Tuy nhiên lượng phế liệu kim loại ở nước ta còn ít và còn kém chất lượng do vấn đề thu gom, phân loại chưa thực sự được đầu tư đúng mức, chủ yếu lao động thủ công, người lao động trong n
Trang 1T ỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG
Sinh viên th ực hiện: VÕ THỊ MỸ HẠNH
Trang 2T ỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG
( Đã chỉnh sửa bổ sung theo ý kiến đóng góp của Hội đồng bảo vệ luận văn, ngành Khoa học môi
trường ngày 09 tháng 01 năm 2013 )
Sinh viên th ực hiện: VÕ THỊ MỸ HẠNH
Xác nh ận của Giảng viên hướng dẫn
(Ký tên và ghi rõ h ọ tên)
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Đầu tiên em xin gửi lời tri ân đến cô TS Trương Thị Tố Oanh, trưởng bộ môn Cấp
thoát nước – Khoa Môi trường và Bảo hộ lao động Đại học Tôn Đức Thắng, người
đã hết lòng hướng dẫn em thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp này
Đồng thời, em cũng cảm ơn sâu sắc đến ba mẹ và anh đã tạo mọi điều kiện để em
hoàn thành nội dung này một cách tốt nhất
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô Khoa Môi trường và Bảo hộ lao động đã tận
tình dạy bảo và truyền đạt các kiến thức chuyên ngành và kiến thức học làm người cho em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đồng thời em cũng xin
gửi lời cảm ơn đến Th.S Phạm Minh Chi và Th.S Nguyễn Đăng Hải, lãnh đạo và các
anh chị chuyên viên của Qũy Tái chế chất thải thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường
TP HCM đã đọc, góp ý, cung cấp tài liệu và tạo điều kiện cho em thực hiện luận văn này
Bên cạnh sự nổ lực của bản thân, gia đình và sự dạy bảo tận tình của các thầy cô thì
sự hỗ trợ của các thành viên lớp 08MT1D nhằm giúp em hoàn thành luận văn này là
một điều rất trân trọng
Một lần nửa em xin gửi lời cảm ơn trân trọng Kính chúc mọi người dồi dào sức
khỏe, thành công trong sự nghiệp của mình!
Tp H ồ Chí Minh, ngày 09 tháng 01 năm 2013
Sinh viên th ực hiện
Võ Th ị Mỹ Hạnh
Trang 4M ỤC LỤC
M ỤC LỤC Trang i
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH M ỤC CÁC BẢNG BIỂU iv
DANH M ỤC CÁC HÌNH v
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1.6 Ý NGHĨA THỰC TIỄN 4
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ KIM LOẠI VÀ CHẤT THẢI KIM LOẠI 5
2.1 TỔNG QUAN VỀ KIM LOẠI 5
2.1.1 Lịch sử của kim loại 5
2.1.2 Đặc tính của kim loại 5
2.1.3 Những ứng dụng kim loại trong đời sống 5
2.2 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI KIM LOẠI 8
2.2.1 Khái niệm về chất thải kim loại 8
2.2.2 Tình hình nghiên cứu về chất thải kim loại trên thế giới 8
2.2.3 Tình hình nghiên cứu về chất thải kim loại ở Việt Nam 13
CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG PHÁT SINH VÀ XỬ LÝ CH ẤT THẢI KIM LOẠI TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM 15
3.1 HIỆN TRẠNG PHÁT SINH CHẤT THẢI KIM LOẠI TẠI TP HCM 15
3.1.1 Nguồn phát sinh chất thải kim loại 15
3.1.2 Tỷ lệ và thành phần chất thải kim loại trong chất thải rắn sinh hoạt 18
3.2 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI KIM LOẠI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 24
3.2.1 Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn ở TP HCM 24
3.2.1.1 Hiện trạng quản lý chất thải rắn 24
3.2.1.2 Hiện trạng xử lý chất thải rắn 27
Trang 53.2.2 Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải kim loại ở TP HCM 27
3.2.2.1 Hiện trạng quản lý chất thải kim loại 27
3.2.2.2 Hiện trạng xử lý chất thải kim loại 28
CHƯƠNG 4 HIỆN TRẠNG THU GOM VÀ PHÂN LOẠI PHẾ LIỆU KIM LO ẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 30
4.1 HIỆN TRẠNG NGUỒN PHẾ LIỆU KIM LOẠI 30
4.1.1 Nguồn phế liệu kim loại 30
4.1.2 Thị trường cung – cầu phế liệu kim loại 30
4.2 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THU GOM – PHÂN LOẠI PHẾ LIỆU KIM LOẠI TẠI TP HCM 31
4.3 SỐ LƯỢNG VÀ SỰ PHÂN BỐ CÁC CƠ SỞ THU MUA PHẾ LIỆU KIM LOẠI TẠI TP HCM 33
4.4 KẾT QUẢ KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG THU GOM – PHÂN LOẠI PHẾ LIỆU KIM LOẠI TẠI TP HCM 35
4.4.1 Hiện trạng hoạt động thu gom, phân loại của những người thu mua phế liệu dạo 35
4.4.2 Hiện trạng hoạt động của các cơ sở thu mua phế liệu kim loại 41
4.5 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG THU GOM – PHÂN LOẠI PHẾ LIỆU KIM LOẠI TẠI TP HCM 49
CHƯƠNG 5 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU GOM VÀ PHÂN LO ẠI CHẤT THẢI KIM LOẠI CHO TP HCM 54
5.1 MÔ HÌNH THU GOM VÀ PHÂN LOẠI CTKL GIAI ĐOẠN 1 57
5.1.1 Hệ thống thu gom phế liệu kim loại tại các điểm công cộng 57
5.1.2 Nâng cao nhận thức cho cộng đồng 60
5.1.3 Mô hình hệ thống thu gom phân loại phế liệu kim loại 64
5.2 MÔ HÌNH QUẢN LÝ VÀ THU GOM CTKL GIAI ĐOẠN 2 67
5.3 QUẢN LÝ VIỆC THỰC HIỆN THU GOM VÀ PHÂN LOẠI CTKL GIAI ĐOẠN 3 70
K ẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 71
Trang 6DANH M ỤC CÁC BẢNG BIỂU
B ảng Trang
3.1: Thành phần chất thải rắn phát sinh tại nguồn 19
3.2: Kết quả khảo sát khối lượng và thành phần rác thải tại khu vực 1 20
3.3: Kết quả khảo sát khối lượng và thành phần rác thải tại khu vực 2 21
3.4: Thành ph ần chất thải rắn tại trạm trung chuyển và bãi chôn lấp 23
3.5: Khối lượng và tỷ lệ của từng thành phần CTKL 24
4.1: Số lượng các cơ sở thu mua phế liệu trên địa bàn TP HCM 34
5.1: Những thuận lợi và khó khăn của các giải pháp 56
Trang 7DANH M ỤC CÁC HÌNH
Hình Trang
2.1: Nh ững vật dụng trong gia đình được làm từ Sắt và các hợp kim của sắt 6
2.2: Nh ững sản phẩm từ Nhôm 7
2.3: Các ứng dụng của Đồng 7
2.4: Ch ất thải nhôm từ phương tiện đi lại 9
2.5: Ch ất thải nhôm từ vật liệu xây dựng 9
2.6: Ch ất thải nhôm từ vỏ lon 10
2.7: Ch ất thải nhôm từ cáp dây điện 10
2.8: Ch ất thải nhôm từ thiết bị điện – điện tử 11
2.9: Ch ất thải sắt - thép từ phương tiện giao thông 11
2.10: Ch ất thải sắt - thép từ vật liệu xây dựng 12
2.11: Ch ất thải sắt - thép từ vật liệu đóng gói 12
2.12: Chất thải đồng 13
3.1: Biểu đồ thể hiện thói quen sử dụng sản phẩm kim loại tại hộ gia đình 17
3.2: Bi ểu đồ thể hiện thói quen thải bỏ kim loại của các hộ dận tại TP HCM 18
