Trong xu thế phát triển kinh tế xã hội, đô thị hoá, công nghiệp hoá đang diễn ra hết sức mạnh mẽ và với nhịp độ rất cao kéo theo đó là các vấn đề môi trường đầy bức xúc nảy sinh, liên qu
PHẦN MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề
Bà Rịa-Vũng Tàu (BRVT) là một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía nam (VKTTĐPN) (bao gồm: TPHCM, Bình Dương, Đồng Nai, BRVT) cũng là một tỉnh đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định phát triển nền kinh tế của đất nước nói chung và của vùng KTTĐPN nói riêng
Trong xu thế phát triển kinh tế xã hội, đô thị hoá, công nghiệp hoá đang diễn ra hết sức mạnh mẽ và với nhịp độ rất cao kéo theo đó là các vấn đề môi trường đầy bức xúc nảy sinh, liên quan đến các hoạt động dân sinh, công nghiệp, dịch vụ … và các ảnh hưởng tương quan giữa chúng đang cần có sự nghiên cứu, trong đó CTR (CTR) sinh hoạt và công nghiệp là một trong những vấn đề lớn cần được quan tâm
Tác động của rác thải đối với môi trường, con người, cảnh quan và muôn vật cũng như sự cần thiết và tầm quan trọng của việc quản lý CTR đã được đề cập đến rất nhiều trong các đạo luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong tuyên bố của các tổ chức quốc gia trên thế giới và của các tổ chức quốc tế, trong nhiều tài liệu, sách báo, trong các cuộc hội nghị, hội thảo ở các quy mô khác nhau Ở Việt Nam chúng ta, các vấn đề liên quan đến CTR sinh hoạt cũng đã được quy định cụ thể trong luật bảo vệ môi trường (BVMT) và các văn bản pháp quy về BVMT dưới luật, không những vậy mà vấn đề này còn được nhắc đến thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng, đồng thời đó cũng còn là sự quan tâm sâu sắc không những đối với các cơ quan nhà nước và đào tạo, các nhà khoa học… mà còn đối với đại đa số tầng lớp nhân dân kèm theo những lời chỉ trích, phê phán gay gắt
Tính đến nay, toàn tỉnh BRVT (BRVT) mỗi ngày thải ra môi trường khoảng
720 tấn/ngày CTR sinh hoạt, lượng này sẽ tiếp tục tăng lên nhanh chóng trong những năm tới theo tốc độ tăng trưởng của các hoạt động công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn tỉnh
Quản lý CTR trên địa bàn tỉnh BRVT hiện đang đối mặt với nhiều thách thức và bất cập Chỉ có một phần rất nhỏ CTR được thu hồi, phần lớn lượng rác chưa được thu gom và bị vứt bừa bãi, lẫn lộn giữa rác công nghiệp và rác sinh hoạt Việc tập kết tại các trung chuyển rồi đưa đến các bãi chôn lấp thiết kế không hợp vệ sinh đang làm gia tăng ô nhiễm môi trường và mất vệ sinh nghiêm trọng Các hành động đổ rác xuống kênh rạch và đất trồng đang gây ô nhiễm môi trường, đe dọa nghiêm trọng đến nguồn nước ngầm của BRVT nói riêng và nguồn nước ngầm nói chung.
Trong tình hình hiện nay, cần áp dụng các biện pháp chiến lược và quản lý cụ thể để nâng cao hiệu quả thực hiện công tác vệ sinh môi trường, từ đó trả lại cho tỉnh BR-VT một môi trường xanh, sạch, đẹp Để đạt được mục tiêu này, cần triển khai đồng bộ các yếu tố quản lý chất thải rắn, xử lý nước thải, nâng cấp hệ thống thu gom và tái chế, đồng thời tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng và huy động sự tham gia của doanh nghiệp, lực lượng địa phương và người dân Bên cạnh đó, việc giám sát, đánh giá định kỳ và điều chỉnh kế hoạch dựa trên dữ liệu thực tế sẽ đảm bảo sự hiệu quả và bền vững cho môi trường BR-VT.
Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở khảo sát và thu nhập số liệu tại một số địa điểm trên địa bàn của tỉnh, kết hợp các tài liệu sẵn có của Sở Tài Nguyên & Môi trường tỉnh BRVT, đề tài này thực hiện với mục tiêu chính là:
- Nêu lên bức tranh về hiện trạng tổng quát của chất thải rắn sinh hoạt (CTR sinh hoạt) trên địa bàn tỉnh;
- Đánh giá các biện pháp quản lý CTR trên địa bàn tỉnh hiện nay;
- Đề xuất một số biện pháp quản lý CTR sinh hoạt trên địa bàn tỉnh BRVT đạt hiệu quả hơn về mặt kinh tế và bảo vệ môi trường.
Nội dung nghiên cứu đề tài
ND1: Tổng quan về CTR
ND2: Tổng quan về tình hình phát phiển kinh tế – xã hội của tỉnh BRVT
- Thu thập tài liệu các thông tin chung về tình hình phát triển chung của tỉnh BRVT
ND2: Các nguồn phát sinh CTR sinh hoạt trên địa bàn tỉnh BRVT
ND3: Đánh giá hiện trạng quản lý CTR sinh hoạt trên địa bàn tỉnh BRVT
ND4: Dự báo khối lượng CTR sinh hoạt phát sinh trên địa bàn tỉnh đến năm
ND5: Đề xuất các biện pháp xử lý CTR sin hoạt trên địa bàn tỉnh hiện tại và quy hoạch lâu dài
ND6: Kết luận và kiến nghị.
Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình làm luận văn em đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu để thực hiện đề tài:
- Thu thập thông tin có liên quan đến đề tài về việc phát sinh CTR sinh hoạt trên địa bàn tỉnh BRVT;
- Thu thập các số liệu về hiện trạng CTR sinh hoạt trên địa bàn tỉnh BRVT Hiện trạng quản lý CTR sinh hoạt trên địa bàn của tỉnh;
- Đánh giá khả năng thu gom CTR sinh hoạt và tỷ lệ % CTR sinh hoạt được thu gom
- Đề xuất giải pháp quản lý và xử lý CTR sinh hoạt phù hợp trên địa bàn tỉnh BRVT.
Giới hạn của đề tài
Đề tài này chỉ tập trung chủ yếu vào loại CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT phát sinh trên địa bàn tỉnh BRVT, các loại CTR y tế, công nghiệp không được đề cập tới trong đề tài, nước thải và khí thải chỉ là những vấn đề kéo theo trong quá trình thực hiện đề tài không nói rõ về các loại chất thải đó.
TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Các nguồn phát sinh CTR sinh hoạt
Theo quan niệm chung, CTR là tổng hợp các loại vật chất mà con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế – xã hội của mình, từ sản xuất đến sinh hoạt và duy trì sự tồn tại của cộng đồng Trong số các vật chất bị loại bỏ đó, các chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất và hoạt động sống được coi là thành phần quan trọng nhất.
Theo quan điểm mới, CTR đô thị (rác thải đô thị) được định nghĩa là những vật chất do người thải bỏ tại khu vực đô thị mà không đòi hỏi bồi thường, và được xã hội nhìn nhận như loại rác mà thành phố có trách nhiệm thu gom và tiêu hủy Quan điểm này nhấn mạnh sự gắn kết giữa thải bỏ cá nhân và hệ thống quản lý đô thị, đồng thời làm nổi bật vai trò của thu gom và xử lý CTR đô thị trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững của thành phố Nguồn tham khảo: Sách Quản lý CTR – Tập 1 – Trần Hiếu Nhuệ & CTV.
Chất thải sinh hoạt là những chất thải phát sinh từ các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ và thương mại Đây là loại chất thải gắn liền với đời sống hàng ngày và đòi hỏi hệ thống thu gom và xử lý đúng quy trình để bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.
2.1.2 Nguồn phát sinh CTR sinh hoạt:
CTR sinh hoạt phát sinh từ các nguồn sau:
- Khu dân cư, khu thương mại: rác thực phẩm, giấy cacton, nhựa, vải, rác vườn, gỗ thủy tinh, lon đồ hộp, tro, các chất thải độc hại,…
- Các công sở, trường học;
- Khu vui chơi, giải trí;
- Chất thải từ khu xây dựng mới hoặc sửa chữa;
- Từ các trạm xử lý nước thải và các đường ống thoát nước của các khu vực đô thị.
Phân loại CTR sinh hoạt
CTR sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà lông vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả,v.v… Theo phương diện khoa học, có thể phân biệt các loại CTR sinh hoạt sau:
- Chất thải thực phẩm bao gồm các thức ăn thừa, rau, quả,… loại chất thải này mang bản chất dễ bị phân hủy sinh học, quá trình phân hủy tạo ra các mùi khó chịu, đặc biệt trong điều kiện thời tiết nóng, ẩm Ngoài các loại thức ăn dư thừa từ gia đình còn có thức ăn dư thừa từ các bếp ăn tập thể, các nhà hàng, khách sạn, ký túc xá, chợ,…
- Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân người và phân của các động vật khác
- Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu vực sinh hoạt của dân cư
- Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: các loại vật liệu sau đốt cháy, các sản phẩm sau khi đun nấu bằng than, củi và các chất thải dễ cháy khác trong gia đình, trong kho của các công sở, cơ quan, xí nghiệp, các loại xỉ than
- Các CTR từ đường phố có thành phần chủ yếu là lá cây, que, củi, nilon, vỏ, bao gói…
Tổng quan về các phương pháp xử lý CTR sinh hoạt
Trong các phương pháp xử lý và tiêu hủy CTR, chôn lấp là phương pháp phổ biến và đơn giản nhất Phương pháp này được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới Về thực chất, chôn lấp là phương pháp lưu giữ chất thải trong một bãi và có phủ đất lên trên
Chôn l ấ p h ợ p v ệ sinh là m ộ t ph ươ ng pháp ki ể m soát s ự phân h ủ y c ủ a CTR khi chúng đượ c chôn nén và ph ủ l ấ p b ề m ặ t CTR trong bãi chôn lấp sẽ bị tan rữa nhờ quá trình phân hủy sinh học bên trong để tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như axít hữu cơ, nitơ, các hợp chất amôn và một số khí như CO 2 ,
Chôn lấp hợp vệ sinh CTR sinh hoạt vừa là phương pháp tiêu hủy sinh học chất thải rắn sinh hoạt, vừa là biện pháp kiểm soát các thông số chất lượng môi trường trong quá trình phân hủy chất thải tại bãi chôn Việc quản lý chặt chẽ các yếu tố môi trường như khí, nước ngầm và mùi giúp giảm thiểu ô nhiễm, bảo đảm an toàn cho cộng đồng và bảo vệ môi trường.
