TRƯỜNG ĐH BÁN CÔNG CÔNG NGHỆ TÔN ĐỨC THẮNG KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG NGÀNH KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: TÍNH TOÁN TẢI LƯỢNG CÁC CHẤT Ô NHIỂM TỪ CHẤT
Tính cần thiết của đề tài
Lợi thế về điều kiện tự nhiên đã giúp cho nước ta có điều kiện, tiềm năng lớn để phát triển nghề nuôi tôm và thực tế nghề nuôi tôm đã mang lại một nguồn lợi kinh tế đáng kể cho đất nước Bên cạnh đó, việc nuôi tôm tự phát, không quy hoạch rõ ràng cũng tồn tại nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường (ô nhiễm đất, ô nhiễm nước, lấn rừng nuôi tôm…)
Vì vậy để tiếp tục phát huy nguồn lợi kinh tế từ nghề nuôi tôm mà không gây tác động xấu đến môi trường cần phải có sự quy hoạch thận trọng, tính toán cụ thể, áp dụng kỹ thuật tiên tiến… Để phát triển bền vững nghề nuôi tôm ở Cần Giờ, cần tính toán cụ thể lượng chất thải từ các đầm tôm (chất thải trong nước thải và chất thải trong bùn thải) từ đó đề xuất những biện pháp đúng đắn, hiệu quả để quản lý chất thải đầm tôm
Làm được như vậy là đã giải quyết được vấn đề mấu chốt trong nghề nuôi tôm, góp phần hiệu quả tăng năng suất, tăng sản lượng và giá trị kinh tế mang lại từ công nghiệp nuôi tôm bên cạnh đó giảm tối đa các tác động tiêu cực của nghề nuôi tôm đến môi trường tự nhiên Đó chính là lý do đề tài “Tính toán tải lượng các chất ô nhiễm từ chất thải đầm tôm ở huyện Cần
Giờ - Tp.HCM và đề xuất giải pháp giảm thiểu ô nhiễm” được chọn.
Mục tiêu của đề tài
Tính toán tải lượng chất ô nhiễm của chất thải sinh ra từ các đầm tôm ở huyện Cần Giờ Đề xuất một số giải quản lý nguồn chất thải từ các đầm tôm.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Trên cơ sở các phương pháp tìm hiểu, phân tích thành phần, chất lượng nước các đầm nuôi tôm ở Cần Giờ trước khi thả tôm giống và sau khi thu hoạch tôm kết hợp với các phương pháp tính toán, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp chuyên gia…từ đó tính tải lượng chất ô nhiễm trong nước thải và bùn thải đầm tôm và đề xuất các biện pháp quản lý nguồn chất thải đó.
Lý thuyết và thực tiễn
Phương pháp thu thập tài liệu có liên quan, tổng hợp và phân tích dữ liệu
Khảo sát thực địa kết hợp điều tra
Phương pháp lấy mẫu, phân tích, đo đạc các chỉ tiêu môi trường theo tiêu chuẩn
Phương pháp tiếp cận hệ thống để phân tích, đánh giá các vấn đề liên quan đến hoạt động nuôi tôm và bảo vệ môi trường
Phương pháp chuyên gia: hợp tác và trao đổi thông tin, kinh nghiệm với các chuyên gia đa ngành ở trong và ngoài nước
Trên cơ sở kết quả thu được đề xuất phương hướng, biện pháp xử lý, tận dụng chất thải từ các đầm tôm.
Nội dung nghiên cứu
Thu thập các dữ liệu về điều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế - xã hội huyện Cần
Thu thập các dữ liệu về chất lượng nước của sông rạch huyện Cần Giờ
Thu thập các văn bản pháp lý và mô hình quản lý về hoạt động nuôi tôm huyện Cần
Khảo sát hiện trạng, đánh giá biến đổi chất lượng môi trường của ao nuôi tôm và sông rạch quanh khu vực nuôi:
Tiến hành khảo sát, thu mẫu và phân tích các chỉ tiêu môi trường trong ao nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp ở 4 xã có hoạt động nuôi tôm tập trung gồm Bình Khánh, Tam
Thôn Hiệp, An Thới Đông và Lý Nhơn
Tiến hành khảo sát, thu mẫu và phân tích các chỉ tiêu môi trường các kênh dẫn nước vào ao nuôi tôm được đề nghị ở trên
Tiến hành khảo sát, thu mẫu và phân tích các chỉ tiêu môi trường ngoài sông rạch khu vực gần kênh dẫn nước vào ao nuôi tôm
Số đợt và thời gian thu mẫu ở ao nuôi tôm: 3 đợt theo chu kỳ nuôi - Những ngày đầu của chu kỳ nuôi, tháng thứ ba của chu kỳ nuôi và tháng cuối của chu kỳ nuôi gần sát thời gian thu họach
Số đợt và thời gian thu mẫu ở kênh dẫn vào ao nuôi tôm và sông rạch gần kênh dẫn: 4 đợt theo chu kỳ nuôi: Những ngày đầu của chu kỳ nuôi, tháng thứ ba của chu kỳ nuôi, tháng cuối của chu kỳ nuôi gần sát thời gian thu hoạch và sau khi thu hoạch một vài ngày
Khảo sát các quy trình nuôi tôm ở Cần Giờ và vùng lân cận
Khảo sát các quy trình nuôi tôm ở Cần Giờ (kết hợp phiếu điều tra)
Khảo sát biện pháp xử lý môi trường ao nuôi tôm ở Cần Giờ và vùng lân cận (kết hợp phiếu điều tra)
Xác định nguyên nhân gây ô nhiễm (thức ăn, dịch thải, phân,…)
Tính toán tải lượng ô nhiễm do hoạt động nuôi tôm của sông rạch huyện Cần Giờ Đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm của sông rạch huyện Cần Giờ
Viết báo chuyên đề và báo cáo tổng hợp.
Dự kiến kết quả đạt được
Tập báo cáo bao gồm các thông tin và dữ liệu về đề tài
Xác định được lượng ô nhiễm hữu cơ sinh ra từ hoạt động nuôi tôm huyện cần Giờ Đề suất một số biện pháp quản lý hợp lý nguồn thải sinh ra từ hoạt động nuôi tôm.
ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN CẦN GIỜ 2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Cần Giờ là một trong 5 huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố 50 km theo đường chim bay và theo hướng Đông Nam Cần Giờ là huyện ven biển dài hơn 20 km theo hướng Tây Nam – Đông Bắc có các cửa sông lớn của các con sông: Lòng
Tàu, Cái Mép, Gò Gia, Thị Vải, Soài Rạp, Đồng Tranh (Hình 1.1)
Các địa phương giáp ranh bao gồm:
Phía Bắc giáp huyện Nhà Bè ( TPHCM) và huyện Nhơn Trạch (Đồng Nai), ranh giới hành chính là sông Nhà Bè và Lòng Tàu
Phía Nam giáp biển Đông
Phía Đông và Đông Bắc giáp huyện Long Thành (Đồng Nai) và huyện Tân Thành ( Bà Rịa
Vũng Tàu), ranh giới hành chính là sông Đồng Tranh, sông Gò Gia, sông Thị Vải, sông Cái
Phía Tây giáp huyện Gò Công Đông (Tiền Giang), hai huyện Cần Đước và Cần Giuộc (Long
An) và huyện Nhà Bè (TPHCM), ranh giới hành chính là sông Soài Rạp và sông Nhà Bè.