3.3: T ỷ lệ giữa các thành phần rác thải tại 10 hộ dân ở phường 4, Quận 8 20
3.4: T ỷ lệ giữa các thành phần rác thải tại 10 hộ dân ở Quận Bình Tân 21
3.5: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý chất thải rắn tại TP HCM 26
4.1: Sơ đồ hệ thống thu gom kim loại hiện nay tại TP HCM 32
4.2: Phân b ố các cơ sở thu mua phế liệu trên địa bàn TP HCM 34
4.3: Tỷ lệ giữa các phương tiện được người thu mua phế liệu dạo sử dụng 36
Trang 84.9: Bi ểu đồ thể hiện diện tích mặt bằng của các cơ sở thu mua phế liệu 42
4.10: Bi ểu đồ thể hiện các loại phế liệu được cơ sở thu mua 43
4.11: Bi ểu đồ thể hiện các nguồn cung cấp PLKL cho cơ sở thu mua 43
4.12: T ỷ lệ phần trăm giữa các loại PLKL được cơ sở thu mua 44
4.13: Bi ểu đồ thể hiện nơi mua lại những PLKL từ các cơ sở thu mua phế liệu 45
4.14: Biểu đồ thể hiện ý kiến về mức thu nhập của cơ sở thu mua phế liệu 46
4.15: Tỷ lệ giữa các cơ sở có và không có biện pháp bảo vệ môi trường 47
4.16: Biểu đồ thể hiện định hướng trong vòng 5 năm của các cơ sở thu mua 48
4.17: Hiện trạng của các hệ thống thu mua phế liệu hiện nay 51
5.1: Những thùng rác phân loại được đặt trong tiền sảnh khách sạn, sân bay 58
5.2: Một số kiểu hệ thống thùng chứa phân loại chất thải tại khu vực công cộng 59
5.3: Sơ đồ hệ thống phân loại và thu gom chất thải sinh hoạt 60
5.4: Một số hình minh họa cho chất thải kim loại ở hộ gia đình 61
5.5: Tờ hướng dẫn phân loại rác tại nguồn 63
5.6: Mô hình hệ thống thu gom, phân loại chất thải kim loại có sự điều phối 66
5.7: Mô hình vận hành hệ thống Ký quỹ hoàn chi 68
Trang 9DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTKL HGĐ : Chất thải kim loại hộ gia đình
HEPZA : Ban quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp
Trang 10CHƯƠNG 1
1.1 TÍNH C ẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Với nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển trong những năm gần đây, Thành phố
Hồ Chí Minh luôn dẫn đầu khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam Tuy nhiên sự tăng trưởng về kinh tế cao cũng nảy sinh những thách thức mới có thể ảnh hưởng không
tốt đến môi trường sống và mỹ quan đô thị
Thành phố Hồ Chí Minh với dân số hiện nay khoảng hơn 9 triệu người , tăng bình quân hàng năm khoảng 100.000 người, tỷ lệ tăng dân số bình quân 3,4%, trong đó tăng tự nhiên là 1,3% năm Dân số dự kiến đến năm 2020 là 10 triệu người Cùng
với dân số đông và tập trung nhiều khu công nghiệp – khu chế xuất, các cơ sở sản
xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp lớn vừa và nhỏ thì hiện nay TP HCM đang
phải chịu nhiều áp lực từ các vấn đề liên quan đến chất thải rắn đô thị với lượng phát sinh trung bình ước tính khoảng 7.500 – 8.000 tấn/ngày của Bộ Xây dựng Theo Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ, có khoảng 10 – 25% rác thải có
thể tái chế còn lại rác thải hữu cơ khác có thể sử dụng làm phân compost, chôn lấp
hoặc đốt Và hoạt động tái chế phế liệu, tái chế chất thải sinh hoạt đã đư ợc hình thành trên địa bàn TP HCM Xuất hiện song hành với hoạt động tái chế đó là hoạt động thu gom, phân loại với hàng ngàn điểm thu mua tất cả các loại phế liệu nằm
rải rác khắp nơi trên toàn thành phố
Ngành kim loại nhìn chung thời gian qua đã có s ự phát triển nhanh chóng nhưng
hầu như nguồn cung cấp nguyên liệu 70 - 80% là nhập từ nước ngoài Quá phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, chịu tác động mạnh của các biến động về giá nguyên liệu kim loại của thế giới, trong khi đó lượng chất thải kim loại thì khó phân
hủy trong môi trường tự nhiên Sớm nhận biết được yếu tố không bền vững này, theo đó mà nhiều cơ sở tái chế chất thải kim loại ra đời để giải quyết bài toán rác
thải kim loại và đem lại nhiều hiệu quả nhất định Tuy nhiên lượng phế liệu kim
loại ở nước ta còn ít và còn kém chất lượng do vấn đề thu gom, phân loại chưa thực
sự được đầu tư đúng mức, chủ yếu lao động thủ công, người lao động trong ngành chưa có kiến thức về phế liệu kim loại để có thể phân loại tốt hơn,…cho nên hiệu
suất về số lượng, chất lượng phế liệu cũng như chất lượng sản phẩm tái chế không cao
Trang 11Chính vì vậy “Khảo sát hiện trạng thu gom phế liệu kim loại tại TP HCM – Đề
đề tài nhằm tìm hiểu và đánh giá sát thực nhất về hiện trạng thu gom, phân loại phế
liệu kim loai tại TP HCM Trên cơ sở đó đề xuất ra một hệ thống thu gom mới hi
vọng sẽ hỗ trợ cho công tác quản lý về chất thải kim loại cũng như góp phần ổn định nguồn nguyên liệu đầu vào cho công tác tái chế
1.2 M ỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Khảo sát hiện trạng thu gom phế liệu kim loại tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
nhằm đánh giá hiện trạng thu gom và từ đó đưa ra đề xuất các biện pháp quản lý
hiệu quả hơn nhằm hỗ trợ cho công tác thu gom tại TP HCM đạt hiệu quả tốt hơn
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
• Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động thu mua và phân loại các chất thải kim loại tại TP HCM, bao gồm các đối tượng liên quan:
- Những người thu lượm ve chai và thu mua phế liệu dạo
- Các cơ sở (vựa) thu mua phế liệu trên địa bàn thành phố
• Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu trong phạm vi hệ thống thu mua, phân loại phế liệu kim loại tại TP HCM, bao gồm:
- Các đối tượng: Những người thu lượm ve chai, những người thu mua phế liệu
dạo và các cơ sở (vựa) thu mua phế liệu trên địa bàn TP HCM
- Thực hiện khảo sát từ ngày 18/06/2012 đến ngày 13/07/2012
1.4 N ỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, cần thực hiện những nội dung sau:
• Tổng quan tài liệu về hiện trạng phát sinh, thu gom và phân loại chất thải kim
loại trên địa bàn TP HCM
• Khảo sát, tìm hiểu thực tế
- Lập phiếu điều tra, khảo sát hiện trạng thu mua và phân loại phế thải kim loại
Trang 121.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp nghiên cứu sau được sử dụng trong quá trình nghiên cứu:
• Phương pháp tổng quan tài liệu, kế thừa các nghiên cứu có liên quan: Đây