Theo quy định của TCVN 6696 – 2000, bãi chôn lấp CTR hợp vệ sinh được định nghĩa là: khu v ự c đượ c quy ho ạ ch thi ế t k ế , xây d ự ng để chôn l ấ p các ch ấ t th ả i phát sinh t ừ các khu dân c ư , đ ô th ị và các khu công nghi ệ p Bãi chôn l ấ p CTR bao g ồ m các ô chôn l ấ p ch ấ t th ả i, vùng d ệ m, các công trình ph ụ tr ợ khác nh ư tr ạ m x ử lý n ướ c, tr ạ m x ử lý khí th ả i, tr ạ m cung c ấ p đ i ệ n n ướ c, v ă n phòng làm vi ệ c…
2.3.1.2 Đ i ề u ki ệ n chôn l ấ p các lo ạ i CTR t ạ i bãi chôn l ấ p:
CTR được chấp nhận chôn lấp tại bãi chôn lấp hợp vệ sinh là tất cả các chất thải không nguy hại, có khả năng phân hủy tự nhiên theo thời gian, bao gồm:
- Rác thải chợ, đường phố;
- Giấy, bìa, cành cây nhỏ và là cây;
- Tro, củi gỗ mục, vải, đồ da (trừ phế thải da có chứa Crôm);
- Rác thải từ văn phòng, khách sạn, nhà hàng ăn uống;
- Phế thải sản xuất không nằm trong danh mục rác thải nguy hại từ các ngành công nghiệp (chế biến lương thực, thực phẩm, thủy sản, rượu bia giải khát, giày, da…);
- Bùn sệt thu được từ các trạm xử lý nước (đô thị và công nghiệp) có cặn khô lớn hơn 20%;
- Phế thải nhựa tổng hợp;
- Tro xỉ không chứa các thành phần nguy hại được sinh ra từ quá trình đốt rác thải;
- Tro xỉ từ quá trình đốt nhiên liệu
Rác thải không đượ c ch ấ p nh ậ n chôn l ấ p tại bãi chôn lấp hợp vệ sinh là tất cả các loại rác có các đặc tính sau:
Rác thải thuộc danh mục rác thải nguy hại được quản lý đặc biệt theo quy chế quản lý rác thải nguy hại Quy chế này được ban hành kèm theo nghị định của Chính phủ và quy định rõ các nguyên tắc vận chuyển, xử lý an toàn, cũng như trách nhiệm của các bên liên quan Mục tiêu là đảm bảo thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải nguy hại tuân thủ pháp luật, bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.
- Rác thải có đặc tính lây nhiễm;
- Rác thải phóng xạ bao gồm những chất có chứa một hoặc nhiều hạt nhân phóng xạ theo quy chế an toàn phóng xạ;
- Các loại tồn dư của thuốc bảo vệ thực vật và những phế thải có chứa hàm lượng PCB cao hơn 50mg/kg;
- Rác thải dễ cháy và nổ;
- Bùn sệt từ các trạm xử lý nước (đô thị và công nghiệp) có hàm lượng cặn khô thấp hơn 20%;
- Đồ dùng gia đình có thể tích to, cồng kềnh như giường, tủ, bàn, tủ lạnh…;
- Các phế thải vật liệu xây dựng, khai khoáng;
- Các loại đất có nhiễm các thành phần nguy hại vượt quá tiêu chuẩn TCVN 5941 -1995 quy định đối với chất lượng đất;
- Các loại xác súc vật với khối lượng lớn
2.3.1.3 Các y ế u t ố c ầ n xem xét khi l ự a ch ọ n bãi chôn l ấ p a Quy mô bãi:
Quy mô bãi chôn lấp CTR đô thị phụ thuộc vào quy mô của đô thị, bao gồm dân số, lượng rác thải phát sinh và đặc điểm rác thải, cũng như các yếu tố đặc thù khác của đô thị Có thể căn cứ vào các đặc điểm đô thị để ước lượng và phân loại quy mô bãi chôn lấp phù hợp Việt Nam xem xét khả năng phát triển đô thị khi phân loại quy mô bãi chôn lấp và có thể tham khảo bảng sau để xác định quy mô theo từng cấp đô thị.
Bảng 2-1: Phân loại quy mô bãi chôn lấp CTR đô thị
TT Quy mô bãi chôn lấp
Thời hạn sử dụng (năm)
Vị trí bãi chôn lấp phải gần nơi sản sinh chất thải, nhưng phải có khoảng cách thích hợp với những vùng dân cư gần nhất Các yếu tố ảnh hưởng đến những vùng dân cư này là loại chất thải (mức độ độc hại), điều kiện, hướng gió, nguy cơ gây lụt lội,… Cần lưu ý thêm là bãi chôn lấp rất hấp dẫn với chim muông, một nguy cơ tiềm tàng đối với máy bay thấp.Vì vậy địa điểm các bãi chôn lấp cần phải xa các sân bay, là các nơi có các khu vực đất trống vắng, tính kinh tế không cao
Vị trí bãi chôn lấp nên được xác định ở khoảng cách hợp lý từ nguồn phát sinh rác thải, tùy thuộc vào các yếu tố thực tế như loại đất, điều kiện kinh tế, địa hình và lưu lượng xe thu gom Đường sá dẫn đến nơi thu gom rác thải phải đảm bảo chất lượng tốt và đủ tải cho nhiều xe tải hạng nặng lưu thông quanh năm Đồng thời, cần cân nhắc tác động của việc mở rộng giao thông đối với hệ thống vận chuyển và khu vực lân cận để tối ưu hóa hiệu quả và chi phí.
