Đánh giá ảnh hưởng của môi trường nước mặt đến hoạt động NTTS huyện Tiểu Cần .... Hoạt động nuôi hầu như không có biện pháp xử lí nước thải, các ao nuôi không nạo vét bùn,…Nếu không có b
QUAN VỀ HUYỆN TIỂU CẦN
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
Huyện Tiểu Cần nằm ở phía tây tỉnh Trà Vinh, có vị trí địa lý được khái quát mô tả như sau:
- Phía Đông: giáp với huyện Châu Thành.
- Phía Tây: giáp với huyện Cầu Kè (tỉnh Trà Vinh) và huyện Kế Sách (tỉnh Sóc Trăng).
- Phía Nam: giáp với huyện Trà Cú.
- Phía Bắc: giáp với huyện Càng Long.
So với năm 2001, số đơn vị hành chánh cấp xã trực thuộc huyện không tăng, bao gồm
Huyện gồm 9 xã và 2 thị trấn có tổng diện tích tự nhiên là 22.039,88 ha, tăng 16,30 ha so với năm 2001 và chiếm 0,12% diện tích tự nhiên của tỉnh Trung tâm hành chính của huyện đặt tại thị trấn Tiểu Cần, cách trung tâm hành chính tỉnh khoảng 24 km về phía Tây Bắc theo Quốc lộ 60 Nhìn chung huyện có vị trí thuận lợi cho giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội với các địa phương khác trong và ngoài tỉnh.
Huyện Tiểu Cần có địa hình tương đối bằng phẳng, ngoài những giồng cát có địa hình cao đặc trưng > 1,6 m và khu vực ven sông Hậu, Cần Chông cao 1,0 m, còn lại phần lớn diện tích đất trong huyện có cao trình bình quân phổ biến từ 0,4 – 1,0 m Địa hình có hướng thấp dần về phía Đông
- Cao trình từ 0,8 – 1,0 m tập trung ở Tân Hòa, Long Thới, thị trấn Cầu Quan, Phú
Cần, thị trấn Tiểu Cần, Hiếu Tử (ấp Lò Ngò, Ô Đùng).
- Cao trình từ 0,6 – 0,8 m, tập trung ở Hiếu Tử, Hiếu Trung, Phú Cần, Long Thới và rải rác ở Tập Ngãi, Ngãi Hùng, Hùng Hòa.
- Cao trình từ 0,4 - 0,6 m, tập trung ở Tập Ngãi, Ngãi Hùng, Hiếu Trung, Phú Cần.
Ngoài ra, còn một số khu vực trũng cục bộ có cao trình dưới 0,2 m được ghi nhận rải rác ở ấp Te Te, Ông Rùm (Hùng Hòa); Cây Ổi, Xóm Chòi (Tập Ngãi); Cây Gòn (Hiếu Trung) và một số vị trí khác, nhưng diện tích các khu vực này không đáng kể.
Nhìn chung, địa hình thích hợp cho canh tác lúa, hoa màu và cây lâu năm Tuy nhiên ở khu vực gò cao thường thiếu nước canh tác trong mùa khô và một số khu vực trũng thấp bị ngập sâu vào mùa mưa tập trung.
Huyện Tiểu Cần mang những đặc điểm chung của khí hậu đồng bằng Nam bộ, có chế độ khí hậu gió mùa cận xích đạo với nền nhiệt cao đều quanh năm, lượng mưa lớn phân hoá theo mùa Một năm có hai mùa: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5, kết thúc vào tháng 11; mùa khô bắt đầu từ tháng 12, kết thúc vào tháng 4 năm sau.
*Chế độ nhiệt: do nhận được 1 lượng bức xạ dồi dào nên có nền nhiệt cao ít biến động, nhiệt độ trung bình/tháng từ 25-28ºC, cao nhất vào tháng 4, thấp nhất vào tháng
12, tháng 1 Biên độ nhiệt ngày đêm tương đối nhỏ, vào mùa khô biên độ nhiệt cao hơn trong mùa mưa, cao nhất vào tháng 3 là 7,3ºC và thấp nhất vào tháng 11 là 5,4ºC
*Nắng: thời gian chiếu sáng trong ngày biến đổi nhỏ qua các mùa trong năm, biến thiên từ 11g32´ đến 12g42´ Tháng 6 có độ dài ngày dài nhất và tháng 12 có độ dài ngày ngắn nhất.
*Lượng bức xạ: tổng lượng bức xạ quang hợp dồi dào, phân phối khá điều hòa qua các tháng và ổn định qua các năm Lượng bức xạ tăng dần từ cuối tháng 12 đến giữa tháng 4 đạt cao nhất là 8.400 cal/cm² tháng và sau đó giảm dần đến tháng 9 đất thấp nhất là 5.300 cal/cm² tháng.
*Lượng mưa: lượng mưa trung bình năm đạt khoảng 1.500 mm, phân bố không đều theo mùa, tập trung chủ yếu vào mùa mưa, thời gian mưa bắt đầu vào trung tuần tháng
5 dl và chấm dứt vào đầu tháng 11 dương lịch với 2 đỉnh mưa rơi vào tháng 6 và tháng
10, tháng 10 có lượng mưa tập trung cao nhất (hơn 250 mm/tháng)
*Lượng bốc hơi: Lượng bốc thoát hơi khả năng phụ thuộc rất chặt chẽ vào điều kiện thời tiết, tăng dần trong mùa khô và đạt cao nhất trong tháng 4 (từ 55-60 mm/tuần), sau đó giảm dần và đạt thấp nhất vào tháng 9 (32 mm/tuần).