Điều kiện thủy văn và hải văn
KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN CẦN GIỜ
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
Cần Giờ là một trong 5 huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố 50 km theo đường chim bay và theo hướng Đông Nam Cần Giờ là huyện ven biển dài hơn 20 km theo hướng Tây Nam – Đông Bắc có các cửa sông lớn của các con sông: Lòng
Tàu, Cái Mép, Gò Gia, Thị Vải, Soài Rạp, Đồng Tranh (Hình 1.1)
Các địa phương giáp ranh bao gồm:
Phía Bắc giáp huyện Nhà Bè ( TPHCM) và huyện Nhơn Trạch (Đồng Nai), ranh giới hành chính là sông Nhà Bè và Lòng Tàu
Phía Nam giáp biển Đông
Phía Đông và Đông Bắc giáp huyện Long Thành (Đồng Nai) và huyện Tân Thành ( Bà Rịa
Vũng Tàu), ranh giới hành chính là sông Đồng Tranh, sông Gò Gia, sông Thị Vải, sông Cái
Phía Tây giáp huyện Gò Công Đông (Tiền Giang), hai huyện Cần Đước và Cần Giuộc (Long
An) và huyện Nhà Bè (TPHCM), ranh giới hành chính là sông Soài Rạp và sông Nhà Bè
Huyện Cần Giờ là vùng ven biển nằm gọn trong khu vực cửa sông của hệ thống sông Đồng
Nai với nền đất chưa ổn định, địa hình thấp trũng, mạng lưới sông rạch chằng chịt và chảy hướng tâm Nơi cao nhất là núi Giồng Chùa 10 m, nơi thấp nhất nằm dưới mực nước biển 0,5 m và hầu hết địa hình có độ cao chỉ từ 0 – 5 m Xét từng khu vực nhỏ thì địa hình cũng có nhiều biến đổi nhưng chênh lệch với nhau không lớn lắm ( từ khu vực núi Giồng Chùa) Có thể chia huyện Cần Giờ thành 6 dạng địa hình:
Bảng 2.1 : Các dạng địa hình ở vùng Cần Giờ
Dạng địa hình Cao độ
Dạng ngập theo chu kỳ nhiều năm
Dạng ngập theo chu kỳ năm
Dạng ngập theo chu kỳ tháng
Dạng ngập theo chu kỳ ngày
Nguồn: Phòng tổng hợp – UBND huyện Cần Giờ
Ngoài ra còn có dạng mặt nước, dạng này bao gồm mặt nước sông rạch (mặt nước nằm dưới 0 m so với mực nước biển) Một mặt do mật độ dòng chảy ở đây cao , mặt khác diễn biến của thủy triều rất phức tạp nên xác định chính xác diện tích mặt nước rất khó khăn
Diện tích đất nghiên cứu thổ nhưỡng là 51.090 ha, trong tổng diện tích 70.422 ha của Huyện
Nhóm đất phù s a trên nền phèn tiềm tàng, nhiềm mặn mùa khô 1480 ha
Nhóm đất mặn phèn 42945 ha
Nhóm đất c át biển 680 ha
Nhóm đất than bùn ngậ p mặ n thư ờ ng x uyên 210 ha
Hình 2.2 : Các nhóm đất huyện Cần Giờ Đất huyện Cần Giờ phát triển trên nền đầm mặn mới, chưa ổn định, gần 2/3 diện tích đã bị nhiễm mặn trên 4‰ hơn 8 tháng trong năm Nơi đấy thiếu nước ngọt để rửa mặn ém phèn cải tạo đất canh tác và là đất mới nên có độ phì tiềm tàng cao Độ mặn cao, lưu huỳnh trong đất cao, tầng đất nhiều nơi chưa ổn định Việc sử dụng đất cho nông nghiệp có bị hạn chế, nhưng thích hợp cho việc sử dụng tổng hợp lâm như, nghề muối và du lịch
2.1.3 Đặc điểm thủy văn và hải văn
Nguồn nước từ sông Sài Gòn và sông Đồng Nai đổ ra biển theo hai tuyến chính là sông Lòng
Tàu, Soài Rạp cùng các phụ lưu, chi lưu chằng chịt khắp bề mặt địa hình cùng một hệ thống kênh, rạch Trong đó sông Lòng Tàu là nhánh tiêu nước chính làm cho sông Lòng Tàu có lòng sông sâu, đây cũng là trục giao thông chính đưa các tàu có trọng tải lớn tới 20.000 tấn vào cảng Sài Gòn
Diện tích đất tự nhiên của huyện Cần Giờ chiếm trên 30% diện tích toàn TP Hồ Chí Minh nhưng trong đó trên 3% là diện tích trên mặt nước Các sông rạch trong huyện quanh co, uốn khúc Địa hình của huyện có dạng lòng chảo tạo thành các khu vực đầm lầy, các khu chứa nước sâu trong nội đồng Các sông rạch có những bãi bồi rộng lớn Khi nước lớn cả vùng rộng đều ngập nước mênh mông Chỉ có những dải cây rừng mới xác định được đâu là bờ, đâu là sông Có nhiều rạch ngầm Các rạch này chỉ hiện ta khi nước đã rút còn trơ trọi bãi sông Có nhiều sông rạch khi ròng sát không có nước
Toàn bộ diện tích huyện Cần Giờ nằm trong vùng cửa sông, nơi tranh chấp thường xuyên giữa biển và lục địa: nền lục địa được vây bọc và chia cắt bởi một mạng lưới sông ngòi chằng chịt Diện tích mặt nước rất cao, tương đương 22.836 ha, chiếm khoảng 32% diện tích toàn huyện Mật độ sông cao, từ 7 – 11 km/km 2 Tất cả các sông rạch đều chịa ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều và với biên độ khá cao, các kênh rạch thường đóng vai trò của những “kênh dẫn triều” đưa nước biển xâm nhập ngược đồng làm nhiễm mặn toàn bộ sông rạch và đất đai của huyện
Bảng 2.2: Các sông chính ở Cần Giờ
Tên sông Chiều dài (m) Chiều rộng (m) Chiều sâu (m)
Hệ thống sông huyện Cần Giờ nằm trong vùng có chế độ bán nhật triều không đều (hai lần nước lớn và hai lần nước ròng trong ngày) Biên độ triều khoảng 2,2 m khi triều kém và 4,2 m khi triều cường Theo quan sát, hai đỉnh triều thường bằng nhau, nhưng hai chân triều lệch nhau Theo âm lịch, vào các ngày 29, 30, 1, 2, 3 và các ngày 14, 15, 16, 17, 18 mỗi ngày có hai con nước lớn ngập toàn bộ rừng ngập mặn Cần Giờ khi triều cường Các ngày có thủy triều thấp nhất trong tháng là ngày 6, 7, 8, 9 và ngày 23, 24, 25, 26 âm lịch
Biên độ triều cực đại từ 4,0 – 4,2 m thuộc loại cao nhất Việt Nam, biên độ có xu hướng giảm dần từ phía Nam lên phía Bắc Thời gian có biên độ triều lớn nhất thường từ tháng 9 đến tháng Giêng với biên độ từ 3,6 – 4,1 m ở vùng phía Nam và từ 2,8 – 3,3 m ở vùng phía Bắc của huyện Cần Giờ Đỉnh triều cao nhất trong năm thường xuất hiện vào các tháng 10 và 11, thấp nhất vào tháng 4 và 5
2.1.4.3 Đặ c tr ư ng dòng ch ả y
Sông rạch phần lớn chảy theo hướng Đông Nam dạng uốn lượn, từ đó có ảnh hưởng làm thay đổi địa hình khu vực và thay đổi thực vật cảnh Hai sông Lòng Tàu và Soài Rạp là hai hệ thống sông chính chi phối toàn bộ chế độ thủy văn của hầu hết các kênh rạch khác
Hướng chảy: trong sông rạch dòng chảy gồm có dòng triều, dòng sông và dòng tổng hợp