Tất cả vị trí đặt bãi chôn lấp phải được quy hoạch cách nguồn nước cấp sinh hoạt và nguồn nước sử dụng cho công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm ít nhất là 1000m Ngoài ra, chú ý các khoảng cách khác để đảm bảo an toàn cho khu vực xung quanh
Các quy định về khoảng cách tối thiểu từ bãi chôn lấp tới các công trình được ghi ở bảng sau:
Bảng 2-2: Quy định về khoảng cách tối thiểu từ hàng rào bãi chôn lấp tới vành đai các công trình
Các công trình Khoảng cách tối thiểu tới các công trình
Bãi chôn lấp nhỏ và vừa Bãi chôn lấp lớn Bãi chôn lấp rất lớn Đô thị, khu công nghiệp, sân bay, bến cảng, khu dân cư
Công trình khai thác nước ngầm có công suất nhỏ hơn
Cần đặc biệt lưu ý đến các vấn đề:
- Bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh không được đặt tại các khu vực ngập lụt
- Không được đặt vị trí bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh ở những nơi có tiềm năng nước ngầm lớn
- Bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh phải có một vùng đệm rộng ít nhất 50m cách biệt với bên ngoài Bao bọc bên ngoài vùng đệm là hàng rào bãi
Bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh phải hòa nhập với cảnh quan môi trường tổng thể trong vòng bán kính 1.000 m, và để đạt mục tiêu này có thể sử dụng các biện pháp như tạo vành đai cây xanh, mô đất hoặc các hình thức khác để bên ngoài bãi không nhìn thấy được Địa chất tốt nhất là có lớp đá nền chắc và đồng nhất, nên tránh vùng đá vôi và các vết nứt kiến tạo, vùng đất dễ bị rạn nứt; nếu lớp đá nền có nhiều vết nứt và vỡ tổ ong thì điều cực kỳ quan trọng là đảm bảo lớp phủ bề mặt phải dày và thẩm thấu chậm Việc lựa chọn vật liệu phủ bề mặt rất cần thiết trong suốt thời gian hoạt động của bãi thải; đất cần phải mịn để làm chậm quá trình rò rỉ, hàm lượng sét càng cao càng tốt để tạo khả năng hấp thụ cao và thẩm thấu chậm, và hỗn hợp giữa đất sét, bùn và cát là lý tưởng nhất, không nên sử dụng cát sỏi và chất hữu cơ Dòng chảy nước mặt cần tập trung tại một nơi, và cần kiểm soát sự chuyển dịch của mạch nước ngầm để biết chắc tất cả các giếng sử dụng làm nước uống trong khu vực.
Khi xem xét cần sử dụng bản đồ địa chất, thủy văn địa hình đồng thời tham khảo ý kiến của các cơ quan địa phương đang hoạt động trong lĩnh vực này d Nh ữ ng khía c ạ nh môi tr ườ ng:
Quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ tại bãi chôn lấp có thể gây ra một số nguy hại cho môi trường Các nguy hại này bao gồm:
- Tạo ra một số vật chủ trung gian gây bệnh như ruồi, muỗi, các loại côn trùng có cánh và các loại gặm nhấm;
- Mang rác rưởi cuốn theo gió gây ô nhiễm cho các khu vực xung quanh;
- Gây các vụ cháy, nổ;
TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ – XÃ HỘI TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý và diện tích:
– 107 o 35’ Đông Được thành lập năm
1991 trên cơ sở của đặc khu Vũng Tàu
Côn Đảo và 3 huyện Châu Thành , Long Đất và Xuyên Mộc của tỉnh Đồng Nai
Tổng chiều dài địa giới của tỉnh là 162.1km và trên 100.000 km 2 thềm lục địa Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận
29.26km; phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai
116.51 km; phía Tây giáp Thành phố
BRVT thuộc vùng Đông Nam Bộ, là một trong 7 Tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (VKTTĐPN), có diện tích tự nhiên khoảng 2006.70km 2
Về mặt hành chính, BRVT có 6 huyện (trong đó có 1 huyện đảo), 1 thành phố và 1 thị xã, BRVT là tỉnh không lớn so với cả nước, chỉ chiếm 0.6% diện tích và 0.95% dân số
BRVT nằm trên trục đường xuyên Á, có hệ thống cảng biển, sân bay và mạng lưới đường sông thuận lợi Các đường Quốc lộ 51, 55, 56 và đường ven biển Vũng Tàu – Bình Châu cùng với hệ thống đường tỉnh lộ, huyện lộ là những trục giao thông chính gắn kết quan hệ toàn diện của BRVT với các tỉnh khác trong nước và quốc tế
BRVT thuộc miền Đông Nam Bộ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên khí hậu phân hóa rõ rệt theo 2 mùa: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Do đặc điểm địa hình đã làm cho tỉnh BRVT vừa có khí hậu mang nét đặc trưng khí hậu biển vừa pha tạp khí hậu sườn Nam Tây Nguyên và cực Nam Trung Bộ Sự phân hóa nói trên về nhiệt độ không rõ nét bằng sự phân hóa lượng mưa và chế độ mưa
Do nằm gần xích đạo và tiếp giáp với biển nên tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu có nền nhiệt cao, ổn định và nóng ẩm quanh năm Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động khoảng 26,8–27,5°C.
Tháng nóng nhất nhiệt độ trung bình tháng khoảng 28 – 29 o C
Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất (tháng 12 trên đất liền, tháng 1 trên biển) dao động trong khoảng 25 – 26 o C
Biên độ nhiệt ngày ở các vùng xa biển dao động khoảng 7–8°C vào mùa hè và 10–11°C vào mùa đông; ở vùng ven biển và ngoài khơi, biên độ này nhỏ hơn, chỉ khoảng 4,0–6,5°C.
Do sự phân hóa sâu sắc giữa 2 mùa mưa, mùa khô rõ rệt nên chế độ ẩm không khí cũng có sự khác biệt giữa 2 mùa mưa và mùa khô
Trong mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10) độ ẩm không khí tương đối trung bình tháng dao động trong khoảng 80 – 83% (trên đất liền), khoảng 84 – 88% (trên biển)
Trong mùa khô (tháng 11 đến tháng 4) giá trị này trên đất liền dao động khoảng
3.1.2.3 Kh ả n ă ng b ố c h ơ i: Độ bốc hơi nước cả năm 2003 là 133mm Mùa khô độ bay hơi từ 91,8 – 143,4mm Trong mùa mưa là từ 49,8 – 90,9mm
BRVT nằm trong khu vực gió mùa nên hướng gió thay đổi theo mùa rõ rệt Từ tháng 11 đến tháng 3 (trên đất liền) và sang tháng 4 (trên biển), gió Đông Bắc và Đông Đông Bắc chiếm ưu thế với tần suất trên 70% Từ tháng 6 đến tháng 9 là thời kỳ gió mùa Tây Nam chiếm ưu thế Tháng 5 và tháng 10 là thời điểm giao mùa giữa hai luồng gió Đông Bắc và Tây Nam, nên hướng gió luân phiên thay đổi và không có một hướng gió nào thịnh hành rõ nét.