là phương pháp thu thập, kế thừa thông tin bằng cách đọc và phân tích tài liệu tham khảo có liên quan… để phân tích và bổ sung vào đề tài nghiên cứu của
mình
• Phương pháp khảo sát thực địa: Là phương pháp thu thập thông tin thông qua
quan sát trực tiếp bằng mắt hoặc chụp hình… để ghi lại các hoạt động thực tế
của đối tượng được nghiên cứu và giúp cho người nghiên cứu có được cái nhìn khái quát hơn về đối tượng cần tìm hiểu Trong đề tài này, sử dụng phương pháp
khảo sát thực địa bằng cách quan sát và theo dõi các đ ối tượng trong hệ thống thu mua, phân loại phế liệu kim loại để biết được cách thức hoạt động hiện tại
cũng như giúp cho việc đề xuất ra mô hình hoạt động mang lại tính khả thi và
hiệu quả cao hơn
• Phương pháp thu thập số liệu, điều tra khảo sát, lấy ý kiến của người thu mua ph ế liệu dạo và cơ sở thu mua phế liệu từ phiếu thăm dò
• Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: Phương pháp này được thực hiện bằng
cách lấy những thông tin có được từ phiếu khảo sát, nhập dữ liệu sau đó thống
kê và xử lý bằng phần mềm Excel, kết quả sau khi xử lý được lựa chọn để đưa ra
những thông tin cần thiết theo yêu cầu của đề tài
• Phương pháp Mô hình phân tích SWOT: là công cụ phân tích, giúp tìm hiểu
vấn đề hoặc đưa ra quyết định trong việc tổ chức, quản lý, sử dụng trong việc xây dựng chiến lược cũng như đánh giá lại các chiến lược Trong đề tài này, phương pháp SWOT được áp dụng để phân tích ưu nhược điểm nội tại cũng như
những thuận lợi và khó khăn từ môi trường bên ngoài tác động đến hoạt động thu gom, từ đó, đưa ra các giải pháp, xây dựng chiến lược nâng cao hiệu quả thu mua và phân loại phế liệu kim loại trên địa bàn TP HCM
• Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: Là phương pháp đưa ra những
đánh giá, dự báo khách quan về hiện trạng và tương lai phát triển của một lĩnh
vực hẹp của khoa học kỹ thuật hoặc sản xuất dựa trên việc xử lý có hệ thống các đánh giá của các chuyên gia trong lĩnh v ực liên quan giúp cho đề tài có thêm
những định hướng nghiên cứu tốt hơn
Trang 131.6 Ý NGH ĨA THỰC TIỄN
Sau khi thực hiện, đề tài thu được những kết quả rất có ích như :
• Biết được những vấn đề còn tồn tại để đưa ra những cách hỗ trợ cho việc thu gom
• Có được các biện pháp quản lý tốt hơn cho công tác thu gom và xử lý chất thải kim loại một cách phù hợp và hiệu quả nhất
• Giúp đưa ra mô hình đi t ừ phân loại đến thu gom một cách hoàn chỉnh hơn,
giảm được lượng rác thải ra môi trường đồng thời giảm được nguồn nguyên liệu
bị hao phí
Trang 14CHƯƠNG 2
2.1 T ỔNG QUAN VỀ KIM LOẠI
2.1.1 L ịch sử của kim loại
Kim loại được con người tìm thấy từ trước Công nguyên Những kim loại được phát
hiện đầu tiên: vàng (6000TCN), đồng (4200TCN), bạc (4000TCN), chì (3500TCN), thiếc (1750TCN), sắt (1500TCN), thủy ngân (750TCN) [8]
Người Ai Cập, Hy Lạp và người La Mã đã tìm th ấy những kim loại trên đầu tiên, trong đó vàng, bạc, đồng tồn tại ở dạng nguyên chất trong tự nhiên còn sắt, thiếc, chì thì ở dạng hợp chất trong các khoáng sản và quặng Tuy nhiên, sự xuất hiện của các kim loại này không dồi dào và hai kim loại đầu tiên được sử dụng rộng rãi là vàng và đồng
Đến thế kỷ 13 và 14, bốn kim loại tiếp theo được tìm thấy asen, kẽm, antimony và bismuth Thế kỷ 16 con người tìm ra bạch kim Đến thế kỷ 18, 12 kim loại mới được tiếp tục tìm thấy Thế kỷ 19, tìm thấy 41 kim loại Ngày nay đã có 86 kim loại được biết đến cùng với nhiều ứng dụng thực tiễn vào đời sống xã hội cũng như trong các ngành công nghiệp
2.1.2 Đặc tính của kim loại
Những đặc tính ưu việt chung của hầu hết các kim loại:
- Có ánh kim, dễ kéo sợi nên dễ dàng được uốn thành những hình dạng khác nhau
- Dễ dát mỏng và là chất dẫn điện và nhiệt tốt
- Độ chịu lực tốt
- Có thể tái sử dụng tốt trong sản xuất
- Ngoài ra còn có thể tạo được nhiều loại hợp kim ứng dụng rộng rãi trong các
lĩnh vực
2.1.3 Nh ững ứng dụng kim loại trong đời sống
Nhờ những đặc tính ưu việt mà kim loại được sử dụng rất rộng rãi, có thể thấy được
sự có mặt của kim loại ngay trong cuộc sống hàng ngày với nhiều dạng sản phẩm khác nhau: tạo ra dây dẫn điện, các vỏ đồ hộp, đồ gia dụng trong gia đình, v ật liệu xây dựng…
Trang 15Ngày nay, chất lượng của sản phẩm kim loại cũng được nâng cao nhờ công nghệ
sản xuất hiện đại hơn, độ bền với tuổi thọ của kim loại được kéo dài, phạm vi ứng
dụng rộng rãi hơn.Vì thế, kim loại còn được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực công nghiệp ô tô, xe máy, điện tử, điện lạnh, các chi tiết phụ tùng thiết bị máy móc
Một trong những kim loại được sử dụng nhiều nhất là kim loại sắt chiếm khoảng 95% tổng khối lượng kim loại trên toàn thế giới Do kim loại sắt có giá thành thấp hơn các loại khác đồng thời cũng có các đặc tính tốt về tính chịu lực, độ dẻo, độ
cứng cho nên thành loại không thể thay thế được, đặc biệt trong các ứng dụng như
sản xuất xe ô tô, thân tàu thủy lớn, các bộ khung cho các công trình xây dựng, ngoài
ra kim loại sắt được sử dụng trong sản xuất thép đây là một loại hợp kim nổi tiếng
Sắt và các hợp kim của sắt không chỉ ứng dụng trong các ngành công nghiệp mà còn được ứng dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày của con người như vỏ lon
sữa, vỏ đồ hộp, những vật dụng trong gia đình khung cửa, bình xịt muỗi, bếp lò, lò
sấy, vỉ nướng, chảo… như hình 2.1
Kim loại đứng sau sắt cũng được sử dụng nhiều là nhôm, đóng vai trò quan tr ọng trong nền kinh tế của thế giới, mặc dù nhôm nguyên chất có sức chịu kéo thấp
Trang 165 tấn mỗi năm Nhôm còn được ứng dụng trong vật dụng gia đình như ch ậu rửa chén, chảo, nồi, vật dụng nội thất, khung cửa…
Bên cạnh những kim loại như sắt, nhôm thì đ ồng cũng là kim loại được sử dụng
rộng rãi do đ ặc tính truyền dẫn điện, dễ kéo sợi nên dễ dàng uốn thành những hình
dạng khác nhau, có thể tái sử dụng tốt và có thể tạo ra nhiều hợp kim nên trở thành
nền tảng cốt lõi của nhiều ngành công nghiệp, cơ sở hạ tầng, xe hơi, nhà cửa,… hình 2.3 thể hiện rất rõ
Theo nghiên cứu thực tế của khu vực Bắc Mỹ, trung bình một hộ gia đình sử dụng 200kg đồng trong đó 88,5kg là dây dẫn đồng; 68,5kg hệ thống ống nước, van vòi;