Trong những lúc thay đổi pha triều, hướng chảy thay đổi theo mặt cắt ngang 2 mé sông đã lớn - hướng chảy vào, trong khi đó nước ở giữa dòng vẫn còn ròng - hướng chảy ra Hiện tượng này quan sát thấy rất rõ ở các sông có nguồn mạnh như: Nhà Bè, Soài Rạp, Lòng Tàu và Ngã Bảy
Theo phân vùng thủy văn, thủy lực vùng hạ lưu: Nam Nhà Bè và huyện Cần Giờ nằm trong vùng biển khống chế mạnh, nước lợ mặn, dòng chảy triều chiếm ưu thế Trong vùng nước chảy hai chiều
Hướng chảy còn thay đổi theo thủy trực và phụ thuộc vào thủy triều Khi nước mới lớn nước ở trên mặt chảy ra nhưng nước ở tầng giữa và đáy còn chảy vào và khi mới ròng thì ngược lại
Giữa các sông có sự chuyển nước từ sông này sang sông kia hình thành các dòng chảy từ Đông sang Tây theo tuyến Lòng Tàu – Mũi Nai qua sông Dần Xây và từ Tây sang Đông từ
Nhà Bè sang Lòng Tàu qua Tắc An Nghĩa, từ Nhà Bè qua Mũi Nai qua Vàm Sát
Hình thành giáp nước: giáp nước được hình thành trên các con sông rạch có xậm nhập thủy triều từ hai phía Ở khu vực huyện Cần Giờ có khoảng 20 vùng giáp nước Phạm vi giáp nước thay đổi theo thời gian Giáp nước không phải là một điểm mà là một vùng hay một đoạn sông rạch Nơi đây có sự giảm vận tốc dòng chảy, lắng đọng nhiều phù sa, mùn bã hữa cơ, mực nước sông – gây khó khăn cho giao thông thủy và tiêu thoát nước Vùng giáp nước là nơi tích đọng các chất dinh dưỡng cao hơn các khu vực khác, nếu hàm lượng chất dinh dưỡng cao có thể gây nên hiện tượng phú dưỡng hóa Ở các khu vực giáp nước, thủy sinh vật như thực vật phiêu sinh, động vật phiêu sinh, động vật không xương sống cỡ lớn ở đáy có mật độ cao hơn nơi khác Ở những khu vực có chất độc nhiều thì khu vực giáp nước cũng là nơi tích lũy các chất này làm cho nguồn nước bị ô nhiễm Các giáp nước này điển hình như giáp nước
Cổ Cò, Tắc Cà Đao, Tắc Ông Cò, Tắc Nha Phương…
Đặc điểm khí tượng và khí hậu
Cần Giờ nằm trong vùng nhiệt đới Bắc bán cầu, cận xích đạo, có khí hậu mang tính nhiệt đới gió mùa với 2 mùa mưa nắng rõ rệt:
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 – 10, gió hướng Tây Nam
Mùa nắng bắt đầu từ tháng 11 – 4 năm sau, gió hướng Đông Nam
Tuy nhiên, là huyện ven biển nên ở đây có pha trộn một phần khí hậu hải dương
Nằm trong vùng cận xích đạo và không phải vùng mưa nhiều nên Cần Giờ có thời gian chiếu sáng dài, số giờ nắng vào loại cao nhất Việt Nam Huyện Cần Giờ có tổng số giờ chiếu sáng trong năm từ 2.630 – 2.710 giờ Mùa khô có số giờ chiếu sáng đạt trên 240 giờ/tháng, cao nhất là tháng 3 với 276,3 giờ Số giờ chiếu sáng mùa mưa đạt trên 170 giờ/tháng, thấp nhất vào tháng 9 với 169 giờ
Với số giờ chiếu sáng như trên, lượng bức xạ ở huyện Cần Giờ rất phong phú, trung bình đạt trên 130 kcal/cm2/tháng Cường độ bức xạ thay đổi thay đổi giữa các tháng trong năm không đáng kể Lượng bức xạ cao nhất trong tháng 3 hay tháng 4 với 14,2 kcal/cm2/tháng, thấp nhất là tháng 9 với 10,2 kcal/cm 2 /tháng
Chế độ nhiệt độ cao và khá ổn định với nhiệt độ trung bình năm là 25,8 o C Nhiệt độ trung bình tháng từ 25,1 – 29 o C Nhiệt độ bình quân ngày giữa các tháng đều trên 20 o C Biên độ nhiệt trung bình ngày 5 – 7 o C và biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm đều không quá 4 o C
Trong ngày nhiệt độ thấp nhất xảy ra trong khoảng từ 1 – 7 giờ sáng và cao nhất từ lúc
13 – 14 giờ Tháng 3 đến tháng 5 là những tháng có khả năng xuất hiện nhiệt độ cao nhất trong năm (30,5 – 32,3oc) và tháng ít nóng nhất trong năm là tháng 1 (28,8 0C )
Huyện Cần Giờ chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, mỗi năm có 2 mùa mưa nắng rõ rệt Mùa khô tương ứng với hướng chính gió mùa Đông Nam và mùa mưa tương ứng với hướng gió chính gió mùa Tây Nam
Gió mùa Đông Nam xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với tốc độ trung bình 1 - 3m/s, gió hoạt động mạnh từ tháng 2 đến tháng 4 Gió Đông Nam càng thịnh hành thì mùa khô càng rõ rệt
Gió mùa Tây Nam xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 10 với tốc độ trung bình 5,7m/s, gió hoạt động mạnh nhất vào tháng 7 và tháng 8, có khi tốc độ lên đến 26m/s Gió Tây Nam quan hệ chặt chẽ với mùa mưa ở Cần Giờ
Ngoài ra, do vị trí đặc trưng của vùng ven biển, huyện Cần Giờ còn bị chi phối bởi gió địa phương phát sinh do sự khác biệt nhiệt độ giữa ngày và đêm của biển và của đất liền Từ 10 giờ sáng gió từ đất liền thổi ra biển, thời gian tương đối lặng gió từ 9 – 13 giờ trưa
Xét trên địa bàn TPHCM, huyện Cần Giờ có lượng mưa thấp nhất, không ổn định theo thời gian và phân bố không đều theo không gian
Lượng mưa năm: Địa hình Cần Giờ tương đối bằng phẳng nhưng lượng mưa phân bố không đều Lượng mưa tăng dần theo hướng Đông Nam – Tây Bắc từ 1.157mm ở xã Cần Thạnh đến
1.476mm tại xã Tam Thôn Hiệp và 1.744mm ở mũi Nhà Bè (xã Bình Khánh)
Lượng mưa tháng: trên 90% lượng mưa tập trung trong mùa mưa tứ tháng 5 đến tháng 10
Thời gian mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là một việc không mấy thuận lợi cho việc cải tao đất, hạn chế khả năng phát triển cây trồng và khả năng sử dụng đất đai cũng như nạn kham hiếm nước ngọt cho cuộc sống con người và gia súc, gia cầm Mưa tập trung vào các tháng 7,8 và 9, lượng mưa trung bình tháng 150mm/tháng
2.1.5.6 Độ ẩ m không khí Độ ẩm không khí ở huyện Cần Giờ nói chung cao hơn các nơi khác thuộc TP.HCM từ 4 –
8% Thời kỳ có độ ẩm cao trùng với mùa mưa, độ ẩm trung bình từ 79 – 83% và cao nhất vào tháng 9 (83%) Thời kỳ có đô ẩm thấp trùng với mùa khô, độ ẩm trung bình từ 74 – 77%, thấp nhất vào tháng 4 (74%)
Lượng bốc hơi ở huyện Cần Giớ tương đối thấp so với các nơi khác trên địa bàn thành phố
Lượng bốc hơi ngày trung bình 4mm, lượng bốc hơi ngày lớn nhất 10,3mm và nhỏ nhất là
0,9mm khá phổ biến trong các tháng mùa mưa Lượng bốc hơi tháng trung bình 120,4mm cao nhất là tháng 4 (173,2mm) và thấp nhất là tháng 9 (83,4mm).