Nằm trong vùng cận xích đạo, có thời gian chiếu sáng dài và không phải là vùng mưa nhiều nên tỉnh BRVT là tỉnh có số giờ nắng vào loại cao trong cả nước hằng năm trung bình có khoảng 2400 – 2800 giờ nắng
Tỉnh BRVT có một mùa mưa và một mùa khô rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng
Mùa mưa trên đất liền kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 và trên biển kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 Trong 6 tháng mùa mưa, lượng mưa chiếm tới 90% tổng lượng mưa cả năm Tháng 5–10 có mức mưa trung bình khoảng 200–300 mm/tháng, trong khi các tháng từ tháng 12 đến tháng 4 chỉ đạt khoảng 10–15 mm/tháng.
Kết quả khảo sát lượng mưa tại tỉnh BRVT trong năm 2003:
- Lượng mưa trung bình năm : 95,63mm
- Lượng mưa cao nhất vào tháng 10 : 252,5mm
- Lượng mưa thấp nhất vào tháng 2 & 3 : 0,0mm
Mùa khô năm 2004 hầu như không có mưa, riêng Côn Đảo và Xuyên Mộc có lượng mưa tháng 4 từ 1,8 – 8,8mm
Thủy triều tại khu vực vịnh Gành Rái, sông Thị Vải – Gò Gia, sông Dinh thuộc loại bán nhật triều không đều, được biểu hiện thành hai thành phần nhật triều và bán nhật triều
Tại Vũng Tàu mực nước lớn trung bình cả năm trong giai đoạn 1979 – 1990 là 14cm, mực nước cực đại đã quan trắn trong thời kỳ nói trên là 153cm và mực nước cực tiểu quan trắc được trong thời kỳ này là -309 cm
Tại Thị Vải các đặc trưng mực nước tại trạm Thị Vải được dánh giá theo kết quả khảo sát trong giai đoạn 1988 – 1989 giá trị trung bình là -212cm
Tại Phú Mỹ (trên sông Thị Vải) mực nước trung bình cả năm là -7cm, cực đại là 167cm và cực tiểu là -327cm.Tại Gò Dầu (trên sông Thị Vải) mực nước trung bình cả năm là -1cm, cực đại là 180cm và cực tiểu là -329cm
Tại Tiền Cảng (sông Dinh) theo các kết quả quan trắc một năm (11/1982 – 10/1983) mực nước trung bình năm là -12cm, cực đại là 166cm, cực tiểu là -319cm, Tại Cầu sông Dinh (Bà Rịa) mực nước trung bình năm là -12cm, cực đại là 166cm và cực tiểu là -298cm
3.1.4 Tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học:
Thảm thực vật tỉnh BRVT rất phong phú về thành phần, phức tạp về cấu trúc thảm, đa dạng về các quần hệ và cấu trúc lâm phần Có 29 quần hệ thực vật khác nhau, trong đó có 21 quần hệ thực vật hình thành và phát triển trên đất lâm nghiệp, 7 quần hệ trên đất canh tác nông nghiệp và 1 quần hệ trên đất thổ cư
Tỉnh có hệ thực vật rất phong phú, qua điều tra hệ thực vật của Vườn Quốc gia Côn Đảo và khu bảo tồn thiên nhiên trong vùng thì vườn Quốc gia Côn Đảo có 822 loài thực vật bậc cao thuộc 562 chi của 161 họ
Hệ động vật có một số loài đặc hữu như Bò biển, cá Voi, các loại Rùa biển, Đồi Mồi, Vich, Mòng Bể, Chim Điên,…
Hiện trạng phát triển kinh tế – xã hội
3.2.1 Tình hình phát triển và tăng trưởng kinh tế - xã hội tỉnh BRVT:
Những thành tựu đạt được của tỉnh BR-VT trong những năm qua cho thấy sự phát triển toàn diện và những bước chuyển rõ nét về kinh tế - xã hội Với vị trí địa lý thuận lợi và tiềm năng phong phú, BR-VT đang phấn đấu đạt được các thành tựu mới và đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước.
Giai đoạn 2001 – 2005 giá trị sản xuất công nghiệp tăng 3,32 lần, tốc độ tăng bình quân trong giai đoạn 2001 – 2005 đạt 27,1% Hầu hết các sản phẩm công nghiệp chủ yếu đều tăng trưởng cao
Khu vực công nghiệp Trung ương đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao 28,2%/năm và có nhiều dự án đầu tư lớn Công nghiệp quốc doanh địa phương tăng trưởng bình quân 11,25%/năm Công nghiệp ngoài quốc doanh có tốc độ tăng trưởng bình quân 27,5% Công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng bình quân 4,12%/năm
Trong giai đoạn 2001–2005, tỉnh đã bổ sung hai khu công nghiệp mới là Cái Mép và Phú Mỹ II và mở rộng hai khu công nghiệp Mỹ Xuân A và Mỹ Xuân B1, nâng diện tích đất khu công nghiệp thêm 2.000 ha Đến năm 2005, toàn tỉnh có 7 khu công nghiệp với diện tích khoảng 3.472 ha, vốn đầu tư đăng ký trên 4 tỷ USD, tổng số lao động làm việc trong các khu công nghiệp khoảng 12.320 người, trong đó lao động địa phương 4.500 người chiếm 36,5%.
