L ời Mở Đầu D ự án nâng cấp đô thị Việt Nam là một dự án đa ngành, giúp các khu dân cư có thu nhập thấp KDCTNT tiếp cận với các tiện nghi của đời sống đô thị như: Giao thông thuận lợi,
TÍNH C ẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố có tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng cao nhất nước Tuy nhiên cũng như các thành phố đang phát triển khác, tốc độ phát triển nhanh đã khiến cho các vấn đề môi trường của thành phố cũng trở nên gay gắt hơn Phía sau những khu đô thị khang trang và sạch đẹp là các vấn đề nước thải, rác thải, vệ sinh môi trường, Hiện đang gây nhiều khó khăn và đặt ra hàng loạt thức to lớn cần phải giải quyết trên bước đường phát triển và hội nhập của thành phố.
Tình trạng quy hoạch không đồng bộ và không có kế hoạch quản lý các vấn đề môi trường môt cách đúng đắn và nghiêm túc trong quá trình xây dưng và phát triển là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng trên Trước tình hình đó đề tài “Đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm và xây dựng kế hoạch quản lý môi trường Dự án nâng cấp đô thị Thành phố Hồ Chí Minh - Tiểu Dự án thành phần số 2 ” giúp ta có cái nhìn hoàn thiện hơn về các vấn đề môi trường trong quá trình xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng, từ đó đề xuất giải pháp quản lý môi trường nhằm cải thiện, giảm thiểu các vấn đề môi trường trình quá trình xây dựng phát triển kinh tế Đảm bảo điều kiện sống cho người dân và tốc độ phát triển của thành phố trong quá trình công nghiệp hoá và phát triển bền vững.
M ỤC TIÊU
• Đề xuất các giải pháp quản lý môi trường nhằm góp phần bảo vệ môi trường tại khu vực triển khai Dự án Nâng cấp đô thị Thành phố Hồ Chí Minh - Tiểu Dự án thành phần số 2.
• Góp phần đảm bảo các vấn đề môi trường cho các Dự án phát triển kinh tế xã hội trong quá trình phát triển đô thị
• Góp phần định hướng kế hoạch quản lý môi trường cho các Dự án xây dựng phát triển tại Thành phố Hố Chí Minh
N ỘI DUNG THỰ C HI ỆN
• Nghiên cứu, khảo sát, thu thập các số liệu về Dự án nâng cấp đô thị Thành phố
Hồ Chí Minh (Dự án cấp 3) - Tiểu Dự án thành phần số 2.
• Khảo sát thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh
• Khảo sát, thu thập các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại khu vực
• Điều tra xem xét, thu thập các thông tin về hiện trạng môi trường tại khu vực của Dự án.
• Khảo sát, đo đạc, lấy mẫu và phân tích.
• Nghiên cứu đề xuất giải pháp giảm thiểu các vấn đề môi trường.
• Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý môi trường cho Dự án.
PH ẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi Dự án thuộc khu vực Thành phố Hồ Chí Minh Cụ thể tại 29 phường thuộc 5 quận được trình bày cụ thể như sau:
Bảng 1.1 Phạm vi khu vực thực hiện dự án
TT Tên Quận Số Phường Tên Phường Số lượng
PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
• Phương pháp khảo sát hiện trường
- Khảo sát điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng, hiện trạng môi trường khu vực Dự án
- Đo đạc, lấy mẫu không khí, nước, tiếng ồn
- Quan sát hiện trường và ghi chép các nhận xét trực quan về khu vực Dự án
- Thu thập, tổng hợp các số liệu và tài liệu liên quan.
• Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm
- Mẫu sau khi được thu thập sẽ được phân tích tại phòng thí nghiệm của Trung tâm Môi trường và Sinh thái ứng dụng.
• Phương pháp xử lý số liệu thống kê
- Số liệu sau khi thu thập được phân tích bằng các thuật toán xác xuất thống kê trong phần mềm Excel.
- Đánh giá chất lượng môi trường trên cơ sở so sánh với các tiêu chuẩn môi trường liên quan và các tiêu chuẩn của bộ Y tế.
- Nhận dạng các dòng thải, các vấn đề môi trường liên quan phục vụ cho mục đích đành giá chi tiết các ảnh hưởng cũng như việc đề xuất giải pháp giảm thiểu phù hợp.
• Phương pháp đánh giá nhanh
- Là phương pháp có thể xác định tải lượng và nồng độ trung bình cho từng hoạt động của Dự án má không cần đo đạc hay phân tích Từ đó có thể dự báo khả năng tác động môi trường của các nguồn gây ô nhiễm
- Trong phương pháp này, sử dụng ý kiến của các chuyê n gia trong lĩnh vực môi trường, các thầy cô giảng dạy môi trường và giáo viên hướng dẫn luận văn nhằm đưa ra các giải pháp xử lý và chương trình quản lý môi trường đúng và khả thi để thực hiện được.
V ị trí địa lý và điều kiện tự nhiên khu vực
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10 0 10’ – 10 0 38’ vĩ độ
- Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh
- Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai
- Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu
- Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang.
Thành phố Hồ Chí Minh cách Thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ, nằm ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây, là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km đường chim bay Đây lối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế Với hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nước, cảng Sài Gòn với năng lực hoạt động 10 triệu tấn /năm Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7km.
2.1.2 Đặc điểm khí hậu khu vực
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo Nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa rõ ràng: Mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng
05 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 04 năm sau Theo các tài liệu quan trắc nhiều năm, những đặc trưng khí hậu chủ yếu của khu vực Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140 Kcal/cm 2 /năm Số giờ nắng trung bình/tháng 160-270 giờ Nhiệt độ không khí trung bình khoảng 27 o C Nhiệt độ cao tuyệt đối 40 o C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 13,8 o C Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4 (28,8 o C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là khoảng giữa tháng 12 và tháng 1 (25,7 o C) Hàng năm có tới trên 330 ngày có nhiệt độ trung bình từ 25-28 o Ðiều kiện nhiệt độ và ánh sáng thuận lợi cho các loại sinh vật hiếu khí, ưa ánh sáng phát triển Sự hoạt động mạnh của các loại sinh vật này sẽ đẩy nhanh quá trình phân hủy chất hữu cơ chứa trong các chất thải, góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường đô thị song cũng thải ra một lượng lớn khí thải, gây ra các mùi khó chịu đặc biệt là vào các ngày nắng nóng Biên nhiệt độ ngày tuy giao động khá lớn nhưng tương đối ổn định do đó khá thuận lợi cho việc xây dựng và sử dụng các loại vật liệu cho các kết cấu có bề mặt tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài, khả năng phát sinh ứng suất nhiệt sẽ được kiểm soát tốt.
Bảng 2.1 Số giờ nắng trong năm tại thành phố Hồ Chí Minh Đơn vị (giờ)
Nguồn: Niên giám thống kê Tp.HCM, 2005
Chế độ mưa cũng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng không khí Mưa rơi sẽ cuốn theo bụi và các chất ô nhiễm có trong khí quyển hoặc nước mưa chảy tràn có thể cuốn trôi các chất ô nhiễm trên mặt đất - nơi mà nước mưa sau khi rơi sẽ chảy qua Chất lượng nước mưa tùy thuộc vào chất lượng khí quyển và môi trường khu vực.
Có thể tóm tắt chế độ mưa như sau:
- Có hai mùa rõ rệt, mùa mưa thường từ tháng 5 đến cuối tháng 10 và mùa khô thường từ tháng 12 đến tháng 4.
- Lượng mưa trung bình năm 1.949mm.
- Lượng mưa cao nhất hàng năm là 2.711 mm và thấp nhất là 1.533mm và thời gian mưa hàng năm là 162 ngày/năm.
- Mùa mưa chiếm 80 - 85% tổng lượng mưa.
- Tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 9 (khoảng 338mm, số ngày mưa cao nhất là 22 ngày)
- Tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 2 (khoảng 1mm), lượng mưa thấp nhất trong mùa mưa thường từ tháng 6 - 7
Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, có khuynh hướng tăng dần theo trục Tây Nam - Ðông Bắc Ðại bộ phận các quận nội thành và các huyện phía Bắc – khu vực Dự án thường có lượng mưa cao hơn các quận huyện phía Nam và Tây Nam Thời gian mưa trong ngày thường xảy ra vào lúc chiều tối và sáng sớm, với các trận mưa ban ngày, nếu không bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng thời tiết bất thường thì đa số các trận mưa chỉ kéo dài trong khoảng 30 phút nên hầu như không gây khó khăn đối với các công tác xây dựng ngoài trời Tuy nhiên, lượng mưa lớn, khả năng tập trung lũ cao nên cần đề phòng khả năng úng ngập khi thi công các phần ngầm và phần móng công trình.
Bảng 2.2 : Nhiệt độ và lượng mưa trung bình tại thành phố Hồ Chí Minh
Nhiệt độ (ºC) Lượng mưa ngày (mm)
Nguồn: Niên giám thống kê Tp.HCM, 2005
• Độ ẩm Độ ẩm không khí cũng như nhiệt độ không khí là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến các quá trình chuyển hóa và phát tán các chất ô nhiễm trong khí quyển, đến quá trình trao đổi nhiệt của cơ thể và sức khỏe người lao động. Ðộ ẩm tương đối của không khí bình quân cả năm là 79,5%; bình quân mùa mưa
80% và trị số cao tuyệt đối tới 100%; bình quân mùa khô là 74,5% và mức thấp tuyệt đối xuống tới 20% Với độ ẩm tương đối và nhiệt độ khá cao này, việc lựa chọn vật liệu lớp áo ngoài công trình cần được đặc biệt chú ý khi sử dụng các loại vật liệu nhạy cảm với nước cũng như khả năng chống lại các tác động thủy nhiệt khác.
Bảng 2.3: Độ ẩm tương đối tại thành phố Hồ Chí Minh Đơn vị: (%)
Nguồn: Niên giám thống kê Tp.HCM, 2005.
Gió là một nhân tố quan trọng trong quá trình phát tán và lan truyền các chất ô nhiễm trong khí quyển Khi vận tốc gió càng lớn, khả năng lan truyền bụi và các chất ô nhiễm càng xa, khả năng pha loãng với không khí sạch càng lớn
Hướng gió chủ đạo ở khu vực bao gồm:
- Gió Đông - Nam, thổi vào các tháng 2, 3, 4
- Gió Nam, thổi vào tháng 5
- Gió Tây thổi vào tháng 6
- Gió Tây - Nam thổi vào tháng 7
- Gió Tây thổi vào tháng 8, 9, 10
- Gió Bắc thổi từ tháng 11, 12, 1
Vận tốc gió trung bình khoảng 2,3 - 4,5 m/s
Nh ận xét chung đặc điểm khí hậu khu vực thành phố Hồ Chí Minh :
- Nếu căn cứ vào bảng phân loại độ bền vững khí quyển Pasquil thì mức bền vững khí quyển chiếm ưu thế là C, D trong đó 75% thuộc mức D.