*Độ ẩm không khí: do chịu ảnh hưởng của khối không khí biển nên độ ẩm tương đối của không khí khá cao, độ ẩm lúc 7 giờ sáng đạt trên 90% Độ ẩm không khí tăng dần trong mùa mưa và giảm dần trong mùa khô Ngoài tháng 4, các tháng còn lại đều có độ ẩm tối cao (xấp xỉ 100%), độ ẩm tối thấp đạt từ 70-90%
*Gió: Có 2 hướng gió chính là gió Đông, Đông Bắc thổi vào mùa khô, tốc độ gió trung bình từ 1,6 - 2,8 m/s Gió Tây, Tây Nam thổi vào mùa mưa, tốc độ gió trung bình từ 3 - 4 m/s
Nhìn chung điều kiện khí hậu của huyện Tiểu Cần với các đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nền nhiệt độ cao và tương đối ổn định, nắng và bức xạ mặt trời thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên do lượng mưa thường tập trung theo mùa, kết hợp với các yếu tố địa hình ở những vùng trũng thường xảy ra tình trạng úng ngập cục bộ.
Chế độ thuỷ văn của huyện chịu ảnh hưởng bán nhật triều không đều với chiều dài 5 km dọc theo sông Hậu (Thị trấn Cầu Quan đến quá vàm rạch Trẹm) và hệ thống sông rạch chính đều bắt nguồn từ sông Hậu: Cần Chông,… Ngoài ra huyện còn chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của sông Cổ Chiên khá mạnh thông qua kênh Trà Vinh vào kênh Thống Nhất hay Láng Thé - Ba Si và Ô Chát, một phần nhỏ đất xã Tập Ngãi, Ngãi Hùng, có thời điểm chịu ảnh hưởng của sông Cổ Chiên
Chế độ triều biển Đông đã ảnh hưởng mạnh mẽ lên toàn địa bàn huyện thông qua sông
Hậu và các kênh rạch bắt nguồn từ sông Hậu mà ảnh hưởng lên đồng ruộng như sông
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ H ỘI
Theo số liệu thống kê năm 2008, dân số của huyện là 115.366 người với 24.491 hộ, bình quân mỗi hộ có 4,71 người, mật độ bình quân là 523 người/km 2
- Dân tộc Kinh có 78.822 người, chiếm 68,32% dân số toàn huyện.
- Dân tộc Kh’mer có 35.891 người, chiếm 31,11% dân số toàn huyện.
- Dân tộc Hoa và các dân tộc khác có 653 người, chiếm 0,57% dân số toàn huyện.
Dân số sống ở thành thị 18.236, chiếm 15,81% Tiểu Cần là một Huyện đông dân trong tỉnh Sự phân bố dân cư trên địa bàn không đồng đều, chủ yếu tập trung tại trung tâm huyện lỵ, các trung tâm hành chính của các xã, các triền giồng và dọc các tuyến giao thông thủy, bộ Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên có xu hướng giảm dần từ năm 2005 về sau, năm 2005: 13,70‰; năm 2006: 13,59‰; năm 2007: 13,32‰; năm 2008: 13,11‰.
2.2.1.2 Lao động và việc làm
Nhân lực và tốc độ phát triển các ngành nghề sản xuất của huyện tập trung vào một số ngành nghề chính như: trồng lúa, trồng cây công nghiệp, hoa màu, nuôi trồng thủy sản, mua bán nhỏ, các dịch vụ sản xuất nông nghiệp Lao động có chuyên môn chiếm tỉ lệ thấp, đa phần lao động chưa qua đào tạo chuyên môn Hiện huyện có số người trong độ tuổi lao động là 75.125 người, chiếm 65,48%, trong đó số người lao động có tay nghề là 60.796 người Đây là điều kiện khá tốt để huyện thúc đẩy phát triển kinh tế
2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế
Năm 2008, tổng giá trị GDP ( giá cố định 1994) tăng 13,62 %, so với năm 2007, đạt 93,93 % kế hoạch ( kế hoạch tăng 14,94 %) Trong đó:
- Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 6,26%( kế hoạch tăng 6,85 %);
- Giá trị tăng thêm của ngành thủy sản 9,84% ( kế hoạch tăng 12,73 %);
- Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp 34,61% ( kế hoạch tăng thêm 26,95%);
- Giá tri tăng thêm của ngành xây dựng 21,93 % ( kế hoạch tăng 31,02 %);
- Giá trị tăng thêm ngành dịch vụ 15,55 % ( kế hoạch tăng 17,83 %)
- Tổng đầu tư toàn xã hôi 420 tỷ đồng, đạt 93,33% ( kế hoạch tăng 14,44 %) so với năm 2007 ;
Thu ngân sách đạt 23,805 tỷ đồng, so với kế hoạch đạt 158, 91%, tăng 98,24% so với năm 2007; tổng chi ngân sách 62,933 tỷ đồng, so với kế hoạch vượt 24,54 %, tăng 7,50% so với năm 2007.
Nhịp độ tăng trưởng bình quân GDP ( 2006-2010): 13,10% Trong đó:
- Giá trị sản xuất nông nghiệp: 4%,
- Giá trị sản xuất công nghiệp: 23,45%,
- Giá trị thương mại - dịch vụ: 16,60%.
Nhìn chung, trong các năm qua tình hình kinh tế của huyện phát triển khá nhanh, thu nhập bình quân đầu người: 9.671.740 đồng.
2.2.2.2 Chuy ển dịch cơ cấu kinh tế
Nền kinh tế của huyện trong những năm qua chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng, thuỷ sản và thương mại dịch vụ tăng mạnh Cụ thể như sau:
- Nông nghiệp giảm còn: 41,24% ( trong đó thuỷ sản chiếm 8,71% ),
- Dịch vụ chiếm: 39,60%. Đầu tư toàn xã hội: 1.421 tỷ đồng.
