sống vật chất Cũng chịu sự ảnh hưởng nhưng yếu tố về tinh thần, tâm lý thì cĩ vẻ ảnh hưởng xấu đi cĩ phần nhiều hơn Nhìn chung, sau khi vay vốn sinh viên sống tốt hơn, tuy nhiên cĩ đơi khi tinh thần lo lắng và mặc cảm, điều này khơng thể tránh khỏi khi chưa trả hết số vốn vay học tập

Bảng 3.16: Những ảnh hưởng do vay vốn

Aûnh hưởng do vay vốn

Điều kiện sinh Phương tiện đi Quan hệ bạn bè, Hoạt động vui chơi, Tinh thần,

Trang 35

+ Ảnh hưởng đến điều kiện sinh hoạt

Biểu đồ 4: Điều kiện sinh hoạt trong nhà theo sự đanh giá ảnh hưởng sau khi vay vốn

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Biểu đồ 4 cho thấy, phần lớn sinh viên cho rằng ảnh hưởng của chính sách

vay vốn đến điều kiện học tập là bình thường, tức là khơng thay đổi với 52/98 bạn sinh viên được hỏi chọn phương án này Bên cạnh đĩ cũng cĩ số lượng khơng ít sinh viên đánh giá sự tác động tích cực của chính sách này với mức độ “tốt hơn” (38/98 sinh viên), với những bạn cho rằng điều kiện sinh hoạt trong nhà là vừa đủ thì sau khi vay vốn đánh giá điều kiện sinh hoạt tốt hơn chiếm 52,6%, 47,4% cịn lại thuộc về những bạn đánh giá điều kiện sinh hoạt thiếu thốn đủ thứ

“Từ sau khi vay vốn thì cuộc sống của mình tốt hơn rất nhiều, nhất là về

khoản trang bị cho chỗ ở Mình vừa mới mua cái máy radio với cái quạt máy”

[Sinh viên nam, đang học năm II, trường Đại học Tơn Đức Thắng thành phố Hồ Chí Minh]

Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Bảng 3.17 số liệu cho thấy, đa phần các bạn sinh viên sử dụng phương tiện

xe máy để đến trường nhiều nhất chiếm (37,4%), kế đến là xe đạp (22,3%), đi bộ

Bảng 3.17: Phương tiện đi học

Tần số % Cộng

Tố t hơn Bình thườ ng Xấ u đi

Tiệ n nghi, thoả i má i

Vừ a đủ để sinh hoạt Thiế u thố n nhiề u thứ

Trang 36

(21,8%) và cuối cùng là đi xe buýt (18,5%)

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Tỷ lệ sử dụng xe máy của các bạn cĩ hộ khẩu tại TPHCM (55,%) cao hơn rất nhiều so với các bạn đến từ những địa phương khác (33,7%) Nguyên nhân kể đến bao gồm: các bạn ở thành phố thuận lợi về mặt cư trú, chỗ để, điều kiện sinh hoạt… Cịn các bạn ở địa phương khác khi muốn sử dụng xe máy phải vận chuyển

từ nhà vào với số tiền vận chuyển tương đương với số tiền phải trả cho một người Ngồi ra các bạn cịn gặp khĩ khăn về chỗ để xe, khơng phải nhà trọ nào cũng cĩ

dư khơng gian để các bạn để xe Bên cạnh đĩ các bạn cịn phải xoay sở cho vấn đề chi tiêu khi dùng xe máy để đi lại: tiền xăng, phí giữ xe, phí sửa chữa…đơi khi con số ấy chiếm tới 1/3 số tiền mà các bạn cĩ hàng tháng Chính vì thế mà nhiều bạn sinh viên chọn xe đạp như là một cách để tiết kiệm chi phí cho thời bão giá

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Cũng như sự đánh giá dành cho điều kiện sinh hoạt, khi được đánh giá về những ảnh hưởng của chính sách vay vốn đến phương tiện đi lại, đa phần sinh viên được hỏi cho rằng khơng cĩ sự thay đổi lớn 67 bạn và 21 bạn cho rằng cĩ sự thay đổi theo chiều hướng tích cực, chuyển biến rõ nhất là ở bộ phận các bạn sử dụng xe máy 10 bạn Khi được vay vốn các bạn nhẹ đi bớt nỗi lo chi tiêu dành cho

Bảng 3.19: Phương tiện đi học theo sự đánh giá ảnh hưởng sau khi

Phương tiện đi học theo sự

đánh giá ảnh hưởng sau khi

Tần số

%

TP Hồ Chí Minh

Tần số % Tỉnh ngoài TP HCM Hộ khẩu thường trú

Tần số % Tổng

Trang 37

chiếc xe của mình, từ đĩ mà việc học cũng như các cơng việc khác trở nên thuận lợi hơn

Sau khi vay vốn thì tỉ lệ sinh viên đi xe máy và xe buýt tăng lên và việc đi

xe đạp và đi bộ giảm so với trước khi vay vốn Nguồn vốn được vay giúp sinh viên cải thiện phương tiện đi lại để phục vụ cho việc học tập tốt hơn