Tài nguyên sinh vật
Các yếu tố tự nhiên đặc thù của vùng cửa sông đã đưa đến một hệ sinh thái đặc thù của rừng ngập mặn, với khả năng thích nghi đặc biệt của các loài thực vật về khả năng chịu đựng trong điều kiện biên độ muôi rộng (theo mùa, theo con triều) như đước, bần…khả năng chịu đựng các độc tố trong đất, khả năng thích nghi với môi trường yếm khí trong đất (do đất hay do ngập triều…)
Rừng ngập mặn Cần Giờ chiếm hơn một nữa diện tích toàn huyện xứng đáng là “lá phổi xanh” của Thành phố với hệ sinh thái quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, hạn chế xói mòn, làm màu mỡ đất đai, hạn chế ô nhiễm nước và không khí…
Với hơn 25.000 ha rừng trồng theo điều kiện đất đai, thủy triều, thảm thực vât tự nhiên của vùng duyên hải ngày nay được hình thành theo kiểu da beo, các loài thực vật mọc xen kẽ, phân bố rải rác với 34 loài, gồm có 14 loài tiêu biểu như: Ô rô, cóc kèn, mấm trắng, mấm đen, đước, đưng, sú gí, vẹt, dà, bần trắng, chà là, cọc…Trong đó cây đước đôi chiếm ưu thế Phân bố ở phía Nam thuộc huyện Cần Giờ, độ mặn trung bình 18%o trên vùng đất mặn thường xuyên, phèn tiềm tàng thuộc phía Nam cá xã Tam Thôn Hiệp, Lý Nhơn, Long Hòa, Cần
Thạnh, Thạnh An với các hội đoàn và các quần xã thực vật tiêu biểu như sau:
Hội đoàn Mấm (Avicennia spp) - Bần đắng (Sonneratia alba)
Hội đoàn Đước (Rhizophora apiculata) – Dà (Ceriops spp) - Xu (Xylocarpus granata)
Hội đoàn Giá (Excoecaria agalocha) – Chà là (Phoenix paludosa) – Ráng
Hội đoàn Ráng (acrostichum aueum) - Lức (Psluchia indica) – Sam biển (Seauvium portulasatrum) – Sơn cúc (Wedelia bifolia)
Thảm thực vật nước lợ phân bố từ phía Bắc huyện Cần Giờ thuộc các xã Bình Khánh, An
Thới Đông, một phần phía Bắc xã Tam Thôn Hiệp, Lý Nhơn đến khu vực Long Đại – Sông Đồng Nai, ngã ba Đèn Đỏ - sông Sài Gòn và rạch Cần Giuộc, ngã ba sông Chợ Đệm với các hội đoàn thực vật:
Hội đoàn Dừa nước (Nypa fruticans) - Bần chua (Soneratia caseolaris) – Ô rô (Acanthus ebracteatus) - Lác nước (Cyperua malaccensis)
Hội đoàn Giá (Excoecaria agallocha) – Chà là (Pheonix paludosa) – Ráng (Acrostichum aueum)
Hội đoàn Chà là (Phoenix paludosa) – Ráng (Acostichum aueum) - Lức (Pluchia indica) –
Theo thống kê Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ - TP.HCM (1999), quần xã động vật ở Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ bao gồm:
Khu hệ động vật không xương sống thủy sinh có trên 700 loài thuộc 44 họ, 19 bộ, 6 lớp, 5 ngành
Khu hệ cá có trên 137 loài thuộc 39 họ, 13 bộ
Khu hệ chim có khoảng 130 loài thuộc 47 họ, 17 bộ Trong đó có 19 loài chim nước và 19 loài không phải chim nước sống trong nhiều sinh cảnh khác nhau
Khu hệ động vật sống trên cạn bao gồm 9 loài lưỡng thê, 31 loài bò sát, 4 loài hữu nhũ
Trong đó, 11 loài bò sát có tên trong sách Đỏ Việt Nam như tắc kè (Gekko Molurus), kỳ đà nước (Varanus salvato), trăn đất (Python molorus), trăn gấm (Python reticulatus), rắn cạp nong (Bungarus fasciatus), rắn hổ mang (Naja naja), rắn hổ chúa (Ophiophagus hannah), vích (Chelonia mydas), cá sấu hoa cà (Crocodylus porosus)…
Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội
2.2.1.1 Ng ư nghi ệ p Đã nhiều năm nay, kinh tế biển đối với Cần Giờ đóng vai trò quan trọng nhất và động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vai trò đặt biệt quan trọng đối với kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản huyện Năm 2004, tổng sản lượng ngư nghiệp (kể cả đánh bắt và nuôi trồng) đạt 40.020 tấn, bằng 81% năm 2003 Tuy nhiên, giá trị sản lượng (GCĐ.94) đạt 673 tỷ đồng, tăng 31.5% so với năm trước nhờ cơ cấu sản phẩm thu hoạch có giá trị kinh tế cao trong thị trường, trong đó:
Khai thác thuỷ sản: 19.691 tấn, đạt 85% kế hoạch
Nuôi trồng thuỷ sản: 25.328 tấn, đạt 82.7% kế hoạch
Nghề đánh bắt xa bờ chưa phát triển do thiếu chính sách đầu tư dài hạn và ổn định của Nhà nước, Hầu hết các phương tiện của ngư dân vay vốn tính dụng ưu đãi trong những năm 1997-
1998 đang phải thanh lý bán đấu giá để trả nợ, các phương tiện còn lại hoạt động không thường xuyên, hiệu quả thấp do chi phí nhiên liệu và vật tư cao, ngư trường cạn kiệt, giá tiêu thụ sản phẩm thuỷ hải sản trên thị trường không ổn định
Tuy nhiên, nghề đánh bắt ven bờ được duy trì và phát triển theo hướng đa dạng, các công cụ khai thác phù hợp với ngư trường và mùa vụ, hiệu quả sản xuất ổn định, có tích luỹ để sửa chữa, nâng cấp phương tiện và tăng thu nhập
Nghề nuôi nhuyễn thể gần đây gặp khó khăn do giá giống cao và nguồn giống nuôi khan hiếm Diện tích nuôi nghêu sò đựơc mở rộng nhưng sản lượng tăng không lớn, thường dao động từ 18 – 20 ngàn tấn/ năm Tuy nhiên, nhờ thị trường tiêu thụ ổn định, giá nghêu sò thương phẩm tăng cao (gấp 4 – 5 lần so với những năm trước) nên hiệu quả nghề nuôi nghêu sò đạt khá
Nghề nuôi tôm phát triển mạnh, quy mô, diện tích, năng suất, sản lượng và giá trị sản xuất gia tăng đột biến trong 5 năm qua, đã đóng góp 1 phần đáng kể vào hiệu quả và sự tăng trưởng của ngành thuỷ sản của Thành phố Đồng thời đã tác động tích cực và thúc đẩy nâng cao chất lượng chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của Huyện, giải quyết được các vấn đề xã hội, tăng thu nhập cho nông dân, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, tạo ra sản lượng nông sản hàng hoá ổn định, có giá trị kinh tế cao cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu, mở ra nhiều ngành nghề mới ở nông thôn Đến cuối năm 2005, 4 xã phía Bắc có 4.640 ha đất nông nghiệp ( trồng lúa, cói, dùa lá,…) đã chuyển sang nuôi tôm, chiếm gần 80% diện tích đất nông nghiệp có khả năng chuyển đổi theo quy hoạch Các mô hình công nghiệp và bán công nghiệp đem lại hiệu quả cao về giá trị sản xuất cũng như về lợi nhuận từ 20 đến 80 lần trên một đơn vị diện tích so với trồng lúa, cói trước đây Lần đầu tiên (kể từ năm 2002) giá trị ngành nuôi thuỷ sản cao hơn nghề khai thác đánh bắt và đến năm 2005, cao hơn đến 6 lần
Cơ sở hạ tầng phục vụ vùng nuôi tôm được quan tâm đầu tư, có 12 trại sản xuất giống, 38 trại thuần dưỡng tôm sú được xây dựng và đưa vào hoạt động Trung tâm giao dịch thủy sản, Chợ thuỷ sản, Trại kiểm dịch giống thuỷ sản cũng đã hình thành, đầu tư 20 công trình thuỷ lợi với trên 40km kênh cấp, thoát nước kết hợp giao thông nội đồng và 22 hệ thống cống, tổng vốn đầu tư trên 12.2 tỷ đồng, phục vụ nuôi tôm trên diện tích gần 1.600 ha tại 7/19 tiểu vùng (đạt trên 50% diện tích nuôi tập trung) Đã chú trọng tăng cường, nâng cao chất lượng cán bộ kỹ thuật phục vụ công tác quản lý, khuyến nông, khuyến ngư tại cơ sở, thành lập hội nghề cá huyện và chi hội các xã, thị trấn, nhằm từng bước xã hội hoá công tác quản lý, tổ chức sản xuất theo hướng cộng đồng tự quản để phát triển sản xuất và ổn định và bền vững