- Chế độ nhiệt khá cao và ổn định quanh năm, điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chuyển hóa và phát tán các chất ô nhiễm dạng khí và bụi trong khí quyển.
- Lượng mưa tương đối cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng thoát nước bề mặt, tình trạng ngập úng và sự lan truyền ô nhiễm do nước mưa.
- Các hướng gió chủ đạo là Đông Bắc trong mùa khô và Tây Nam trong mùa mưa Do đó, trong suốt quá trình thi công xây dựng cũng như trong giai đoạn vận hành, khu vực phía Đông Bắc Dự án trong mùa khô và Tây Nam Dự án trong mùa mưa có khả năng chịu ô nhiễm không khí phát sinh từ hoạt động của Dự án
2.1.3 Điều kiện địa hình, địa chất thủy văn
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long Ðịa hình tương đối bằng phẳng, địa hình tổng quát có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Ðông sang Tây Nó có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình chính.
- Vùng cao nằm ở phía Bắc - Ðông Bắc và một phần Tây Bắc (thuộc bắc huyện Củ Chi, Đông bắc quận Thủ Ðức và quận 9).
- Vùng thấp trũng ở phía Nam - Tây Nam và Ðông Nam thành phố (thuộc các quận 9, 8,7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ).
- Vùng trung bình, phân bố ở khu vực Trung tâm Thành phố, gồm phần lớn nội thành cũ, một phần các quận 2, Thủ Ðức, toàn bộ quận 12 và huyện Hóc Môn
• Ðịa chất thủy văn Địa chất Ðất đai Thành phố Hồ Chí Minh được hình thành trên hai tướng trầm tích chính:
Trầm tích Pleieixtoxen và trầm tích Holoxen
Theo phân tích kết quả khảo sát địa chất ban đầu cũng như tổng hợp từ các nguồn tài liệu khác thì địa chất chu vực được hình thành trên tướng trầm tích Holoxen (trầm tích phù sa trẻ) có nguồn gốc aluvi lòng sông và bãi bồi Loại đất thuộc nhóm đất phèn trung bình, phản ứng của đất chua nhẹ ở tầng đất mặt, độ pH khoảng 4,5 -5,0; song giảm mạnh ở tầng đất dưới, đất rất chua, độ pH xuống tới 3,0-3,5
Thành phần hạt từ sét đến sét nặng, đất chặt và bí Dưới độ sâu khoảng từ 1m trở xuống, có nhiều xác hữu cơ lẫn sét, đất có độ rỗng lớn, sức kháng yếu do đó có mặt hạn chế trong xây dựng cơ bản, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Tình hình kinh t ế - xã h ội
Theo kết quả điều tra dân số trên địa bà n Tp HCM ngày 1/10/2004, dân số thường trú trên địa bàn thành phố là 6.117.251 người chiếm 7% dân số cả nước Trong đó dân số của 19 quận là 5.140.412 người chiếm 84,03% dân số thành phố và dân số của 5 huyện ngoại thành là 976.839 người, chiếm 15,97% Mật độ dân số của thành phố năm 2004 là 2.920 người/km2 tăng 21,4% so với mật độ dân số thành phố năm
1999 Tại quận Bình Thạnh, mật độ dân số trung bình khoảng 50m²/ng tương đối thấp so với khu vực Nội thành phát triển Tại phường 25 diện tích 1.81km² dân số 27.730 người, mật độ khoảng 65m²/ng.
Tốc độ tăng dân số bình quân tại thành phố từ năm 1999 đến năm 2004 là 3,6% Tốc độ tăng dân số lần này cao hơn hẳn so với các kỳ điều tra trước Mức tăng dân số thời kỳ 1999 - 2004 bằng mức tăng dân số trong 10 năm từ 1989 đến 1999 và xấp xỉ bằng 2 lần mức tăng dân số trong 10 năm từ 1979 -1989 Sự phát triển kinh tế của Tp.HCM đã thu hút một lượng lớn lao động từ các nơi khác đến làm việc và sinh sống đã làm tỷ lệ tăng dân số cơ học luôn ở mức cao Theo dự báo dân số của thành phố sẽ có xu hướng tăng mạnh trong các năm gần đây phù hợp với xu hướng đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở Việt Nam Số liệu thống kê số dân qua các cuộc tổng kiểm kê dân số hàng năm được trình bày trong bảng 2.6.
Bảng 2.6: Thống kê số dân số Tp.Hồ Chí Minh qua các năm
Thời điểm 10 -1979 04 -1989 04 -1999 10 -2004 Đến nửa năm 2005 Đến nửa năm 2006 Toàn thành 3.419.978 3.988.124 5.037.155 6.117.251 6.239.938 6.424.519
Nguồn: Niên giám thống kê Tp Hồ Chí Minh, 2006
Bảng 2.7: Tỷ lệ dân số TP.HCM so với cả nước Năm 2001 2002 2003 2004 2005
Nguồn : Hồ Chí Minh CityWeb
2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế và hạ tầng xã hội
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là trung tâm kinh tế của cả nước, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao, là nơi hoạt động kinh tế năng động nhất, đi đầu trong cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế Năm 2007
Tp HCM đã tiếp tục phát triển và đạt kết quả tích cực Kinh tế thành phố tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng.Ước tổng sản phẩm nội địa (GDP) năm 2007 của thành phố tăng 12,6 % (ước đạt 228,697 ngàn tỷ đồng, tương đương 14,3 tỷ USD), chiếm tỷ trọng 20% GDP cả nước Các ngành dịch vụ tăng trưởng cao nhất, ước cả năm giá trị gia tăng tăng 14,1%, chiếm tỷ trọng 52,6% GDP của thành phố Giá trị sản xuất công nghiệp trong 11 tháng là 308.207 tỷ đồng, tăng 13,5% (cùng kỳ tăng 13,4%) Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng 6,5%.
Tổng thu ngân sách thành phố 11 tháng là 74.982 tỷ đồng, đạt 96,2% dự toán, tăng 26,7%; Ước cả năm 2007, tổng thu ngân sách 83.435 tỷ đồng; Thu nội địa 41.600 tỷ đồng, đạt 101,29% dự toán năm, tăng 21,19%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu
33.000 tỷ đồng, đạt 107,14% dự toán năm, tăng 25,71% Tổng chi ngân sách địa phương 11 tháng 20.174 tỷ đồng, đạt 128,4% dự toán, tăng 23,3%; Ước cả năm 2007, tổng chi ngân sách 20.854,524 tỷ đồng, đạt 132,74% dự toán, tăng 14,51% Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn cả nămước đạt 84.800 tỷ đồng, tăng 26,6%, đạt 113,8% kế hoạch 16.505 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký trên 126.000 tỷ đồng Tổng vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài
11 tháng của thành phố là 1,984 tỷ USD; ước cả năm 2,5 tỷ USD ( tăng 11,9%).
Thành phố là nơi thu hút đầu tư nước ngoài mạnh nhất cả nước, kể từ khi Luật đầu tư được ban hành Số Dự án đầu tư vào thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng số Dự án đầu tư nước ngoài trên cả nước Tổng số Dự án đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ở mức cao và liên tục tăng trong các năm gần đây Chứng tỏ môi trường hấp dẫn đầu tư của Thành phố với các nhà đầu tư nước ngoài.
Hi ện trạng cơ sở hạ tầng
3.1.1 Hiện trạng sử dụng đất
Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 2056 km 2
- Đất nông nghiệp: Tổng cộng 95.799 ha (cây lương thực chiếm 77 – 81 %) hiện trạng sử dụng đất được tính bằng ha, có thể chia ra các loại sau:
- Đất lâm nghiệp: Rừng phòng hộ môi trường huyện cần giờ có diện tích 34.000 ha, trong đó diện tích được trồng khoảng 18.000 ha Hiện trạng phân bố đất lâm nghiệp như sau: ở vùng đồi gò huyện Củ Chi có diện tích 794 ha; quận Thủ Đức – 1.080 ha; huyện Bình Chánh – 643 ha; huyện Hóc Môn –
507 ha; huyện Nhà Bè 305 ha.
- Đất thổ cư: Tập trung ở khu vực nội thành, trung tâm các xã của huyện nội thành, trung tâm các xã của huyện ngoại thành có diện tích gần 3.000 ha.
- Sông rạch: Diện tích 34.812 ha chiếm 17,5% tổng diện tích Tp HCM
- Đất trống: Tập trung ở vùng nước chua khu vực huyện Củ Chi, Hóc Môn,
Cần Giờ, chiếm khoảng 6.000 ha.
3.1.2 Hiện trạng cung cấp nước
Tồng sản lượng nước cung cấp 848.000m 3
- Nguồn nước sông : Lấy từ trạm bơm Hóa An, sông Đồng Nai, đưa về lọc tại nhà máy nước Thủ Đức với công suất 650.000m
3/ ngày đêm Nhà máy Nước Bình An (sông Đồng Nai ): công suất 95.000m 3
- Phân phối nước : Hệ thống truyền tải nước sạch có tổng chiều dài 32,811km hiện nay ở khu vực nội thành 77 % số dân được cung cấp nước sinh hoạt, trung bình mức tiêu thụ hiện nay 50 – 100 lít/người/ ngày Khu vực ngoại thành không kể huyện Củ Chi, Cần Giờ, có 21 % số dân được cấp nước với mực tiêu thụ 20 – 40 lít/ người/ngày.
/ ngày Phần còn lại bổ sung tù các cụm giếng khoan.
3.1.3 Mạng lưới tiêu thoát nước
Bao gồm mạng lưới cống kín thải nước trực tiếp ra hệ thống kênh rạch Nước mưa và nước thải cùng chung hệ thống thoát nước Hệ thống cống chịu tác động của chế độ bán nhật triều không đều tại các cửa xả không có van Do đó, nước thải bị dồn trở lại Mưa lớn, gặp lúc triều cường, sẽ gia tăng mức độ và thời gian ngập úng trên địa bàn Thành phố Hiện nay, tổng chiều dài của hệ thống cống là 777,303 km, số lượng hố ga :39.036, số lượng cửa xả ra kênh rạch là 415.
