Các sản phẩm từ nhựa có nhiều tính năng còn tốt hơn các sản phẩm được sản xuất từ các loại vật liệu: gỗ, sắt, nhôm, thủy tinh...Ví dụ: các vật dụng trong nhà hầu hết đã được thay thế bằn
Lu ận chứng kinh tế
Tiêu dùng trong và ngoài nước tăng tạo điều kiện thuận lợi cho ngành sản xuất nhựa Việt Nam tăng trưởng nhanh trong nhiều năm tới Chính phủ đã đặt ra kế hoạch tăng trưởng ngành giai đoạn 2006–2010 là 15%/năm Hiệp hội Nhựa ước tính rằng năm 2009 ngành sản xuất nhựa trong nước sẽ đạt sản lượng 3,2 triệu tấn, tăng từ 2,3 triệu tấn năm 2008, và kim ngạch xuất khẩu năm 2009 sẽ đạt mức cao.
1 tỷ USD, tăng 15,9% so với năm 2008.
Bảng 1.1: Bảng chỉ tiêu các sản phẩm nhựa chủ yếu qua các năm.
Sản xuất vật liệu xây dựng 170.000 400.000 900.000
Sản xuất sản phẩm nhựa gia dụng 300.000 550.000 900.000
Sản xuất sản phẩm nhựa kĩ thuật cao 120.000 350.000 800.000
Kể từ năm 2000, ngành công nghiệp sản xuất nhựa Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao nhờ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu tăng mạnh Tiêu thụ nhựa bình quân đầu người ở Việt Nam năm 1975 chỉ 1 kg/năm và không có dấu hiệu tăng trưởng cho đến năm 1990; từ năm 2000 trở đi, tiêu thụ bình quân đầu người tăng đều đặn lên 12 kg/năm và đạt đỉnh 34 kg/người vào năm 2008 Chính phủ kỳ vọng đến năm 2010 tiêu thụ bình quân đầu người sẽ đạt 40 kg/năm Sự gia tăng tiêu thụ sản phẩm nhựa đã thúc đẩy làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành xây dựng, giao thông vận tải và các ngành sản xuất khác phát triển và mở rộng xuất khẩu.
Hình 1.2: Tiêu thụ sản phẩm nhựa theo đầu người tại Việt Nam (kg/người)
(theo nguồn: Bộ Công Thương).
Xuất khẩu sản phẩm nhựa tăng đã thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất nhựa ở Việt Nam Nhựa là một trong những mặt hàng xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong 5 năm qua, cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của ngành nhựa Việt Nam trên thị trường quốc tế Theo các báo cáo, dự báo năm 2009 kim ngạch xuất khẩu nhựa tăng 15,9%.
Nhựa Việt Nam có tiềm năng phát triển rất lớn để thiết lập vị thế vững chắc trên thị trường quốc tế Năm 2008, thị trường nhựa toàn cầu đạt khoảng 400 tỷ USD, trong đó nhựa làm vật liệu chiếm 50%, nhựa bán thành phẩm chiếm 25% và nhựa hoàn chỉnh chiếm 25%, với doanh thu nhựa hoàn chỉnh khoảng 100 tỷ USD mở ra nhiều cơ hội xuất khẩu cho sản phẩm nhựa Việt Nam Với lợi thế chi phí cạnh tranh, quy mô sản xuất và khả năng đáp ứng nguồn cung, nhựa Việt Nam có vị thế cạnh tranh trên trường quốc tế nhờ sự đa dạng sản phẩm, chuỗi cung ứng ổn định, chất lượng ngày càng được cải thiện và chi phí hợp lý.
- Việc áp dụng các công nghệ sản xuất tiên tiến.
- Được hưởng những ưu đãi về thuế quan.
- Có khả năng thâm nhập thị trường tốt.
Hình 1.3: Kim ngạch xuất khẩu nhựa của Việt Nam từ năm 2004-2009 ( triệu USD)
(theo nguồn: Hiệp hội nhựa Việt Nam).
Sản phẩm nhựa Việt Nam đã hiện diện ở hơn 55 nước trên thế giới, bao gồm các khu vực châu Á, châu Mỹ, châu Phi, châu Âu và Trung Đông 10 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Campuchia, Đức, Anh, Hà Lan, Pháp, Đài Loan, Malaysia và Philippines Hiện có khoảng 530 công ty nhựa tại Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu.
Bảng 1.2: Bảng tham khảo một số thị trường xuất khẩu sản phẩm nhựa đạt kim ngạch cao.
Thị trường Tháng 4/2010 (USD) So T2/2010(%) So T3/2010(%)
(Theo nguồn: Hiệp hội nhựa Việt Nam).
Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành Nhựa Việt Nam đến năm 2010, tập trung vào triển khai các dự án sản xuất nguyên liệu nhựa nhằm tăng tự chủ nguồn cung và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành.
Hiện nay, nhiều dự án đầu tư nguyên vật liệu cho ngành nhựa đang được triển khai, nổi bật với các nhà máy sản xuất PP1, PP2 và PE Nếu các dự án này được thực hiện đúng tiến độ, đến cuối năm 2010 tổng công suất sản xuất có thể được bổ sung thêm khoảng 1,2 triệu tấn mỗi năm Nhờ đó, các doanh nghiệp sẽ có nguồn cung nguyên liệu đầu vào được chủ động hơn và có thể giảm thiểu rủi ro biến động giá nguyên liệu cũng như rủi ro về tỷ giá.
Nhờ tốc độ tăng trưởng đều đặn của Coca-Cola, ngành đóng gói, bao bì và đặc biệt là các công ty cung cấp sản phẩm két đã được hưởng lợi đáng kể Theo Công ty Cổ phần Nhựa Tân Phú, két bia và két nước ngọt bằng nhựa là mặt hàng tiêu thụ mạnh nhất hiện nay Trên 50.000 vỏ két bia, két nước ngọt các loại được công ty cung cấp cho thị trường với doanh thu hàng tháng trên 2 tỷ đồng.
Do đó việc xây dựng một nhà máy chuyên cung cấp két nước ngọt Coca cola sẽ có tính khả thi rất cao:
- Hưởng được nhiều lợi thế từ kế hoạch phát triển ngành nhựa của chính phủ.
- Coca cola có tốc độ tăng trưởng nhanh, ổn định là thị trường tiêu thụ mạnh.
- Xây dựng xí nghiệp chuyên cung cấp két nước giải khát thì sản phẩm sẽ có tính cạnh tranh rất cao.
- Xí nghiệp ra đời sẽ giải quyết việc làm cho nhiều người, đóng góp vào nguồn thu ngân sách của địa phương.
Ch ọn sản phẩm thiết kế
Ch ọn sản phẩm thiết kế
LU ẬN CHỨNG KINH TẾ VÀ CHỌN SẢN
Ngành sản xuất sản phẩm nhựa là một trong những ngành công nghiệp đang phát triển nhanh nhất tại Việt Nam với tốc độ tăng trưởng trung bình trong
Trong 10 năm trở lại đây, ngành nhựa Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 15–20% mỗi năm Năm 2008, tổng doanh thu của ngành đạt khoảng 5 tỷ USD, tăng 26% so với cùng kỳ năm trước Việt Nam sản xuất đa dạng các sản phẩm nhựa, bao gồm đóng gói, đồ gia dụng, vật liệu xây dựng, thiết bị điện và điện tử, linh kiện xe máy và ô tô, cũng như các linh kiện phục vụ cho ngành viễn thông và giao thông vận tải.
TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ ÉP PHUN
Gi ới thiệu
Công nghệ ép phun là công nghệ truyền thống của ngành sản xuất nhựa, đã trải qua 4 thế hệ máy, trong đó thế hệ thứ 4 gồm các loại máy ép điện và máy ép gas đang được áp dụng phổ biến tại các nước công nghiệp nhựa tiên tiến như Đức, Mỹ, Nhật Bản và hiện nay xâm nhập ngày càng nhiều vào thị trường Châu Á Loại công nghệ này phục vụ cho các ngành công nghiệp điện tử, điện dân dụng, sản xuất ô tô và nhiều ngành công nghiệp khác, với công nghệ vi mạch điện tử được xem là đỉnh cao của nó Trước đây công nghệ ép phun được sử dụng chủ yếu để sản xuất hàng gia dụng, nay đã chuyển sang sản xuất hàng nhựa công nghiệp phục vụ cho nhiều ngành công nghiệp khác, và sản phẩm từ ép phun đang thay thế các chất liệu gỗ, sắt, nhôm trong công nghiệp bao bì và hàng tiêu dùng.
Đặc điểm công nghệ
- Ép phun (đúc dưới áp suất hay đúc tiêm) là phương pháp gia công chủ yếu trong công nghiệp gia công polymer
- Các nhựa nhiệt dẻo thường được gia công bằng phương pháp này.
- Phương pháp ép phun thuộc nhóm 1 theo cách phân nhóm trạng thái vật liệu.
- Sản phẩm gia công có kích thước khá chính xác theo 3 chiều vì được tạo hình trong khuôn kín
- Quá trình gia công gồm 2 quá trình:
- Tuỳ theo nguyên liệu đúc, chế độ nhiệt độ của khuôn đúc là khác nhau (nhựa nhiệt dẻo khác nhựa nhiệt rắn).
- Vật liệu chảy vào khuôn qua các rãnh, cửa tiết nhỏ.