Trang 175,4kg thiết bị phần cứng; 4,5kg vật dụng, sản phẩm khác Đã đ ủ thấy đồng không
thể thay thế trong cuộc sống hiện đại của loài người Từ nhà cửa, xe cộ, các thiết bị
cầm tay…con người ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào thứ kim loại này [7]
2.2 T ỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI KIM LOẠI
2.2.1 Khái n ệm về chất thải kim loại
Chất thải kim loại là những sản phẩm đã được sử dụng và thải bỏ Hầu hết các chất
thải kim loại hiện nay đều có thể tái chế và thường được gọi là phế liệu kim loại
2.2.2 Tình hình nghiên c ứu về chất thải kim loại trên thế giới
Do giá trị cao của kim loại cho nên những CTKL như sắt thép, nhôm và đồng phế
liệu đã được tái chế, với đặc tính của kim loại thì phế liệu kim loại có thể được phục
hồi thành thứ nguyên, bởi vậy mà đã có nh ững nghiên cứu về dòng chất thải kim
loại có thể tái chế được:
• Nhôm ph ế liệu
Theo các hiệp hội ngành công nghiệp, hiện nay khoảng 540 triệu tấn nhôm sản
phẩm đang được sử dụng và đã có 8 tri ệu tấn phế liệu nhôm cũ t ạo ra trong năm
2004 trên toàn thế giới Phế liệu đã tăng gấp đôi kể từ năm 1990 và dự kiến sẽ tăng
tiếp tục chủ yếu là do sự gia tăng liên tục của hàm lượng nhôm trong các sản phẩm như xe trong 15 năm qua Trong Liên minh Châu Âu , tổng số tái chế phế liệu cũ là
2 triệu tấn trong năm 2004 và nhôm sử dụng trong tổng số lên tới gần 120 triệu tấn Các nguồn chính của phế liệu nhôm trong các ngành công nghiệp sau:
Ngành công nghi ệp : Các ngành công nghiệp ô tô đến nay là thị trường lớn nhất
cho các ứng dụng nhôm và lớn nhất nguồn phế liệu nhôm Khi một chiếc xe đã đi đến kết thúc của cuộc sống, nó được thu thập và tháo dỡ Số lượng phế liệu được thu thập phụ thuộc vào số lượng hàng năm của việc kết thúc cuộc sống xe và hàm lượng nhôm của họ Thời gian sống trung bình của xe là ước tính là 12-15 năm, tuy nhiên nhiều loại xe có thể được sử dụng lâu hơn, đặc biệt là trong các nước đang phát triển và trong trường hợp xuất khẩu ô tô từ châu Âu Hiện tại dự toán cho thấy
rằng lĩnh vực giao thông vận tải chiếm 44% của tổng số tái chế nhôm, 12% trong
ố đó được ước tính có nguồn gốc từ việc kết thúc cuộc sống xe Với mức tiêu thụ
Trang 18Hình 2.4: Ch ất thải nhôm từ phương tiện đi lại
Ngành xây d ựng: Trong một số nước, đặc biệt là những nước không có một ngành
công nghiệp ô tô, xây dựng và ngành xây dựng có lẽ là thị trường lớn nhất cho nhôm, tiêu thụ khoảng 9.000.000 tấn sản phẩm nhôm mỗi năm ở châu Âu và thế
giới tương ứng Tuy nhiên, nó có thể thay đổi đáng kể từ nước này sang nước khác tùy vào mức độ và loại hình của khu vực hoạt động Lưu trữ sản phẩm nhôm tổng
số trong lĩnh vực này là lớn nhất kể từ khi bắt đầu áp dụng công nghiệp nhôm, lên
tới gần 170 triệu tấn trên toàn thế giới Tuy nhiên, như đã đ ề cập, do tuổi thọ rất dài
của các tòa nhà, cho nên việc đóng góp của phế liệu nhôm của lĩnh vực này dùng để tái chế phế liệu chỉ có 7% trong năm 2004 [11]
Ngành v ật liệu đóng gói: Chất thải nhôm đóng gói là một lượng lớn của nguồn phế
liệu Hầu hết các sản phẩm được sử dụng trong bao bì thực phẩm thường chỉ sử
dụng trong vòng một năm Tiêu thụ những năm trước là hơn 5 tấn mỗi năm Lĩnh
vực này đóng góp gần 28% nhôm tái chế, đứng thứ hai sau lĩnh vực giao thông vận
tải Dù tỷ lệ tái chế nhôm trong lĩnh vực này là khoảng 36% chủ yếu là từ lon nước
giải khát Lon nước giải khát sử dụng tái chế hầu hết trong số tất cả các sản phẩm có
chứa nhôm của ngành, trong khi những thứ khác được thu hồi rất ít [11]
Trang 19Hình 2.6: Ch ất thải nhôm từ vỏ lon
Dây cáp và dây điện: Khi các tòa nhà và các cài đ ặt cũ cần được phá bỏ, gia hạn
hoặc nâng cấp thì phế liệu được tạo ra, tuy nhiên không có dữ liệu sẵn có cho phép
tổng dự toán Kể từ khi nhu cầu hiện nay chủ yếu là do cài đặt mới tại các nước đang phát triển, các phế liệu có sẵn từ khu vực này có thể sẽ tăng trong tương lai Theo Văn phòng quốc tế tái chế kí hiệu BIR, vào năm 1997 trên toàn thế giới, dây cáp tạo ra hơn một triệu tấn kim loại phế liệu, phần lớn trong số đó là đồng, mặc dù truyền dẫn cáp điện sử dụng nhôm là kim loại dẫn điện [11]
Thi ết bị điện và điện tử: Người ta ước tính rằng mỗi công dân EU hiện đang sản
xuất khoảng 17 - 20 kg chất thải từ thiết bị điện và điện tử mỗi năm , do đó dòng
chất thải tăng thêm lên đến 9 - 10 triệu tấn Tỷ lệ tăng trưởng dự kiến là từ 3 đến 5%
mỗi năm Điều này có nghĩa là trong 5 năm, ch ất thải từ thiết bị điện tử và điện tử
sẽ tạo ra khoảng 16 - 28% và trong 12 năm số lượng dự kiến sẽ tăng gấp đôi Tốc
độ tăng trưởng nhanh chóng này là do tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ,
Trang 20Hình 2.8: Ch ất thải nhôm từ thiết bị điện – điện tử
Phương tiện đi lại và vận chuyển: Dựa trên một nghiên cứu từ tập đoàn nghiên
cứu quốc tế vào năm 2004 Khoảng 8 triệu xe đang được tái chế hàng năm trong
EU Sử dụng vật liệu trung bình năm 2000 thành phần của hạm đội xe châu Âu, người ta ước tính rằng nếu tất cả các thép được tái chế, khoảng 6 tấn thép phế liệu được tạo ra từ xe hơi, tức là 6% lượng tiêu thụ thép phế liệu năm 2005 Từ tất cả
việc kết thúc cuộc sống xe, Veolia báo cáo rằng tổng số thu hồi kim loại màu là 11
tấn ở châu Âu, đại diện 11% của các nguồn phế liệu [11]
Ngành xây d ựng: Thép đã được sử dụng như dầm, các thanh cốt thép và các bộ
phận kết cấu khác trong việc xây dựng và xây dựng kể từ khi sản xuất công nghiệp
của nó Một lượng lớn thép phế liệu có thể được tạo ra trong quá trình phá hủy một tòa nhà tuy nhiên số tiền thay đổ i rất nhiều từ các loại xây dựng và vị trí địa lý của
Trang 21nó Hầu như tất cả các bộ phận thép được phục hồi với chất lượng tốt để tái sử dụng
trực tiếp và phần còn lại để tái chế trong xưởng luyện thép Một ước tính ở Anh cho
thấy khoảng 90.000 tấn sắt thép đã được thu hồi từ việc xây dựng và phá hủy lãng phí năm 1998 [11]
Trang thi ết bị và các thiết bị: Thể loại này bao gồm một loạt các sản phẩm từ các