• Hệ thống kênh rạch tiêu thóat nước Ở Tp.Hồ Chí Minh có 7 hệ thống kênh, rạch tiêu thóat nước thải :
- Kênh Tân Hóa-Lò Gốm: Có diện tích lưu vực 3.110 ha, rạch chính dài 7.240 m, các chi lưu dài 4.920 m, đầu nguồn rộng 3 -5 m, cửa rạch rộng 73 m, sâu 2-3 m
- Kênh Tàu Hủ - Bến Nghé: Hệ thống này tiếp nhận nước thải của rạch tân Hóa- Lò Gốm và nước thải của các quận 1,4,5,6,8 Chiều dài kênh chính là 12.200 m, chiều dài các chi lưu là 3.950m Kênh rộng từ 50 -100 m, sâu trung bình từ 3-5 m
- Kênh Đôi - Kênh Tẻ: Chiều dài kênh chính là 13.200 m, các chi lưu có chiều dài là 7.300 m, rộng trung bình là 100m, sâu trung bình từ 3-5 m
- Kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè: Diện tích lưu vực gần 3.00 ha, tiêu nước cho các quận 1,3,10 và quận Tân Bình, Gò Vấp, Phú Nhuận, Bình Thạnh Chiều dài rạch chính là 9.470 m, các chi lưu có chiều dài 8.716m Ở nguồn, kênh chỉ rộng từ 3-5 m, nhưng cửa kênh rộng từ 60-80 m và sâu từ 4-5 m
- Kênh Tham Lương-Rạch Bến Cát-Vàm Thuật: Diện tích lưu vực khá rộng, đạt đến 9.000 ha Chiều dài rạch chính là 14.080 m, chiều dài các chi lưu là 5.360 m, chiều rộng từ 60-100 m, chiều sâu từ 2-5,5m Hệ thống này tiêu thóat nước cho các quận Tân Bình, Gò Vấp và Bình Thạnh.
- Rạch Cần Giuộc - Mương Chuối: Đây là hệ thống các sông rạch thuộc huyện Nhà Bè và Bình Chánh, nhận nước thải của hệ thống kênh Tân Hóa-
Lò Gốm, Tàu Hủ-Bến Nghé và Kênh Đôi -Kênh Tẻ để thóat nước ra sông Nhà Bè và đổ ra biển, độ rộng trung bình là 100m, sâu trung bình từ 6-10m
- Sông Sài Gòn – Nhà Bè-Ngã Bảy: Đây là hệ thống sông lớn tiếp nhận tòan bộ hệ thống nước thải nội thành và các huyện ngọai thành để thóat ra biển theo hai hướng chính là Cửa Xoài Rạp ra vịnh Đồng Tranh và sông Ngã
Bảy ra vịnh Gành Rái Có 15 cửa xả trực tiếp ra sông Sài Gòn ở khu vực từ kênh Thanh Đa đến Tân Thuận.
Số liệu thống kê của Sở GTCC về mạng lưới đường bộ cho thấy, toàn thành phố có 727 con đường chính với tổng chiều dài là 844 km, tổng diện tích 6,5 triệu m 2
5 đường chiều dài 110 km Liên quận: 42 đường chiều dài 116,0 km
Tỉnh lộ: 12 đường chiều dài 167,0 km
Nội quận: 655 đường chiều dài 517,0 km
Cư xá-chung cư: 14 đường chiều dài 22,5 km
Bảng 3-1 Bảng thống kê mạng lưới đường bộ tại Tp.HCM
Tên khu vực Chiều dài (Km)
Nhìn chung mật độ đường bộ tập trung chủ yếu ở khu vực quận 1, quận 3 và quận
5 là những khu vực được phát triển theo một quy hoạch khá hợp lý trước đây, còn hệ thống đường đô thị khu vực còn lại mật độ quá thấp so với nhu cầu đi lại
Hiện nay luồng hành khách từ Bình Thạnh, Gò Vấp, Phú Nhuận, Tân Bình, Q.11, Q.6, Q.8 và Quận 4 đổ về khu t rung tâm quận 1, quận 3 và khu thương mại quận 5 (những khu vực có mức độ thu hút cao nhất) chỉ do một số trục đường có tính độc đạo chịu tải như Nguyễn Thị Minh Khai, Điện Biên Phủ, Đinh Tiên Hoàng, đặc biệt đường Nguyễn Kiệm-Phan Đình Phùng, đường Cách M ạng Tháng 8 chịu một sức tải rất lớn từ Tân Bình và Gò Vấp đổ về và các đường khác có hướng về khu trung tâm như Nguyễn Tất Thành, Tỉnh lộ 15, 25, 16 QL 50 Cũng chịu tình trạng tương tự.
Ngoài ra các tiêu chuẩn kỹ thuật khác như vỉa hè, thiết trí giao lộ, công trình công cộng trên đường v.v Còn nhiều bất hợp lý cản trở lớn trong lưu thông.
3.1.5 Giao lộ và cửa ngõ ra vào Thành phố Hồ Chí Minh
Toàn thành phố có 1276 giao lộ, trong đó 744 ngã ba, 480 ngã tư, 15 ngã năm, 2 ngã sáu, 1 ngã bảy, 25 vòng xoay và 9 công trường Toàn bộ các giao lộ là giao cắt đồng mức Trong thời gian vừa qua Sở GTCC đã cải thiện một số giao lộ trọng điểm như Hàng Xanh, Phú Lâm, Nguyễn Bỉnh Khiêm -Điện Biên Phủ v.v Tuy nhiên chỉ giải quyết được một phần rất nhỏ so với nhu cầu, hiện vẫn còn nhiều giao lộ mang tính cấp bách cần được cải tạo, đặc biệt những giao lộ trong nội thành có mật độ giao thông cao dễ gây ách tắc giao thông vì sự xung đột căng thẳng hỗn độn giữa rất nhiều loại phương tiện lưu thông, làm cho năng lực lưu thông, hiệu quả sử dụng công trình thấp
Các cửa ngõ còn hạn hẹp, không thông thoáng, các giao lộ trên các đường xa lộ, vành đai cần phải nghiên cứu xây dựng nút giao thông phù hợp tránh xung đột giữa giao thông đô thị và giao thông liên khu vực v.v.
3.1.6 Hệ thống cầu đường bộ
Toàn thành phố hiện có 264 cây cầu với 13592 mét Trong đó tổng số cầu dưới
Đặc điểm đô thị hóa
3.2.1 Tốc độ đô thị hóa nhanh
Thành phố Hồ Chí Minh có tốc độ đô thị hoá khá nhanh Theo nghiên cứu của
Viện kinh tế Tp HCM, tốc độ đô thị hóa Tp HCM đạt bình quân mỗi năm là 3,5%
(tính theo tốc độ tăng dân số đô thị) Theo số liệu thống kê, mật độ dân đã tăng từ 552 người/km2 vào năm 1985, lên đến 2.228 người/ km2 vào năm 1993 và đạt 2.700 người/ km2 vào năm 2003 và hơn 2800 người/km2 vào năm 2005 trên phạm vi toàn thành phố Tỷ lệ dân số phi nông nghiệp cũng gia tăng đáng kể Vào năm 1985 dân số phi nông nghiệp chỉ đạt 83,3%, đến năm 1993 là 87,7%, thì đến năm 2003 đã đạt đến 95,5% dân số phi nông nghiệp Tiến trình đô thị hóa nhanh của Tp HCM được phản ánh qua sự gia tăng tỷ trọng dân sốđô thị khá rõ Tỷ trọng dân số đô thị vào năm 1985 là 70,6% (tương đương 2,54 triệu dân đô thị), đến năm 1993 đã lên đến 74,2% (tương đương 3,25 triệu dân số đô thị) và đến năm 2003 đã lên đến 82,8% (tương đương 4,65 triệu dân số đô thị) Thống kê dân số đô thị và nông thôn của Tp HCM qua các năm được tổng hợp trong Bảng 3.2 và thể hiện trong Hình 3.1
Bảng 3.2- Tình hình dân cư đô thị và nông thôn thời kỳ 1990 đến 2005
Năm Tổng số Thành thị Nông thôn
Nguồn: Website của Sở Thống kê thành phố Hồ Chí Minh
Hình 3.1- Biểu đồ gia tăng dân số thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ 1990-2005
Có thể thấy số dân đô thị tăng liên tục và khá đồng đều qua các năm Trung bình mỗi năm số dân đô thị tăng thêm khoảng 200.000 người Riêng các năm 1998 và
2004 số dân đô thị có sự tăng đột biến (tương ứng là 574.000 và 478.000 so với năm trước) Nguyên nhân của sự đột biến này là do việc thay đổi một số đơn vị hành chính như lập các quận mới, chuyển đổi một số khu vực nông thôn trước đó sang khu vực đô thị, và do phát triển các cụm dân cư đô thị mới tại khu vực nông thôn
3.2.2 Đặc điểm dân cư đô thị thành phố
Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố lớn với quy mô dân số chính thức hơn
6 triệu người đồng thời lại có số dân nhập cư từ các tỉnh về khá nhiều, lực lượng lao động làm ăn không cố định và số lượng khách vãng lai khá lớn, mật độ dân số phân bố không đều giữa các quận trung tâm và nhóm quận huyện vùng ngoại thành cũ, và số người trong độ tuổi lao động tăng nhanh, chiếm tỷ lệ 66,9% dân số Theo nghiên cứu của Viện kinh tế Tp HCM thì dân số của Tp HCM có những đặc điểm sau đây:
- Tốc độ tăng bình quân dân số thành phố từ 1999 – 2004 cao hơn nhiều so với các giai đoạn trước đó.
- Dân số các quận trung tâm, quận nội thành có xu hướng giảm, ở các quận ven và các huyện tăng chậm, trong khi đó ở khu vực các quận mới dân số tăng tương đối nhanh.
- Quy mô dân số ở một số địa phương (quận, huyện, xã) vẫn còn rất cao.
- Dân nhập cư chiếm hơn 30% dân số của thành phố và tập trung ở các quận mới, và quận ven thành phố.
- Việc thay đổi chỗ ở của người dân thành phố diễn ra thường xuyên và phổ biến hơn.