- Khi vùng tạo hình của khuôn đã được lấp đầy nguyên liệu thì khuôn mới chịu tác dụng của lực ép.
- Năng suất cao, chu kỳ ngắn.
- Gia công bằng phương pháp ép phun tiết kiệm được nhiều nguyên liệu Ít tốn công hoàn tất.
Quá trình ép phun thường gặp sự không ổn định về nhiệt độ và áp suất, đây là một đặc điểm không thuận lợi của phương pháp này Sự biến động nhiệt độ và áp suất ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm.
Phân lo ại máy ép phun
- Vật liệu được nhựa hóa trong xy lanh nguyên liệu gọi là xy lanh đốt nóng.
- Bên trong xy lanh đốt nóng có các lõi gia nhiệt giúp hiệu suất gia nhiệt tăng và nhiệt độ vật liệu đồng đều.
2.3.2 Máy ép phun có bộ phận nhựa hóa sơ bộ
Hình 2.1: Máy ép phun có bộ phận nhựa hóa sơ bộ.
- Mục đích: tăng hiệu suất gia nhiệt.
- Có một bộ phận nhựa hóa sơ bộ lắp kề với xy lanh nguyên liệu.
- Vật liệu sau khi nhựa hóa ở phần rời này sẽ được nạp vào xy lanh nguyên liệu và sau đó được đẩy vào khuôn.
Thuận lợi của đúc bằng pít-tông là giảm được áp suất đúc khi pít-tông tác dụng lên khối nhựa lỏng, truyền áp lực trực tiếp mà không gặp sự tổn hao do nén các hạt vật liệu Nhờ cơ chế này, quá trình đúc diễn ra ổn định hơn, giảm thất thoát áp suất và cải thiện chất lượng sản phẩm nhựa, đồng thời tối ưu hóa hiệu suất của hệ thống đúc.
- Bộ phận nhựa hóa sơ bộ có thể là dạng xy lanh đốt nóng với pittông đẩy dạng vít đùn.
- Dạngvít đùn có nhiều thuận lợi hơn
- Trộn vật liệu tốt hơn.
- Hiệu quả gia nhiệt tốt.
- Sản phẩm tạo được có chất lượng tốt do tính đồng nhất của vật liệu tăng. 2.3.3 Máy ép phun trục vít
Hình 2.2: Các bộ phận chính của máy ép phun trục vít
Mặc dù không yêu cầu đo lường chi tiết, lượng vật liệu đi vào máy được phân bổ đồng đều, giúp duy trì áp suất đúc ổn định và đảm bảo chất lượng sản phẩm đồng nhất.
• Tổn thất áp suất trong vùng nguyên liệu trước trục vít ít do chúng đã được đốt nóng đến trạng thái chảy nhớt.
Không tạo được áp suất lớn do có khe hở giữa răng vít và xylanh.
NGUYÊN LIỆU
Các lo ại Polyethylene
Như đã trình bày, PE có thể được tổng hợp và sản xuất bằng nhiều phương pháp khác nhau, mỗi phương pháp cho ra một loại PE mang đặc trưng riêng của phương pháp đó Dựa vào tỉ trọng, cấu hình và tỷ lệ hàm lượng kết tinh của polyethylene, người ta phân polymer thành nhiều loại điển hình Các loại tiêu biểu bao gồm PE mật độ thấp (LDPE), PE mật độ cao (HDPE), PE tuyến tính mật độ thấp (LLDPE) và PE trọng lượng phân tử siêu cao (UHMWPE), với mỗi loại thể hiện sự kết hợp đặc thù giữa cấu trúc và tính chất như độ bền, độ dãn, khả năng chống hóa chất và ứng dụng đa dạng.
HDPE (High Density Polyethylene) là loại polyethylene có mật độ cao, d > 0,955 g/cm3, với số nhánh rất ít (khoảng 1–5 nhánh trên 1000 mạch chính) Trọng lượng phân tử trung bình từ 110.000 đến 3.000.000 g/mol Mật độ cao đi kèm với nhiệt độ hóa mềm cao hơn LDPE và MDPE, đồng thời làm tăng độ cứng và độ bền kéo đứt, nhưng làm giảm độ bền va đập Do nhiệt độ hóa mềm của HDPE cao hơn LDPE và MDPE nên HDPE có độ cứng và giãn dài cao hơn ở nhiều ứng dụng so với PE mật độ thấp Chỉ số chảy MFI của HDPE ở mức thấp, khoảng 0,1 (tùy loại).
20 g/phút Độ kết tinh 70-90% (cấu trúc mạch dài, sắp xếp một cách trật tự và đều đặn nên độ kết tinh càng cao hơn) Điểm chảy mềm (khoảng 121 o
- LDPE (Low density polyethylene): là loại PE có tỷ trọng thấp (d