Cĩ thể hình dung quy mơ ảnh hưởng của chính sách vay vốn đến đời sống của sinh viên như sau Với quy mơ vốn được vay là 800000đ/tháng từ NHCSXH thì đã gĩp phần giúp cải thiện một số mặt đời sống của sinh viên nhưng qui mơ vốn đĩ vẫn chưa đủ trang trải hết cho: điều kiện sinh hoạt; phương tiện đi lại; hoạt động vui chơi, giải trí; quan hệ bạn bè, tình yêu hay tinh thần, tâm lý Trong đĩ nhu cầu của các bạn về điều kiện sinh hoạt và phương tiện đi lại là rất thiếu thốn Chỉ cĩ bộ phận rất ít cho rằng số tiền ấy là đủ thậm chí là dư trong việc sinh hoạt hàng tháng Đĩ cũng chính là nguyên nhân giải thích cho việc một số bạn sinh viên đã đi làm thêm để kiếm thêm thu nhập [phụ lục 22 Nguồn khảo sát tháng 5/2009]

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Số lượng các bạn đi làm thêm cĩ tỷ lệ khơng nhỏ trong số sinh viên được khảo sát 82 bạn, tương ứng với 38,9% Đa phần cơng việc của các bạn là: gia sư, bán hàng, làm bán thời gian…

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Thu nhập trung bình từ việc làm thêm là 616.265đ/tháng, thu nhập thấp nhất là 100000đ/tháng và cao nhất là 1500000đ/tháng Với số tiền này các bạn phần nào thoải mái hơn trong chi tiêu bên cạnh đồng vốn được vay Cĩ nhiều nguyên nhân dẫn đến việc đi làm thêm của các bạn sinh viên, trong đề tài này nhĩm nghiên cứu chỉ xem xét ở khía cạnh tâm trạng của các bạn sau khi vay vốn tác động như thế nào đến tâm thế chủ động khi kiếm việc làm thêm

Bảng 3.21: Trung bình thu nhập từ việc làm thêm (VNđồng)

83 100000 1500000 616265.06 Thu nhập từ việc làm thêm

Tần số thấp nhất nhiều nhất Trung bình

Bảng 3.20: Tình trạng đi làm thêm để kiếm

thêm thu nhập

Tần số % % Cộng dồn

Trang 38

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Với một loạt những yếu tố được đưa ra, phần đơng các bạn sinh viên lo lắng vì phải trả nợ và trả lãi vay, đồng thời xác định cho mình suy nghĩ phải cố gắng tìm việc làm để mong trả nợ vay sớm hơn thời hạn Đĩ chính là 2 động lực chính làm cho một số bạn trong tổng số sinh viên vay vốn được khảo sát chọn hướng đi làm thêm mặc dù đơi khi thu nhập từ cơng việc ấy khơng là bao

Bảng số liệu cũng cho ta thấy tỷ lệ chênh lệch khi khảo sát ý kiến của 2

nhĩm sinh viên cĩ đi làm và khơng đi làm thêm về quan điểm “khơng quan tâm

đến mĩn nợ vay” Những bạn sinh viên đi làm thêm thì quan điểm này chiếm

18,8%, cịn các bạn khơng đi làm thêm chiếm tỷ lệ 81,3%

“Tính ra thì khi vay 4 triệu đồng/HK mình chỉ trả lãi suất khơng tới 500.000 đ/năm Số tiền này khơng là gì nếu mình tốt nghiệp và cĩ việc làm Nếu mình trả cả vốn lẫn lãi cho Nhà nước thì chỉ khoảng 840.000 đ/tháng Một con số khơng đáng kể, vậy thì chẳng cĩ gì phải lo lắng hay tranh thủ kiếm việc làm thêm Mình kiếm được rồi cũng xài hết chứ cĩ để dành mà trả tiền vay đâu Vậy thì dành thời gian để học tập, nghỉ ngơi hơn là đi làm thêm để kiếm thu nhập khơng bao nhiêu”

[Sinh viên nam, đang học năm III, trường Đại học KHXH&NV Thành phố Hồ Chí Minh]

NHCSXH tạo điều kiện cho sinh viên trả nợ bằng việc ấn hạn một năm sau khi sinh viên kết thúc khĩa học, nếu sinh viên gặp khĩ khăn cĩ thể làm đơn gia tăng thời gian ân hạn Bênh cạnh đĩ sinh viên trả nợ trước thới hạn sẽ được giảm lãi vay Quy mơ vốn vay được nâng từ 800.000 đồng/tháng lên 860.000 đồng /tháng trong năm học 2009-2010 giúp sinh viên cải thiện hơn cuộc sống và yên tâm hơn về việc trả nợ

Tâm trạng của sinh viên

sau khi vay vốn

Sợ gia đình phải gánh thêm nổi

lo lắng vì nợ

Bản thân lo lắng vì phải trả nợ,

trả lãiï vay

Cố gắng tìm việc làm để mong

trả nợ vay sớm hơn thờ

Không quan tâm lắm đến món

nợ vay

Tâm trạng khác

Tổng

Tần số % Không

Tần số % Có

Đi làm thêm để kiếm thêm thu nhập

Tần số % Tổng

Bảng 3.22: Tâm trạng của sinh viên sau khi vay vốn dẫn đến việc di làm thêm kiếm thêm thu nhập