• Dân số tăng nhanh và chủ yếu là do tăng cơ học Đến ngày 1-10-2004, dân số thường trú trên địa bàn thành phố là 6.117.251 người bao gồm 5.140.412 người ở các quận (chiếm 84,03%) và 976.839 người ở các huyện (chiếm 15,97%) Mật độ dân số thành phố là 2.920 người/km2 tăng 21,4% so với mật độ dân số của thành phố vào năm 1999 (2.404,4 người/km 2 ) So với tổng điều tra dân số 1-4-1999 thì sau 5 năm rư ỡi dân số thường trú của thành phố tăng thêm 1.080.096 người, tăng 21,4% Mức tăng dân số 1999 – 2004 bằng mức tăng dân số trong 10 năm 1989 – 1999 và bằng xấp xỉ 2 lần mức tăng dân số trong 10 năm 1979 –
1989 Dân số Tp HCM qua các cuộc tổng điều tra được nêu trong Bảng 3.3
Bảng 3.3 - Dân số thành phố qua các cuộc tổng điều tra Đơn vị tính: Người
Tỷ lệ tăng dân số bình quân chủ yếu do tăng cơ học (tỷ lệ di cư thuần) Tỷ lệ tăng cơ học 1999 – 2004 bằng 2,7 lần thời kỳ 1989 – 1999 Thời kỳ 1980 – 1985, tỷ lệ tăng cơ học của thành phố là số âm -0.09% Thời kỳ 1985 – 1990, tỷ lệ tăng cơ học của thành phố là 0,59% (xem Bảng 3.4).
Bảng 3.4 - Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm của thành phố qua các thời kỳ (%)
Tỷ lệ tăng dân số chung 1.63 2.36 3.60
Tỷ lệ tăng tự nhiên 1.61 1.52 1.27
Tỷ lệ tăng cơ học 0.02 0.84 2.33
• Tỷ lệ dân nhập cư cao
Dân nhập cư chiếm 30,1% dân số của thành phố, tập trung ở các quận mới, và quận ven thành phố Xét theo tình trạng cư trú, đến 1-10-2004 trong tổng số dân thực tế cư trú tại thành phố có 1.844.548 người diện cư trú KT3, KT4 đến từ các tỉnh, thành phố khác trong cả nước, chiếm 30,1% (xem Bảng 3.5)
Bảng 3.5 - Cơ cấu dân số chia theo tình trạng cư trú (%)
Với tỷ lệ tăng cơ học 2,33% năm, số người nhập cư đến thành phố trong các năm
1999 – 2004 tăng nhanh hơn các thời kỳ trước Người nhập cư tập trung sống ở các quận ven, quận mới và ở xung quanh các KCX/KCN Toàn thành phố có 9 quận, huyện có hơn 30% người nhập cư đến sinh sống, làm ăn; tập trung nhiều nhất ở quận Bình Tân 209.246 người, chiếm 52,8%; kế đó là Q Gò Vấp 189.642 người, chiếm 41,7%; Q.Thủ Đức có 164.949 người nhập cư, chiếm 48,9% số dân thực tế cư trú của quận.
• Việc thay đổi chỗ ở của người dân diễn ra thường xuyên và phổ biến hơn
Một bộ phận dân cư của thành phố đã thay đổi chỗ ở từ các quận trung tâm sang các quận ven, quân mới nên dân số ở các quận trung tâm, nội thành giảm trong khi dân số ở các quận ven, quận mới tăng lên Các nguyên nhân chính của hiện tượng này là do việc di dời cho các Dự án nâng cấp đô thị, do giá nhà đất và nhu cầu thuê nhà làm văn phòng, cửa hàng ở các quận trung tâm, quận nội thành Theo kết quả điều tra của Viện Kinh tế thì toàn thành phố có 717.050 người thuộc diện KT2, là những người dân có hộ khẩu thường trú tại thành phố nhưng không ở tại địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu mà ở nơi khác trong thành phố, chiếm 11,2% dân số của thành phố Tất cả các quận, huyện đều có dân cư thuộc diện KT2, nhưng các quận ven và quận mới vẫn là các quận có tỷ lệ dân số diện KT2 cao hơn Tỷ lệ dân KT2 của quận Bình Tân là 26,7%; quận Gò Vấp là 17,6%; huyện Bình Chánh là 17,5%; quận Tân Phú 16,7%; quận 7 là 12,9%.
Qui mô dân số của thành phố ngày càng tăng nhanh cùng với đặc điểm cư trú của dân cư trên địa bàn thành phố đặt ra cho thành phố nhiệm vụ khó khăn trong việc quản lý dân cư thành phố và quản lý KT-XH nói chung và công tác quản lý môi trường nói riêng
3.2.3 Đặc điểm phân vùng hành chính
Qua quá trình phát triển đô thị và tổ chức lại các đơn vị h ành chính, tính đến nay Tp HCM có 24 quận huyện với sự phân chia về lãnh thổ, mật độ dân số và mức độ đô thị hóa rất khác nhau Theo mức độ đô thị hóa có thể phân thành phố thành năm khu vực khác nhau như sau:
Khu vực nội thành cũ bao gồm: Quận 1, 3, 4, 5, 6, 10, 11 và Phú Nhuận, là khu vực trung tâm của thành phố với mật độ dân cư rất cao (trung bình gần 400 người/ha) Diện tích đất khu vực này (44 km 2
Khu vực nội thành mới là khu vực ven đô đang phát triển của khu vực nội thành cũ, bao gồm các quận: Quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Tân Phú, Gò Vấp Khu vực này có diện tích 98 km2 và mật độ trung bình khoảng 210 người/ha Quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng với việc xây dựng nhà ở thấp tầng Các cơ sở thương mại khu vực được xây dựng dọc theo các tuyến đường huyết mạch Tuy nhiên vẫn còn có nơi trong các khu vực này cơ sở hạ tầng đô thị phát triển rất kém hoặc thiếu.
) thường được sử dụng đa mục đích như hành chính, kinh doanh, thương mại và sinh hoạt Cơ sở hạ tầng đã được phát triển khá tốt, phần lớn đất đều đã được sử dụng hết
Gi ới thiệu về Dự án
Dự án Nâng cấp đô thị Thành phố Hồ Chí Minh là một tiểu Dự án trong tổng thể
Dự án nâng cấp đô thị Việt Nam Dự án có 6 hạng mục, trong đó hạng mục 1: “Nâng cấp cơ sở hạ tầng cấp 3 trong các khu dân cư thu nhập thấp” thực hiện việc chỉnh trang mở rộng hẻm, cải tạo hoặc làm mới hệ thống cấp thoát nước, cấp điện, chiếu sáng.
Dự án nâng cấp đô cấp 3 là một Dự án đa ngành, giúp các khu dân cư có thu nhập thấp (KDCTNT) tiếp cận với các tiện nghi của đời sống đô thị như: Giao thông thuận lợi, nước sạch và điện được cung cấp với giá chính thức, môi trường sống được cải thiện với hệ thống thoát nước, nhà vệ sinh và rác được xử lý, giảm thiểu ô nhiễm sẽ giúp giảm bớt chi phí chăm sóc sức khỏe và gia tăng số lượng ngày công lao động sản xuất của cộng đồng.
Dự án chia ra thành 2 giai đoạn Nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật và chuẩn bị các hồ sơ thầu cho giai đọan 1 (nâng cấp hạ tầng cấp 3 tại 33 khu thu nhập thấp) đã hoàn thành Giai đoạn 2 bao gồm việc nâng cấp cơ sở hạ tầng cấp 3 (tức là: đường hẻm, thoát nước, cấp điện và chiếu sáng v.v…) Trong khoảng 77 khu vực thu nhập thấp gồm khoảng 540 ha trên địa bàn 14 quận với 70.982 nhà và 375.175 người cộng thêm việc nâng cấp một số hệ thống thoát nước cấp 4 mới xác định trong các hẻm thuộc lưu vực thoát nước Nhiêu Lộc – Thị Nghè
Hình 4.1 - Sơ đồ mô tả cấu trúcvà các giai đoạn thực hiện Dự án Nâng cấp Đô thị
4.1.2 Địa bàn thực hiện Dự án
Qua việc tổng hợp kết quả của việc khảo sát cho thấy sơ bộ xác định được 45 khu vực thu nhập thấp thuộc 5 Quận phù hợp để nghiên cứu xây dựng kế hoạch nâng cấp các cơ sở hạ tầng kỹ thuật cấp 3 tiểu dụ án thành phần số 2 có số địa bàn nâng cấp trình được trình bày trong Bảng 4.1.
Cải thiện C.sở Hạ tầng Cấp 2, 3
Dự án Thành phần 1: Nâng cấp Cơ sở Hạ tầng
Dự án Nâng cấp Đô thị Việt nam
Cải thiện C.sở Hạ tầng Cấp 2, 3 kết hợp tại các khu DCTNT thuộc lưu vực Tân Hóa Lò
Hoàn thành thiết kế kỹ thuật chi tiết và hồ sơ thầu đã hoàn tất vào
Cải thiện C.sở Hạ tầng Cấp 3 tại các khu DCTNT ngòai lưu vực
Bảng 4.1 – Các địa bàn được nâng cấp
Quận Phường Khu nâng cấp
Quận 1 Tân Định Cụm hẻm 189 Trần Quang Khải
Phường 1 Các hẻm 37, 47 Hồ Thị Kỷ
Phường 10 Các hẻm 594, 626 Sư Vạn Hạnh
606/149/8) Các hẻm 37, 47 Hồ Thị Kỷ
Phường 1 Hẻm 304 Phan Đình Phùng và cụm hẻm nhánh của 270
Phường 2 Cụm hẻm 9, 75, 95 Phan Xích Long
Cụm hẻm 114, 124 Nguyễn Đình Chiểu, hẻm 6 Phan Xích Long
Hẻm 440 Nguyễn Kiệm và cụm hẻm 178, 186, 200 Phan Đăng Lưu
Cụm hẻm 413 Nguyễn Kiệm, hẻm 38 Hoàng Văn Thụ.
Cụm hẻm 42 Hồ Văn Huê, hẻm 170 Hoàng Văn Thụ.
Phường 10 Cụm hẻm 12 Trương Quốc Dung, hẻm 12 Hoàng Diệu.
Phường 12 Cụm hẻm 151 Huỳnh Văn Bánh
Phường 13 Cụm hẻm 489, 489A/21 Huỳnh Văn Bánh và cụm hẻm
129, 259 Bùi Hữu Nghĩa; Đường Nguyễn Thái Học
Hẻm nhánh số 34 đường Nguyễn Duy và các hẻm phụ
Phường 7 Hẻm10 Hoàng Hoa Thám sang hẻm 3 Nơ Trang Long thông với 23 Nơ Trang Long
Phường 12 Hẻm 302 Nơ Trang Long
Cụm hẻm: 414 Nơ Trang Long, 412 Nguyễn Xí, 242
Hẻm khu phố 63 thông ra hẻm 80 Điện Biên Phủ; Hẻm
68, 71 Phan Văn Hân thông ra đường Trường Sa
Cụm hẻm 195, 217, 245 Xô Viết Nghệ Tĩnh và 430 Điện Biên Phủ
Phường 21 Cụm hẻm 64, 80 Xô Viết Nghệ Tĩnh
Hẻm 180 Xô Viết Nghệ Tĩnh
Cụm hẻm 81 Võ Duy Ninh ra 103 Võ Duy Ninh
Cụm hẻm 71 Nguyễn Hữu Cảnh
Hẻm 113/4/108 thông ra 117 Nguyễn Hữu Cảnh
Hẻm 6N NgôTất Tố 30/68 Võ Duy Ninh
Hẻm 102 NgôTất Tố sang hẻm 18 Phú Mỹ
Hẻm 30M Phù Mỹ thông sang hẻm 30 Ngô Tất Tố
Phường 24 Cụm hẻm 167, 125/42, 217/9 Bùi Đình Tuý
Phường 4 Hẻm 368 CMT 8 và hai hẻm phụ.