Hoạt động tín dụng được chú trọng, đảm bảo cung cấp vốn vay cho nông dân phát triển sản xuất Chương trình 419 hỗ trợ lãi vay cho nông dân phát triển nghề nuôi thủy sản và làm muối luôn đạt dư nợ bình quân hàng năm trên 100 tỷ đồng, giúp nông dân giảm chi phí, tăng lợi nhuận từ sản xuất Ước tính đến cuối năm 2005, toàn Huyện có trên 50 trang trại được thành lập hoạt động trên lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản và sản xuất kinh doanh tổng hợp
Tại Cần Giờ có 3 loại hình sản xuất nông nghiệp chính gồm: trồng lúa, trồng cói & cây ăn trái và chăn nuôi
Giá trị sản xuất giảm bình quân 11.6% năm do thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp (từ trồng trọt, chăn nuôi sang nuôi trồng thuỷ sản) Do hoạt động nuôi tôm phát triển nhanh, diện tích canh tác lúa từ 3.142 ha năm 2000 giảm còn khoảng 600 ha năm
Rừng ngập mặn ở Cần Giờ là khu rừng ngập mặn lớn thứ 2 ở Việt Nam (sau rừng Cà Mau)
Từ khi Huyện nhận nhiệm vụ trực tiếp quản lý, bảo vệ rừng tốt, ngày 21 tháng 01 năm 2000 khu rừng này đã được MAB/UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới đầu tiên ở Việt Nam Đến này tài nguyên rừng ngập mặn được chăm sóc, bảo tồn và phát triển tốt, cơ bản đã chấm dứt dược tệ nạn phá rừng Số vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng giảm đáng kể nhờ thường xuyên tăng cường các biện pháp giáo dục, quản lý, bảo vệ và xử lý nghiêm minh Việc chăm lo đời sống cho hộ giữ rừng được chú trọng, tiền công giữ rừng được nâng lên bình quân 316.000 đồng/ha/năm 2003 (so với 185.000 đồng/ha/năm trước đây) đã giúp các hộ giữ rừng có thu nhập ổn định và vượt chuẩn nghèo của Thành phố từ năm
Hoàn thành việc mua lại1.130 ha rừng và đất rừng sản xuất của nông dân để bổ sung vào quỹ rừng phòng hộ, tiếp tục trồng rừng và chuyển hoá rừng nhằm nâng cao chất lượng rừng trồng
Hiện nay, diện tích rừng và đất rừng toàn Huyện đạt trên 37.635 ha, trong đó có 30.506 ha rừng được bảo vệ, chăm sóc, đáp ứng nhu cầu dự trữ quỹ đất lâm nghiệp cần thiết cho kế hoạch đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng của địa phương trong những năm sau
Cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu bảo tồn và phát triển rừng được đầu tư xây dựng Đã sửa chữa, nâng cấp Văn phòng Ban quản lý, xây mới 2 trạm dừng chân ven đường Rừng Sác phục vụ du khách, triển khai xây dựng trung tâm truyền thông giáo dục Môi
Trường và Sinh thái phục vụ cho công tác tuyên truyền, quảng bá và nghiên cứu, học tập, giáo dục về giá trị thiên nhiên của rừng ngập mặn ven biển
Sản lượng muối thu hoạch tăng bình quân trên 22%/năm, đạt trên 70.000 tấn vào niên vụ
2004 – 2005 Tuy nhiên, giá tiêu thụ muối trên thị trường thường xuyên ở mức thấp, bằng và dưới giá thành, nên hiệu quả sản xuất của nghề muối không cao, đời sống diêm dân chưa được cải thiện Hàng năm, lượng muối tồn kho vào cuối vụ luôn ở mức 30 – 40 ngàn tấn
Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005 và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 – 2010
HỘI 5 NĂM 2001- 2005 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ -
2.3.1 Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 –
2.3.1.1 Nh ữ ng chuy ể n bi ế n tích c ự c
Kết quả thực hiện chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi kết hợp với khuyến khích đầu tư khai thác tiềm năng, cảnh quan môi trường sinh thái rừng ngập mặn 5 năm qua đã nhanh chóng định hình cơ cấu kinh tế huyện là ngư – nông - lâm nghiệp và dịch vụ với 2 ngành kinh tế chủ lực là thủy sản và du lịch sinh thái
Kết cấu hạ tầng và xã hội được tập trung đầu tư theo hướng đồng bộ tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư phát triển kinh tế Đặc biệt sau 3 năm thực hiện chương trình đầu tư hạ tầng xã nghèo cùng với kết quả mang lại từ chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi làm cho bộ mặt nông nghiệp, nông thôn ở huyện đạt được những chuyển biến tích cực
Quản lý đô thị và phát triển nông thôn được chú trọng tăng cường, đi dần vào nề nếp, góp phần từng bước xây dựng đời sống văn minh, kỷ cương trật tự trong cộng đồng dân cư
Tăng cường kinh tế đi đôi với việc thường xuyên quan tâm chăm lo cho đời sống đã góp phần cải thiện và nâng cao mức sống người dân trước hết là các hộ nghèo
Sự nghiệp giáo dục – đào tạo, y tế văn hóa được quan tâm đúng mức tạo sự chuyển biến quan trọng trong việc nâng cao mặt bằng học vấn dân cư, chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường thể chất, góp phần đấu trang xóa dần các tiêu cực trong đời sống xã hội
Dân chủ cơ sở được phát huy, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được nâng lên, quốc phòng, an ninh, trật tự và an toàn xã hội được giữ vững ổn định
Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế mang lại nhịp độ tăng trưởng kinh tế khá cao so với thời kỳ 1996 – 2000 nhưng mức tăng mạnh chủ yếu ở khu vực II (xây dựng, công nghiệp), 2 khu vực còn lại với 2 ngành kinh tế mũi nhọn là thủy sản và dịch vụ du lịch còn chiếm tỉ trong thấp, phát triển chưa đồng đều, thiếu bền vững
Sản xuất chưa định hướng rõ mục tiêu phát triển, chính sách đầu tư dối với nghề đánh bắt gần bờ vẫn còn hạn chế, chưa thực sự khuyến khích ngư dân bảo tồn và phát triển có hiệu quả nghề khai thác, chế biến truyền thống ở địa phương trong khi nghề đánh bắt xa bờ chưa có điều kiện để phát triển Biện pháp củng cố phát triển lực lượng sản xuất trong ngành khai thác còn lúng túng, trình độ quản lý hành nghề của ngư dân chưa thích ứng với điều kiện khoa học kỹ thuật và công nghệ mới Đầu tư xây dựng có quy mô và tốc độ tăng trưởng nhanh so với 5 năm trước nhưng vẫn còn chậm so với yêu cầu và chưa đồng bộ theo quy hoạch, kế hoạch Mặt khác nhiều dự án, công trình chậm triển khai, kéo dài thời gian thi công hoàn thành để đưa vào sử dụng, đặc biệt một số công trình trọng điểm về hạ tầng kỹ thuật và xã hội theo kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 chưa hoàn thành làm lỡ mất nhiều cơ hội, cản trở quá trình thu hút đầu tư