thiết bị gia dụng như tủ lạnh, lò nướng, lò vi sóng, máy móc công nghiệp, nông nghiệp và cấu trúc, khai thác thiết bị, cần cẩu, xe trang trại và máy móc, thùng chứa, các công cụ,…
Ngành v ật liệu đóng gói: Thép đóng gói bao gồm các lon thực phẩm, lon nước
giải khát, bình xịt,…Theo Hiệp Hội các nhà sản xuất thép Châu Âu về bao bì, hơn 2,3 triệu tấn thép đóng gói được tái chế vào năm 2005, chiếm khoảng 2% của tổng
số phế liệu tái chế EU [11]
Hàn Quốc cũng đã nghiên cứu về chất thải kim loại vào năm 2006 cho thấy tổng số
Trang 22Ngoài các nghiên cứu về nhôm ,sắt và thép phế liệu thì phế liệu đồng cũng được nghiên cứu rất nhiều do tái chế phế liệu đồng không những đem lại lợi ích kinh tế,
tiết kiệm năng lượng, vừa bảo tồn quặng đồng và có thể bảo vệ môi trường Vì vậy
ở tại Châu Âu có tới 41% nhu cầu của họ được đáp ứng từ đồng tái chế Chất thải đồng được tái chế thường là các thiết bị điện – điện tử, dây cáp điện, vòi nước cũ, ống hệ thống cấp nước bằng đồng, mái nhà…[10]
Năm 2003, tổng kim loại phế liệu thương mại ( vừa nhập khẩu và xuất khẩu) của
EU là 59 triệu tấn, đó là thị trường lớn nhất khu vực chiếm gần 40% của toàn thế
giới [11] Và theo một nghiên cứu từ Hiệp hội tái chế kim loại của Anh thì trên toàn
thế giới, hơn 400 triệu tấn phế liệu kim loại được tái chế mỗi năm [9]
2.2.3 Tình hình nghiên c ứu về chất thải kim loại ở Việt Nam
Năm 2008 đã có nghiên cứu về việc thu phế liệu kim loại ở xã Hòa Hợp của tỉnh
Quảng Bình thì có phát hiện ra một khối lượng kim loại lớn từ những mảnh bom do
rất nguy hiểm nên Nhà nước ra hiệu lệnh cấm thu nhặt phế liệu kim loại từ vũ khí chiến tranh [12]
Chất thải kim loại có thể tái chế được ở Việt Nam cũng chủ yếu là sắt, hợp kim sắt (thép), nhôm và đồng là chủ yếu do lượng kim loại này được sử dụng nhiều trong các ngành nghề công nghiệp, trong chế tạo máy, sản xuất đồ gia dụng, vật liệu cho công trình xây dựng , thiết bị điện – điện tử… Ngày nay các sản phẩm từ kim loại
cũng được sử dụng trong các hộ gia đình rất nhiều nên lượng chất thải kim loại ngày càng nhiều hơn
Chất thải kim loại ở hộ gia đình thường sắt và nhôm là chủ yếu, lượng đồng thải ra
rất ít, vì sản phẩm dùng trong gia đình thường bằng sắt và nhôm
Nhìn chung hiện nay, những nghiên cứu về CTKL ở Việt Nam còn khá ít, chỉ dừng
lại ở các nghiên cứu chung chung về CTKL Vẫn chưa có một nghiên cứu cụ thể
và sâu sắc về CTKL có khả năng tái chế được, cũng như rất ít tài liệu đề cập về tình
Trang 23hình của CTKL Chính vì vậy các số liệu khảo sát về CTKL hiện nay được đề cập
một cách rất chung và không rõ ràng
Dựa vào những thực tế trên, việc tìm hiểu khảo sát và phân tích số liệu về CTKL đang là một nhu cấp cấp thiết Nếu vấn đề này được giải quyết càng nhanh thì việc nghiên cứu cũng như việc tìm ra phướng pháp xử lý CTKL sẽ càng sớm hoàn thiện,
để ứng dụng vào đời sống Chính vì vậy điều này sẽ mang một ý nghĩa và lợi ích rất
lớn cho xã hội Tạo tiền đề để phát triển cũng như tạo một diện mạo mới cho các ngành công nghiệp
Trang 24CHƯƠNG 3
3.1 HI ỆN TRẠNG PHÁT SINH CHẤT THẢI KIM LOẠI TẠI TP HCM
Theo quan điểm hiện nay, chất thải kim loại là nguyên liệu cần thiết để thay cho nguồn nguyên liệu thiên nhiên cũng như ngu ồn nguyên liệu được nhập khẩu từ các nước khác Ngành tái chế kim loại tại TP HCM cũng là một trong những ngành đóng vai trò quan tr ọng đối với việc xử lý chất thải rắn Trong khi nguồn rác thải liên tục được phát sinh hằng ngày, vừa gây khó khăn trong việc xử lý, đồng thời chi phí sử dụng cho hoạt động xử lý nguồn rác thải này thì rất tốn kém Do đó ngành tái
chế ra đời góp phần giảm bớt một lượng rác thải đáng kể mang lại nhiều lợi ích về môi trường cũng như đạt hiệu quả về kinh tế cao Ngành tái chế kim loại là một trong những ngành tái chế có nhiều tiềm năng trong hiện tại lẫn tương lai Như vậy nguồn phát sinh CTKL cũng giữ vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng lớn đến quá trình tái chế sau này
3.1.1 Ngu ồn phát sinh chất thải kim loại
Chất thải kim loại phát sinh chủ yếu từ các nguồn sau:
• Từ đời sống sinh hoạt
Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu của người dân ngày một tăng cao cùng với sự
đa dạng phong phú của các sản phẩm kim loại, kim loại ngày càng chiếm lĩnh thị trường bởi các đặc tính của chúng cho nên kim loại được sử dụng rất nhiều trong đời sống hằng ngày của con người Bao gồm những hộp bánh, hộp thực phẩm, lon nhôm,… thải ra từ các hộ gia đình, văn phòng, trường học, siêu thị, chợ, khu thương
mại, khu công cộng…Hiện nay, thói quen chủ yếu của người dân là thải bỏ chung
với rác sinh hoạt, gây nhiều khó khăn cho việc thu gom và tái chế
• Từ hoạt động sản xuất
Hằng ngày, TP HCM luôn phải gánh vác một lượng rất lớn các loại phế thải kim
loại Với gần 2000 nhà máy quy mô lớn , 9000 nhà máy sản xuất vừa và nhỏ nằm trong các khu công nghiệp và khu chế xuất nằm phân tán khắp thành phố thì lượng
chất thải kim loại sinh ra trong quá trình sản xuất và sinh hoạt sẽ rất lớn Loại phế
Trang 25liệu kim loại này tương đối sạch, đảm bảo chất lượng, ổn định và được thu gom triệt
để bởi các cơ sở thu mua phế liệu lớn hoặc cơ sở tái chế kim loại
• Từ các công trình xây dựng
Cùng với sự phát triển của đô thị thì lượng phế thải của xây dựng tại các đô thị cũng
gia tăng, lượng sắt thép được sử dụng trong xây dựng rất nhiều như thép được sử
dụng làm dầm, các thanh cốt thép và các bộ phận kết cấu khác trong việc xây dựng Tuy nhiên một tòa nhà lại có tuổi thọ rất dài nên lượng kim loại này góp phần vào
việc tái chế rất ít
Chính vì tính ứng dụng cao nên kim loại được sử dụng rất nhiều trong đời sống hàng ngày của con người Do đó nguồn phát sinh CTKL tại TP HCM được quan tâm chủ yếu là hộ gia đình Vì vậy Qũy Tái Chế chất thải TP HCM đã có cu ộc
khảo sát tại hộ gia đình về thói quen sử dụng và thải bỏ chất thải kim loại với 300
hộ gia đình được chọn lựa ngẫu nhiên, rãi rác trên địa bàn thành phố cho thấy:
• Thói quen sử dụng sản phẩm kim loại
Các sản phẩm làm bằng kim loại được sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày rất đa
dạng và phong phú, bao gồm các loại Sắt vỏ hộp (vỏ đồ hộp, vỏ hộp bánh…), Sắt –