2.2.2.3 Th ực trạng phát triển các ngành kinh tế a) Khu vực kinh tế nông nghiệp (khu vực I):
Khu vực kinh tế nông nghiệp những năm qua phát triển khá ổn định, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và vẫn giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của huyện Năm
2008 giá trị sản xuất khu vực kinh tế nông nghiệp đạt 869,51 tỷ đồng (giá cố định năm
1994) Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 – 2008 đạt 6,10%/năm so với năm
2005 Cơ cấu kinh tế khu vực kinh tế nông nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp tăng tỷ trọng thuỷ sản Một số mặt hàng nông sản mũi nhọn của huyện đã tìm được thị trường tiêu thụ.
Ngành sản xuất nông nghiệp.
Tổng diện tích lúa gieo trồng 38.233 ha, đạt 101,68 % kế hoạch cả năm, so cùng kỳ đạt
99,46 % so với năm 2007; năng suất bình quân 5,13 tấn/ha; sản lư ợng 196.163 tấn; năng suất bình quân đạt 5,13 tấn/ha Trong đó:
Vụ Đông Xuân 2007-2008 ghi nhận diện tích gieo trồng và thu hoạch đạt 12.657 ha, đạt 102,92% kế hoạch và 101,27% so với cùng kỳ Năng suất bình quân đạt 5,7 tấn/ha, tăng 1,4 tấn/ha so với vụ trước Tổng sản lượng đạt 72.144 tấn, đạt 104,74% kế hoạch và 134,25% so với cùng kỳ.
Vụ Hè Thu đạt 12.757 ha, bằng 102,06% kế hoạch và 97,38% so với cùng kỳ năm trước, với năng suất bình quân 5,2 tấn/ha; tổng sản lượng đạt 66.336 tấn, tương đương 106,14% so với kế hoạch và 101,50% so với cùng kỳ.
- Vụ Thu Đông: đã xuống giống được 12.819 ha đạt 100,15% kế hoạch, đạt 99,06% so với cùng kỳ, ước năng suất 4,5 tấn/ha, sản lượng ước đạt 57.683 tấn, so với kế hoạch đạt 93,89%, so với cùng kỳ đạt 93,38%.
Màu lương thực: diện tích gieo trồng được 1359,5 ha đạt 100,70% so với kế hoạch, so cùng kỳ 110,83% Gồm: bắp 1.159 ha, (riêng bắp lai 879,5 ha) sản lượng 5.277 tấn; khoai lang 50 ha, sản lượng 60 tấn; khoai mì 140 ha, sản lượng 1.820 tấn.
Màu thực phẩm: gieo trồng 2.440 ha so v ới kế hoạch đạt 101,67%, so cùng kỳ đạt
104,68% Bao gồm: rau các loại 1.630 ha, sản lượng 11.654 tấn; đậu các loại 60 ha, sản lượng 150 tấn; dưa hấu 701 ha, sản lượng 15.750 tấn,
Cây mía: thực hiện 1.083,4 ha đạt 108,34% kế hoạch, so với cùng kỳ đạt 90,32%; sản lượng thu hoạch 97.506 tấn, đạt 108,34 kế hoạch.
Cây dừa: hiện có 2.440 ha, ước sản lượng đạt 25.498.000 trái, tăng 2.498.000 trái so với cùng kỳ.
Cây ăn trái: Tổng diện tích 2.900 ha, sản lượng thu hoạch 14.500 tấn, đạt kế hoạch. Cây nấm rơm: gieo trồng được 220.000 m 2
, sản lượng thu hoạch 264.000 tấn đạt kế hoạch.
Từ năm 2000 đến nay ngành chăn nuôi đã có bước phát triển mạnh theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô hộ gia đình và trang trại Năm 2005 giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt 84,12 tỷ đồng, tăng 23,75 tỷ đồng so với năm 2000
- Số lượng đàn gia súc tăng nhanh từ 34.679 con tăng lên 63.699 con, trong đó: àn lợn tăng từ 30.350 con năm 2001 lên 53.393 con năm 2005, đàn bò tăng từ 4.137 con năm 2001 lên 10.175 con năm 2005 và đàn trâu giảm từ 192 con năm 2001 xuống còn
- Số lượng đàn gia cầm cũng có chiều hướng giảm mạnh từ 394.753 nghìn con năm
2001 xuống còn 358.711 nghìn con năm 2005 Nguyên nhân là do dịch cúm gia cầm trong những năm gần đây đã phát sinh thành đại dịch, làm cho người dân chuyển sang nuôi một số vật nuôi khác.
Ngành thuỷ sản của huyện được chú trọng và có điều kiện phát triển do có nhiều sông, rạnh và các vùng ruộng trũng ở các xã Trong những năm gần đây nhân dân đã sử dụng tốt diện tích đất ao hồ, mương, vườn, ruộng để nuôi tôm, cá các loại, nhiều mô hình nuôi tôm cá nước ngọt phát triển đưa diện tích đất NTTS hàng năm đều tăng đem lại hiệu quả cao.
Trong năm 2008, sản lượng thu hoạch đạt 14.470 tấn, đạt 96,03% so với kế hoạch năm và 108,37% so với cùng kỳ năm ngoái Nói chung tính đến nay, toàn huyện có 3.297 hộ thả nuôi với tổng số 73.755.000 con tôm, cá các loại trên diện tích 1.015 ha, đạt 101,59% so với kế hoạch năm và 85,01% so với cùng kỳ.