Phường 5 Cụm hẻm 98 Cách mạng Tháng 8
Phường 7 Cụm hẻm 259 Cách mạng Tháng 8
Phường 8 Cụm hẻm 25 Bành Văn Trân
Cụm hẻm 198 (số mới 870) Lạc Long Quân
Phường 13 Cụm hẻm 256 (số mới 958) Lạc Long Quân thông ra hẻm 55 Thạnh Mỹ (số nhà 115-117) và hẻm nhánh 63,
Nguồn: Kết quả khảo sát của Tư vấn NCĐT tháng 12/2006)
Thực hiện việc chỉnh trang, mở rộng hẻm, cải tạo hoặc làm mới hệ thống cấp thoát nước, cấp điện, chiếu sáng được thực hiện theo các hạng theo các hạng mục sau:
Chiều dài hẻm chính được kéo dài đến đường lớn xem như đấu nối với hệ thống giao thông cấp 1, 2 ở bên ngoài ranh giới của khu lụp xụp Nếu phần dự phòng đấu nối của hạ tầng cấp 3 này có thiếu thì sẽ tính vào phần ráp nối của hạ tầng cấp 1, 2 sau này Nếu phần dự phòng có thừa, sẽ sử dụng mở rộng diện tích dành cho bãi đậu xe và chỗ quay đầu xe Nếu hẻm hiện hữu rộng hơn 4,5m, sẽ giữ nguyên chiều rộng hẻm cũ, vì đơn giá khái toán tính bằng mét vuông.
Phần phá dỡ vì hẻm hiện hữu nhỏ hơn 2m, sẽ cho nhân dân tự thực hiện.
Hẻm hiện hữu rộng hơn 2m, giữ nguyên chiều rộng hẻm cũ, vì đơn giá khái toán tính bằng mét vuông.
Hẻm cụt (rộng dưới 2m, chiều dài < 25m)
Việc thi công các hẻm cụt còn gọi là thông hành địa dịch, các hẻm này đa số dài dưới 25m, chỉ phục vụ cho 1-2 hộ bên trong, sẽ tùy tình hình thực tế mà địa phương quyết định có nên mở rộng thành 2m hay giữ y nguyên hiện trạng, nhưng về khối lượng thì đã được tính vào tổng chiều dài và diện tích các hẻm phụ của toàn khu.
Chỉ thực hiện để nâng đường hẻm những khu đất thấp.
Cao trình san lấp chỉ căn cứ vào yêu cầu của khu vực khi khảo sát về mức độ bị ngập úng, cao độ hiện hữu của hệ thống hạ tầng cấp 1&2 của thành phố hoặc theo báo cáo của địa phương.
• Hệ thống cấp nước Đường ống PVC φ150: Chạy dọc theo các hẻm chính đến đường lớn Việc đấu nối đến các hạ tầng cấp 1&2 hoặc đến các trạm cấp nước thành lập riêng cho khu vực, được tính toán cụ thể sau ường ống PVC φ100: Chạy dọc theo các hẻm phụ Các phụ kiện tê, cút, cũng đã được tính gộp trong đơn giá đường ống cấp nước Số lượng đồng hồ nước và khối lượng ống dẫn nước cỡ nhỏ (φ100) được tính theo số căn hộ không có đồng hồ nước trong khu vực cần nâng cấp.
Hệ thống thoát nước φ600mm: Đi dọc theo đường hẻm chính như đã nêu trên.Phần đấu nối đến các cơ sở hạ tầng cấp 1, 2 sẽ được tính riêng hoặc sẽ xử lý theo phương thức tự thấm Đến giai đoạn báo cáo khả thi sẽ tính toán chi tiết hơn, căn cứ vào cao trình của toàn khu vực, trong đó các cơ sở hạ tầng cấp 1, 2; nếu có, sẽ được tính toán đấu nối lại với hạ tầng cấp 3 hiện nay.
Cống thoát nước φ400: Chạy dọc theo các con hẻm phụ.
Các hố ga: được đặt cách khoảng bình quân 25m.
Chiều dài tính toán của hệ thống thoát nước bằng với hệ thống chiều dài đường hẻm, mặc dù có một số nơi cũng có cống rãnh cũ Đến giai đoạn khả thi sẽ tính lại nếu số lượng cống cũ còn tốt và phù hợp với mạng thoát nước mới.
Trong báo cáo khả thi, khi cần sẽ tính thêm việc thực hiện các cống tho át nước băng ngang đường hẻm.
Gồm đường dây hạ thế và chiếu sáng, trạm biến thế, đồng hồ điện.
Hạ thế và chiếu sáng: Khối lượng đường dây hạ thế và chiếu sáng đã được tính toán theo chiều dài của tổng số các hẻm chính và phụ.
Trạm biến thế: Tính theo tiêu chuẩn 02KVA/1 hộ, với nhận xét khu dân cư thu nhập thấp không sử dụng điện vào sản xuất mà chỉ sử dụng vào sinh hoạt, thắp sáng. Đồng hồ điện: Sẽ gắn riêng từng nhà, theo tỷ lệ số lượng căn nhà không có đồng hồ điện đã được khảo sát.
Sử dụng hệ thống đèn chiếu sáng dọc các con hẻm.
Cột: Đi chung cột với hệ thống điện.
Dây dẫn: Sử dụng cáp treo Quaduplex 4x11mm2 đi chung cột điện. Đèn: Sodium cao áp 75W/220V ánh sáng vàng.
• Hệ thống phòng cháy chữa cháy
Lắp đặt họng nước cứu hỏa dọc theo các hẻm chính, nơi giao nhau ngã 3,4 hoặc lắp đặt tại đầu hẻm chính, mỗi họng nước cách nhau khoảng 150m.
Vị trí lắp đặt được chọn tại các ngã 3, ngã tư và đầu hẻm chính, đảm bảo nguyên tắc xe cứu hỏa dễ dàng lấy nước và thao tác hoạt động.
4.1.4 Qui trình thi công thực hiện
Dự án có 3 hạng mục sẽ được nâng cấp là nâng cấp hệ thống cấp nước, nâng cấp hệ thống thóat nước và nâng cấp hẻm cùng với hệ thống chiếu sang Qui trình thi công các hạng mục trên sẽ gồm rất nhiều bước nhưng có thể được tóm tắt bằng các qui trình như trong Hình 4.2, 4.3, 4.4
Hình 4.2 – Qui trình thi công hệ thống thóat nước
PHÁ H ỦY VÀ G I ẢI PHÓNG M ẶT BẰNG
LO ẠI BỎ LỚP MẶT
- Nhà c ửa bị ảnh hưởng
- C ản trở giao thông ĐÀO XỚI - Ti ếng ồn
- B ụi và ô nhiễm không khí
- Ch ất thải bùn đất
LO ẠI BỎ VẬT LIỆU ĐÀO X ỚI
L ẮP ĐẶT CỐNG/ĐƯỜNG Ố NG VÀ
(Đúc sẵn hoặc xây dựng tại công trường)
- Ti ếng ồn, bụi, ô nhiễm không khí
- Ch ất thải xây dựng
SAN L ẤP - Ti ếng ồn, bụi và ô nh i ễm không khí
HO ẶC BÊ TÔNG - Ti ếng ồn, bụi và ô nhiễm không khí
Hình 4.3 – Qui trình thi công hệ thống cấp nước
CƯA/LOẠI BỎ LỚP MẶT - Ti ếng ồn
- B ụi ĐÀO XỚI - Ti ếng ồn
- B ụi và ô nhiễm không khí
- Ch ất thải bùn đất
TR Ữ V ẬT LIỆU ĐÀO XỚI
SAN L ẤP - Ti ếng ồn, bụi và ô nhiễm không khí
HO ẶC BÊ TÔNG - Ti ếng ồn, bụi và ô nhiễm không khí
Hi ện trạng môi trường khu vực Dự án
4.2.1 Hiện trạng môi trường không khí
Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí tại các khu nâng cấp thuộc
Dự án được trình bày như sau:
LO ẠI BỎ LỚP MẶT
- Nhà c ửa bị ảnh hưởng
LU N ỀN ĐƯỜNG - Ti ếng ồn, b ụi và ô nhi ễm không khí
- Ti ếng ồn, bụi và ô nhi ễm không khí
- Gia tăng tai nạn giao thông
Bảng 4.2: Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí tại các khu nâng cấp
(Phường) Địa chỉ, địa điểm lấy mẫu
37/17 Hồ Thị Kỷ (27C Lê Hồng Phong)
Nguồn: Trung tâm Môi trường và Sinh thái Ứng dụng, tháng 09/2007
• Đối với thông số SO 2
Khu vực quận Bình Thạnh: Số liệu quan trắc cho thấy nồng độ SO
Dự án dao động trong khoảng từ 0.082 đến 0.168mg/m 3 Nồng độ SO2
Khu vực quận Phú Nhuận: Nồng độ SO trung bình khoảng 0.120mg/m 3 Nồng độ này thấp hơn so với TCVN quy định là 0,35mg/m 3
2 trung bình 0.082mg/m 3 Nồng độ SO2
Khu vực quận 1, quận Tân Bình, quận 10: Nồng độ SO tại các vị trí đo chênh lệch không đáng kể, cao nhất là 0.128mg/m 3 thấp nhất là 0.056mg/m 3 Nồng độ này thấp hơn so với TCVN quy định là 0,35mg/m 3
• Đối với thông số NO trung bình khoảng 0.085 mg/m 3 , thấp hơn TCVN cho phép 3.5lần và nồng độ đo được cao nhất tại vị trí BT-04 là 0.146 và thấp nhất là tại Q10 -14 là 0.062mg/m 3 Nồng độ này thấp hơn so với TCVN quy định là 0,35mg/m 3
Khu vực quận Bình Thạnh: Nồng độ NO2 dao động trong khoảng từ 0.066 đến 0.153mg/m 3 Nồng độ NO2
Quận Phú Nhuận: Nồng độ NO trung bình khoảng 0.106mg/m 3
2 trung bình 0.092 thấp hơn TCVN 5937 -2005 (0.2mg/m 3 ) 2lần Nồng độ NO 2
Khu vực quận 1, quận 10, quận Tân Bình : Nồng độ NO đo được cao nhất là tại vị trí PN-03 và PN-01 (0.124mg/m 3 ) và thấp nhất là tại PN-07 là 0.72mg/m 3
2 trung bình 0.082mg/m 3 Dao động giữa các vị trí đo chênh lệch không đáng kể duy nhất tại vị trí BT-04 là nồng độ NO2
Nồng độ NO đo được 0.108mg/m 3 thấp hơn tiêu chuẩn cho phép gần 2 lần.