trừ vỏ đồ hộp (máy móc, thiết bị…), các vỏ lon nhôm (lon nước giải khát…), các
sản phẩm không phải làm từ sắt như lõi dây đi ện, ngoài ra còn các sản phẩm khác Trong đó, được sử dụng thường xuyên nhất là vỏ đồ hộp và vỏ lon nhôm thể hiện như hình 3.1
Trang 26Hình 3.1: Bi ểu đồ thể hiện thói quen sử dụng sản phẩm kim loại tại hộ gia đình
(Nguồn: Qũy Tái Chế chất thải, 2012)
• Thói quen thải bỏ chất thải kim loại
Chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn tại TP HCM mới chỉ triển khai thí điểm tại một số khu vực quận huyện trên địa bàn TP HCM như Quận 1, 4, 5, 6… Tuy nhiên, một số hộ dân trên địa bàn Thành phố cũng phân riêng một số loại chất
thải có thể bán phế liệu Theo khảo sát của Quỹ Tái chế chất thải đối với các hộ dân
tại TP HCM, trong 300 hộ thì chiếm 35% hộ dân có thực hiện việc phân loại chất
thải tại nhà Chất thải kim loại được phân loại riêng để bán phế liệu thường là
những loại có giá trị như vỏ lon nhôm (82%), máy móc, thiết bị (81%), các sản
phẩm không làm từ sắt như lõi dây đi ện… chiếm (70%) Còn lại loại chất thải kim
loại từ vỏ đồ hộp do có giá thu mua thấp nên được thải bỏ cùng với chất thải rắn sinh hoạt chỉ nhiều hơn so với các loại trên được thể hiện như hình 3.2
Trang 27Hình 3.2: Bi ểu đồ thể hiện thói quen thải bỏ kim loại của các hộ dân tại TP HCM
(Ngu ồn: Qũy Tái Chế chất thải, 2012)
3.1.2 T ỷ lệ và thành phần chất thải kim loại trong chất thải rắn sinh hoạt
Các sản phẩm kim loại ngày càng đa dạng và phong phú trong đời sống xã hội Do
đó trong thành phần chất thải rắn sinh hoạt thì khối lượng phế liệu kim loại cũng chiếm một phần nhỏ
Theo kết quả phân tích thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại các hộ gia đình ở TP.HCM (2009) của Qũy Tái Chế chất thải cho thấy lượng kim loại trong rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình chiếm 0,2%, như vậy lượng kim loại không nhiều có thể tại
thời điểm đó các sản phẩm kim loại ít được sử dụng
Trong quá trình khảo sát và phân tích thành phần kim loại trong chất thải rắn sinh
hoạt thì phân loại làm 2 loại:
- Đầu tiên phân loại sơ cấp: (1)Giấy; (2) Các loại nhựa; (3) Chất hữu cơ dễ phân
hủy; (4) Sắt; (5) Các kim loại khác ngoài sắt; (6) Thủy tinh; (7) Vải; (8) Cao su;
Trang 28hộ gia đình cũng không nhiều chiếm 3,5%, nhưng so với năm 2009 thì tăng gấp 17,5 lần, do sản phẩm kim loại ngày càng đa dạng và cùng với những tính năng ưu
việt của kim loại nên sản phẩm kim loại ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn đồng
thời dân số tăng nhanh nên sản phẩm kim loại được tiêu thụ ngày càng nhiều Trong
đó, có thể thấy lượng kim loại chiếm tỷ lệ cao trong chất thải rắn siêu thị, trung tâm thương mại (8%)
(Ngu ồn: Qũy Tái Chế chất thải, 2012)
Và nguồn phát sinh chất thải kim loại tại TP HCM được quan tâm chủ yếu trong đề tài này là hộ gia đình
Trang 29Khu v ực 1: 10 hộ dân được lựa chọn ngẫu nhiên tại đường Phạm Thế Hiển,
Phường 4, Quận 8 (Thời gian khảo sát ngày 17/06/2012)
Trang 30Khu v ực 2: 10 hộ dân được lựa chọn ngẫu nhiên tại Quận Bình Tân (Thời gian
Qua kết quả khảo sát ở 2 khu vực thuộc quận 8 và quận Bình Tân, TP HCM, với hệ
số phát thải dao động trong khoảng từ 1,59 kg/hộ.ngày đến 1,86 kg/hộ.ngày, thấp hơn so với mức phát thải riêng của mỗi hộ dân tại thành phố Hồ Chí Minh thải ra trung bình 2,4 kg rác/ngày (nếu tính theo mức phát thải bình quân của người Việt Nam là 0,6 kg/người.ngày) Tuy nhiên, kết quả ở khu vực 1 cho thấy không có thành phần rác kim loại do đã đư ợc bán cho ve chai cho những ngày trước đó cho nên đều này cũng chưa đủ kết luận dân cư ở những khu vực này phát sinh ít rác thải
Trang 31của họ mà còn diễn ra ở rất nhiều nơi (tại cơ quan, nơi cộng cộng, …), nên lượng rác thải còn có thể phát sinh từ những nơi đó
Đối với chất thải kim loại hộ gia đình qua khảo sát ở 2 khu vực cho thấy, hệ số phát
thải dao động trong khoảng 0 đến 0,1 kg/hộ.ngày, điều này cho thấy CTKL HGĐ phát sinh không đều Ngoài ra, do thời gian khảo sát cho một hộ gia đình quá ngắn nên kết quả cũng giới hạn Tuy nhiên, kết quả này cũng đã phản ánh được sự tồn tại
của CTKL HGĐ trong rác sinh hoạt Ngoài ra, tỷ lệ CTKL HGĐ có trong rác sinh
hoạt cũng là một thông số quan trọng để tính toán và dự báo khối lượng CTKL HGĐ trong tương lai Theo kết quả của cuộc khảo sát
Tỷ lệ trung bình CTKL HGĐ trong rác sinh hoạt vào khoảng:
• A : Tỷ lệ CTKL HGĐ trong rác sinh hoạt (%)
• A1,A2
Hệ số phát thải trung bình của CTKL HGĐ:
: Lần lượt là tỷ lệ CTKL HGĐ trong rác sinh hoạt tại Khu vực 1,Khu vực 2
: Hệ số phát thải trung bình của CTKL HGĐ tại khu vực 1, khu vực 2 (kg/hộ.ngày)
Vậy hệ số phát thải trung bình CTKL của mỗi người trong hộ gia đình:
Trang 32Trong đó:
• M: Khối lượng CTKL HGĐ phát sinh trong 1 ngày (kg/ngày)
• Wi: Hệ số phát thải trung bình CTKL của mỗi người trong hộ gia đình (kg/người.ngày)
• N: Số dân của TP HCM (người)
Như vậy, nếu chỉ tính riêng từ các hộ gia đình, mỗi ngày ước tính có khoảng 117
tấn chất thải kim loại phát sinh và mỗi năm có khoảng 42.705 tấn Đây mới chỉ là
lượng phát sinh chất thải kim loại từ các hộ gia đình, ngoài ra còn phải tính đến chất
thải kim loại phát sinh từ các nguồn phi hộ dân (văn phòng, trư ờng học, chợ, trung tâm thương mại…) thì mới ra được tổng lượng chất thải kim loại phát sinh tại TP.HCM Trong đó, một phần CTKL được thu gom và tái chế, một phần đi đến bãi chôn lấp và phần còn lại phát tán trong môi trường
Thành phần kim loại có trong chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các nguồn khác nhau và khi đến trạm trung chuyển và bãi chôn lấp được tóm tắt ở bảng sau (Trình bày rõ trong phụ lục 1)
với tình trạng báo động các bãi chôn lấp không đầy 15 năm nữa sẽ quá tải Do đó
Trang 33lượng kim loại được thải ra cần được thu gom một cách triệt để hơn để tránh lãng phí và cũng giảm được thể tích chôn lấp mà quỹ đất của TP HCM ngày càng không
thể mở rộng được nữa
• Thành ph ần chất thải kim loại trong các mẫu rác tại TP HCM