Ngoài ra, các địa phương đã lập quy hoạch phát triển 29 cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp với tổng quỹ đất 1.695ha Đến nay có 4 cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đang triển khai đầu tư gồm: cụm công nghiệp làng nghề Ngãi Giao đang đầu tư hạ tầng , cụm công nghiệp Long Hương, cụm công nghiệp khí thấp áp đang chuẩn bị thực hiện dự án và cụm công nghiệp Hắc Dịch đang tiến hành thủ tục thu hồi đất, còn lại 25 cụm công nghiệp khác mới xác định trong quy hoạch
Kết luận chung: Sự tăng trưởng của tỉnh trong thời gian qua là khá cao so với cả nước, Đông Nam Bộ, nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng BRVT có thể đạt được tăng trưởng cao hơn nếu khai thác tốt các tiềm năng và chuẩn bị tốt hơn các điều kiện về vốn, hạ tầng…
Các yếu tố tác động đến điều kiện kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh gồm:
- Phát triển thương mại, dịch vụ
- Phát triển nông nghiệp và nông thôn
Phát triển các lĩnh vực kết cấu hạ tầng: giao thông, điện, cấp thoát nước, bưu chính viễn thông
3.2.2 Phát triển mạng lưới đô thị:
Tỉnh BRVT được thành lập từ năm 1991 Cho đến nay đã có 2 trung tâm đô thị lớn: thành phố Vũng Tàu và thị xã Bà Rịa Trong những năm gần đây, hai trung tâm này không ngừng phát triển và được nâng cấp về cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân địa phương và khu vực Mạng lưới đô thị là các trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh và là nơi tập trung chủ yếu của các cơ sở sản xuất công nghiệp của tỉnh
Ngoài các đô thị lớn, tỉnh còn có một số đô thị nhỏ là trung tâm của các huyện như: thị trấn Ngãi Giao (huyện Châu Đức), thị trấn Phước Bửu (huyện Xuyên Mộc), thị trấn Long Điền, thị trấn Long Hải (huyện Long Điền) Sự phát triển của hệ thống đô thị tỉnh BRVT gắn liền với sự phát triển kinh tế, chính trị văn hóa của tỉnh, là nơi thỏa mãn các nhu cầu giao lưu hàng hóa, giao lưu văn hóa, là nơi đặt bộ máy quản lý hành chính của chính quyền các cấp Đi đôi với sự phát triển của các đô thị là lượng CTR sinh hoạt phát sinh hằng ngày cũng tăng theo đáng kể
Theo tiêu chuẩn phân loại đô thị của Việt Nam, tỉnh BRVT có 7 đô thị các loại
Bảng 3-1: Thực trạng dân số và quy mô các đô thị năm 2003 Đ ô th ị Di ệ n tích(ha) Dân s ố (ng ườ i) Lo ạ i đ ô th ị C ấ p đ ô th ị
Thị trấn Phú Mỹ 2.160 10.000 Mới 5
Thị trấn Long Điền 410 17.620 Cũ 5
Thị trấn Long Hải 350 39.820 Mới 5
Thị trấn Ngãi Giao 250 17.860 Mới 5
Thị trấn Phước Bửu 400 12.940 Mới 5
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh BRVT năm 2003)
Giá trị sản xuất nông nghiệp sau 5 năm tăng 1,5 lần, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,77% mỗi năm, và chăn nuôi tăng lên 9,27% Cơ cấu nội bộ ngành giữa trồng trọt và chăn nuôi đang dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng của chăn nuôi, tuy nhiên quá trình này diễn ra rất chậm.
Về trồng trọt, năm 2000 chiếm 73,94% tổng ngành nông nghiệp, chủ yếu là cây công nghiệp lâu năm (khoảng 50% ngành trồng trọt) và cây lương thực (khoảng 20%) Trong giai đoạn 2001–2005, cơ cấu sử dụng đất và định hướng phát triển các loại cây trồng đã được điều chỉnh để tăng tỷ lệ các loại cây ít sử dụng như hồ tiêu, điều, cao su, rau xanh, và các cây công nghiệp ngắn ngày như bông, vải, thay thế diện tích trồng lúa và cà phê cùng với các giống cũ Thành công đáng chú ý của trồng trọt là hình thành một số vùng hoa quả tập trung tại vùng ven thị xã Bà Rịa, cung cấp rau xanh và hoa quả cho Vũng Tàu và các khu công nghiệp (KCN).
Chăn nuôi chiếm 26,04% giá trị toàn ngành nông nghiệp của tỉnh, tập trung chủ yếu vào chăn nuôi gia súc với các loại vật nuôi chính là bò sữa, heo và gia cầm Các đàn vật nuôi đã có bước phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng, hình thành nhiều trang trại nuôi heo và gia cầm quy mô lớn với quy mô 50.000 con heo/trại và 60.000–70.000 con/trại, đồng thời đàn bò được nâng cao về sinh sản và tăng trọng Nhờ đó, sản phẩm chăn nuôi của tỉnh có thể đáp ứng gần 70% nhu cầu nội địa.