HI ỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN HUYỆN TIỂU CẦN
Do đặc điểm của vùng có hệ thống sông rạch chằng chịt nên tài nguyên nước mặt của huyện rất phong phú và đa dạng thông qua các sông lớn như sông Hậu, sông Cần Chông đảm bảo cho việc tưới tiêu và NTTS Hệ thống sông rạch lớn bắt nguồn từ sông
- Rạch Tân Định với chiều dài qua huyện khoảng 5,5 km chảy qua ranh giới giáp với huyện Trà Ôn, tại cửa có mặt cắt khá lớn vào bên trong hẹp và cạn hơn.
Hệ thống sông Bông Bót - Bà Nghệ - Tổng Tồn: đây là hệ thống lớn ảnh hưởng đến 50% đất đai của huyện, gồm các đoạn:
- Rạch Bông Bót - Bà Nghệ: bắt nguồn từ vàm Bến Cát chảy lên Tam Ngãi -
Thông Hòa và nối thông với kênh Trà Ngoa ở Hựu Thành, sông có mặt cắt khá lớn, đoạn cuối rạch được nạo vét năm 1985, có giáp nước giữa kênh Trà Ngoa và cầu Trà
- Rạch Cầu Kè - Tổng Tồn: bắt nguồn từ sông Bông Bót chảy qua thị trấn Cầu
Kè, nối tiếp với kênh Tổng Tồn đến kênh Trà Ngoa Có giáp nước trên kênh Tồng Tồn cách kênh Trà Ngoa khoảng 2,5 km, kênh Tổng Tồn được nạo vét năm 1995.
Rạch Rùm Sóc chảy theo ranh giới giữa xã An Phú Tân và xã Ninh Thới, qua nội đồng xã Phong Phú và xã Châu Điền để gặp kênh Bưng Dứa Kênh Bưng Dứa có mặt cắt khá lớn, và đoạn cuối từ cầu Phong Phú đến Bưng Dứa đã được nạo vét và nâng cấp vào năm 1993.
- Rạch Mỹ Văn - 19/5: chảy qua nội đồng xã Ninh Thới, Phong Phú, Phong
Thạnh và đến gặp sông Cần Chông mặt cắt tại cửa sông khá lớn, kênh được nạo vét và nâng cấp năm 1992 Đặc điểm của rạch Mỹ Văn là có 2 cửa thông ra sông Hậu, 2 cửa này cách nhau 8 km Hàng năm do tác động của thuỷ triều, mặn đã xâm nhập từ cửa dưới (Rạch Miễu) gây ảnh hưởng đến sản xuất.
Hệ thống kênh Cấp I Ngãi Chánh, Cần Chông: đang được nâng cấp mở rộng, gồm các đoạn:
- Kênh Chinh Phụ: bắt nguồn từ sông Phong Thạnh với chiều dài khoảng 2,7 km
- Kênh Chánh Sâm: b ắt nguồn từ sông Mỹ Văn chảy qua các xã Phong Thạnh - Phong Phú
- Kênh Rạch Rum: bắt nguồn từ sông Tổng Tồn chảy qua các xã Phong Thạnh - Châu Điền - Hoà Ân
- Kênh Mặc Sẫm: bắt nguồn từ sông Phong Thạnh với chiều dài khoảng 1,2 km.
Kênh Trà Ngoa chịu ảnh hưởng của hệ thống kênh Bưng Trường - Ngãi Chánh và sông Càng Long; các kênh ngang bắt nguồn từ sông Hậu và sông Cổ Chiên đã tạo nên nhiều giáp nước trên kênh này Đoạn kênh qua huyện Thạnh Phú, xã Thạnh Phú dài 7,6 km và có mặt cắt khá lớn, cho thấy vai trò quan trọng của kênh trong quản lý nước, tưới tiêu và giao thông thủy ở khu vực.
Huyện Tiểu Cần có hệ thống 5 tầng chứa nước, trong đó tầng trên cùng bị nhiễm mặn, ba tầng ở giữa có nước ngầm phong phú và chất lượng được cải thiện, và tầng Miocene ở sâu nhất.
Chiều sâu của 3 tầng chứa nước ở giữa, thay đổi từ 60 m đến 400 m và phổ biến từ 90 m đến 120 m.
Theo kết quả khảo sát và lập bản đồ đất thuộc Chương trình Đất Cửu Long năm 1992, huyện Tiểu Cần được xác định có 3 nhóm đất chính: đất giồng cát, đất phù sa và đất phèn.
- Đất giồng cát: Diện tích 387,7 ha, chiếm 1,83 % diện tích đất là những giồng cát phân nhánh chạy dài theo Quốc lộ 60 tập trung ở thị trấn Cầu Quan, thị trấn Tiểu
Cần; các xã Long Thới, Phú Cần, Hiếu Trung, Hiếu Tử.
- Đất phù sa: Diện tích 17.799,30 ha chiếm 83,85 % diện tích đất gồm:
+ Đất phù sa phát triển trên chân giồng cát có khoảng 212,66 ha ở ấp Phú
Thọ 2 (Hiếu Trung) và ấp Tân Đại (Hiếu Tử).
+ Đất phù sa chưa phát triển có khoảng 286,50 ha chạy dọc theo sông
Hậu gồm khóm IV (thị trấn Cầu Quan) và ấp Trẹm, Tân Thành (Tân Hoà).
Đất phù sa đang phát triển trên địa bàn huyện có tổng diện tích khoảng 17.300,14 ha, chiếm phần lớn diện tích của nhóm đất phù sa Diện tích này được phân bổ khắp các xã và thị trấn trong toàn huyện, cho thấy đất phù sa là nguồn lực nông nghiệp chủ đạo thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
- Đất phèn: Diện tích 3.040 ha chiếm 14,32 % diện tích đất, gồm có 2 nhóm phụ:
+ Đất phèn tiềm tàng có khoảng 1.879,10 ha tập trung chủ yếu ở Tân Hoà, Long Thới, Phú Cần, Hiếu Trung, Ngãi Hùng, Tập Ngãi, Hiếu Tử và một ít ở Hùng Hoà + Đất phèn hoạt động có khoảng 1.169,90 ha tập trung chủ yếu ở Ngãi Hùng, Tập Ngãi, Hiếu Trung và một số ở Hiếu Tử.