Sau đợt khảo sát thành phần rác thải thì thành phần CTKL được phân loại một lần
nữa để biết được loại kim loại nào thường có trong rác thải và kết quả được thể hiện trong bảng sau:
Thành phần CTKL trong chất thải rắn sinh hoạt thu được sau khảo sát, đã chỉ ra cho
thấy lượng kim loại sắt rất nhiều do loại sản phẩm làm từ sắt rẻ nên được nhiều người sử dụng và thải bỏ chung với rác sinh hoạt gây ô nhiễm môi trường, đồng
thời lượng kim loại được thải bỏ không được thu gom triệt để nên còn sót lại trong
tại các trạm trung chuyển và bãi chôn lấp cũng làm ảnh hưởng một phần đến kinh
tế, gây lãng phí khi không tận dụng hết nguồn kim loại hiện có
3.2 HI ỆN TRẠNG QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI KIM LOẠI TẠI THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH
3.2.1 Hi ện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn ở TP HCM
ện trạng quản lý chất thải rắn
Trang 34Quản lý chất thải rắn (CTR) hiện nay bao gồm các hoạt động: Phòng ngừa và giảm thiểu phát sinh CTR; Phân loại tại nguồn; Thu gom, Vận chuyển; Tăng cường tái sử
dụng, tái chế; Xử lý và tiêu huỷ
Công tác quản l ý chất thải rắn ở TP HCM hiện nay còn chưa tiếp cậ n được với phương thức quản lý tổng hợp trên quy mô lớn, chưa áp dụng đồng bộ các giải pháp
giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế (3R) để giảm tỷ lệ chất thải phải chôn lấp
Hoạt động phân loại tại nguồn chưa được áp dụng rộng rãi, chỉ mới được thí điểm ở
một số quận huyện trên địa bàn TP HCM như Quận 1, 4, 5, 6, 10, huyện Bình Chánh, huyện Củ Chi nhưng chương trình này đã không mang lại hiệu quả tốt do ý
thức của người dân chưa cao và nguồn vốn này cũng tạm ngưng trợ cấp
Năng lực trang thiết bị thu gom, vận chuyển còn thiếu và yếu, dẫn tới tình trạng tại
một số đô thị đã thực hiện phân loại CTR tại nguồn nhưng khi thu gom, vận chuyển
lại đem đổ chung làm giảm hiệu quả của việc phân loại
Hoạt động giảm thiểu phát sinh CTR, một trong những giải pháp quan trọng và hiệu
quả nhất trong quản lý chất thải, còn chưa được chú trọng
Tái sử dụng và tái chế chất thải mới chỉ được thực hiện một cách phi chính thức, ở qui mô tiểu thủ công nghiệp, phát triển một cách tự phát, không đồng bộ, thiếu định hướng và chủ yếu là do khu vực tư nhân kiểm soát
Và tổ chức bộ máy nhà nước quản lý về chất thải rắn tại TP HCM hiện nay có hai phòng thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực môi trường Đó là phòng Quản lý Môi trường và phòng Quản lý Chất
thải rắn thực hiện công tác quản lý chính sách, quản lý điều hành, cũng như giải quyết các sự vụ, sự cố về môi trường thuộc lĩnh vực nước thải, khí thải, chất thải
rắn, chất thải nguy hại, tiếng ồn, bùn hầm cầu, nhà vệ sinh công cộng và nghĩa trang Trong đó, cơ quan tham mưu trực tiếp giúp Giám đốc Sở thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về chất thải rắn là Phòng Quản lý chất thải rắn
Trang 35Hình 3.5 : Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý chất thải rắn tại TP HCM
(Ngu ồn: Định hướng quy hoạch xử lý chất thải rắn tại TP HCM đến 2020 tầm nhìn 2030)
Bộ máy nhà nước về quản lý chất thải thiếu thống nhất từ cấp thành phố đến
quận/huyện, phường/xã: thực tế cho thấy, công tác quản lý chất thải rắn hiện nay
chủ yếu do Phòng Quản lý chất thải rắn thực hiện, đội ngũ cán b ộ Phòng Tài nguyên và Môi trường gần như chỉ tập trung thực hiện các thủ tục về môi trường là
chủ yếu (cấp giấy xác nhận cam kết bảo vệ môi trường, kiểm tra môi trường…)
Chức năng về quản lý chất thải rắn, đặc biệt là giám sát, kiểm tra hệ thống thu gom,
vận chuyển chất thải rắn ở địa phương chưa được quy định cụ thể trong chức năng nhiệm vụ của Phòng Tài nguyên và Môi trư ờng quận/huyện Hầu hết các phường,
xã trên địa bàn thành phố đều chưa có cán bộ chuyên trách môi trường, chỉ có cán
bộ địa chính
Trang 36phương tiện kỹ thuật hiện đại, công tác quản lý đô thị nói chung và quản lý môi trường (chất thải) nói riêng sẽ có hiệu quả rất thấp
3.2.1.2 Hi ện trạng xử lý chất thải rắn
Ở Việt Nam công nghệ xử lý CTR chủ yếu vẫn là chôn lấp ở các bãi lộ thiên không đạt tiêu chuẩn môi trường với 82/98 bãi chôn lấp trên toàn quốc không hợp vệ sinh Đến nay 100% lựợng rác thải sinh hoạt của TP HCM chỉ được xử lý bằng biện pháp chôn lấp ở hai bãi rác chính của thành phố là bãi Đa Phước (huyện Bình Chánh) và bãi Phước Hiệp (huyện Củ Chi) vừa tốn kém kinh phí thu gom, vận chuyển và xử lý (khoảng trên 600 tỷ đồng/năm) mà còn tốn một diện tích đất khá
lớn để chôn lấp
Tuy nhiên, việc chôn lấp đòi hỏi một diện tích rất lớn chưa kể đến diện tích đất sử
dụng làm đường giao thông nội bộ, trạm cân…Bên cạnh đó khi bãi chôn lấp đầy
phải tìm địa điểm mới để xây dựng các bãi chôn lấp mà quỹ đất của TP HCM không có khả năng mở rộng Nên TP HCM đang lựa chọn một phương án khác
hiệu quả hơn
Và để t hực hiện chiến lược phát triển bền vững, chiến lược Bảo vệ môi trường
quốc gia giai đoạn 2015, tầm nhìn 2020 đã xác định các đô thị trong đó có TP.HCM
phải tăng cường công tác tái sử dụng, tái chế
Theo Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ, có khoảng 10 – 25% rác thải có
thể tái chế Hoạt động thu gom và tái chế hiện nay chủ yếu do 740 cơ sở tái chế tư nhân có quy mô vừa và nhỏ đảm nhận, nhưng chất lượng sản phẩm tái chế kém
Phần lớn rác thải còn lại được chôn lấp hoặc đốt, chỉ có một phần nhỏ được xử lý
sản xuất điện năng và phân bón vi sinh
3.2.2 Hi ện trạng quản lý và xử lý chất thải kim loại ở TP HCM
3.2.2.1 Hi ện trạng quản lý chất thải kim loại
Nếu đánh giá sự quản lý nhà nư ớc đối với các thành phần trong hệ thống thu mua
và phân loại chất thải kim loại thông qua việc khai báo đăng ký giấy phép kinh doanh thì đa số các cơ sở không có nên nhà nước không thể kiểm soát được Hiện nay tình hình thu gom và quản lý rác kim loại tại TP HCM diễn ra tự phát , nhỏ lẻ nên thường không có giấy phép kinh doanh bởi vậy mà không có sự kiểm soát chặt
chẽ của bất cứ cơ quan chức năng nào Cho đến nay thành phần kinh tế Nhà nước
vẫn chưa tham gia, đầu tư vào lĩnh vực này, chưa có chính sách, quy chế khuyến khích và hỗ trợ thiết thực đối với hoạt động thu mua, phân loại phế liệu kim loại