Về xã hội - đời sống, thu nhập bình quân đầu người có chuyển biến đáng kể nhưng thực tế phân bổ không đồng đều ở các nhóm dân cư, lĩnh vực, ngành nghề Đời sống của một bộ phận không nhỏ người dân vẫn còn nhiều thiếu thốn, khó khăn, lao động chưa qua đào tạo còn chiếm số đông, chất lượng giáo dục đào tạo vẫn còn thấp so với các quận huyện của Thành phố
2.3.2 Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội huyện Cần Giờ giai đoạn
2.3.2.1 M ụ c tiêu t ổ ng quát trong 5 n ă m t ớ i là
Phát huy các thành quả kinh tế - xã hội đạt được và kết quả các công trình đã được đầu tư, khắc phục nhanh chóng những tồn tại yếu kém, tích cực nâng cao chất lượng chyển dịch cơ cấu kinh tế, tập trung phát triển thủy sản và dịch vụ sinh thái, bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng ngập mặn
Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tạo bước đột phá trong phát triển giao thông
Giải quyết đồng bộ các vấn đề xã hội, đảm bảo cải thiện và nâng cao rõ rệt mức sống cho người dân
Thực hiện công bằng, dân chủ, văn minh, tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
Kinh tế: Tập trung đầu tư để nâng cao chất lượng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng khai thác thế mạnh về thủy sản và dịch vụ du lịch sinh thái góp phần thúc đẩy và định hướng các ngành kinh tế khác cùng phát triển
Văn hóa – xã hội và chăm lo đời sống: Tập trung đúng mức cho ngành giáo dục, tiếp tục nâng cao các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, tạo việc làm và chăm lo cho đời sống nhân dân, tăng cường hoạt động thể dục thể thao, đảm bảo quốc phòng, an ninh, cải cách hành chính – xây dựng chính quyền
Thực hiện 7 chương trình trọng điểm về kinh tế - xã hội:
1 Chương trình phát triển thủy sản
2 Chương trình phát triển du lịch sinh thái
3 Chương trình bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát triển tài nguyên thiên nhiên
4 Chương trình đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
5 Chương trình nhà ở và bố trí lại dân cư
6 Chương trình giải quyết việc làm, giảm hộ nghèo, tăng hộ khá và giàu
7.Chương trình nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực
CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NUÔI TÔM HUYỆN CẦN GIỜ
Nhận xét chung
Nghề nuôi tôm sú ở huyện Cần Giờ được triển khai từ những năm 1998-1999 với các hình thức nuôi tôm lạc hậu, năng suất thấp Chương trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp
(từ trồng trọt, chăn nuôi sang nuôi trồng thủy sản, chủ yếu là nuôi tôm) đã tạo ra bộ mặt mới cho nghề nuôi tôm trong huyện Đến năm 2004, toàn huyện có 3.361 hộ trực tiếp thả nuôi trên diện tích 4.965 ha, đạt sản lượng 6200 tấn, giá trị sản lượng 385 tỷ đồng, năng suất bình quân đạt 1,24 tấn/ha
Bảng 3.1: Diện tích sản lượng nuôi tôm sú ở Cần Giờ Đối tượng nuôi( Tôm) 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Nguồn: Phòng kinh tế huyện Cần Giờ
Riêng tại 4 xã phía bắc ( Bình Khánh, Tam Thôn Hiệp, An Thới Đông, Lý Nhơn) thực hiện chuyển đổi từ trồng lúa, cói kém hiệu quả sang nuôi tôm với 3 mô hình: Nuôi tôm công nghiệp, bán công nghiệp và nuôi trên ruộng (lúa, muối) Vào năm 2004 diện tích ao nuôi ở 4 xã nói trên cho cả 3 loại hình nuôi là 3.187ha
Theo số lượng thống kê thủy sản của huyện Cần Giờ năm 2004, xã An Thới Đông có số hộ nuôi tôm cao nhất trong đó phần lớn nuôi theo phương thức quảng canh cải tiến trên ruộng lúa
( chiếm 63,5 % tổng diện tích nuôi tôm trong toàn xã), mô hình nuôi này cũng phát triển mạnh tại các xã Bình Khánh và Lý Nhơn Riêng với xã Tam Thôn Hiệp mô hình nuôi tôm công nghiệp chiếm tỉ lệ cao nhất ( 81,9%)
Bảng 3.2 : Sự phân bố diện tích nuôi tôm ở 4 xã phía Bắc Cần Giờ
Phương thức nuôi (hộ) Công nghiệp Bán công nghiệp
Bình Khánh 1.127 841 96 ( 10,6% tổng diện tích) 100(9,8%) 931(79,6%)
Nguồn: Thống kê thủy sản huyện Cần Giờ, 2004
Nghề nuôi tôm phát triển mạnh về quy mô, diện tích, năng suất, sản lượng và giá trị sản xuất đã đóng góp một phần đáng kể vào hiệu quả và tăng trưởng của ngành thủy sản của huyện cũng như của cả Thành phố
Hiện tại trên địa bàn có 11 trại sản xuất giống và 33 trại thuần dưỡng tôm sú giống, cung cấp khoảng 50% nhu cầu (lượng giống nuôi năm 2004 là 685 triệu con) Tuy nhiên trong năm
2004 chỉ có 7 trại sản xuất giống hoạt động và cung cấp trên 50 triệu giống tôm sú, giá bình quân là 30 đồng/con Phần lớn chất lượng giống tôm kém, không đạt yêu cầu để nuôi do bị nhiễm MBV Đầu năm 2001, huyện Cần Giờ đã tiến hành lập Dự án khả thi “Đầu tư xây dựng vùng nuôi tôm công nghiệp tại xã An Thới Đông và Lý Nhơn huyện Cần Giờ Thành phố Hồ Chí Minh” với các mục tiêu sau:
Tạo nguồn nguyên liệu tôm nuôi có chất lượng ổn định và tập trung cho chế biến xuất khẩu, tăng nguồn ngoại tệ và thu ngân sách của địa phương
Xây dựng thành điểm biểu diễn kỹ thuật, đào tạo bồi dưỡng và chuyển giao nghề nuôi tôm công nghiệp có trình độ cao cho ngư dân, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiên đại hóa thủy sản Cần Giờ
Tạo mô hình tiên tiến để phát triển nghề nuôi tôm công nghiệp kết hợp với bảo vệ môi trường sinh thái được lâu bền ở vùng ven biển Cần Giờ
Tận dụng mặt bằng nuôi tôm hiện có để đầu tư, nâng cấp và xây dựng thành khu nuôi tôm công nghiệp
Vị trí của Dự án thuộc xã An Thới Đông và Lý Nhơn với diện tích là 410 ha.
Các mô hình nuôi tôm
3.2.1 Nuôi tôm ruộng lúa (quảng canh cải tiến)
Diện tích ao nuôi trung bình: Tuỳ vào diện tích thửa ruộng để xây dựng ao nuôi tôm, thông thường từ 3.000m 2 – 8.000m 2
Ao nuôi trong ruộng lúa được đào theo bờ với kích thước ngang 3 - 4m và sâu 0,4 – 0,5m
Nếu ao có diện tích lớn cần đào thêm các rãnh với kích thước như trên, băng ngang mặt ruộng để tăng diện tích nơi cư trú tôm
Kỹ thuật đặt ống cấp và thoát nước:
Lắp đặt ống cấp nước: Cần chọn rạch sâu gần nơi nguồn nước sông có khả năng thoát nước theo thuỷ triều, đặt ống cách mặt nước đỉnh triều trung bình trong tháng khoảng
Lắp ống thoát nước: Cần tránh đặt cùng chung dòng nước cấp cho ao lắng và phải đặt ống sát đáy ao để xả hết lượng nước trong ao khi cần thiết Độ sâu mực nước: Trung bình cao hơn mặt đất ruộng khoảng 0,2 – 0,4m tuỳ thuộc vào mùa và giai đoạn nuôi, tôm càng lớn độ sâu nước càng cao để đủ lượng nước cho hoạt động cá thể nuôi và giảm khả năng chiếu sáng của mặt trời đến đáy ao
Mật độ thả: Khoảng 8 – 15 con/m 2