Từ đó đến nay, chưa có dự án nào khác thực hiện công tác tương tự cũng như theo dõi, đánh giá sự thay đổi về các đặc tính đất trên địa bàn Hơn nữa các công tác này có tính chuyên môn rất cao, đòi hỏi phải được thực hiện bằng một dự án chuyên đề cụ thể Vì vậy, trong phạm vi của dự án này, mặc nhiên xem kết quả khảo sát và lập bản đồ đất nêu trên là một cơ sở để tiến hàn h điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn Huyện.
Bảng 2.1: Diện tích, tỷ lệ phân bố các nhóm đất
TT Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ
II Đất cát triền giồng 212,66 1,00
III.1 Đất phù sa chưa phát triển 286,50 1,35
III.2 Đất phù sa phát triển 17.300,14 81,50
IV.1 Đất phèn tiềm tàng 1.879,10 8,85
IV.1.1 Tầng sinh phèn xuất hiện ở độ sâu 50 – 80 cm 123,74 0,58
IV.1.2 Tầng sinh phèn xuất hiện ở độ sâu 80 – 120 cm 332,04 1,56
IV.1.3 Tầng sinh phèn xuất hiện ở độ sâu > 120 cm 1.423,32 6,71
IV.2 Đất phèn hoạt động 1.160,90 5,47
IV.2.1 Tầng phèn xuất hiện trong vòng 0 – 50 cm tầng mặt 25,46 0,12
IV.2.2 Tầng phèn xuất hiện ở độ sâu 50 – 80 cm 1.033,67 4,87
IV.2.3 Tầng phèn xuất hiện ở độ sâu 80 – 120 cm 101,77 0,48
Nguồn: Báo cáo điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, lập kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2006 - 2010) huyện Tiểu Cần
Với sự phong phú, đa dạng về văn hoá, dân tộc trong tỉnh nên tài nguyên nhân văn của huyện cũng khá phong phú và đa dạng Với các lễ hội, phong tục tập quán của các dân tộc khác nhau mang lại nét đặc sắc văn hoá riêng cho từng dân tộc Đặc biệt là đối với dân tộc Kh’mer có nhiều nét đặc sắc riêng, với các chùa chiền, lễ hội như: ngày hội Ok
- Om – Bok, lễ Chôl-Chnam-Thmey (Lễ vào năm mới hay lễ chịu tuổi), lễ “cúng ông bà”, Ngoài ra, còn có lễ hội của các dân tộc khác dân tộc như: lễ Thượng ngôn ngày
HIỆN TRẠNG VÀ QUY HOẠCH NTTS HUYỆN TIỂU CẦN
HI ỆN TRẠNG HỆ THỐNG THỦY LỢI HUYỆN TIỂU CẦN
3.2.1 Hệ thống thủy lợi chung của huyện
3.2.1.1 H ệ thống đê Đê ngọt hóa dự án Nam Măng Thít: Tuyến này dọc sông Hậu được xuất phát từ sông Măng Thít chạy dài theo bờ sông Hậu gặp đê biển Trà Vinh tạo thành vùng ngọt hóa Nam Măng Thít, đoạn qua địa bàn huyện Tiểu Cần dài 4 km, chiều rộng mặt là 6 m, cao trình đỉnh đê là +3,0 m Hiện trạng tuyến đê này đã thi công hoàn chỉnh.
3.2.1.2 H ệ thống kênh trục và cấp 1
Hệ thống kênh trục tưới tiêu chính bao gồm:
- Rạch Cần Chông lấy nước từ sông Hậu, nối tiếp với rạch Tiểu Cần và gặp đoạn cuối của kênh Trà Ngoa Rạch Cần Chông dài 13 km, mặt cắt đầu rạch B m, h m, giữa Be m, h m, cuối bp m, h=9 m Đây là rạch chính của huyện được lấy nước ngọt từ sông Măng Thít qua kênh Trà Ngoa, cuối cùng được ngăn mặn bởi cống
- Rạch Trẹm lấy nước từ sông Hậu dài khoảng 5 km, rộng 30-40 m, sâu 6-8 m
Ngoài ra, các rạch nhánh của sông Cần Chông gồm rạch Cao Một, sông Hùng Hòa, sông Tập Ngãi và sông Đại Sư, có chiều rộng từ 40–50 m và sâu dưới 6 m.
Với hệ thống kênh cấp một hiện tại phục vụ tốt cho nhu cầu phát triển nông nghiệp, giao thông thủy và phát triển thủy sản.
Hệ thống kênh cấp 2 của huyện Tiểu Cần đã được hình thành tương đối đầy đủ đối với trồng cây nông nghiệp Tuy nhiên hệ thống cấp 2 trong khu vực này chưa đạt được yêu cầu của chuyển đổi sản xuất, đặc biệt là khu vực NTTS.