Rừng BRVT có khoảng 700 loại thực vật thân gỗ và thân thảo rừng tiêu biểu cho hệ sinh thái nhiệt đới – đại dương với nhiều loại gỗ quý Ngoài ra, rừng BRVT còn có khoảng 200 loài động vật, trong đó có nhiều loại quý hiếm và đang có nguy cơ bị tiêu diệt Rừng tự nhiên hầu hết bị khai thác kiệt quệ Theo chủ trương đóng cửa rừng, tỉnh đã chấm dứt khai thác gỗ tròn từ năm 1997, hiện chỉ còn khai thác củi và nguyên liệu cho sản xuất giấy
Lâm nghiệp sau 5 năm tăng 1,2 lần, tốc độ tăng trưởng bình quân 3,92%/năm Tài nguyên rừng và đất rừng đã được quản lý bảo vệ khá tốt trên cơ sở quy hoạch diện tích đất lâm nghiệp 38.850 ha, trong đó diện tích đất có rừng là 29.017ha Diện tích đất có rừng năm 2005 là 35.179 ha (gồm 29.017 ha rừng có trong quy hoạch đất lâm nghiệp và 6.612 ha rừng ngoài quy hoạch lâm nghiệp), chiếm 18% diện tích đất tự nhiên Đến nay, đã thực hiện giao khoán 16.432 ha rừng và đất lâm nghiệp cho 2.169 tổ chức hộ gia đình
Một số nhận xét và vấn đề cần quan tâm đối với lâm nghiệp:
- Còn 3.770 ha đất lâm nghiệp chưa có rừng phải phủ xanh trong thời gian tới
- Tỷ lệ che phủ rừng tăng, nhưng chất lượng che phủ giảm ( tăng do độ che phủ của cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả tăng nhanh hơn tốc độ giảm độ che phủ rừng)
- Tốc độ trồng mới rừng khá nhanh, trung bình mỗi năm tỉnh trồng mới được khoảng 1.300 ha duy trì tốc độ này trong 4 – 5 năm tới thì toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng sẽ được phủ xanh
Khái quát quy hoạch phát triển tỉnh BRVT đến năm 2020
Để đảm bảo cho thành phố phát triển đúng định hướng, phù hợp với chiến lược phát triển đô thị của cả nước, các cấp chính quyền tỉnh BRVT đã phối hợp với các bộ ngành liên quan nghiên cứu, điều chỉnh quy hoạch chung tỉnh BRVT đến năm 2020 trong thời kỳ công nghiệp hóa, xã hội hóa như sau:
3.3.1 Mục tiêu phát triển kinh tế:
Tạo ra sự chuyển dịch mạnh mẽ hơn nữa về cơ cấu kinh tế theo hướng thúc đẩy nhanh phát triển khu vực dịch vụ, đặc biệt là du lịch và thương mại, tăng dần tỷ trọng của khu vực kinh tế địa phương và kinh tế tư nhân Đến năm 2020 đưa tỉnh thành một trung tâm công nghiệp, du lịch, cảng có ý nghĩa quốc gia và quốc tế qua đó củng cố và nâng cao hơn nữa vị trí quan trọng của BRVT
Quy hoạch chung của tỉnh đến năm 2020 xác định tỉnh BRVT là:
- VKTTĐPN trong đó thành phố Vũng Tàu là đô thị loại III cấp Quốc gia;
- Một trong những trung tâm kinh tế quan trọng (công nghiệp, kinh tế biển, du lịch, nghỉ mát) của miền Nam bộ
3.3.2 Mục tiêu phát triển xã hội:
- Phát triển một xã hội lành mạnh, ổn định trong đó con người là đối tượng quan tâm hàng đầu và cũng là chủ đề đảm bảo cho sự phát triển
- Tạo sự chuyển biến cơ bản và toàn diện trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Chú trọng đến việc hình thành cơ cấu đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh
- Phát triển các hoạt động văn hóa, thể thao đa dạng và chất lượng Nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc bảo vệ sức khỏe để giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do mắc bệnh Không để xảy ra dịch bệnh đưa số lượng người được khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe thường xuyên vào năm 2020
Đẩy mạnh nâng cao cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn nhằm hình thành một khu vực nông thôn có trình độ phát triển cao, văn minh và hiện đại, gần với nhịp sống đô thị Việc đầu tư đồng bộ vào kết cấu hạ tầng nông thôn như giao thông, điện - nước, cấp thoát nước, thông tin liên lạc và hạ tầng công nghệ sẽ tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững và nâng cao chất lượng sống của người dân Kết quả là vùng nông thôn được kết nối tốt hơn, thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt, thu hẹp khoảng cách với đô thị và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của khu vực.
- Thu hẹp sự chênh lệch giữa các vùng, các tầng lớp dân cư trong việc thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản
- Đảm bảo sự an toàn xã hội và quốc phòng, giảm tối đa các tệ nạn xã hội làm cơ sở cho ổn định và phát triển kinh tế.
HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU
Tổ chức quản lý CTR
4.1.1 Sơ đồ quản lý CTR tại tỉnh:
Hệ thống quản lý CTR trên địa bàn tỉnh được thể hiện qua sơ đồ sau:
Hình 4.1: Sơ đồ quản lý CTR tỉnh BRVT
Quản lý CTR của tỉnh BRVT là trách nhiệm chủ yếu của Công ty Môi trường đô thị của thành phố Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa và các huyện lỵ trên địa bàn của tỉnh Công ty Môi trường là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở tài nguyên Môi trường, có nhiệm vụ tiếp nhận và xử lý 100% lượng rác thải của các Cty CTĐT thành phố, huyện thị chuyển đến
Các Cty CTĐT của thành phố Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa và các huyện lỵ của tỉnh có trách nhiệm thu gom và vận chuyển CTR phát sinh trên địa bàn của mình đến khu vực xử lý CTR do Công ty Môi trường tỉnh BRVT quản lý.
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh BRVT chịu trách nhiệm quản lý và kiểm soát các hoạt động của Công ty Môi trường và các công ty môi trường đô thị trên địa bàn tỉnh, nhằm đảm bảo tuân thủ pháp luật về tài nguyên và môi trường và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về dịch vụ môi trường.