Trang 39

3.1.2 Tác động đến việc học tập

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Số liệu bảng 3.24 cho thấy khoảng cách đáng kể trong tiền đĩng học phí

đại học Mức học phí cho một năm học thấp nhất là 1000000đ và cao nhất là

6.500.000đ Trung bình số tiền đĩng học phí đại học trong một năm theo khảo sát

là 3.425.000đ, vậy hàng tháng mỗi bạn phải bỏ ra 285.000đ để đĩng học phí, số

tiền này chiếm ¼ đồng vốn 800.000đ mà các bạn được vay hàng tháng Một tỷ lệ

khơng nhỏ trong khi sinh viên cịn phải trang trải cho nhiều khoản khác ngồi việc

đĩng học phí

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Bảng 3.24 cho thấy sự chênh lệch trong học phí đại học giữa 2 lĩnh vực mà

số sinh viên được khảo sát đang học Cụ thể như sau: chiếm số đơng là sinh viên

thuộc khối ngành Khoa học kinh tế - Xã hội và nhân văn (153 bạn) với mức học

phí 1 năm trung bình là 3.140.000đ, trong khi đĩ học phí của sinh viên khối ngành

khoa học kỹ thuật – cơng nghệ (58 bạn) trung bình là 4.180.000 đồng/năm Như

vậy mức chênh lệch trung bình qua khảo sát là gần 1.000.000 đồng Điều đĩ thể

hiện tính chất đặc trưng của từng ngành học cũng như những quy định số tiền học

phí phải đĩng cho 1 tín chỉ do bộ giáo dục ban hành Khối ngành kỹ thuật – cơng

nghệ thiên về thực hành, ứng dụng thực tế trong khi khối ngành kinh tế - xã hội

nhân văn lại thiên về tiếp cận lý thuyết nhiều hơn Bên cạnh đĩ hệ đại học đào tạo

theo hệ thống tín chỉ, 1 tín chỉ thực hành cĩ số tiền cao hơn 1 tín chỉ lý thuyết Cĩ

sự khác biệt trong học phí giữa hai lĩnh vực nhưng mức vốn cho vay được áp dụng

chung với tất cả các lĩnh vực và ngành học Liệu mức vốn như vậy cĩ đáp ứng

được với một số ngành học cĩ học phí cao Sinh viên học những lĩnh vực cĩ học

phí cao sẽ khơng đảm bảo đủ tiền trang trải học phí

Tần số Trung bình

Số tiền đóng học phí đại học (VNđồng)

Bảng 3.24: Trung bình số tiền đóng học phí đại học trong một năm theo lĩnh

Bảng 3.23: Trung bình số tiền đóng học phí đại học trong một năm (VN đồng)

211 1000000 6500000 3425592.42 Số tiền đóng học phí đại học

Tần số Thấp nhất Nhiều nhất Trung bình

Trang 40

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Bảng số liệu cho thấy quan điểm của đa số sinh viên khi đi đĩng học phí Chiếm phần lớn là tỷ lệ sinh viên cho rằng gặp khĩ khăn trong khi đĩng học phí chiếm 55,9% và tổng số các bạn sinh viên nhận định gặp khĩ khăn trong đĩng học phí là 73,5%

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009

Bảng 3.26 cho thấy tỷ lệ các bạn sinh viên cĩ hộ khẩu ngồi TPHCM gặp khĩ khăn khi đĩng học phí là 56,6%, cao hơn các bạn ở TPHCM 52,8%

“Với mình thì đĩng học phí khĩ khăn lắm Ba má mình cĩ làm cho mình cái thẻ ATM nhưng đâu phải lúc nào cũng chuyển tiền cho mình được vì mỗi lần làm vậy là phải xuống ngân hàng xa lắm Mà đơi khi nhà trường thơng báo học phí và hạn nộp gấp quá làm gia đình khơng gửi tiền kịp, cĩ lần mình tưởng bị cấm thi rồi do vẫn chưa cĩ tiền đĩng, cũng may lần đĩ nhà trường dời hạn lại”

[Sinh viên nam, đang học năm II, trường Đại học Tơn Đức Thắng]

(Nguồn : Số liệu khảo sát của đề tài – tháng 5/ 2009 )

Bảng 3.27: Tình trạng khó khăn khi đóng học phí theo số vốn học tập được vay

Tần số % Đủ

Tần số % Dư

Đánh giá qui mô vốn được vay 800 000đồng/thàng từ NHCSXH

Tần số % Tổng

Tình trạng khó khăn khi

đóng học phí theo hộ

Bảng 3.26: Tình trạng khó khăn khi đóng học phí theo

Tần số % Tổng

Bảng 3.25: Tình trạng khó khăn khi đóng học phí

211 100.0

Tình trạng khó khăn khi đóng

học phí Rất khó khăn

Khó khăn Không khó khăn Tổng

Tần số % % Cộng dồn

Ngày đăng: 30/10/2022, 20:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w