Kỹ thuật cho ăn: Sử dụng xuồng bơi, rải thức ăn trên mặt đất ruộng xung quanh rãnh
Những ngày đầu của chu kỳ nuôi: 3 lần/ngày
Tháng thứ nhất: 3 hoặc 4 lần/ngày, lượng thức ăn chiếm khoảng 10 -15% trọng lượng tôm
Tháng thứ hai: 4 hoặc 5 lần/ngày, lượng thức ăn chiếm khoảng 7 – 10% trọng lượng tôm
Tháng thứ ba: 4 hoặc 5 lần/ngày, lượng thức ăn chiếm khoảng 3 – 5% trọng lượng tôm
Tháng cuối của chu kỳ nuôi: 4 hoặc 5 lần/ngày, lượng thức ăn chiếm khoảng 2 – 3% trọng lượng tôm
Thay nước: Công việc thay nước rất cần thiết vào giai đoạn tháng thứ 3 và tháng thứ 4 của chu kỳ nuôi do tổng lượng chất thải tôm càng nhiều và dư lượng các chất xử lý cũng càng tăng nên chu kỳ thay nước cũng thay đổi theo hướng tôm càng lớn thì thời gian giữa hai lần thay nước càng ngắn Do nuôi mật độ cá thể thưa nên các chất thải và dư lượng các chất cũng ít hơn về khối lượng nên chu kỳ thay nước thường dài hơn nuôi tôm công nghiệp, khoảng thời gian giữa hai lần thay nước là 15 – 20 ngày Số lần thay nước trung bình từ 3 đến 4 lần trên chu kỳ nuôi và lượng nước cần thay trung bình từ 2000 – 3000 m 3 /ha/lần thay
Hoá chất sử dụng làm sạch môi trường nước nuôi và tiêu diệt dịch bệnh thường là một trong những hoá chất sau: Clorin (15 – 30 ppm), Formol (7 – 15 ppm), thuốc tím (7 – 10 ppm),
Vircon (0.6 – 1 ppm), BKC (1 – 15 ppm)… các loại hoá chất này được sử dụng để diệt khuẩn nước trước khi đưa tôm bột vào ao nuôi Trong quá trình nuôi, khi thay nước vào tháng 3 và tháng 4, cũng sử dụng hoá chất với nồng độ bằng 2/3 nồng độ sử dụng để diệt khuẩn trước khi đưa tôm bột vào ao nuôi
Số vụ nuôi trung bình: 1 vụ/năm ( 1 vụ lúa, 1 vụ tôm ) Ước tính lượng bùn thải sau mỗi đợt nuôi là không nhiều và không cần phải qua xử lý, chỉ cần cải tạo sơ bộ bằng vôi và phơi nắng là có thể tiếp tục sử dụng cho vụ sản xuất lúa tiếp theo
3.2.2 Nuôi tôm bán công nghiệp
Diện tích ao nuôi trung bình: 3.000 – 8.000m 2
Kỹ thuật đặt ống cấp và thoát nước:
Lắp đặt ống cấp nước: Cần chọn rạch sâu gần nơi nguồn nước sông có khả năng thoát nước theo thuỷ triều, đặt ống cách mặt nước đỉnh triều trung bình trong tháng khoảng 0.5m
Nước lấy vào ao lắng phải được xử lý diệt cá dữ và diệt khuẩn sau đó để lắng tạo màu khoảng 4 – 7 ngày mới được bơm vào ao nuôi
Lắp đặt ống thoát nước: Cần tránh đặt chung dòng nước cấp cho ao lắng và phải đặt ống sát đáy ao để xả thải hết lượng nước trong ao khi cần thiết Độ sâu mực nước: Trung bình từ 1,5 – 1,6m, tuỳ thuộc vào mùa và giai đoạn nuôi, tôm càng lớn độ sâu nước càng cao để đủ lượng nước cho hoạt động của cá thể nuôi và giảm khả năng chiếu sáng của mặt trời đến đáy ao
Mật độ thả: Từ 10 – 20 con/m 2
Kỹ thuật cho ăn xung quanh ao, cách bờ khoảng 2 – 3m theo đường lưu chuyển của nước khi sử dụng guồng đạp nước và cho ăn khi nước đứng yên Đối với những ao nuôi không sử dụng quạt thì đường cho tôm ăn cũng giống như ao có quạt nhưng cần thay đổi khoảng cách ra xa từ bờ theo phương pháp tháng thứ nhất cách bờ 2m, tháng thứ 2 cách bờ 3 - 4m, tháng thứ 3 cách bờ 2m
Lượng thức ăn trong từng giai đoạn của chu kỳ nuôi phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và môi trường nước trong ao nuôi, thường hệ số chuyển đổi thức ăn trong toàn bộ quá trình nuôi từ thả giống đến khi thu hoạch thường giao động khoảng từ 1 – 1,2 kg thức ăn/1kg tôm thành phẩm Chu kỳ cho ăn được tiến hành như sau:
Những ngày đầu của chu kỳ nuôi: 3lần/ngày
Tháng thứ nhất: 3 hoặc 4 lần/ngày, lượng thức ăn chiếm khoảng 15 -20% trọng lượng tôm
Tháng thứ hai: 4 hoặc 5 lần/ngày, lượng thức ăn chiếm khoảng 7 – 10% trọng lượng tôm
Tháng thứ ba: 4 hoặc 5 lần/ ngày, lượng thức ăn chiếm khoảng 3 – 5% trọng lượng tôm
Tháng cuối của chu kỳ nuôi: 4 hoặc 5 lần/ngày, lượng thức ăn chiếm khoảng 2 – 3% trọng lượng tôm
Thay nước: Công việc thay nước rất cần thiết vào giai đoạn tháng thứ 3 và tháng thứ 4 của chu kỳ nuôi do tổng lượng chất thải tôm càng nhiều và dư lượng các chất xử lý cũng càng tăng nên chu kỳ thay nước cũng thay đổi theo hướng tôm càng lớn thì thời gian giữa hai lần thay nước càng ngắn Do nuôi mật độ cá thể thưa nên các chất thải và dư lượng các chất cũng ít hơn về khối lượng nên chu kỳ thay nước thường dài hơn nuôi tôm công nghiệp, khoảng thời gian giữa hai lần thay nước là 15 – 20 ngày
Hoá chất sử dụng làm sạch môi trường nước nuôi và tiêu diệt dịch bệnh thường là một trong những hoá chất sau: Clorin (15 – 30 ppm), Formol (7 – 15 ppm), thuốc tím (7 – 10 ppm),
Vircon (0.6 – 1 ppm), BKC (1 – 15 ppm)… các loại hoá chất này được sử dụng để diệt khuẩn nước trước khi đưa tôm bột vào ao nuôi Trong quá trình nuôi, khi thay nước vào tháng 3 và tháng 4, cũng sử dụng hoá chất với nồng độ bằng 2/3 nồng độ sử dụng để diệt khuẩn trước khi đưa tôm bột vào ao nuôi
Diện tích ao nuôi trung bình: 2.000 – 4.000m 2
Kỹ thuật đặt ống cấp và thoát nước theo thuỷ triều, đặt ống cách mặt nước đỉnh triều trung bình trong tháng khoảng 0,5m
Nước lấy vào ao lắng phải được xử lý diệt các dữ và diệt khuẩn sau đó để lắng tạo màu khoảng 4 – 7 ngày mới được bơm vào ao nuôi
Lắp đặt ống thoát nước: Cần tránh đặt chung dòng nước cấp cho ao lắng và phải đặt ống sát đáy ao để xả thải hết lượng nước trong ao khi cần thiết Độ sâu mực nước: Trung bình từ 1,2 – 1,5 m, tuỳ thuộc vào mùa và giai đoạn nuôi, tôm càng lớn độ sâu nước càng cao để đủ lượng nước cho hoạt động của cá thể nuôi và giảm khả năng chiếu sáng của mặt trời đến đáy ao
Mật độ thả: Từ 25 – 35 con/m 2
Kỹ thuật cho ăn: Đường cho ăn xung quanh ao, cách bờ khoảng 2 – 3m theo đường lưu chuyển của nước khi sử dụng guồng đạp nước và cho ăn khi nước đứng yên Lượng thức ăn trong từng giai đoạn của chu kỳ nuôi phụ thuộc nhiều vào tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và môi trường nước trong ao nuôi thường hệ số chuyển đổi thức ăn trong toàn bộ quá trình nuôi từ thả giống đến khi thu hoạch thường giao động khoảng từ 1,4 – 1,5 kg thức ăn/1kg tôm thành phẩm Chu kỳ cho ăn được tiến hành như sau:
Những ngày đầu của chu kỳ nuôi: 3lần/ngày
Tháng thứ nhất: 3 hoặc 4 lần/ngày, lượng thức ăn chiếm khoảng 20 -30% trọng lượng tôm
Tháng thứ hai: 4 hoặc 5 lần/ngày, lượng thức ăn chiếm khoảng 10 – 12% trọng lượng tôm
Tháng thứ ba: 4 hoặc 5 lần/ ngày, lượng thức ăn chiếm khoảng 5 – 7% trọng lượng tôm
Tháng cuối của chu kỳ nuôi: 4 hoặc 5 lần/ngày, lượng thức ăn chiếm khoảng 2 – 3% trọng lượng tôm