Hầu hết các cơ sở thu mua vẫn mọc lên trong khu dân cư mà vẫn không có sự quản
Trang 37lý hữu hiệu của chính quyền địa phương hay các cơ quan quản lý môi trường Đồng
thời việc quản lý CTKL tại TP HCM là một công việc phức tạp và khó khăn do đặc thù đa dạng về nguồn phát sinh, cả về số lượng và chủng loại Mặc khác để quản lý thành công thì cần có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước về môi trường và các Ban, Ngành chuyên môn khác Tuy nhiên, trong thực tế sự phối hợp này khá lỏng
lẻo, quy định không cụ thể và hoạt động thiếu đồng bộ
Do hạn chế về nhân lực (cả về số lượng và chất lượng), thiếu giám sát, thanh tra và
kiểm tra hoạt động quản lý CTKL, đồng thời chưa mạnh tay xử lý các vi phạm của doanh nghiệp phát sinh và làm dịch vụ thu gom, xử lý, tái chế CTKL Còn thiếu các văn bản pháp lý làm cho công tác quản lý CTKL còn nhiều bất cập
3.2.2.2 Hi ện trạng xử lý chất thải kim loại
Hiện trạng xử lý chung của chất thải kim loại hiện nay tại TP HCM gồm hai phương pháp chủ yếu:
• Chôn lấp
Phương pháp chôn lấp chất thải là phương pháp phổ biến và đơn giản nhất hiện nay Phương pháp này không vệ sinh dễ gây ô nhiễm các nguồn nước ngầm và tốn diện tích đất bãi chứa rác Về thực chất, chôn lấp là phương pháp lưu giữ chất thải trong
một khu đất có phủ đất bên trên và hầu như tất cả các chất thải rắn sinh hoạt thông thường phát sinh tại TP HCM được xử lý bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh
tại hai bãi chôn lấp Đa Phước và Phước Hiệp Tuy nhiên trong trường hợp tại bãi
bằng cách chôn lấp không hiệu quả đối với các chất thải là kim loại Những CTKL đến bãi chôn lấp thường là những thành phần kim loại ít giá trị bị lẫn trong rác thải
• Tái chế
Phương pháp tái chế mang lại hiệu quả cao hơn so với phương pháp chôn lấp về
mặt kinh tế cũng như môi trường, tái chế kim loại không yêu cầu khai thác cũng không tái tạo quặng kim loại bằng cách khai thác mở rộng nên giảm được việc phá
ỡ đến nơi sống của động vật hoang dã, thoát nước và đất cũng như giảm việc gây ô
Trang 38nên quan trọng Tuy nhiên, cho đến nay, phế liệu kim loại tại TP HCM chủ yếu được tái chế bởi các cơ sở vừa và nhỏ, tập trung chủ yếu tại khu vực huyện Bình Chánh, Quận 9… Mặc khác, các cơ sở tái chế này hầu hết sử dụng công nghệ thô
sơ, lạc hậu Do đó, tuy tận dụng được chất thải kim loại để tái chế, nhưng quá trình tái chế này cũng đồng thời gây ra nhiều vấn đề môi trường về khí thải, nước thải và
chất lượng về kim loại tái chế vẫn chưa cao Nguyên nhân là do những yếu kém trong hoạt động thu gom và phân loại chất thải, không đảm bảo nguồn cung cả về
chất và lượng cho các hoạt động tái chế kim loại quy mô lớn
Trang 39CHƯƠNG 4
HIỆN TRẠNG THU GOM VÀ PHÂN LOẠI PHẾ LIỆU KIM LOẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
4.1.1 Nguồn phế liệu kim loại
Nguồn nguyên liệu kim loại đáp ứng cho ngành kim loại Việt Nam trước kia phải nhập khẩu 70 – 80% từ nước ngoài Ngày nay mặc dù có nhập khẩu nhưng đã giảm xuống thấp hơn, theo số liệu thống kê của hải quan trong 4 tháng đầu năm 2011, tổng lượng thép và nguyên liệu thép nhập khẩu vào Việt Nam đạt số lượng 2.631.811 tấn và theo thống kê của Hiệp hội thép Việt Nam, trong tháng 8 – 2012, lượng thép nhập lậu từ Trung Quốc vào Việt Nam đã lên tới 137.500 tấn …Cho nên Việt Nam đã bắt đầu tận dụng nguồn phế liệu kim loại để tái chế giảm bớt việc nhập khẩu nguyên liệu Tuy vậy, lượng phế liệu kim loại lại không đủ để cung cấp cho thị trường do một phần lượng PLKL thu gom lại không đủ tiêu chuẩn, hoạt động thu gom, phân loại chưa mang tính kỹ thuật, trong khi đó mạng lưới thu gom phế liệu trên toàn thành phố diễn ra tự phát manh mún, chưa có hệ thống thu gom hoàn chỉnh nên nguồn phế liệu kim loại luôn dao động Bên cạnh đó, có một số loại phế liệu kim loại chất lượng cao được xuất khẩu đi mà không qua cơ quan nhà nước và
cơ sở tái chế quá nhỏ công nghệ lạc hậu không thể tái chế một số loại do đó mà mất
đi một lượng phế liệu kim loại Vì vậy cần phải có một chiến lược phát triển nguyên
liệu để chủ động hơn về nguồn nguyên liệu
4.1.2 Thị trường cung – cầu phế liệu kim loại
Nhìn chung nguồn PLKL được thu gom và phân loại theo hệ thống hiện nay của thành phố có chất lượng không đồng đều Do nguồn phế liệu thu mua thường lẫn các tạp chất (vì được thu gom từ các rác sinh hoạt và hầu như không được phân loại tại nguồn) Điều này gây khó khăn cho hoạt động thu mua và phân loại cũng như tái chế
Trang 40Chính vì vậy cần có những giải pháp giúp phân loại phế liệu kim loại ngay từ đầu,
để ổn định giá thành, cải thiện về chất lượng cũng như tránh tình trạng tồn đọng cho
nguồn phế liệu kim loại trong nước
KIM LOẠI TẠI TP HCM
Mạng lưới thu mua phế liệu kim loại hiện nay đóng vai trò quan trọng trong thu gom và tái chế chất thải kim loại Đây là nguồn cung cấp phế liệu kim loại trong nước duy nhất cho các cơ sở tái chế kim loại vừa và nhỏ Mạng lưới thu mua phế liệu kim loại tại TP HCM nói riêng và các tỉnh nói chung gồm các mắc xích cơ bản sau:
Đối tượng này là thuộc thành phần lao động tự do, chiếm một phần rất quan trọng
trong công tác thu gom vì chính họ là những thành phần có thể đi sâu vào những con hẽm, ngõ cụt … nhặt nhạnh những thứ rơi vải của kim loại còn xót lại ở những thùng rác sinh hoạt của các hộ gia đình hay những bãi rác, bãi chôn lấp và bãi trung chuyển để đem đến cho cơ sở thu mua
Hầu hết nằm rải rác khắp thành phố và chưa có sự can thiệp chặt chẽ của các cơ quan chức năng, mang tính tự phát Họ thu mua một lượng chủ yếu rất lớn từ những người thu mua phế liệu dạo và tự đi thu gom ở các công ty, nhà máy sản xuất…sau
đó chuyển đến cho cơ sở tái chế, nên có thể xem cơ sở thu mua là một nơi trung
gian vừa là nơi thu gom vừa là nơi cung cấp
Giúp giảm lượng rác thải và tận dụng một lượng phế thải tốt hơn mà không phải lãng phí góp phần cho nền kinh tế phát triển
Các hoạt động của mạng lưới thu gom phế liệu kim loại tại TP HCM được thể hiện qua hình 4.1: