Để góp phần khai thác cũng như phát triển một tiềm năng du lịch này cho thành phố, đồng thời làm phong phú thêm các sản phẩm du lịch của thành phố, thu hút khách du lịch đến thành phố ng
Trang 1T ỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
Trang 2L ỜI CÁM ƠN
Ông cha ta từ xưa đã có câu: “Không thầy đố mày làm nên” Năm tháng qua đi nhưng lời dạy ấy vẫn giữ nguyên giá trị nhân văn của mình
Ngày nhận được thông báo có tên trong danh sách sinh viên làm khóa luận
tốt nghiệp Tôi không khỏi hồi hộp và sung sướng Chính ngôi trường Tôn Đức
Thắng đã cho tôi cơ h ội lớn lao này Tôi thành thật cám ơn Ban giám hiệu của trường Tôn Đức Thắng cũng như thầy cô trong khoa Khoa học xã hội và nhân văn đã cho tạo cho tôi cơ hội học tập tốt cùng những điều kiện vật chất thuận lợi giúp tôi có thể đạt được kết quả học tập như mong muốn Bên cạnh đó,tôi cũng
thật cảm kích vì Trư ờng cũng như khoa đã cho tôi cơ hội lớn lao được thể hiện mình, thể hiện những điều tôi đã được học trong 4 năm qua dưới mái trường Tôn Đức Thắng Tôi thành thật rất cảm ơn
Đứng trước cơ hội lớn lao đó tôi vẫn không khỏi lo lắng vì những bỡ ngỡ
của đứa sinh viên lần đầu làm khóa luận cũng như sợ bản thân mình không đ ủa
khả năng Tôi thật sự thấy lo lắng Nhưng rất may mắn, tôi có được sự hướng dẫn
giảng dạy nhiệt tình của cô Kim Trang Chính sự nhiệt tình và kiến thức cũng như tấm lòng ủa một người thầy một người cô của cô đã giúp tôi hoàn thành được khóa luận này “Em cảm ơn cô rất nhiều Dù rất bận rộn trong công việc, nhưng cô vẫn dành thời gian để gặp em hướng dẫn, chỉnh sửa từng câu từng chữ cho em Những dòng email nhận được của cô vào lúc đêm khuya, em cảm thấy
thật biết ơn cô, những dòng thông tin trao đ ổi với cô đã giúp em bi ết được một khóa luận tốt nghiệp là thế nào, và những điều em cần làm để hoàn thành nó Em cám ơn cô”
Bên cạnh đó tôi cũng muốn cám ơn các cô chú, anh chị ở Sở văn hóa, thể thao và du lịch thành phố Hồ Chí Minh cũng như các cô chú anh chị bên Chi cục phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh đã t ạo thuận lợi cho tôi có được
những thông tin số liệu cần thiết để đáp ứng yêu cầu của một khóa luận tốt nghiệp Tôi xin chân thành cám ơn
Trang 3Kiến thức là vô tận, với những gì thể hiện trong khóa luận tôi tin chắc sẽ còn nhiều thiếu sót Tôi hy vọng thầy cô sẽ bỏ qua cho những thiếu sót ấy Lần
cuối cùng với lòng biết ơn sâu sắc tôi xin gửi lời cám ơn lần nữa tới Ban Giám
hiệu trường Tôn Đức Thắng, cô Trần Đặng Kim Trang và đoàn thể cô chú anh
chị ở Sở Văn hóa thể thao và du lịch thành phố Hồ Chí Minh, Chi cục phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh
Tôi xin chân thành cám ơn!
Trang 4NH ẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
_ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _
, ngày , thán g , năm 2011
Xác nhận của GVHD
Trang 5NH ẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
_ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _
, ngày , thán g , năm 2011
Xác nhận của GVPB
Trang 6DANH M ỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1 : Bảng phân loại làng nghề ở thành phố theo đặc điểm sản phẩm
c ủa làng nghề [Nguồn: “Làng nghề thủ công truyền thống ở thành phố Hồ Chí
Minh” chủ biên Tôn Nữ Quỳnh Trân]
2 Bảng 2.2 :Quá trình hình thành các làng nghề tại thành phố Hồ Chí Minh
[Nguồn: “Làng nghề thủ công truyền thống ở thành phố Hồ Chí Minh” chủ biên Tôn Nữ Quỳnh Trân]
3 Bảng 2.3 : Mức độ phát triển của các làng nghề [Nguồn: “Làng nghề thủ công
truyền thống ở thành phố Hồ Chí Minh” chủ biên Tôn Nữ Quỳnh Trân]
4 Bảng 2.4 : Danh sách mười lò đúc đồng ở An Hội
5 Bảng 2.5 : Số hộ lao làm nghề thủ công nghiệp ở xã Thái Mỹ, Củ Chi
[Nguồn: Chi cục phát triển nông thôn thành phố Hồ Chí Minh]
[Nguồn: “Làng nghề thủ công truyền thống ở thành phố Hồ Chí Minh” chủ biên Tôn Nữ Quỳnh Trân]
6 Bảng 3.1: Lượt đến tham quan làng nghề của du khách [Nguồn: tác giả điều
tra]
7 Bảng 3.2: Nhu cầu du lịch làng nghề của du khách [Nguồn: tác giả điều tra]
Trang 7DANH M ỤC HÌNH ẢNH
1 Hình 1.1 : Cô gái Thái duyên dáng v ới ô ở làng Bô Sang
[Nguồn: www.yeudulich.vn]
2 Hình 1.2 : Các s ản phẩm đến từ làng nghề Oita Nhật Bản tại triển lãm quốc tế
“m ỗi làng mỗi sản phẩm” [Nguồn:
3 Hình 1.3 : Làng l ụa Vạn Phúc (Hà Nội)[ Nguồn:
www.chinhphu.vn]
www.cinet.vn]
4 Hình 1.4 : Làng nón Chuông (Thanh Oai – HN)[Nguồn: www.cinet.vn]
5 Hình 1.5 : Làng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh)[Nguồn: www.cinet.vn]
6 Hình 1.6 : Du khách tham gia vi ệc trồng rau tại làng rau Trà Quế [Nguồn:
11 Hình 2.4 : Các công đoạn sản xuất ra lư đồng [Nguồn: www.sggp.org.vn]
12 Hình 2.5 : Làng hoa Gò V ấp vào mùa [ Nguồn:Diễn đàn kiến thức]
13 Hình 2.6 : Làng hoa Gò V ấp nổi tiếng với loài hoa Vạn Thọ
Trang 817 Hình 2.10: M ột cơ sở làm mành trúc Tân Thông Hội
[Nguồn: www.vietnambamboocurtain.com]
18 Hình 2.11: Công đoạn trang trí mành trúc [Nguồn: www.dulich.tuoitre.vn]
19 Hình 2.12 : Mành trúc t ại Tân Thông Hội của có nhiều mẫu mã đa dạng
24 Hình 2.17 : Ngoài s ản phẩm tượng phật, bàn ghế cũng là thế mạnh ở Trung
M ỹ Tây [Nguồn: www.camnangdulich.com]
25 Hình 2.18 : Bánh tráng được sản xuất theo phương thức thủ công
[Nguồn: www.baovanhoa.vn]
26 Hình 2.19 : Bánh tráng được phơi khô [Nguồn: www.dulichvn.org.vn]
27 Hình 2.20 : Công đoạn tráng bánh [Nguồn: www.vnphoto.net]
Trang 9M ỤC LỤC
L ỜI CẢM ƠN
NH ẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
NH ẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
DANH M ỤC BẢNG BIỂU
DANH M ỤC HÌNH ẢNH
1 Lý do ch ọn đề tài 1
2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 M ục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 4
5.1 Phương pháp nghiên cứu 4
5.2 Nguồn tài liệu 4
6 B ố cục đề tài 4
Trang 10Ch ương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Du l ịch 5
1.2 S ản phẩm du lịch 6
1.2.1 Khái niệm 6
1.2.2 Phân loại sản phẩm du lịch 6
1.2.3 Các yếu tố của sản phẩm du lịch 6
1.2.4 1.3 Các lo ại hình du lịch 7
Đặc trưng của sản phẩm du lịch 6
1.3.1 1.3.2 Du lịch sinh thái 7
1.3.3 Du lịch văn hóa 7
1.3.4 Du lịch nghỉ dưỡng 7
1.3.5 Du lịch chữa bệnh 7
1.3.6 Du lịch Mice 7
1.4 Làng ngh ề và làng nghề truyền thống 8
Du lịch trải nghiệm 8
1.4.1 Khái niệm 8
1.4.2 Phân loại làng nghề 10
1.5 Đặc điểm chung của làng nghề 10
Trang 111.5.1 Tồn tại ở nông thôn - gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp 10
1.5.2 Công nghệ thô sơ, lạc hậu 10
1.5.3 Nguyên vật liệu thường là tại chỗ 11
1.5.4 Chủ yếu là lao động thủ công 11
1.5.5 Sản phẩm làng nghề mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc 11
1.5.6 Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang tính chất địa phương, tại chỗ và nhỏ hẹp 12
1.5.7 Hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu là ở quy mô nhỏ 12
1.6 Điều kiện hình thành và phát triển làng nghề 12
1.6.1 Con đường hình thành các làng nghề 12
1.6.2 Điều kiện hình thành và phát triển làng nghề 13
1.7 Vai trò c ủa làng nghề truyền thống đối với sự phát triển kinh tế, xã hội nói chung và ho ạt động du lịch nói riêng 13
1.7.1 Vai trò của làng nghề truyền thống đối với sự phát triển kinh tế, xã hội 13
1.7.2 Vai trò của làng nghề truyền thống đối với hoạt động du lịch 15
1.8 Kinh nghi ệm phát triển du lịch làng nghề ở thế giới và Việt Nam 16
1.8.1 Du lịch làng nghề trên thế giới 16
1.8.2 Một số địa phương ở Việt Nam 19
Tóm t ắt chương 1 25
Trang 12Ch ương 2 TỔNG QUAN LÀNG NGHỀ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1 T ổng quan về làng nghề TP.HCM 27
3.1.1 Lịch sử hình thành làng nghề ở TP.HCM 28
3.1.2 Thực trạng các làng nghề ở TP.HCM 30
3.2 Gi ới thiệu một số làng nghề có thể phát triển du lịch ở TP.HCM 33
3.2.1 Xóm lồng đèn, Phú Bình, quận 11 33
3.2.2 3.2.3 Làng hoa, quận Gò Vấp 40
Làng đúc lư đồng An Hội, quận Gò Vấp 36
3.2.4 Mười tám thôn vườn trầu, Bà Điểm, Hóc Môn 43
3.2.5 Làng nghề mành trúc, Tân Thông Hội, Củ Chi 46
3.2.6 Làng nghề đan lát, Thái Mỹ, Củ Chi 49
3.2.7 Làng chạm khắc gỗ Trung Mỹ Tây 52
3.2.8 Làng bánh tráng Phú Hòa Đông 54
Tóm t ắt chương 2 56
Ch ương 3 TH ỰC TRẠNG, TIỀM NĂNG DU LỊCH TẠI MỘT SỐ LÀNG NGH Ề Ở TP.HCM 3.1 Th ực trạng du lịch tại một số làng nghề ở thành phố Hồ Chí Minh 58
3.1.1 Thực trạng về cơ sở hạ tầng 58
3.1.2 Thực trạng về môi trường 59
3.1.3 Thực trạng về nguồn nhân lực phục vụ du lịch 60
Trang 133.1.5 Hoạt động quảng bá để thu hút khách du lịch tại các làng nghề truyền thống 61
3.1.6 Sản phẩm làng nghề còn đơn điệu, chưa hấp dẫn du khách 62
3.1.7 Những người làm du lịch ở thành phố còn thiếu kiến thức, chưa quan tâm đến tiềm năng du lịch tại các làng nghề 63
3.2 Ti ềm năng du lịch ở một số làng nghề tại TP.HCM 64
3.2.1 Nhiều làng nghề đã có từ lâu đời, gắn liền với sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá của thành phố 65
3.2.2 Nhiều làng nghề với tay nghề thợ thủ công đạt tới trình độ cao 65
3.3.3 Nhiều làng nghề vẫn còn bảo tồn những phương thức sản xuất thủ công truyền thống của người Việt 66
3.3.4 Nhiều làng nghề có không gian có thể phát triển du lịch sinh thái 68
3.3.5 Đến làng nghề, du khách có thể trải nghiệm bằng cách tham gia học và làm những sản phẩm thủ công truyền thống 68
3.3.6 Làng nghề giúp quảng bá hình ảnh hình ảnh văn hoá, đất nước, con người Việt Nam ra thế giới 68
3.3.7 Du khách nước ngoài có nhu cầu du lịch làng nghề 69
3.3 Gi ải pháp phát triển du lịch tại một số làng nghề tiêu biểu ở TP.HCM 70
3.3.1 Ảnh hưởng của hoạt động du lịch tới các làng nghề truyền thống 70
3.1.1.1 Tích cực 70
3.1.1.2 Tiêu cực 71
3.3.2 Giải pháp phát triển du lịch tại một số làng nghề tiêu biểu ở TP.HCM 73
3.3.2.1 Giải pháp xây dựng cơ sở hạ tầng 73
3.3.2.2 Giải pháp quảng bá, giới thiệu hình ảnh làng nghề truyền thống ở thành phố 74
3.3.2.3 Giải pháp nguồn nhân lực 79
Trang 143.3.2.5 Giải pháp bảo vệ môi trường 82
3.3.2.6 Giải pháp nhằm gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của làng nghề 83
3.3.2.7 Giải pháp giữ gìn trật tự trị an 84
Tóm t ắt chương 3 84
K ẾT LUẬN 87
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 91
PH Ụ LỤC 93
Trang 15PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Trong xu thế hội nhập và mở cửa, làng nghề truyền thống đang dần dần lấy lại
vị trí quan trọng của mình trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi dân tộc,
mỗi quốc gia Những làng nghề này như một hình ảnh đầy bản sắc, khẳng định nét riêng biệt, độc đáo không thể thay thế, là một cách giới thiệu sinh động về đất nước
và con người của mỗi vùng, miền, địa phương Phát triển du lịch làng nghề chính là
một hướng đi đúng đắn và phù hợp, được nhiều quốc gia ưu tiên trong chính sách
quảng bá và phát triển du lịch Những lợi ích to lớn của việc phát triển du lịch làng nghề không chỉ thể hiện ở những con số tăng trưởng lợi nhuận kinh tế, ở việc giải quyết nguồn lao động địa phương mà hơn thế nữa, còn là một cách thức gìn giữ và
bảo tồn những giá trị văn hóa của dân tộc Đó là những lợi ích lâu dài không thể tính được trong ngày một ngày hai
Trong những năm gần đây, loại hình du lịch làng nghề truyền thống ở Việt Nam ngày càng hấp dẫn du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài, bởi những giá
trị văn hóa lâu đời và cách sáng tạo sản phẩm thủ công đặc trưng ở mỗi vùng
Thành phồ Hồ Chí Minh (TP HCM) lâu nay được biết đến như là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, với một nền kinh tế phát triển, cơ sở vật chất hiện đại, nhịp
sống sôi động,… Khách du lịch đến TP HCM chủ yếu để tham quan những di tích
lịch sử, văn hóa đã làm nên nét đặc trưng cho thành phố này Tuy nhiên, rất ít du khách biết rằng ở thành phố vẫn còn những làng nghề truyền thống với những nét văn hóa độc đáo, hấp dẫn , đang tồn tại một cách lặng lẽ Đó là một tiềm năng du
lịch mà thành phố vẫn còn bỏ ngỏ hoặc có quan tâm nhưng chưa đúng mức
Để góp phần khai thác cũng như phát triển một tiềm năng du lịch này cho thành phố, đồng thời làm phong phú thêm các sản phẩm du lịch của thành phố, thu hút khách du lịch đến thành phố ngày càng đông, cũng như để nâng cao đời sống
của người dân ở các làng nghề truyền thống, tôi quyết định thực hiện đề tài: “Giải
pháp phát tri ển du lịch tại một số làng nghề ở thành phố Hồ Chí Minh”
Trang 162 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
Làng nghề thủ công truyền thống ở Việt Nam nói chung cũng như làng ngh ề
thủ công truyền thống ở TP.HCM nói riêng đã và đang là một vấn đề thu hút nhiều
sự quan tâm của Nhà nước, các ban, ngành chức năng, các hiệp hội làng nghề
Với những điểm độc đáo cùng tiềm năng to lớn, làng nghề truyền thống đã trở thành một đối tượng nghiên cứu quan trọng Có rất nhiều đề tài nghiên cứu, bài viết
về vấn đề “Làng nghề truyền thống” đã được thực hiện dưới nhiều góc độ cũng như quan điểm riêng của từng tác giả, đem lại một cái nhìn tổng quát, đa dạng và phong phú về làng nghề truyền thống ở Việt Nam nói chung và ở TP.HCM nói riêng
Công trình “Làng ngh ề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội” do Vũ Quốc Tuấn
chủ biên - NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1998, đã điểm qua một số nét về lịch sử phát triển làng nghề Tuy nhiên, nội dung chính của công trình là tập trung nghiên cứu
thực trạng cùng những định hướng, giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn và phát triển làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội trong thời gian tới
Công trình “Làng ngh ề thủ công truyền thống Việt Nam” của Bùi Văn
Vượng - NXB Văn hóa, 2001,
Công trình “Làng ngh ề thủ công truyền thống tại thành phố Hồ Chí Minh”
của Tôn Nữ Quỳnh Trân - NXB Trẻ 2002, giới thiệu một cách chi tiết những làng
nghề thủ công truyền thống ở TP.HCM từ địa bàn, lịch sử hình thành, con ngư ời
cũng như thao tác tại các làng nghề Hệ thống biểu đồ, bảng biểu trong công trình giúp người đọc có cái nhìn tổng quát tình hình phát triển cuả các làng nghề thủ công truyển thống ở TP.HCM
trình bày về nhiều khía cạnh: lịch sử, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, tư tưởng, kỹ thuật , đặc biệt là các bí quyết nghề và thủ pháp nghệ thuật của các nghệ nhân có đôi bàn tay vàng, lựa chọn giới thiệu 15 nhóm làng nghề
với các làng nghề tiêu biểu trên khắp các miền đất nước
Đề tài ”Thực trạng du lịch làng nghề tại thành phố Hồ Chí Minh” của sinh
viên trường Đại học Tôn Đức Thắng Nêu lên những mặt hạn chế cũng như những khó khăn trong việc phát triển du lịch làng nghề tại TP.HCM
Trang 17Đề tài nghiên cứu “Làng nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống tại thành phố
H ồ Chí Minh” của nhóm sinh viên trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng, nghiên cứu
thực trạng các làng nghề thủ công truyền thống ở TP.HCM nhằm đưa ra những giải pháp bảo tồn, gìn giữ các làng nghề ở thành phố Đề tài cũng đưa ra những đề xuất
nhằm phát triển bền vững các làng nghề hiện tại và trong tương lai để phục vụ công tác du lịch tại thành phố và các vùng lân cận
Bài viết “Để du lịch làng nghề cất cánh” của Hoàng Hùng đăng
trên www.baodulich.net, ngày 25/05/2011 Bài viết đưa ra thực trạng một số làng nghề ở TP.HCM và một số tỉnh lân cận Ngoài ra, bài viết nêu lên việc thờ ơ với du
lịch làng nghề của những công ty du lịch, cũng như những mặt hạn chế, những bất
lợi đang tồn tại trong việc phát triển làng nghề theo định hướng du lịch Đồng thời bài viết cũng đưa ra một vài giải pháp trong việc nâng cao khả năng làm du lịch của các làng nghề, cũng như đẩy mạnh công tác quảng bá du lịch làng nghề
Bài viết “Để làng nghề bén duyên với du lịch” của T Nguyễn đăng
trên www.baocantho.com.vn ngày 01/09/2010 Bài viết đưa ra thực trạng thiếu tính
kết hợp giữa những làng nghề truyền thống ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
với du lịch và đưa ra những giải pháp khắc phục tình trạng đó
3 M ục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cơ sở lý thuyết của du lịch, sản phẩm du lịch, làng nghề, xác định những yếu tố đặc trưng của làng nghề, điều kiện hình thành và phát triển làng nghề và vai trò của làng nghề truyền thống đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và hoạt động du lịch nói riêng
Tìm hiểu tiềm năng và thực trạng của du lịch làng nghề ở TP.HCM, qua đó đề
xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển du lịch làng nghề có tiềm năng ở TP.HCM
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài, tôi chọn một số làng nghề tiêu biểu ở TP.HCM
Những làng nghề này nằm trên địa bàn của nhiều quận, huyện, đã có lịch sử hình
Trang 18thành, duy trì và phát triển từ vài chục đến trên một trăm năm và có những sản
phẩm thiết thực, chất lượng tốt, được người tiêu dùng ưa chuộng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hoạt động của một số làng nghề tiêu biểu ở TP.HCM có khả
năng phát triển du lịch, các giải pháp đề xuất trong đề tài được thực hiện trong giai
đoạn từ 2010 - 2015
5 Ph ương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện bằng một số phương pháp sau :
5.2 Ngu ồn tư liệu
- Công trình nghiên cứu của một số tác giả (chủ yếu trong nước)
- Nguồn tư liệu của Sở văn hóa thể thao và du lịch, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP.HCM; Chi cục phát triển nông thôn TP.HCM
- Tư liệu điền dã do chính tác giả đề tài thực hiện
- Tài liệu được đăng tải trên Internet
6 B ố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài gồm 3 chương
- Chương 1 : Cơ sở lý luận
- Chương 2 : Tổng quan làng nghề tại TP.HCM
- Chương 3 : Thực trạng và tiềm năng du lịch làng nghề tại TP.HCM
- Chương 4 giải pháp phát triển du lịch tại một số làng nghề ở TP.HCM
Trang 19Ch ương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Du l ịch
Theo Liên hiệp Quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International of
Official Travel Oragnization : IUOTO): “Du l ịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không
ph ải để làm ăn, tức không phải để làm nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống…”
[1:16]
Tại hội nghị Liên hiệp quốc tế du lịch họp tại Roma - Italia (21/08 -
05/09/1963) các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch : “Du lịch là tổng hợp các
m ối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt buộc từ các hoạt động kinh tế
b ắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi h ọ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”[1:17]
Theo I.I Pirôgionic (1985), thì :“Du l ịch là một dạng hoạt động của dân cư trong th ời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị
v ề tự nhiên, kinh tế và văn hóa”.[1:17]
Theo nhà kinh tế học người Áo Josep Stander nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách : “Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm
th ời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà khôn g thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc”.[1:17]
Nhìn từ góc độ kinh tế : “Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ
ph ục vụ cho nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các
ho ạt động chữa bệnh, hội thảo, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác”.[1:17]
Trang 20Theo ngh ĩa hẹp : Sản phẩm du lịch là các hàng hóa và dịch vụ mà khách
mua l ẻ hoặc trọn gói, do các doanh nghiệp du lịch tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu
c ủa khách du lịch.
•
[1:40]
•
Theo quan điểm Marketting : "Sản phẩm du lịch là những hàng hóa và
d ịch vụ có thể thoả mãn nhu cầu của khách du lịch, mà các doanh nghiệp du lịch đưa ra chào bán trên thị trường, với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng c ủa khách du lịch".[1 : 41]
Theo Điều 4 chương I - Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 giải thích từ
ngữ :“Sản phẩm du lịch (tourist product) là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả
mãn nhu c ầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”.[27]
1.2.2 Phân lo ại sản phẩm du lịch
- S ản phẩm vật chất : là những sản phẩm hữu hình (hàng hóa) được các doanh
nghiệp du lịch cung cấp cho khách du lịch [1: 42]
- S ản phẩm phi vật chất: là những sản phẩm dịch vụ tồn tại dưới dạng vô hình
thể hiện ở một sự trải nghiệm, một giá trị tinh thần hoặc một sự hài lòng hay không hài lòng
Trang 21•
- Do nhiều doanh nghiệp cung ứng khác nhau tạo ra sản phẩm du lịch tổng
thể [1: 50]
S ản phẩm du lịch chủ yếu tồn tại ở dạng vô hình
Vì sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất nên khách du lịch chỉ
cảm nhận sản phẩm chứ không nhìn thấy, không cầm nắm được các dịch vụ đó như các hàng hóa khác, không mang được chúng về nhà sau khi mua
Không vận chuyển sản phẩm dịch vụ trong không gian như các hàng hóa thông thường khác
•
[1: 51]
-
Quá trình s ản xuất và tiêu dùng sản phẩm du lịch diễn ra đồng thời
Sản phẩm thông thường : quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra tách
1.3.1 Du l ịch sinh thái : là loại hình du lịch dựa vào hệ sinh thái tự nhiên, hệ
sinh thái nhân văn gắn với bản sắc văn hóa địa phương nhằm giúp cho du khách có điều kiện hiểu biết, gần gũi hơn với thiên nhiên, đồng thời góp phần bảo tồn và phát triển môi trường, phát triển kinh tế xã hội của địa phương
1.3.2 Du l ịch văn hóa : là loại hình du lịch dựa vào các giá trị văn hóa truyền
thống và hiện đại của địa phương như lịch sử, ngôn ngữ, danh lam thắng cảnh, lễ
hội, các hoạt động văn hóa nghệ thuật, Qua đó, nâng cao ý thức bảo tồn, phát huy
và quảng bá những giá trị văn hóa
1.3.3 Du l ịch nghỉ dưỡng : là loại hình du lịch giúp phục hồi sức khoẻ, thể lực
và tinh thần cho du khách
1.3.4 Du l ịch chữa bệnh : là loại hình du lịch gắn liền với việc chữa bệnh và
nghỉ ngơi cho du khách
1.3.5 Du l ịch Mice : là loại hình du lịch kết hợp với các sự kiện, hội nghị, hội
thảo, triển lãm, khen thưởng của các công ty, tổ chức
Trang 221.4 Làng ngh ề và làng nghề truyền thống
1.3.6 Du l ịch trải nghiệm : là loại hình du lịch giúp cho du khách hòa mình
vào cuộc sống và công việc của người dân địa phương như nấu ăn, làm vườn, làm hàng thủ công mỹ nghệ, đánh bắt cá, Qua đó, giúp cho du khách có cơ hội am hiểu
và đồng cảm hơn với đời sống văn hóa, tập tục của người dân vùng đất đó; đồng
thời có thêm những kinh nghiệm sống cho riêng bản thân mình
1.4.1 Khái ni ệm
Nghề thủ công đã phát triển từ lâu đời trong lịch sử Việt Nam Trong số những nghề thủ công đang hiện diện, nhiều nghề đã hình thành từ xưa, được truyền từ thế
hệ này sang thế hệ khác và thường được gọi là nghề thủ công truyền thống
Từ điển bách khoa Encarta định nghĩa nghề thủ công (handicrafts) là “nghề
s ản xuất hoàn toàn hay một phần bằng tay những vật dụng trang trí tiêu dùng, việc
s ản xuất đòi hỏi kỹ năng tay chân và cả kỹ năng nghệ thuật” [3:5]
Khái niệm làng nghề lâu nay thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau :
"Làng ngh ề là một thiết chế kinh tế, xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai y ếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định trong đó bao
g ồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên
k ết về kinh tế, xã hội và văn hóa" [4:5]
"Làng ngh ề truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ công Ở đấy không nh ất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người thợ thủ công nhi ều trường hợp cũng đồng thời làm nghề nông Nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê c ủa mình" [4:6]
Thế nhưng, trải qua nhiều bước phát triển, có thể thấy cho đến nay làng nghề không còn bó hẹp trong khuôn khổ công nghệ thủ công, tuy thủ công vẫn là chính,
mà một số công đoạn đã được cơ khí hóa hoặc bán cơ khí hóa Trong các làng nghề, không chỉ có các cơ sở sản xuất hàng thủ công, mà đã có nh ững có sở dịch vụ và ngành nghề phục vụ cho sản xuất, như các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ phân
phối hàng hóa, cung ứng đầu vào và đầu ra cho sản phẩm làng nghề [4:6]
Trang 23Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNT) đã ban hành Thông tư số 116/2006/TT-BNN, ngày 18 tháng 12 năm 2006, quy định nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền
thống Theo đó:
• Ngh ề truyền thống : nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản
phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc
có nguy cơ bị mai một, thất truyền
• Làng ngh ề : một hoặc nhiều cụm d ân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn,
phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau
• Làng ngh ề truyền thống : làng nghề có nghề truyền thống được hình thành
từ lâu đời [4:6]
Cũng theo Thông tư nói trên, các tiêu chí dùng để công nhận nghề truyền
thống, làng nghề và làng nghề truyền thống được quy định như sau :
- Ngh ề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau :
+ Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận
+ Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc
+ Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề [4:7]
- Làng ngh ề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau :
+ Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn
+ Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm tính đến thời điểm
đề nghị công nhận
+ Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước [4:7]
- Làng ngh ề truyền thống được công nhận phải đạt tiêu chí :
+ Làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư này
Trang 24+ Đối với những làng chưa đạt tiêu chí công nhận làng nghề nhưng có ít nhất
một nghề truyền thống được công nhận theo quy định của Thông tư này thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống [4:7]
1.4.2 Phân lo ại làng nghề
Hiện nay, đang có những cách phân loại làng nghề khác nhau Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu nhất trí hai cách phân loại như sau:
- Phân lo ại theo số lượng nghề
+ Làng nghề một nghề là những làng ngoài nghề nông ra, chỉ có thêm một nghề thủ công duy nhất
+ Làng nhiều nghề, là những làng ngoài nghề nông ra còn có thêm một số
hoặc nhiều nghề khác
- Phân lo ại theo tính chất nghề
+ Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch
sử và còn tồn tại đến ngày nay
+ Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của các làng nghề truyền thống hoặc du nhập từ các địa phương khác Một số làng mới được hình thành do chủ trương của một số địa phương cho người đi học nghề ở nơi khác rồi về dạy cho dân địa phương nhằm tạo việc làm cho người dân địa phương mình [4:7]
1.5 Đặc điểm chung của làng nghề
1.5.1 T ồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp
Các làng nghề xuất hiện trong từng làng xã ở nông thôn, sau đó các ngành nghề thủ công nghiệp được tách dần nhưng không rời khỏi nông thôn, sản xuất nông nghiệp và sản xuất kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen
lẫn nhau Người thợ thủ công trước hết và đồng thời là người nông dân [6:7]
1.5.2 Công ngh ệ thô sơ, lạc hậu
Công cụ lao động trong các làng nghề đa số là công cụ thủ công, công nghệ
sản xuất mang tính đơn chiếc Nhiều loại sản phẩm có công nghệ - kỹ thuật hoàn toàn dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ Mặc dù hiện nay đã có s ự cơ khí
Trang 25hóa từng bước trong sản xuất, song mới chỉ có 1 số ít nghề có khả năng cơ giới hóa được một số công đoạn trong sản xuất sản phẩm [6:7]
1.5.3 Nguyên v ật liệu thường là tại chỗ
Hầu hết các làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ sự sẵn có của nguyên liệu tại chỗ trên địa bàn, địa phương Cũng có thể một số nguyên liệu phải
nhập từ cùng khác hoặc từ nước ngoài như một số chỉ thêu, thuốc nhuộm , song không nhiều [6:7]
1.5.4 Ch ủ yếu là lao động thủ công
Sản phẩm nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào óc thẩm mỹ
và sáng tạo của người thợ, của nghệ nhân Trước kia do trình đ ộ khoa học - công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quá trình sản xuất đều là thủ công, đơn giản Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, việc ứng
dụng vào nhiều công đoạn trong sản xuất đã gi ảm bớt được lượng lao động thủ công, đơn giản Tuy nhiên một số loại sản phẩm còn có một số công đoạn trong quá trình sản xuất phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công tinh xảo [6:7]
Việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong gia đình
từ đời này sang đời khác, chỉ khuôn lại trong từng làng Sau năm 1954 ở miền Bắc
và 1975 ở miền Nam, nhiều cơ sở quốc doanh và hợp tác xã làng nghề thủ công truyền thống ra đời, làm cho phương thức truyền nghề và dạy nghề có nhiều thay đổi, mang tính đa dạng và phong phú hơn
1.5.5 S ản phẩm làng nghề mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc
Các sản phẩm làng nghề truyền thống vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị
thẩm mỹ cao vì có nhiều sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa…
Các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật Từ những con rồng chạm trổ ở các đình chùa, hoa văn trên các
trống đồng và các họa tiết trên đồ gốm Tất cả đều mang vóc dáng dân tộc quê
Trang 26hương Chứa đựng ảnh hưởng về văn hóa tinh thần, quan niệm về nhân văn và tính ngưỡng tôn giáo của dân tộc [6:8]
1.5.6 Th ị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang tính
ch ất địa phương, tại chỗ và nhỏ hẹp
Sự ra đời của các làng nghề, đặc biệt là làng nghề truyền thống xuất phát từ
việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ của các địa phương Ở mỗi một làng nghề hay cụm làng nghề đều có các chợ dùng làm nơi trao đổi, buôn bán tiêu thụ
sản phẩm của các làng nghề Cho đến nay, thị trường sản phẩm làng nghề về cơ bản
vẫn là thị trường nội địa Một phần nhỏ sản phẩm làng nghề đã được xuất khẩu [6:8]
1.5.7 Hình th ức tổ chức sản xuất chủ yếu là ở quy mô nhỏ
Hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề phần lớn là quy mô hộ gia đình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân [6:8]
1.6 Điều kiện hình thành và phát triển làng nghề
1.6.1 Con đường hình thành các làng nghề
Các làng nghề thường xuất hiện theo một số con đường tương đối phổ biến là:
- Được hình thành trên cơ s ở có những nghệ nhân với nhiều lý do khác nhau
mà đến truyền nghề cho dân làng
- Một số làng nghề hình thành từ một số cá nhân hay gia đình có nh ững kỹ năng và sự sáng tạo nhất định Từ sự sáng tạo của họ, qui trình sản xuất và sản
phẩm không ngừng được bổ sung và hoàn thiện Rồi họ truyền nghề cho dân cư trong làng, làm cho nghề đó ngày càng lan truyền ra khắp làng và tạo thành làng nghề
- Những người đi nơi khác học nghề rồi về dạy lại cho những người khác trong gia đình, dòng họ và mở rộng dần phạm vi ra khắp làng
- Một số làng nghề hình thành trong những năm gần đây, sau năm 1954 được hình thành một cách có chủ ý do các địa phương thực hiện chủ trương phát triển nghề phụ trong các hợp tác xã nông nghiệp
Trang 27- Trong thời kì đổi mới hiện nay một số làng nghề đang được hình thành trên
cơ sở sự lan toả dần từ một số làng nghề truyền thống, tạo thành một cụm làng nghề trên một vùng lãnh thổ lân cận với làng nghề truyền thống [6:9]
1.6.2 Điều kiện hình thành và phát triển làng nghề
Nghiên cứu sự phân bố của các làng nghề cho thấy, sự tồn tại và phát triển của các làng nghề cần phải có những điều kiện cơ bản nhất định :
- M ột là, gần đường giao thông Hầu hết các làng nghề cổ truyền đều nằm trên
các đầu mối giao thông quan trọng, đặc biệt là những đầu mối giao thông thủy bộ
- Hai là, gần nguồn nguyên liệu Hầu như không có làng nghề nào lại không
gắn bó chặt chẽ với một trong những nguồn nguyên liệu chủ yếu phục vụ cho sản
xuất của làng nghề
- Ba là, gần nơi tiêu thụ hoặc thị trường chính Đó là những nơi tập trung dân
cư với mật độ khá cao, gần bến sông, bãi chợ và đặc biệt là rất gần hoặc không quá
xa các trung tâm thương mại
- B ốn là, sức ép về kinh tế Biểu hiện rõ nhất thường là sự hình thành và phát
triển của các làng nghề ở những nơi ít ruộng đất, mật độ dân số cao, đất chật người đông, thêm vào đó có khi còn là do ch ất đất hoặc khí hậu không phù hợp làm cho nghề nông khó có điều kiện phát triển để đảm bảo thu nhập và đời sống dân cư trong làng
- Năm là, lao động và tập quán sản xuất ở từng vùng Nếu không có những
người tâm huyết với nghề, có nhiều quan hệ gắn bó với nghề và có khả năng ứng phó với những tình huống xấu, bất lợi thì làng nghề cũng khó có thể tồn tại một cách bền vững [6:9]
1.7 Vai trò c ủa làng nghề truyền thống đối với sự phát triển kinh tế, xã hội nói chung và ho ạt động du lịch nói riêng
1.7.1 Vai trò c ủa làng nghề truyền thống đối với sự phát triển kinh tế, xã hội
Trang 28• Góp ph ần giải quyết việc làm
Bất chấp sự thừa nhận muộn màng chính thống đối với vai trò, vị trí của nó trong nền kinh tế hàng hóa, làng nghề thủ công truyền thống đã góp phần giải quyết
việc làm cho hàng chục ngàn, trăm ngàn cư dân, đặc biệt là thanh niên
Làng nghề Việt Nam hàng năm góp phần giải quyết số lượng lớn lao động nông thôn nhàn rỗi Lao động ở khu vực nông thôn hiện nay đang chiếm một tỉ lệ
rất lớn trong tổng số lao động của cả nước Tính mỗi năm có thêm một triệu lao động ở nông thôn không có việc làm Trong khi đó hàng năm có khoảng 20 vạn ha đất sản xuất nông nghiệp phải chuyển đổi mục đích sử dụng, nên tiếp tục có thêm hàng ngàn người lao động ở nông thôn không có việc làm
Các làng nghề thủ công hoạt động chủ yếu dựa vào lao động cá nhân, công lao động thường chiếm tỉ lệ lớn (50% - 60%) giá thành sản phẩm, cho nên việc phát triển làng nghề truyền thống được xem là cơ sở để giải quyết việc làm cho người lao động Điều này được thể hiện như sau :