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC SÔNG RẠCH HUYỆN CẦN GIỜ 4.1 Đặc điểm môi trường nước huyện Cần Giờ
Các nguồn ô nhiễm từ thượng lưu và từ xung quanh đưa vào Cần Giờ
4.1.1.1 Các ngu ồ n t ừ s ả n xu ấ t công nghi ệ p
Các nguồn thải từ hàng ngàn cơ sở công nghiệp ở các KCN và hàng chục ngàn cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngoài KCN trong lưu vưc sông Đồng Nai là nguồn gây ô nhiễm chủ yếu cho môi trường nước sông Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ, từ đó gây ô nhiễm cho vùng cửa sông Đồng Nai, huyện Cần Giờ và Vịnh Gành Rái
Trong số 47 KCN, KCX đang hoạt động, mới chỉ có 16 KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung, còn lại đều xả trực tiếp nước thải chưa qua xử lý vào nguồn nước Đây là nguồn gây ô nhiễm lớn đối với môi trường nói chung và hệ thống sông Đồng Nai nói riêng
Các tác nhân gây ô nhiễm chính do sản xuất công nghiệp gây ra là:
Các chất hữu cơ kém bền vững, dễ bị vi sinh vật phân hủy chủ yếu từ các nguồn thải từ các ngành sản xuất thực phẩm (bột ngọt, đường, mì ăn liền, thuỷ sản đông lạnh, thịt, sữa), nước giải khát (bia, nước ngọt, rượu), và nước thải đô thị Nguồn gây ô nhiễm loại này điển hình là công ty Vedan, Ajnômoto, bia Sài Gòn, đường Biên Hoà, đường Trị An, đường Long
An, sữa Vinamilk, thực phẩm Vissan…
Các chất hữu cơ khó bị phân huỷ như phẩm màu hữu cơ, phenol, lignin từ các ngành công nghiệp giấy, dệt, cơ khí, sơn, hoá dầu…nguồn ô nhiễm điển hình là các nhà máy giấy
Cogido, Tân Mai, các nhà máy nhuộm tại khu công nghiệp Nhơn Trạch, dệt Thắng Lợi, dệt
Thành Công, dệt Việt Thắng…
Dầu mỡ từ các nhà máy cơ khí, đóng tàu, luyện kim, trạm xăng dầu…
Các kim loại nặng: Chì, Crôm từ các nhà máy pin, ắcqui, luyện kim, thuộc da, xi mạ, điện tử…Nguồn ô nhiễm điểm hình là các công ty pin - ăcqui Đồng Nai, Cửu Long, các xí nghiệp Dày da Việt Nam, Các cơ sở thuộc da ở thành phố HCM…
Thượng nguồn của các con sông đổ về Cần Giờ có rất nhiều các KCN như KCN ở TPHCM,
KCN tỉnh Bình Dương, KCN tỉnh Đồng Nai và một số KCN Bà Rịa - Vũng Tàu Tính đến đầu năm 2005, trên toàn bộ lưu vực hệ thống sông Đồng Nai có 47 KCN, KCX đang hoạt động
Trong số các sông có ảnh hưởng trực tiếp đến Cần Giờ, chất lượng nước sông Thị Vải được ghi nhận có nhiều thay đổi nhất và mức độ ảnh hưởng cũng lớn nhất
Với hệ thống sông rạch chằng chịt trên địa bàn nên giao thông thuỷ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế Cần Giờ Ngoài ra Cần Giờ còn nằm trên tuyến đường thủy quốc tế quan trọng cho cả phía Nam là sông Lòng Tàu và sông Thị Vải thông qua cảng Sài Gòn và cụm cảng nước sâu Thị Vải – Cái Mép; tuyến giao thông thuỷ nội địa từ TPHCM – các tỉnh
Miền Tây qua sông Soài Rạp, từ cảng Thị Vải đi các Tỉnh Miền Tây qua sông Thị Vải - Gò Da
- Dần Xây - Vàm Sát Với hoạt động nhộn nhịp của hàng chục ngàn phương tiện qua lại mỗi năm nhưng các biện pháp quản lý chất thải và dịch vụ thu gom chất thải chưa được đặt ra một cách đồng bộ và có hiệu quả nên lòng sông được xem như nơi tiếp nhận toàn bộ chất thải của hoạt động này
Hơn nữa mật độ tàu thuyền di chuyển trên sông lớn, lòng sông có một số đoạn hẹp khúc khuỷu và các phương tiện trạng bị các dụng cụ an toàn, dụng cụ phòng ngừa sự cố và ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường còn kém nên nguy cơ xảy ra sự cố vẫn nghiêm trọng và đặc biệt có thể xảy ra ô nhiễm do thất thoát các chất độc hại bất cứ lúc nào từ các phương tiện vận chuyển phân bón, thuốc trừ sâu, hoá chất và dầu mỏ
Từ năm 1994 đến nay Cần Giờ đã phải chịu ảnh hưởng trực tiếp của các sự cố tràn dầu điển hình được trình bày trong bảng sau:
Bảng 4.1: Thống kê các sự cố tràn dầu có ảnh hưởng đến Cần Giờ trong các năm gần đây
Stt Tên chủ nguồn thải Thời gian Địa điểm Loại dầu
1 Humanity & Transco 1 08/05/1994 Tam Thôn Hiệp – Huyện Cần Giờ F.O
2 Nepture Aries 03/10/1994 Cảng Cát Lái - Huyện Thủ Đức D.O
3 Sokimex 12 16/08/1998 Bình Khánh - Huyện Cần Giờ D.O
4 Hiệp Hoà 2 16/04/1999 Tổng kho xăng dầu Nhà Bè D.O
5 Kasco Monrovia 21/01/2005 Cầu Cảng Cty xăng dầu
6 Hồ Tây 1 2005 Thiềng Liềng - Cần Giờ D.O
7 Petrolimex 08 02/12/2005 Tổng kho xăng dầu Nhà Bè D.O
Nguồn: Lê Mạnh Tân và Nguyễn Thị Thanh Mỹ, 2006 Ảnh hưởng của các sự cố tràn dầu này rất lớn Hơn nữa, Cần giờ là khu vực có nhiều nhánh sông nhỏ, rắc rối, chế độ thuỷ văn tại đây phức tạp hình thành điểm giáp nước là nơi dầu mỡ và các chất ô nhiễm có thể tích tụ
Dầu tràn làm ô nhiễm diện tích lớn mặt nước, đất ruộng, đầm đập của các xã Bình Khánh,
An Thới Đông, Tam Thới Hiệp, Lý Nhơn gây ra thiệt hại và ngừng trệ sản xuất của nhân dân thuộc ngành nghề đóng tàu, lưới, chài, nuôi tôm, nuôi vịt, trồng lúa Để khắc phục sự cố ô nhiễm môi trường do tràn dầu rất phức tạp, cần có nhiều thời gian, kinh phí để thực hiện Hơn nữa theo kinh nghiệm của một số đơn vị chuyên ngành, với điều kiện Việt Nam khối lượng dầu vớt được chỉ bằng 10% tổng khối lượng dầu tràn
4.1.1 3 Ô nhi ễ m do n ướ c th ả i sinh ho ạ t trên th ượ ng l ư u
Thượng lưu của các sông Cần Giờ có các trung tâm đô thị lớn như: TP.HCM, Bình Dương,
Biên Hoà với dân số đô thị tính đến 2004 là 8.399.338 người Phân bố các khu đô thị không đồng đều trên toàn bộ lưu vực, tập trung nhiều nhất trên lưu vực sông Sài Gòn với tổng cộng 27 khu đô thị và 5.75 triệu dân đô thị Các khu đô thị này hàng ngày thải vào môi trường một lượng lớn chất thải sinh hoạt chưa được xử lý Nguồn thải này thải ra từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, trường học… tuỳ theo từng vừng dân cư tình trạng ô nhiễm khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện sống, khối lượng nước sử dụng
Nhìn chung, nước thải sinh hoạt có hàm lượng hữu cơ dễ bị phân huỷ khá cao Các chất có thể là protein, dầu mỡ,chất béo, các vi trùng gây bệnh Tuy nhiên, cho đến nay tất cả các khu đô thị thuộc lưu vực sông Đồng Nai đều chưa cõ hệ thống xử lý nước thải tập trung Đây là một trong những nguồn thải cơ bản nhất gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường nước trên lưu vực
Theo khảo sát năm 2005, hệ thống đô thị ở thượng lưu Cần Giờ hàng ngày thải vào nguồn nước hệ thống sông Đồng Nai trung bình khoảng 992.356 m 3 nước thải sinh hoạt trong đó có khoảng 375 tấn TSS, 244 tấn BOD5, 465 tấn COD, 15 tấn Nitơ Amoni, 8 tấn phốtpho tổng và 46 tấn dầu mỡ thực vật