• Đối với Độ ồn tại quận Bình Thạnh cao hơn các quận còn lại tuy nhiên nồng độ này vẫn còn thấp hơn tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5937-2005 (0.2mg/m 3 )
Vị trí quan trắc đều nằm trong các con hẻm dự kiến sẽ được nâng cấp do đó ồn chủ yếu do do hoạt động của phương tiện giao thông Ồn giao động trong khoảng 55.0 đến 72.7 dBA Mức độ ồn tại các khu vực Dự án không có sự chênh lệch nhiều Và nằm trong tiêu chuẩn cho phép (75dBA).
• Đối với thông số Bụi
Do các đường hẻm chưa được nhựa hoá, phương tiện vận chuyển qua lại kéo theo bụi và đất đá làm cho môi trường khu vực vị ô nhiễm Nồng độ bụi đo được một số vị trí trong khu vực Dự án gần với tiêu chuẩn cho phép như BT-13, BT-27, Q10-14 và PN-01 chỉ duy nhất vị trí TB-07 vượt tiêu chuẩn cho phép tuy nhiên vượt rất ít (0.31mg/m 3 )
4.2.3 Hiện trạng môi trường nước
• Hiện trạng môi trường nước mặt
Khu vực Dự án thuộc 05 quận: 1, 10, Bình Thạnh, Phú Nhuận và Tân Bình Nguồn nước mặt chịu sẽ tiếp nhận nước thải từ 06 quận trên bao gồm: Kênh Nhiêu
Lộc - Thị Nghè, Kênh Văn Thánh, Kênh Thanh Đa, Kênh Bến Nghé và tất cả sẽ được dẫn ra sông Sài Gòn Hiện trạng chất lượng nguồn nước mặt đặc trưng cho khu vực
Dự án theo Báo cáo quả giám sát chất lượng nước mạng giám sát môi trường khu vực thành phố Hồ Chí Minh năm 2006 đo tại 2 trạm (trạm cầu Lê Văn Sỹ và trạm cầu Điện Biên Phủ) cho thấy : pH: Giá trị pH đo được ở 2 trạm Lê Văn Sỹ (LVS) và Điện Biên Phủ (ĐBP) năm
2006 dao động khoảng từ 6,8 đạt tiêu chuẩn nước mặt loại B – nước mặt dung cho mục đích khác (TCVN 5942-1995 : pH = 5,5 – 9,0) Ôxy hoà tan (DO): Kết quả phân tích nồng độ DO (Ôxy hoà tan ) trung bình năm 2006 tại 2 trạm kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè dao động trong khoảng từ 0 – 2,9 mg/l trong đó, nồng độ DO đo ở trạm Lê Văn Sỹ vào cả 02 đợt nước lớn và nước ròng xuống đến không – không đạt tiêu chuẩn cho phép nước mặt loại B (TCVN 5942-1995 : DO ≥ 2 mg/l), vào lúc nước lớn chỉ trạm ĐBP có nồng độ DO (=7,0 mg/l), đạt tiêu chuẩn cho phép nước mặt loại B.
Nồng độ DO: Trung bình năm 2006 tại trạm Điện Biên Phủ đã tăng khoảng 1,5 lần so với năm 2005 và có xu hướng tăng so với cùng kỳ từ năm 2001-2004 Riêng trạm Lê Văn Sỹ thì nồng độ DO lại giảm xuống không và thấp hơn so với cùng kỳ từ năm 2001-2005
Nhu cầu ôxy hoá học (COD): Nồng độ COD đo đạc ở 2 trạm Lê Văn Sỹ và Điện Biên Phủ dao động trong khoảng từ 72 – 151 mg/l, vượt tiêu chuẩn cho phép loại
B (TCVN 5942-1995 : COD ≤ 35 mg/l) từ 2,0 – 4,3 lần.
So với kết quả phân tích nồng độ COD trung bình năm 2005 thì nồng độ COD đo được ở trạm Điện Biên Phủ trong lần quan trắc này tương đối ổnđịnh, đã giảm 1,1 lần nhưng có xu hướng tăng so với cùng kỳ từ năm 2001-2004 Riêng tại trạm Lê Văn Sỹ có nồng độ COD tăng 1,1 lần và có xu hướng tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2001-
Nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD): Nồng độ BOD5 đo đạc ở 2 trạm Lê Văn Sỹ và Điện Biên Phủ trung bình năm 2006 dao động trong khoảng từ 21 – 44 mg/l, vượt tiêu chuẩn nước mặt loại B (TCVN 5942-1995 : BOD5 ≤ 25 mg/l) khoảng 1,8 lần.
Tuy nhiên so với kết quả phân tích năm 2005 thì nồng độ BOD5 trung bình năm
2006 đo được ở các trạm trên kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè đã giảm từ 1,0 – 1,2 lần và có xu hướng giảm so với cùng kỳ từ năm 2001-2005 Ô nhiễm vi sinh: Kết quả phân tích Coliform trung bình năm 2006 tại các trạm kênh Tham Lương – sông Vàm Thuật dao động trong khoảng từ 1x1012 – 20x1012 MPN/100ml, vượt tiêu chuẩn nước mặt loại B (TCVN 5942-1995 Coliform = 10.000 MPN/100ml) từ 108 – 20x108lần.
So với kết quả phân tích tổng Coliform năm 2005 thì hàm lượng Coliform đo được trong lần quan trắc năm 2006 tăng từ 11 – 28 lần và có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm 2001-2004
• Hiện trạng môi trường nước ngầm
Theo Báo cáo kết quả quan trắc và giám sát chất lượng môi trường Tp.HCM năm
2006 cho thấy chất lượng nước ngầm khu vực Dự án: pH: Giá trị pH đo đạc ở các giếng trong kỳ quan trắc này dao động trong từ 4,4 – 6,5 qua các kỳ quan trắc, giá trị pH đo được ở các trạm đều tương đối ổn định, không có biến đổi đáng kể Nước ngầm tự nhiên thông thường có pH thấp, khi khai thác sử dụng sẽ được xử lý tuỳ mục đích sử dụng.
Điều kiện kinh tế xã hội tạicác khu vực D ự án
• Khu nâng cấp thuộc Quận 1
Quận 1 nằm ở vị trí trung tâm Tp.HCM Những năm qua, Quận 1 đã có những bước chuyển biến lớn lao trong xây dựng kinh tế và phát triển văn hoá xã hội, giữ vững và phát huy ưu thế của một trung tâm thành phố Quận 1 với Phường Tân Định là phường duy nhất nằm trong Dự án Nâng cấp Đô thị Tp.HCM bởi vẫn tồn tại những khu dân cư thu nhập thấp Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn Phường Tân Định tương đối ổn định Phường luôn duy trì việc chăm lo trẻ em nghèo, khó khăn có điều kiện học tập bằng các hình thức như trợ cấp hàng tháng, trao học bổng Tích cực tổ chức, tham gia các đêm hội diễn văn nghệ quần chúng.
Cụm hẻm 198 Trần Quang Khải nằm trong số ít những khu lụp xụp của Phường Tân Định – Quận 1 Do đó việc đưa cụm hẻm này vào Dự án là rất hợp lý, vừa góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của các hộ có thu nhập thấp, vừa góp phần chỉnh trang đô thị khi mà Tân Định là phường nằm ở trung tâm thành phố.
• Khu nâng cấp thuộc Quận 10
Quận 10 là một trong số những quận trung tâm và nằm về phía Tây của thành phố Với Dự án Nâng cấp Đô thị thực hiện trên địa bàn Quận, số lượng các cụm hẻm được đưa vào Dự án là 4 cụm hẻm thuộc các phường 1, 10, 13 và 14 Nhằm thực hiện từng bước chỉnh trang nâng cấp về hạ tầng kỹ thuật và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trong các khu dân cư còntương đối nghèo, với thu nhập bình quân mỗi người thấp, mỗi phường của Quận 10 đã lựa chọn và đưa vào Dự án các cụm hẻm với mặt bằng dân sinh và hạ tầng kỹ thuật thấp.
Các khu dân cư thuộc 4 cụm hẻm đưa vào Dự án của Quận 10 cùng mang đặc điểm chung là vẫn còn nhiều hộ nghèo với đời sống khó khăn chưa có điều kiện để phát triển về kinh tế Nhà ở của người dân trong khu vực còn lụp xụp, nhỏ hẹp, các tuyến hẻm nhỏ, ngoằn nghoèo Khó khăn trong lưu thông và không đủ các tiêu chuẩn giải cứu những sự cố xấu (hoả hoạn, cứu thương).
Do vậy việc nâng cấp, mở rộng các tuyến hẻm sẽ đem lại nhiều lợi ích cho người dân, đảm bảo lưu thông thuận lợi trên các trục đường Hầu hết người dân đồng tình với việc đóng góp 10% chi phí xây lắp của Dự án Tuy nhiên vẫn có những hộ thực sự khó khăn yêu cầu được hỗ trợ vì không đủ khả năng đóng góp và không có kinh phí sửa chữa nhà sau khi di dời mặt tiền nhà phục vụ công tác mở rộng hẻm.
• Khu nâng cấp thuộc Quận Bình Thạnh
Sau nhiều lần chia tách hiện nay quận Bình Thạnh có 20 phư ờng Quận còn nhiều Phường nghèo do đó số lượng các cụm hẻm đưa vào Dự án Nâng cấp Đô thị là lớn nhất so với các Quận nội thành Trong phạm vi gói thầu TV3-TP2 bao gồm 10 phường: 1, 3, 7, 12, 13, 17, 19, 21, 22, 24 với 23 cụm hẻm tổng chiều dài các tuyến hẻm vào khoảng 12km
Dân cư trong các cụm hẻm chủ yếu là lao động phổ thông, thu nhập thấp do đó đời sống kinh tế gặp rất nhiều khó khăn (đặc biệt là ở P.1, P.12) Song, người dân luôn nhận được sự quan tâm của UBND Phường Các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn các phường thường xuyên được theo dõi, giám sát nhằm bảo vệ sức khoẻ, lợi ích của người dân sống trong khu vực và ngăn cấm các hành vi vi phạm pháp luật của các cá nhân, tổ chức.