- Phát triển làng nghề giải quyết được việc làm tại chỗ cho người lao động,
thể hiện được chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta là xóa đói giảm nghèo, tạo
cơ hội làm giàu ngay tại địa phương
- Phát triển làng nghề sẽ thu hút được một lực lượng lớn lao động dôi dư
và lao động thời vụ tại các địa phương, góp phần làm giảm bớt thời gian nông nhàn không những ở từng gia đình, làng xóm trên địa bàn, mà còn thu hút lao động ở các địa phương khác, do đó góp phần giải quyết lao động dư thừa trên diện rộng
- Làng nghề thủ công truyền thống ngoài việc tạo việc làm cho lao động
thủ công, còn cung cấp việc làm cho một số người làm dịch vụ cung cấp nguyên
liệu, dịch vụ hoàn chỉnh và dịch vụ tiêu thụ sản phẩm [6:12]
• Góp ph ần tạo ra nguồn sản phẩm phong phú cho xã hội
Hoạt động của các làng nghề đã tạo ra một khối lượng hàng hóa đa dạng và phong phú, phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đóng góp cho nền kinh
tế quốc dân nói chung và cho từng địa phương nói riêng, là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển hàng hóa ở nông thôn
Trang 29Sản phẩm từ các làng nghề không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn đáp ứng cho nhu cầu quốc tế Theo Bộ NN&PTNT, hiện nay cả nước đã có hơn 40% sản phẩm ngành nghề nông thôn được xuất khẩu đến thị trường hơn 100 nước trên thế giới Kim ngạch xuất khẩu từ các làng nghề cũng tăng cao: năm 2004 đạt
450 triệu USD tăng 22% so với năm 2003, năm 2005 đạt 520 triệu USD tăng 16%
so với năm 2004 Trong đó nhiều nghề truyền thống phát triển như thêu, dệt thổ
cẩm, gốm sứ, nghề mây tre đan [6:12]
• Gi ữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống lâu đời, độc đáo của từng địa phương
Giá trị văn hóa của làng nghề truyền thống thể hiện qua sản phẩm, cơ cấu của làng, lối sống, phong tục tập quán của cộng đồng Những sản phẩm thủ công truyền
thống phần lớn là những sản phẩm hàng hóa mang tính nghệ thuật, nó là sản phẩm văn hóa vật thể vừa chứa đựng những giá trị văn hóa phi vật thể
Những sản phẩm thủ công thể hiện sự ứng xử của con người trước nguyên
liệu, trước thiên nhiên Từ nguyên liệu thô sơ, qua bàn tay tài hoa, tâm huyết của người thợ đã trở thành những sản phẩm xinh xắn, duyên dáng vì sản phẩm là nơi
gửi gắm tâm hồn, tài năng, thể hiện khiếu thẩm mỹ lao động, sự thông minh sự sáng
tạo, tinh thần lao động của người thợ - nghệ nhân
Mỗi làng nghề thực sự là một địa chỉ văn hóa, phản ánh nét văn hóa độc đáo
của từng địa phương, từng vùng Làng nghề truyền thống từ lâu đã trở thành một bộ
phận hữu cơ không thể thiếu của văn hóa dân gian Những giá trị văn hóa chứa đựng trong các làng nghề truyền thống đã tạo nên những nét riêng độc đáo đa dạng nhưng cũng mang bản sắc chung của văn hóa dân tộc Việt Nam [6 :13]
1.7.2 Vai trò c ủa làng nghề truyền thống đối với hoạt động du lịch
Trong xu thế hội nhập và mở cửa, làng nghề truyền thống đang dần lấy lại vị trí quan trọng của mình trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi dân tộc mỗi
quốc gia Những làng nghề này như một hình ảnh đầy bản sắc, khẳng định nét riêng
biệt, độc đáo không thể thay thế Một cách giới thiệu sinh động về đất, nước và con người của mỗi vùng, miền, địa phương
Trang 30Những lợi ích to lớn của việc phát triển du lịch làng nghề không chỉ thể hiện ở
những con số tăng trưởng lợi nhuận kinh tế, ở việc giải quyết nguồn lao động địa
phương mà hơn thế nữ a, còn là một cách thức gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn
hóa của dân tộc Đó là những lợi ích lâu dài không thể tính được trong ngày một
ngày hai
Du lịch làng nghề truyền thống ngày càng hấp dẫn du khách và đang là một
hướng phát triển du lịch ở nhiều quốc gia trên thế giới Bên cạnh những lợi ích về
kinh tế, xã hội, hình thức du lịch này còn góp phần thúc đẩy việc bảo tồn và phát
huy những bản sắc văn hóa độc đáo của từng vùng miền, địa phương
Trong những năm gần đây, loại hình du lịch làng nghề truyền thống ở Việt
Nam ngày càng hấp dẫn du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài, bởi những giá
trị văn hóa lâu đời và cách sáng tạo sản phẩm thủ công đặc trưng ở mỗi vùng.[6:13]
1.8 Kinh nghi ệm phát triển du lịch làng nghề ở thế giới và Việt Nam
1.8.1 Du l ịch làng nghề trên thế giới
1.8.1.1 Thái Lan
Việc tổ chức lại các làng nghề truyền
thống ở Thái Lan đã tạo ra giá trị nhiều mặt :
bảo tồn và nâng cao kỹ năng tay nghề nghệ
nhân, gìn giữ văn hóa truyền thống, tạo công
ăn việc làm ở nông thôn, ngăn chặn làn sóng
di cư vào đô thị, tạo ra sản phẩm xuất khẩu,
sản phẩm du lịch
Thái Lan có khoảng 70.000 làng nghề
thủ công, nhưng các sản phẩm thiếu sức
thuyết phục với thị trường [10]
• D ự án OTOP (One Tambon One
Product : m ỗi làng nghề một sản phẩm)
Để khai thác kỹ năng của các làng nghề
truyền thống ở miền bắc Thái Lan, tạo ra
Hình 1.1 : Cô gái Thái duyên dáng v ới ô
ở làng Bô Sang
Trang 31thêm thu nhập, giải quyết lao động địa phương, từ năm 2001, Chính phủ Thái Lan
đã thực hiện dự án OTOP (One Tambon One Product : mỗi làng nghề một sản
phẩm) Đây là chương trình chiến lược từ sáng kiến của Cục Xúc tiến Xuất khẩu (DEP) thuộc Bộ Thương mại Thái Lan Mỗi làng nghề một sản phẩm không có nghĩa là mỗi làng chỉ có một sản phẩm mà mỗi làng có kỹ năng, văn hóa, truyền
thống riêng kết tinh trong sản phẩm trở thành đặc trưng riêng của làng nghề trong
sản phẩm đó Chính phủ hỗ trợ kết nối địa phương với toàn cầu, thông qua việc hỗ
trợ tiêu chuẩn hóa sản phẩm, hoàn tất đóng gói, tiếp thị, tổ chức kênh phân phối ở
hải ngoại [10]
• Ngu ồn gốc
Ý tưởng “mỗi làng một sản phẩm” (One Village One Product Movement) viết
tắt là OVOP được Morihiko Hiramatsu khởi xướng và bắt đầu triển khai ở quận Oita (Nhật Bản) từ năm 1979 Sau đó, một số nước ở Châu Á đã áp dụng mô hình này và được đổi thành OTOP (One Town One Product, hoặc One Tambon One Product), có nghĩa là mỗi thị trấn hay mỗi địa phương một sản phẩm
Những sản phẩm này dựa vào nguồn nguyên liệu tại chỗ, cộng với kỹ năng, kỹ
xảo được truyền từ đời này sang đời khác của người dân để làm ra các loại sản
phẩm thủ công đặc trưng của từng địa phương như đồ mỹ nghệ, hàng may mặc, đồ
gốm, đồ gia dụng, thực phẩm , phục vụ người tiêu dùng, khách du lịch, kể cả xuất
khẩu Tùy nơi, hàng hóa mang nhãn hiệu OTOP được chính phủ giảm thuế, hoặc
miễn thuế [10]
• Thành qu ả
Trong chương trình một tour du lịch hiện đại, việc đưa du khách đến mua sắm
ở những cửa hàng OTOP là việc làm cần thiết Sự phong phú và hấp dẫn của các
sản phẩm này đã làm cho du khách không còn thời gian để cân nhắc hầu bao của mình
Thái Lan là nước phát triển OTOP rất thành công Với chính sá ch khuyến khích và hỗ trợ của cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra, hiện nay ở Thái Lan có
Trang 32khoảng 36.000 mô hình OTOP, mỗi mô hình tập hợp từ 30 đến 3.000 thành viên tham gia [10]
Sự phát triển OTOP đã giúp nghề thủ công truyền thống của Thái Lan được duy trì Nó đã giúp cho người dân Thái giải quyết được công ăn việc làm, làm ra nhiều sản phẩm đặc sắc của từng địa phương, góp phần tăng thu nhập cho người dân tham gia và điều quan trọng là giữ được giá trị tri thức truyền thống trong văn hóa lâu đời của họ