Hệ thống cống trên địa bàn huyện Tiểu Cần nói chung ít, chỉ có hai cống lớn được xây dựng nằm dưới đê bao dọc sông Hậu do bộ NN&PTNT đầu tư Quy mô hiện trạng các cống chính của huyện như sau:
Bảng 3.5: Hiện trạng cống – huyện Tiểu Cần
TT Tên cống Địa phương Hình thức B cống (m) Cao trình đáy
1 Cống Cầu Quan Tân Hòa Hở 80 -4,5
2 Cống Trẹm Tân Hòa Hở 5 -3,5
Nguồn:Quy hoạch nuôi cá da trơn xuất khẩu đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 huyện Tiểu cần Tỉnh Trà Vinh
3.2.1.5 H ệ thống thủy lợi nội đồng
Hệ thống kênh mương nội đồng của huyện Tiểu Cần phát triển ở mức độ trung bình Tuy nhiên, hiện trạng hệ thống kênh cấp 3 nhìn chung chưa bảo đảm về mật độ, số lượng kênh còn thiếu rất nhiều, điều này làm cho việc thực hiện tăng vụ, chuyển vụ gặp rất nhiều khó khăn, nhất là đối với khu vực chuyển đổi sang NTTS
Hệ thống máy bơm tưới, tiêu hỗ trợ cho vùng tưới tiêu bán tự chảy hoặc không tự chảy đã được nhân dân sử dụng loại bơm nhỏ (bơm D9 - D12, bơm Kole…) được đánh giá là thích hợp và khá thuận lợi.
3.2.2 Hệ thống giao thông, điện chung của Huyện
Giao thông bộ: Huyện Tiểu Cần có một hệ thống đường giao thông kém phát triển, mặt đường còn nhỏ, tải trọng cho phép các xe nhỏ hơn 5T Huyện có tuyến quốc lộ QL54 mới được tráng nhựa, Quốc lộ 60 từ Trà Vinh đến Tiểu Cần tới Cầu Quan được nâng cấp khá tốt Các tuyến đường huyện nối quốc lộ xuống các xã chủ yếu là đường đá và đất
Giao thông thủy: Các tuyến chính là sông Cần Chông và các nhánh của sông Cần Chông, rạch Trẹm cùng với sông Hậu tạo cho giao thông thủy ở huyện tương đối thuận lợi Tuy nhiên do dự án ngọt hóa Nam Măng Thít, việc giao thông thủy gặp khó khăn do các cống dưới đê điều tiết
Mạng lưới điện: Huyện có đường điện 15KV Tiểu Cần –Cầu Kè dài 17km và Tiểu
Cần-Thạnh Mỹ dài 19 Km, hệ thống điện áp hạ thế đã về các xã, việc cấp điện phục vụ sinh họat cho nhân dân đã tương đối bảo đảm Tuy nhiên, các tuyến đi vào các khu sản xuất, khu NTTS còn hạn chế
Các cơ sở hạ tầng kỹ thuật khác: Ngoài ra, huyện Tiểu Cần còn có một số cơ sở hạ tầng khác như một số trại giống, xưởng sửa chữa cơ khí, trang thiết bị như máy nổ, máy cày, máy bơm…
Lợi thế phát triển ngành thủy sản của huyện nằm ở vị trí hạ lưu sông Hậu, nơi dòng chảy lớn và mạnh giúp cấp nước và thoát nước nhanh, bảo đảm chất lượng nước cho ao nuôi và tăng năng lực sản xuất thủy sản Huyện còn có hệ thống giao thông thủy – bộ thuận tiện cho vận chuyển nguyên liệu từ vùng nuôi đến nhà máy chế biến, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
Những hạn chế nổi bật của ngành nuôi trồng thủy sản (NTTS) ở huyện đang nổi lên khi ngành này phát triển mạnh, trong đó mối quan tâm lớn nhất là môi trường nước trên các sông, rạch khắp huyện Các nguồn nước tại địa phương đang chịu áp lực do chất lượng nước thượng nguồn và xả thải từ sinh hoạt cũng như các hoạt động kinh tế khác trong vùng Điều này cho thấy chất lượng môi trường nước đang bị ảnh hưởng và phản ánh tác động của toàn bộ quá trình sản xuất trong và ngoài huyện đối với nguồn nước.
Huyện.Nếu công tác giám sát xả thải và quản lý các tác động đến môi trường hiện nay và trong tương lai không được quan tâm đúng mức thì tình trạng ô nhiễm sẽ khó tránh khỏi và lúc đó tác động ngược lại của nó đến sản xuất và đời sống của người dân sẽ gây ra những thiệt hại mà chúng ta có thể sẽ không lường trước được Hơn thế, sự ô nhiễm nguồn nước lại ảnh hưởng ngược trở lại các hoạt động sản xuất trong vùng, đặc biệt là ngành NTTS.
QUY HO ẠCH PHÁT TRIỂN NTTS CỦA HUYỆN TIỂU CẦN
3.3.1 Định hướng phát triển của Huyện
- Phát triển NTTS ở những nơi có điều kiện thuận lợi (các cồn bãi, khu vực ven các sông lớn, hệ thống giao thông thủy thuận lợi) và khu vực trên sông những nơi có đủ điều kiện (dòng chảy, môi trường, )
- Phát triển các mô hình nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp thay cho thức ăn tự chế biến.
- Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, dịch vụ kỹ thuật để có thể áp dụng được các qui trình nuôi tiên tiến, nâng cao năng suất, sản lượng và bảo vệ môi trường.
Khoanh vùng sản xuất giống tập trung nhằm thuận tiện cho công tác kiểm tra, kiểm soát và quản lý chuỗi cung ứng được xuyên suốt Đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các tác động của quá trình sản xuất đến môi trường để kịp thời phát hiện và đề xuất các giải pháp khắc phục khi có hiện tượng ô nhiễm xảy ra.
- Đẩy mạnh công tác khuyến ngư và phát triển nguồn nhân lực.
- Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân hàng năm ngành thủy sản giai đoạn từ nay đến năm 2020 cho ngành thủy sản là 9%, trong đó giai đoạn 2011-2015 khoảng 8-9%, từ 2016-2020 khoảng 7% Nâng tỷ trọng giá trị sản xuất thủy sản trong ngành nông nghiệp từ 33,22% năm 2007 lên 35,21% năm 2010, 38-39% năm
- Trong nội bộ ngành thủy sản thời kì 2008-2020 nuôi trồng tăng 9,5-10%, khai thác tăng 2,5-3%, dịch vụ tăng 10,5-11% Trong đó giai đoạn 2011 -2015 nuôi trồng tăng 9,5%, khai thác tăng 2,5-3%, dịch vụ tăng 10,5% và giai đoạn 2015-2020 nuôi trồng tăng 7%, khai thác tăng 2,5%, dịch vụ tăng lên 11% (Nguồn: Quy hoạch nuôi cá da trơn xuất khẩu đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 huyện Tiểu cần Tỉnh Trà Vinh)
3.3.2 Tiềm năng phát triển ngành NTTS
Việt Nam nằm trong nhóm 10 nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới và năm 2008 đã đạt 4,562 tỷ USD từ xuất khẩu thủy sản Các thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam là Mỹ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc, chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu Trong 4 tháng đầu năm 2009, mặt hàng cá tra, basa đã tăng khoảng 1,5% lên 116.600 tấn, với tổng giá trị xuất khẩu đạt 265 triệu USD.
Ngoài ra, sản lượng cá ngừ xuất khẩu đạt 8.870 tấn với giá trị đạt 28,4 triệu USD Mặt hàng tôm (đông lạnh và chế biến) xuất khẩu đạt 27.800 tấn, đạt giá trị 234 triệu USD Trước mắt trong giai đoạn từ 2011 đến 2015, ngành Thuỷ sản đặt mục tiêu sản lượng tăng bình quân 2,66%/năm, giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 3,71%/năm
Tổng sản lượng thủy sản đến năm 2020 sẽ đạt khoảng 6,5 triệu tấn với kim ngạch xuất khẩu đạt 7 tỷ USD, tăng trên 55% so với mức thực hiện năm 2008
Trà Vinh từ nay đến năm 2020 đẩy mạnh phát triển ngành thủy sản để trở thành ngành kinh tế trọng yếu của tỉnh, tận dụng tối đa lợi thế từ điều kiện tự nhiên để phát triển toàn diện các hoạt động nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản Với chiến lược nâng cao chuỗi giá trị và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tỉnh hướng tới tăng năng suất và sản lượng, dự kiến đạt 6.831 tấn thủy sản.
Theo báo cáo chuyển dịch cơ cấu Nông -Lâm-Ngư nghiệp của Huyện và các xã trong vùng quy hoạch, diện tích tiềm năng phát triển NTTS cả chuyên và kết hợp của Huyện khoảng 9.328 ha, chiếm 42,34% tổng diện tích tự nhiên, chủ yếu là vùng đất thấp, ruộng trũng Trong báo cáo xác định diện tích tiềm năng phát triển nuôi cá da trơn phục vụ xuất khẩu chỉ đưa ra những vùng thực sự thuận lợi cho phát triển cá da trơn xét trên các khía cạnh là gần sông rạch lớn để thuận tiện cho trao đổi nước và giao thông dễ dàng là số lượng xuất khẩu mặt hàng chế biến thủy sản của tỉnh Trà Vinh từ đầu năm 2009 đến ngày 24/10/2009, đạt kim ngạch xuất khẩu
40.763.259 USD Cho thấy tiềm năng về phát triển NTTS sẽ còn tăng mạnh trong tương lai Những năm gần đây mô hình nuôi cá da trơn được tiến hành nuôi ở Trà Vinh đã đạt được nhiều thành công do có thị trường xuất khẩu không ngừng được mở rộng và cho hiệu quả kinh tế cao Đây là loài cá nước ngọt nên nuôi theo quy trình thâm canh cao và được bố trí ở những địa bàn thuận lợi về nguồn nước ngọt, trong đó có huyện Tiểu Cần
Trên cơ sở đó, tiềm năng mặt đất, mặt nước phát triển cá da trơn trên toàn h uyện khoảng 1.820 ha, chiếm 19,5% diện tích tiềm năng nuôi thủy sản toàn huyện Trong đó chủ yếu bãi bồi ven sông, kênh rạch lớn khoảng 1.700ha, ao hồ nhỏ 40 ha và mặt nước trên sông khoảng 80ha Tập trung chủ yếu ở xã Tân Hòa, Hùng Hòa, Tân Hùng, Long
Vừa qua tổng Công ty Lương thực miền Nam vừa khởi công xây nhà máy chế biến cá tra đông lạnh có công suất 10.500 tấn thành phẩm/năm, vốn đầu tư lên đến 150 tỷ đồng tại Trà Vinh.
3.3.3 Quy hoạch phát triển NTTS Huyện Tiểu Cần đến năm 2020
Nhà máy đặt tại thị trấn Cầu Quan, huyện Tiểu Cần, là nhà máy chế biến cá tra đông lạnh xuất khẩu đầu tiên tại tỉnh Trà Vinh.Với dây chuyền chế biến hiện đại, sản phẩm đông lạnh của nhà máy đạt tiêu chuẩn nhập khẩu của thị trường Mỹ, Nhật
Bản và các nước châu Âu Từ sự phát triển chung của ngành NTTS trên toàn tỉnh kéo theo tiềm năng nuôi trồng cá da trơn sẽ trở thành mô hình phát triển chính ở Huyện
Với diện tích và điều kiện nuôi trồng thuận lợi, cộng với sự ra đời của nhà máy chế biến cá tra đông lạnh được đặt tại địa bàn của tỉnh sẽ tạo đà đi lên cho nền kinh tế của Huyện Tiểu Cần nói riêng và toàn tỉnh Trà Vinh nói chung.