Người dân ở Quận Bình Thạnh nói chung đều sống gần các kênh, rạch rất ô nhiễm do đó thường bị những bệnh ngoài da, truyền nhiễm như sốt xuất huyết, thương hàn, tả lị Hơn nữa, Người dân Quận Bình Thạnh nói chung và ở các cụm hẻm đưa vào Dự án nói riêng không chỉ phải sinh sống, đi lại trên những tuyến đường nhỏ hẹp, chất lượng xấu mà còn thường xuyên phải chịu cảnh ngập lụt do nước triều, do mưa và tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng từ những kênh rạch Ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống, sức khoẻ Do đóviệc đưa các cụm hẻm vào Dự án NCĐT là việc làm cấp bách
• Khu nâng cấp thuộc Quận Phú Nhuận
Khu nâng cấp thuộc Dự án Nâng cấp Đô thị Tp HCM của Quận Phú Nhuận gồm có 13 cụm hẻm thuộc 7 phường: 1, 2, 3, 9, 10, 12, 13 với tổng diện tích các khu là 22 ha và gần 6 km đường hẻm Đời sống của người dân ở các cụm h ẻm hiện nay tương đối ổn định Tuy nhiên khi Dự án thực hiện sẽ mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng dân cư có thu nhập thấp nhất là đối với những cụm hẻm thường xuyên ngập lụt
(75, 95 Phan Xích Long, 41, 81 Phùng Văn Cung – Phường 2); Hẻm nhánh 270 Phan Đình Phùng (Phường 1); Cụm hẻm 151 Huỳnh Văn Bánh (Phường 12); Cụm hẻm
489, 489A/21 Huỳnh Văn Bánh, 137/32 Lê Văn Sỹ (Phường 13)
• Khu nâng cấp thuộc Quận Tân Bình
Tình hình sản xuất, kinh doanh trên địa bàn Quận tương đối ổn định Tuy nhiên, ở những cụm hẻm đưa vào Dự án NCĐT đời sống kinh tế người dân hết sức khó khăn, tiêu biểu như ở P.1, P.4 Ngoài ra ở các khu DCTNT đưa vào Dự án, người dân đang sống trong điều kiện khá thiếu thốn về cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Đường xá nhỏ hẹp, xuống cấp, cống thoát nước tạm hoặc còn thiếu, hệ thống điện chằng chịt, không đảm bảo về mặt an toàn cũng như mỹ quan của Thành phố Vì vậy việc đưa các khu DCTNT này vào Dự án NCĐT là cần thiết.
4.3.2 Quy mô, tình trạng cư trú và thu nhập hộ dân
• Quy mô hộ gia đình
Kết quả khảo sát về quy mô các hộ gia đình tại khu vực Dự án cho thấy các hộ gia đình chủ yếu có quy mô vừa với số người trung bình/hộ dao động từ 3,9 -5 người/hộ, trong đó số người trung bình/hộ tại khu DCTNT của Quận 10 là cao nhất (5 người/hộ) và thấp nhất là ở Quận Bình Tân (3,9 người/hộ).
Tình trạng cư trú của người dân thuộc khu vực Dự án được trình bày trong
Bảng 4.3 – Thống kê tình trạng cư trú của tại khu vực Dự án
Nguồn: Kết quả khảo sát của Tư vấn NCĐT tháng 12/2006)
Kết quả khảo sát cho thấy mức thu nhập bình quân của người dân trong khu vực
Dự án ở mức tương đối thấp so với mức thu nhập trung bình của người dân ở một đô thị lớn như Tp.HCM Thu nhập bình quân chỉ đạt khoảng 700.000-800.000 VNĐ/tháng và khá đồng đều tại các khu DCTNT của các quận.
Bảng 4.4 – Mức thu nhập bình quân của người dân khu vực Dự án
Mức thu nhập trạng bình quân
Nguồn: Kết quả khảo sát của Tư vấn NCĐT tháng 12/2006)
Tình hình phát tri ển cơ sở hạ tầng
Kết quả khảo sát về thực trạng nhà ở tại các khu dân cư thu nhập thấp thuộc Dự án cho thấy gồm có các loại nhà ở từ kiên cố, bán kiên cố, nhà khung gỗ, nhà mái lá và nhà tạm xen kẽ nhau nhưng chủ yếu là nhà bán kiên cố Tỷ lệ nhà kiên cố tại các khu vực nghiên cứu của Dự án cao nhất là ở Quận 1, tỷ lệ 42.9% và thấp nhất tại
Quận 10 là 24.2% Nhà bán kiên cố có tỷ lệ cao nhất là ở Quận Bình Thạnh (60.1%)
Bảng 4.5- Thực trạng về nhà ở của các hộ gia đình thuộc khu vực Dự án
3 Loại hình sở hữu nhà
Nguồn: Kết quả khảo sát của Tư vấn NCĐT tháng 12/2006)
Hệ thống đường hẻm tại các khu DCTNT hầu hết là đường bê tông, cá biệt vẫn có một số cụm hẻm thuộc quận Bình Thạnh hiện tại vẫn là đường đất Chiều rộng trung bình của các hẻm đều nhỏ, cộng với mật độ giao thông đông, không được tu sửa thường xuyên nên đa số các hẻm trong tình trạng xuống cấp.
Bảng 4.6 - Hiện trạng mặt đường các tuyến hẻm
Quận Phường Chiều rộng mặt đường (m) Kết cấu mặt đường Tình trạng mặt đường
1 Tân Định 0,5-2,5 Bê tông, Đất
1 2,0-2,4 Bê tông, Xi măng Đã xuống cấp
14 4,0-5,0 Bê tông Đã xuống cấp
1 0,8-4,0 Bê tông Đã xuống cấp
17 1,0-8,0 Bê tông Đã xuống cấp
22 1,0-4,5 Bê tông, Đất Đã xuống cấp
24 2,4-5,0 Bê tông Đã xuống cấp
Quận Phường Chiều rộng mặt đường (m) Kết cấu mặt đường Tình trạng mặt đường
3 1,5-5,0 Bê tông Đã xuống cấp
9 1,3-5,0 Bê tông Đã xuống cấp
12 1,0-4,4 Bê tông Đã xuống cấp
4 1,5-2,5 Bê tông Đã xuống cấp
5 3,5-5,0 Bê tông, Nhựa Đã xuống cấp
8 1,5-4,5 Bê tông Đã xuống cấp
13 2,0-4,0 Bê tông, Sỏi tạp Đã xuống cấp
Nguồn: Kết quả khảo sát của Tư vấn NCĐT tháng 12/2006 )
Phần lớn nước cung cấp cho các quận trong khu vực Dự án là từ ống nước chính với đường kính 2.000mm chạy dọc xa lộ Hà Nội- đường Điện Biên Phủ, do nhà máy xử lý nước Thủ Đức (công suất 830.000m 3 /ngđ) cung cấp Nhìn chung, hệ thống cấp nước khá đồng bộ, tuy nhiên do lượng nước bị thất thoát và rò rỉ khá lớn, nên vẫn còn tình trạng thiếu nước tại một số khu dân cư.
Theo TCXDVN 33-2006 Tiêu chuẩn Cấp nước - Mạng lưới đường ống và công trình - Tiêu chuẩn thiết kế thì tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt cho các đô thị trung tâm đối với các quận nội thành thì lượng nước cấp cho người dân đô thị phải ở mức 180-
220 lít/người/ngày Như vậy, có thể thấy đa số các phường thuộc Dự án đều chưa đạt mức tiêu chuẩn, tình trạng thiếu nước ăn uống và sinh hoạt đặc biệt nghiêm trọng tại các phường như phường 12 (quận Bình Thạnh), phường 4, phường 8, phường 13 (quận Tân Bình)- lượng nước cấp đều nhỏ hơn 100 lít/người/ngày.
Kết quả khảo sát các nguồn nước được sử dụng cho thấy phần lớn các hộ dân đã sử dụng nguồn nước máy qua đồng hồ, chỉ còn một phần nhỏ chưa có đồng hồ riêng vẫn phải câu nhờ nước của các hộ liền kề và vẫn còn khoảng 10% số hộ sử dụng nguồn nước giếng hầu như không qua xử lý trước khi sử dụng Một số rất ít hộ gia đình còn lại (khoảng 1%) sử dụng nước sinh hoạt từ các nguồn khác như nước mưa, nước sông, nước giếng đào
Bảng 4.7 - Hiện trạng cấp nước khu vực Dự án
Lượng nước tiêu thụ trung bình toàn phường/tháng (m 3 )
Lượng nước tiêu thụ trung bình (l/người/ngày) Áp lực nước trung bình (m)
Rò rỉ (m 3 /ngày) 72l/ngày/đấ u nối/m
(Nguồn: Kết quả khảo sát của Tư vấn NCĐT tháng 12/2006)
Hệ thống thoát nước tại các hẻm thuộc Dự án chủ yếu là hệ thống cống ngầm có đường kính từ 400-600mm, được đấu nối với hệ thống cống thoát ngoài hẻm trừ một số phường như phường 11 và xả trực tiếp xuống kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè.
Bảng 4.8 - Hiện trạng hệ thống thoát nước tại các hẻm thuộc Dự án
Quận Phường Chiều dài cống (m) Đường kính cống (mm)
Hiện trạng cống Ghi chú
Nhiều đoạn hẻm chưa có hệ thống thoát nước
Nhiều đoạn hẻm chưa có hệ thống thoát nước
Nhiều đoạn hẻm chưa có hệ thống thoát nước
Chưa có hệ thống thoát nước
Chưa có hệ thống thoát nước
Chưa có hệ thống thoát nước
Quận Phường Chiều dài cống (m) Đường kính cống (mm)
Hiện trạng cống Ghi chú
Chưa có hệ thống thoát nước
Chưa có hệ thống thoát nước
(Nguồn: Kết quả khảo sát của Tư vấn NCĐT tháng 12/2006)
Hiện tượng ngập úng xảy ra tại hầu hết các hẻm Ngập úng nhiều nhất xảy ra tại các tuyến hẻm như phường 3, 17, 19, 21, 22, 24 (quận Bình Thạnh); phường 4, 11, 13 (quận 3); phường 14 (quận 10) và phường 1, 2 (quận Bình Thạnh)
Nguyên nhân ngập được xác định chủ yếu là do mưa lớn, hệ thống thoát nước đã hư hỏng hay xuống cấp, thậm chí một số hẻm còn chưa có hệ thống thoát nước và còn do triều cường Tần suất ngập khá cao, đặc biệt tại các phường thuộc quận Bình
Thạnh (trung bình từ 7-10 lần trong năm), Tân Bình (8-12 lần/năm) với mức ng ập trung bình từ 0,2m đến 0,6m.