Ngoài mục đích phát triển du lịch, một khía cạnh tích cực hơn, mô hình OTOP
cần khuyến khích người dân sử dụng nguồn nguyên liệu có sẵn tại chỗ, dựa vào tri
trức truyền thống bản địa để làm ra sản phẩm đặc trưng của địa phương mình Ngoài ý nghĩa kinh tế, đây là cách bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên ở địa phương, và giữ gìn tri thức bản địa một cách hiệu quả [10]
1.8.1.2 Nh ật Bản
Việc phát triển phong trào mỗi làng một sản phẩm ở Nhật Bản thường gắn với
mô hình du lịch làng nghề Làng Ateli er Toki, một ngôi làng nhỏ mang đậm dáng
dấp cổ xưa của ngôi làng Nhật có cảnh quan không gian mang vẻ đẹp hết sức tự nhiên với những con đường không một vết bẩn Đã từ lâu, người dân của Atelier Toki đã lựa chọn mô hình du lịch sinh thái kết hợp với làng nghề như một mô hình
phát triển mà toàn cộng đồng theo đuổi
Khái niệm làng nghề
ở Nhật Bản cũng được
hiểu rất khác với Việt Nam Ví dụ ở làng Atelier Toki cũng chỉ có khoảng 5 người làm việc để phát triển các sản phẩm cho làng nghề của mình, tuy nhiên bất kì ai trong số họ
Trang 33Hình 1.3 Làng l ụa Vạn Phúc (Hà Nội) Hình 1.4 Làng nón Chuông (Thanh Oai – HN)
cũng đều có tay nghề rất cao Nhìn chung làng nghề ở Nhật Bản không nhiều người,
mà cũng chỉ là một nhóm 20 - 30 người là tối đa, rất nhiều nơi có số lao động còn ít hơn 10 người [21]
Kỹ năng trưng bày và thuyết trình của sản phẩm và của người thợ thủ công được đào tạo khá bài bản Có đến hàng trăm loại sản phẩm sử dụng một loại vật
liệu, tất cả đều được bày biện một cách gọn gàng, và đặc biệt, đều được làm một cách hết sức tinh tế và đẹp Người dân Atelier Toki không bao giờ coi một cành cây gãy là vô dụng, họ có thể sử dụng để tạo nên rất nhiều sản phẩm từ những cành cây
đó Với cành cây to, họ sử dụng làm bát, đĩa…, những mảnh nhỏ hơn, có thể dùng làm dĩa, thìa hay các loại gác đũa…Việc sử dụng nguồn tài nguyên hết sức hiệu quả
của người dân Nhật Bản là một dấu ấn đặc biệt trong xây dựng và phát triển mô hình mỗi làng một sản phẩm [21]
1.8.2 M ột số địa phương ở Việt Nam
1.8.2.1 Du l ịch làng nghề tại Hà Nội
• Ti ềm năng du lịch làng nghề tại Hà Nội
Đến nay với việc tiếp nhận toàn bộ địa bàn tỉnh Hà Tây - vùng đất được mệnh danh là “đất trăm nghề”, Hà Nội đã trở thành nơi hội tụ của sự tài hoa, khéo léo trong ngành thủ công mỹ nghệ cả nước Những làng nghề truyền thống không chỉ mang lại việc làm cho nhân dân, sản xuất hàng hóa phục vụ xã hội mà còn góp phần đáng kể vào công cuộc phát triển kinh tế, thay đổi diện mạo nông thôn, đặc biệt đã
Trang 34và đang trở thành những khu, vùng, điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước [10]
• Nh ững kế hoạch phát triển du lịch làng nghề tại Hà Nội
Nhằm khai thác tiềm năng du lịch, dịch vụ của các làng nghề truyền thống, Hà Nội
đã xây dựng chương trình phát triển du lịch làng nghề với định hướng đến năm
2010, chỉ tiêu phát triển du lịch sẽ đạt:
- Từ 4 - 4,5 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế chiếm khoảng 5 - 10%,
với tốc độ tăng bình quân 10%/ năm [10]
- Doanh thu xã hội về du lịch đến 2010 đạt trên 600 tỷ đồng
- 2.400 phòng khách sạn, trong đó sẽ hình thành một số khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 3 sao trở lên tại các trọng điểm du lịch.[10]
Không chỉ vậy, Hà Nội cũng định hướng hình thành mới 6 khu du lịch tổng
hợp:
- Khu du lịch sinh thái và vui chơi giải trí Tuần Châu
- Khu du lịch sinh thái cao cấp An Khánh
- Hồ Quan Sơn
- Hồ Đồng Mô
- Hồ Suối Hai - Ba Vì
- Khu du lịch lịch sử - văn hóa làng cổ Đường Lâm
Song song với việc tiếp tục đẩy mạnh đầu tư khai thác tiềm năng du lịch tại 6 điểm di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội là xây dựng một trung tâm dịch vụ du lịch làng nghề truyền thống, đầu tư phát triển ba làng nghề thành các điểm du lịch : nghề tạc
tượng ở Sơn Đồng, nghề khảm Chuyên Mỹ và mây tre đan Phú Vinh
Để hỗ trợ các làng nghề phát triển nhanh, mạnh và bền vững, nhất là khai thác
tiềm năng du lịch, dịch vụ, trong năm 2009, Sở Công thương Hà Nội đã thực hiện nhiều hoạt động nhằm hỗ trợ phát triển nghề và làng nghề, điển hình như:
- Thực hiện đánh giá thực trạng môi trường làng nghề lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy
Trang 35Hình 1.5 : Làng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh)
- Tổ chức thu thập thông tin về các làng nghề để xuất bản sách và sản xuất phim giới thiệu về tiềm năng phát triển nghề và làng nghề …
- Tổ chức được 45 lớp đào tạo truyền nghề, nhân cấy nghề mây tre đan, thêu ren, sơn mài, dệt khăn, điêu khắc… cho 2.250 học viên
- Triển khai 7 chương trình lớn tập trung vào công tác truyền nghề, hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các làng nghề, nâng cao kỹ năng quản trị cho các chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất…
- Tổ chức cho doanh nghiệp tham gia hội chợ triển lãm, giới thiệu sản
phẩm làng nghề nhằm quảng bá và xúc tiến đầu tư, liên kết kinh doanh, hợp tác sản
xuất giữa các vùng và địa phương, tạo tiền đề quan trọng để các làng nghề bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa ngày càng hiệu quả [10]
1.8.2.2 B ắc Ninh
• Ti ềm năng du lịch làng nghề ở Bắc Ninh
Hầu hết các làng nghề ở Bắc Ninh có lịch sử phát triển lâu đời,
thậm chí đã tìm thấy dấu tích làng nghề từ những thế kỷ trước công nguyên Ở thi ên niên kỷ sau công nguyên, đã hình thành những trung tâm làng nghề bao quanh thủ phủ Luy Lâu - Long Biên Trong thời kỳ phong kiến Việt Nam, nhất là thời
Lý, Trần, Lê, nghề thủ công và các làng nghề phát triển rộng khắp Làng nghề thủ công ở đây thật sự phong phú, đa dạng từ việc chế biến nông
sản, thực phẩm làm các món ăn đặc sản, sản xuất các vật dụng gia đình, chế biến tạo công cụ sản xuất nông nghiệp, đến làm các mặt hàng mỹ nghệ, các sản phẩm phục
vụ cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, sinh hoạt lễ hội, các sản phẩm nghệ thuật, làm các nghề xây dựng nhà cửa, đình, chùa, đền miếu
Trang 36• M ột số thành quả đạt được
Ðến nay, toàn tỉnh Bắc Ninh còn 62 làng nghề thủ công, trong đó có 31 làng nghề thủ công truyền thống Trong số đó, hiện có 28 làng nghề phát triển ổn định
với 25 làng nghềtruyền thống [10]
Lượng khách du lịch đến tham quan các làng nghề truyền thống trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh khoảng từ 20 đến 25 nghìn lượt khách mỗi năm, chiếm tỷ lệ 11% đến 14% khách du lịch đến Bắc Ninh [10]
• M ột số biện pháp Bắc Ninh áp dụng để phát triển du lịch làng nghề
Một số làng nghề bước đầu đã thu hút được khách như gốm Phù Lãng, tranh Ðông Hồ, gỗ Ðồng Kỵ, làng quan họ Cổ Diềm Bên cạnh việc được chiêm ngưỡng và tự tay tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm truyền thống, du khách còn đồng thời được khám phá những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc luôn gắn liền
với lịch sử phát triển của sản phẩm làng nghề
Các di tích lịch sử văn hóa làng nghề đã được quan tâm tu bổ, tôn tạo, nhiều di tích tiêu biểu như đình, chùa, đền, nhà thờ tổ sư đã được Nhà nước cấp bằng công
nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh như: lăng mộ tổ sư nghề đồng Nguyễn Công Truyền ở Ðại Bái, lăng mộ và đền thờ tổ sư nghề đúc đồng Nguyễn Công Nghệ ở Quảng Bố, đình Ðình Bảng, đền Ðô, đình làng Dương Ổ
Lễ hội ở các làng nghề truyền thống cũng được khôi phục và duy trì với nhiều nghi thức trang nghiêm với các sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian phong phú,
hấp dẫn, mang đậm bản sắc văn hóa cộng đồng của các làng nghề truyền thống như:
lễ hội làng nghề Ðại Bái, lễ hội làng nghề Ðồng Kỵ, lễ hội đền Ðô - Ðình Bảng, lễ
hội làng Ðống Cao, làng Châm Khê [10]
1.8.2.3 Th ừa Thiên Huế
• Ti ềm năng du lịch làng nghề
Mấy năm gần đây, tỉnh quan tâm đến tour du lịch làng nghề, xem đây là
loại hình du lịch văn hóa tổng hợp đưa du khách tham quan, cảm nhận các giá trị
văn hóa và mua sắm những hàng hóa đặc trưng của các làng nghề truyền thống
Trang 37Toàn tỉnh hiện có 88 làng nghề, trong đó có 69 làng nghề thủ công truyền
thống có thể xây dựng và phát triển thành các tour du lịch làng nghề với nét đặc trưng riêng như làng gốm Phước Tích, làng thêu Thuận Lộc, làng nón Phú Cam, đúc đồng Phường Đúc, điêu khắc Mỹ Xuyên, đan lát Bao La…[10]
• Hướng phát triển du lịch làng nghề ở Thừa Thiên Huế
Vào những năm lẻ, Thừa Thiên Huế có Festival nghề truyền thống là dịp phô
diễn, quảng bá sản phẩm thủ công mỹ nghệ Đây cũng là điểm nhấn để hình thành tour du lịch làng nghề Các nhà quản lý chuyên ngành du lịch cho rằng, tuyến du
lịch làng nghề là xu hướng thu hút du khách, nó tạo sự hấp dẫn, mới lạ Rất nhiều
du khách đã về tận các làng nón để được tận mắt chứng kiến và tham gia vào các công đoạn của nghề làm nón Du khách đã thật sự bất ngờ, thích thú khi được người
thợ nón lưu tên, ảnh của họ vào chiếc nón bài thơ mang về làm vật kỷ niệm của chuyến du lịch về vùng đất Cố đô Huế
Qua các kỳ festival, tour du lịch “Hương xưa làng cổ” đã làm sống lại một làng nghề gốm cổ của làng quê Phước Tích nằm bên dòng sông Ô Lâu hiền hòa thơ
mộng Làng nghề Phước Tích còn là một ngôi làng cổ độc đáo, cả làng sống nhờ nghề gốm Bao nhiêu năm khó khăn do nghề gốm trên đường mai một, nay qua tuyến du lịch “Hương xưa làng cổ” Phước Tích đang mở ra cơ hội mới phục hồi làng nghề [10]
1.8.2.4 Qu ảng Nam
Quảng Nam hiện có 61 làng nghề, đa dạng về quy mô và loại nghề truyền
thống Những làng nghề này sau khi khôi phục hoạt động khá tốt còn trở thành
những điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước [10]
• M ột số mô hình du lịch làng nghề được Quảng Nam áp dụng
- Thăm Làng rau Trà Quế (thôn Trà Quế, xã Cẩm H à, thành phố Hội
Trang 38"Sau g ần 5 năm đưa vào khai
thác, đến nay đã có hàng ngàn du
khách trong và ngoài nư ớc đến
thăm làng rau Trà Quế và tỏ ra rất
bên bờ sông Thu Bồn, thuộc xã
Cẩm Hà, cách phố cổ Hội An khoảng 2km về hướng Tây, người dân nơi đây đã mở
ra các dịch vụ như hướng dẫn du khách cách làm gốm từ khâu nhào đất sét, nắn
hình thù đến cách nung sao cho có màu bóng đẹp không bị cháy, bị chai
Du khách đến đây, ngoài việc tha hồ lựa chọn các sản phẩm lưu niệm bằng
gốm độc đáo, còn được tận mắt chứng kiến những thao tác điêu luyện từ những bàn
tay tài hoa của các nghệ nhân làng nghề này
Gốm Thanh Hà được sản xuất hoàn toàn bằng thủ công, sản phẩm chủ yếu là
đồ dùng phục vụ đời sống sinh hoạt hằng ngày như chén, bát, chum, vại, bình hoa,
chậu cảnh Điểm đặc biệt của sản phẩm gốm Thanh Hà là nhẹ hơn so với các sản
phẩm cùng loại của những địa phương khác [10]
Nh ững dự án mới
Làng đúc đồng Phước Kiều nằm kề bên quốc lộ 1A, thuộc xã Điện Phương,
huyện Điện Bàn Đây là một làng nghề truyền thống đã nổi tiếng từ nhiều thế kỷ
trước với các sản phẩm bằng đồng phục vụ trong các dịp tế lễ, hội hè như chuông,
chiêng, kiểng, mõ, phè ng la; các vật dụng thông thường trong đời sống như lư
hương, chân đèn, nồi niêu, xoong chảo, chén bát và cả các loại binh khí cổ như
gươm, đao, giáo, mác
Hình 1.6 : Du khách tham gia vi ệc trồng rau
t ại làng rau Trà Quế
Trang 39Một số làng nghề khác như làng nghề dệt Mã Châu, làng dệt chiếu cói Bàn
Th ạch cũng khá nổi tiếng Để duy trì được các làng nghề này, ngoài việc gắng giữ
nét độc đáo truyền thống của làng nghề mình, người dân và chính quyền địa phương còn phải luôn tạo ra những sản phẩm mới mẻ, dịch vụ đa dạng để có thể thu hút được du khách
Hiện lãnh đạo địa phương và người dân của những làng nghề này đang nỗ lực trong việc tiếp cận với khách du lịch nhằm tạo thêm nguồn thu cho người dân làng nghề, điều mà các làng nghề như làng rau Trà Quế, gốm Thanh Hà đã làm rất hiệu
quả [10]
TÓM T ẮT CHƯƠNG 1
Khái niệm về du lịch hiện nay có rất nhiều, dựa vào các định nghĩa về du lịch
của Liên hiệp quốc tế các tố chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Oragnization : IUOTO), của các chuyên gia tại hội nghị Liên hiệp
quốc tế du lịch họp tại Roma - Italia (21/08 – 05/09/1963) , của I.I Pirôgionic (1985) hay nhà kinh tế học người Áo Josep Stander …
Dựa vào từ điền bách khoa Encarta hay nhận định của Trần Minh Yến, 2004
và Bùi Văn Vượng 2002 hay dùng Thông tư số 116/2006/TT -BNN do Bộ NN&PTNT đã ban hành ngày 18 tháng 12 năm 2009 để làm rõ hơn khái niệm làng nghề và làng nghề truyền thống Các làng nghề được phân loại dựa vào số lượng làng nghề và tính chất của làng nghề Bên cạnh đó nghề và làng nghề được công
nhận là truyền thống dựa vào các tiêu chí như nghề phải tồn tại trên 50 năm, có
những giá trị văn hóa đặc sắc hay làng phải có từ 30% hộ làm nghề thủ công và phải
có hoạt động sản xuất ổn định trên 2 năm … Các làng nghề có những đặc điểm như làng nghề tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp; công nghệ thô sơ,
lạc hậu; nguyên vật liệu thường là tại chỗ; chủ yếu là lao động thủ công; sản phẩm làng nghề mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao mang đậm bản sắc văn hóa dân
tộc… Làng nghề được hình thành dựa trên những yếu tố như có những nghệ nhân
với nhiều lý do khác nhau mà đến truyền nghề cho dân làng hay một số làng nghề hình thành từ một số cá nhân hay gia đình có những kỹ năng và sự sáng tạo nhất
Trang 40định … Với những giá trị sẵn có, làng nghề có một vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và hoạt động du lịch nói riêng như góp phần giải quyết việc làm, làm phong phú thêm sản phẩm cho xã hội và cũng có vai trò lưu giữ
và phát triển những giá trị truyền thống lâu đời của từng địa phương
Chính những đặc điểm và vai trò của làng nghề trong đời sống kinh tế - xã hội
cũng như trong du lịch đã có những quốc gia trên thế giới cũng như một vài địa phương trên lãnh thổ Việt Nam áp dụng thành công mô hình du lịch tại các làng nghề Cụ thể như Thái Lan và Nhật Bản là hai nước rất thành công trong phát triển
du lịch làng nghề theo dư án “Mỗi làng một sản phẩm” Còn ở Việt Nam cũng có
những làng nghề rất thành công về du lịch như ở Hà Nội với làng gốm Bát Tràng, ở
Bắc Ninh với làng tranh Đông Hồ, ở Thừa Thiên Huế với tour du lịch “Hương xưa làng cổ”, ở Quảng Nam với làng rau Trà Quế …