3.3.3.1 Phân vùng quy ho ạch
ĐÁNH GIÁ HI ỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT TRONG HO ẠT ĐỘNG NTTS HUYỆN TIỂU CẦN
HI ỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT HUYỆN TIỂU CẦN
Huyện Tiểu Cần có mạng lưới sông ngòi dày đặc và nguồn nước dồi dào, tạo thuận lợi cho NTTS và sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, việc sử dụng không hợp lý nguồn nước cho NTTS và xả rác, nước thải các loại chưa qua xử lý thải trực tiếp xuống ao hồ, sông rạch khiến nguồn nước ngày càng ô nhiễm Trong những năm gần đây, chất lượng nước mặt ở huyện có xu hướng suy giảm do nước thải từ hoạt động kinh tế, sinh hoạt của người dân và NTTS chưa qua xử lý hoặc xử lý không hiệu quả, thải trực tiếp vào sông rạch làm nước bị nhiễm bẩn và ảnh hưởng trực tiếp đến NTTS Đồng thời mùa khô nước biển xâm nhập sâu vào nội đồng kéo theo hiện tượng mặn và suy giảm chất lượng nước mặt khu vực.
4.1.1 Ảnh hưởng của xâm nhập mặn
Theo báo cáo Quy hoạch thủy lợi vùng Tây sông Hậu – Phân viện Kiểm soát quy hoạch Thủy lợi Nam bộ (2001), nước sông Hậu ở mức kiềm nhẹ và không chua; chất lượng nước biến thiên rõ rệt theo mùa Trong mùa kiệt, hàm lượng chất hòa tan cao hơn, còn mùa lũ thì thấp hơn; nước sông Hậu mang hàm lượng phù sa cao vào mùa lũ và thấp ở mùa kiệt, với sự giảm dần của phù sa từ thượng lưu xuống hạ lưu Mỗi năm nước mặn xâm nhập sâu vào dòng chính với phạm vi trên 30 km từ biển và đạt mức sâu nhất vào tháng 4, thường kết thúc vào tháng 6 Phạm vi biến động độ mặn bình quân tháng (Sbq) dọc sông được thể hiện qua bảng và hình vẽ kèm theo.
Bảng 4.1: Chiều dài xâm nhập mặn (4 g/l) bình quân tháng trên sông Hậu
Thời gian Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5
Nguồn: Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam, năm 2007
Phân bố độ mặn lớn nhất dọc sông Hậu theo tài liệu thực đo vào mùa kiệt năm 2006 được thể hiện trong bảng sau:
Hình 4.1: Chiều dài xâm nhập mặn (4 g/l) bình quân tháng trên sông Hậu
Nguồn: Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam, năm 2007
Bảng 4.2: Độ mặn lớn Nhất trên sông Hậu, tại trạm Cầu quan
Thời gian Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6 Độ mặn (g/l) 3,2 9,7 8,0 6,5 4,9 1,0
Nguồn: Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam, năm 2007
Tổng hợp kết quả phân tích các mẫu nước sông, rạch nội đồng tại huyện Tiểu Cần (xem phụ lục 3, 4, 5, 6) cho thấy nước mặt khu vực phía nam huyện, đặc biệt ở xã Tân Hòa, thể hiện các đặc điểm chất lượng nước được ghi nhận và so sánh theo từng chỉ tiêu, cung cấp cơ sở đánh giá mức độ ô nhiễm, biến động chất lượng nước và tác động đến sinh thái cũng như nguồn nước sinh hoạt Các phụ lục chi tiết nêu rõ chỉ tiêu, phương pháp lấy mẫu và thời điểm lấy mẫu, từ đó hỗ trợ theo dõi xu hướng và đề xuất biện pháp quản lý nước mặt tại địa bàn Tiểu Cần.
Thị trấn Cầu Quan chịu ảnh hưởng của triều xâm nhập từ sông Hậu qua cửa Cần Chông, khiến mực nước nội đồng dâng cao và xâm nhập sâu khi triều cường Trong năm, mực nước biển xuống thấp vào tháng 6–7 thuận lợi cho tiêu úng và xả phèn đầu mùa mưa, còn tháng 10–11 mực nước cao trùng với đỉnh lũ trên sông làm tăng ngập lụt trên đồng Vào mùa kiệt, chế độ dòng chảy trên sông rạch chịu sự chi phối của thủy triều biển Đông qua sông Hậu; tác động của triều cường và gió đẩy nước mặn vào đất liền kết hợp với lượng nước về từ thượng nguồn ít làm cho mặn xâm nhập sâu hơn Khu vực huyện không nhận đủ nước ngọt từ sông Măng Thít nên sản xuất nông nghiệp và NTSS gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, vào mùa lũ khả năng trao đổi nước được cải thiện rõ rệt, thuận lợi cho tiêu úng, xả phèn và phục vụ sản xuất nông nghiệp và NTSS tốt hơn.
4.1.2 Hiện trạng nhiễm bẩn nước sông
Kết quả phân tích hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước sông Hậu qua mùa khô và mùa mưa năm 2008 được trình bày ở phần phụ lục Căn cứ vào kết quả phân tích diễn biến chất lượng các mẫu nước trên sông Hậu, so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT – Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt, cột B1 (nước mặt dùng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi) cho thấy: Ô nhiễm hữu cơ:
Mức độ nhiễm bẩn hữu cơ thấp, thể hiện qua hàm lượng DO khá cao; hàm lượng BOD tại các điểm thu mẫu đều nhỏ hơn giá trị giới hạn đối với nguồn loại B trong QCVN 08:2008/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt) Giá trị
BOD 5 vào mùa khô giao động trong khoảng (3 – 9 mg/l) cao hơn giá trị BOD5 vào mùa mưa (