Bảng 4.9 - Mức độ ngập lụt tại các tuyến hẻm
Hiện trạng ngập lụt Quận 1 Quận 10 Q Bình
(Nguồn: Kết quả khảo sát của Tư vấn NCĐT tháng 12/2006)
4.4.6 Mạng lưới cấp điện và chiếu sáng
Phần lớn các hộ trong các tuyến hẻm khu vực Dự án đều có điện sử dụng và đều có đồng hồ điện riêng, chỉ có một số ít là đang còn câu nhờ nguồn điện từ các hộ gia đình khác hoặc sử dụng nguồn khác
Tại nhiều tuyến hẻm chưa có hệ thống chiếu sáng công cộng Nhiều tuyến hẻm nếu có thì là hệ thống chiếu sáng công cộng dân lập, đây là hệ thống tự phát do người dân lắp đặt nên không đảm bảo an toàn kỹ thuật và độ sáng Ngoài ra do công tác quản lý không tốt nên các hệ thống này đã hư hỏng và xuống cấp.
Các tác động gây ảnh hưởng đến môi trường do hoạt độ ng c ủa Dự án
Việc xây dựng cơ sở hạ tầng cống thoát nước cấp 3, cấp 4 kết hợp nâng cấp các tuyến hẻm nhìn chung không có ảnh hưởng lớn về môi trường chung nhưng lại tác động trực tiếp đến người dân trong khu vực được nâng cấp nếu nhà thầu thi công không thực hiện đầy đủ các biện pháp bảo vệ môi trường Đối với các Dự án thuộc nhóm các Dự án nâng cấp đô thị, cụ thể là tiểu Dự án thành phần số 2 thuộc Dự án nâng cấp đô thị Tp.HCM, nguồn ô nhiễm phát sinh chủ yếu là trong giai đoạn thi công, giai đoạn vận hành cũng có phát sinh các nguồn gây ô nhiễm, nhưng không đáng kể
4.5.1 Các tác động trong giai đoạn thi công
Các nguồn ô nhiễm chính trong quá trình thi công sẽ lần lượt được trình bày dưới đây bao gồm các nguồn ô nhiễm do có nguyên nhân từ các nguồn thải cả các tác động khác không có nguyên nhân từ các nguồn thải.
Các hoạt động trong giai đoạn thi công của Dự án phát sinh ra bụi chủ yếu bắt nguồn từ các nguyên nhân sau:
- Công tác giải phóng mặt bằng
- Phương tiện vận chuyển vật liệu: Đất cát, xi măng, đường cống…
- Hoạt động thi công đường hẻm, cống thoát nước, lắp đặt ống nước
Bụi phát sinh công tác giải phóng mặt bằng do việc phá dở các hộ giải tỏa cũng như việc sửa chửa mặt tiền nhà đối với các hộ bị giải tỏa 1 phần Bụi phát sinh từ hoạt động này có nồng độ cao, vì vậy nếu không có các biện pháp che chắn khi phá dỡ thì bụi từ giai đoạn này cũng gây nên ô nhiễm cục bộ cho khu vực này.
Bụi phát sinh từ phương tiện vận chuyển đất/cát, phế thải xây dựng, đối với qui mô của Dự án, lượngđất đá thải ra của các họat động chính là:
- Thi công hệ thống cấp thoát nước
- San lấp để làm đường
Việc vận chuyển của các phương tiện giao thông sẽ xảy ra các vấn đề và phát sinh bụi gây ô nhiễm như sau:
- Đất sẽ dính vào bánh xe tải và bị rơi ra các conđường hẻm kế cận và gió phát tán gây ô nhiễm bụi.
- Đất và cát sẽ rơi ra dưới dạng bụi và bị phát tán do phương tiện vận chuyển;
- Bánh xe khuấy bụi khi hoạt động di chuyển trên đường tạm thời và đường cố định.
- Bụi trong khói thải của các phương tiện giao thông
Bụi phát sinh từ nguồn trên thường gây khó chịu cho người dân sống trong khu vực do bụi dễ bị phát tán nhanh cùng với phương tiện vận chuyển đang lưu thông qua lại với tuần suất cao
Một nguồn phát sinh bụi khá quan trong đối với hoạt động thi công của Dự án là việc phát sinh bụi từ quá trình đào xới, bụi bốc lên từ các đống đất và cát tại tất cả công trường đang thi công, Dự án thi công cống cấp 3 và nâng cấp các hẻm nhỏ tuy khối lượng thi công không cao nhưng nếu tiến độ và quá trình thi công không được kiểm soát thì việc phát sinh bụi từ nguồn này sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống người dân và đặc biệt nghiêm trọng vào mùa khô.
Như vậy, bụi từ nguồn phát sinh này luôn gây nhiều khó khăn cho người dân sống trên các tuyến đường có thi công cấp thoátnước và nâng cấp đường nhất là các tuyến đường nhỏ như của Dự án.
Nhiều hoạt động của Dự án góp phần làm phát sinh tiếng ồn:
- Máy móc xây dựng (búa máy, thiết bị khoan cắt và thiết bị đào xới);
Khi Dự án diễn ra hoàn toàn trong khu vực nội thị, mức độ tiếng ồn tăng thường trực tiếp ảnh hưởng đến các hộ dân.
Tiếng ồn trong giai đoạn xây dựng chủ yếu là do hoạt động của các phương tiện vận chuyển và thi công như máy ủi, xe lu, máy kéo, máy cạp đất…
4.5.3 Ô nhiễm không khí Đối với họat động thi công của Dự án, lượng xe lưu thông vận chuyển đất đá ra khỏi công trường là khoảng 130-140 xe cho 1 khu vực, đây cũng nguồn phát sinh khói thải chính gây gia tăng ô nhiễm không khí cho thành phố, tuy nhiên với 130-140 xe cho 1 khu vực được nâng cấp và do thi công theo kiểu cuốn chiếu nên ước tính chỉ khoảng 10 xe/ngày ra vào trong khu vực được nâng cấp nên tải lượng ô nhiễm không khí phát sinh do các phương tiện này là không cao và chỉ xảy ra trong 1 thời gian nhất định
Ngoài ra do các khu vực được nâng cấp chủ yếu là nằm trong các tuyến đường nhỏ, đường hẻm, mật độ thi công ít, khối lượng thi công không cao, mức độ tập trung phương tiện cơ giới nặng thấp, không phải là tuyến đường lưu thông chính nên không phát sinh điểm kẹt xe cho khu vực thi công và các khu vực lân cận Tình trạng gây nên nhiều điểm tắc nghẽn đối với hệ thống giao thông chung của thành phố cũng làm gia tăng nồng độ chất ô nhiễm trong không khí xung quanh của thành phố.
4.5.4 Nước thải trong giai đoạn thi công
Nguồn phát sinh nước thải trong giai đọan thi công của Dự án bao gồm:
- Nước thải bơm ra từ các khu vực đang thi công
- Nước thải sinh họat của công nhân
Nước thải được bơm ra từ các hố, rảnh đã được đào sẳn để thi công hệ thống thóat nước cũng được xem là nguồn nước thải, thường sau những ngày mưa lớn nước mưa bị giữ lại trong các hố rảnh sẽ phải được bơm ra để tiếp tục thi công, lượng nước bơm ra tuy không chứa nhiều chất ô nhiễm quan trọng (chủ yếu là bị ô nhiễm do chất rắn lơ lửng trong nước) nên không tác động nhiều đến môi trường nước mặt trong khu vực nhưng gây mất vệ sinh tại khu vực người dân đang sinh sống nên cũng có các biện pháp để kiểm sóat nguồn nước thải này
Nước thải sinh họat là nước thải phát sinh từ họat động sinh họat của công nhân xây dựng của Dự án, ước tính số lượng công nhân có mặt tại một điểm thi công là từ 10-20 người nên lượng nước thải sinh họat ước tính là khoảng 0,5-1m3/ngày và chủ yếu là nước sử dụng trong nhà vệ sinh vì Dự án hoàn toàn nằm trong khu dân cư, mặt bằng thi công nhỏ, khối lượng công việc không nhiều nên không có xây dựng lán trại công nhân để sinh họat, tắm rửa, công nhân sau giờ làm việc sẽ rời khỏi công trường Tuy lượng nước thải sinh họat ước tính là không cao nhưng nếu không có biện pháp quản lý tránh tình trạng tiêu, tiểu ngay tại khu vực thi công sẽ gây ô nhiễm cục bộ cho người dân sống xung quanh công trường thi công.
• Chất thải từ quá trình san lấp, đào bới để lắp đặt hệ thống thóat nước
Với qui mô thi công 17.823m cống D600 và 13.836m cống D400 thì khối lượng đất đá cần phải mang ra khỏi khu vực thi công là khỏang 7.000 m3 hoặc trung bình khoảng 155m3 cho 1 khu vực được nâng cấp Đây cũng được xem là nguồn chất thải rắn của dự án và nếu không có kế họach lưu trữ đi thích hợp và vận chuyển đi kịp lúc sẽ gây ô nhiễm cho khu vực xung quanh do phát sinh bụi trong mừa khô hoặc gây nên cảnh sình lầy cho phần đường giao thông còn lại trong khu vực thi công.
• Chất thải rắn xây dựng
Là các lọai chất thải phát sinh từ các họat động thi công như sắt thép vụn, bao bì xi măng, ván cốt pha xây dựng hố gas… Tất cả các lọai này đều được xem là chất thải và cũng được
• Chất thải rắn sinh hoạt
Với qui mô của dự án, lượng công nhân tập trung tại một điểm thi công thường không nhiều (khoảng 20 người) nên lượng rác thải phát sinh là không nhiều Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc xả rác sinh họat bừa tại các công trường đang thi công trong thành phố không chỉ do công nhân vệ sinh của công trường mà phần lớn là do người dân thiếu ý thức đã vứt bỏ rác vào các khu vực khuất tầm nhìn của công trường đang thi công Việc xả rác bừa bãi gây mất vệ sinh là kết quả tất yếu do: Hạn chế về giao thông, thiếu hệ thống thu rác thải ở địa phương và thói quen xấu xả rác vào những nơi “tiện nhất” vẫn còn tồn tại phần đông ở nhiều người
4.5.6 Mất vệ sinh môi trường tại khu vực được nâng cấp