4.1.2 Các cơ quan có nhiệm vụ quản lý CTR hiện nay:
Các đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp về quản lý CTR hiện nay ở tỉnh BRVT :
- Công ty môi trường tỉnh BRVT trực thuộc sở Tài nguyên và Môi trường của tỉnh chịu trách nhiệm xử lý CTR phát sinh trên địa bàn của tỉnh
- Cty CTĐTthành phố Vũng Tàu trực thuộc UBND Thành phố Vũng Tàu chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ thu gom chất thải đường phố và các cơ sở y tế của Trung ương và thành phố trên địa bàn, vận chuyển toàn bộ CTR tới các khu xử lý chất thải của tỉnh BRVT
- Việc thu gom rác thải của các hộ dân trên địa bàn thành phố do cấp phường quản lý theo mô hình xã hội hóa
& vận chuyển) Cty Môi trường
Công ty CTĐT thị xã Bà Rịa, trực thuộc UBND thị xã Bà Rịa, chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ thu gom chất thải rắn CTR từ các hộ dân, cơ quan, công sở, nhà hàng, khách sạn, rác đường phố và rác chợ, rác từ các trung tâm y tế trên địa bàn thị xã; đồng thời thu gom rác thải công nghiệp từ các nhà máy và vận chuyển toàn bộ CTR đến khu vực xử lý CTR của tỉnh BRVT.
Cty CTĐT của các huyện Tân Thành, Châu Đức, Long Điền và Đất Đỏ trực thuộc UBND các huyện, chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ thu gom CTR cho hộ dân, cơ quan, công sở, các nhà hàng, khách sạn, rác đường phố, rác chợ và rác thải của các cơ sở công nghiệp trên địa bàn, đồng thời vận chuyển toàn bộ CTR này tới khu vực xử lý CTR của tỉnh BRVT.
- Cty CTĐT các huyện Xuyên Mộc và Côn Đảo trực thuộc UBND của các huyện Xuyên Mộc, Côn Đảo có trách nhiệm cung cấp dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý CTR trên địa bàn các huyện lỵ trên
- Sở xây dựng và sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có trách nhiệm lựa chọn vị trí khu xử lý chất thải của tỉnh
- Sở y tế có trách nhiệm hướng dẫn các bệnh viện phân loại và quản lý chất thải lây nhiễm nguy hại
Hiện nay khâu thu gom vận chuyển của các hộ dân và các cơ quan nhà hàng, khách sạn trên địa bàn tỉnh đã triển khai rất tốt, đặc biệt là thành phố Vũng Tàu đã tiến hành mô hình xã hội hóa hình thức thu gom do cấp phường quản lý Mô hình này được nhân rộng ở nhiều nơi hơn
Hình thức quản lý thu gom rác được thực hiện như sau: UBND phường đề cử một số người, phần lớn là những người có thu nhập thấp và cần được giúp đỡ việc làm, tham gia thu gom rác từ hộ dân Mỗi người được phân công phụ trách khoảng 70–80 hộ dân trên địa bàn Sau đó, rác được vận chuyển tới trạm trung chuyển CTR của thành phố bằng xe 4 bánh có động cơ.
4.1.3 Nhân lực và trang thiết bị:
Xưởng sửa chữa bảo dưỡng các phương tiện của công ty tại thành phố Vũng Tàu đang được quản lý bởi Cty CTĐT, chịu trách nhiệm bảo dưỡng xe chuyển rác, xe thu gom đẩy tay và các thiết bị liên quan Đội ngũ công nhân của xưởng có trình độ tay nghề cao, đảm nhận sửa chữa và bảo dưỡng thiết bị để đảm bảo hoạt động liên tục và an toàn cho toàn bộ phương tiện Với kinh nghiệm và kỹ thuật chuyên môn, xưởng có khả năng thực hiện các công việc bảo dưỡng định kỳ, sửa chữa nhanh chóng và hiệu quả, từ kiểm tra động cơ đến bảo dưỡng hệ thống truyền động và các hệ thống nâng hạ, nhằm nâng cao tuổi thọ thiết bị và tối ưu hóa hiệu suất vận hành cho đội ngũ công nhân và phương tiện của công ty.
- Đại tu xe thu gom và vận chuyển rác;
- Trung tu xe thu gom và vận chuyển rác;
Bảng 4-1: Nguồn nhân lực và phương tiện của Cty CTĐT thành phố Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa và các huyện tỉnh BRVT
Xe ô tô vận chuyển CTRchuyên dùng
Số lượng xe ôtô (chiếc)
Số lượng xe đẩy tay (chiếc)
H.Long Điền 70 Xe ép rác 16m 3 /xe 4 8 15
H.Đất Đỏ 35 Xe ép rác 14m 3 /xe
H.Châu Đức 15 Xe ép rác 12m 3 /xe
Nguồn : Theo báo cáo của Cty CTĐT thành phố Vũng Tàu 2005
Thị xã Bà Rịa đã có xưởng bảo dưỡng thiết bị xe máy chuyên dụng với năng lực duy tu và bảo dưỡng các loại xe vận chuyển chất thải; các huyện còn lại hiện chưa có xưởng bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị.
Hiện trạng quản lý và xử lý CTR sinh hoạt tỉnh BRVT
4.2.1.1 Ngu ồ n, kh ố i l ượ ng và thành ph ầ n CTR: a Ngu ồ n phát sinh CTR:
CTR sinh hoạt của tỉnh BRVT chủ yếu phát sinh từ các hộ dân cư, đường phố, khu thương mại, văn phòng các cơ quan trên địa bàn và tập trung chủ yếu tại các khu vực đô thị hóa cao và các địa bàn đông dân cư Các số liệu thống kê chính xác là rất khó thực hiện vì các Cty CTĐT không thể tổ chức thu gom toàn bộ rác thải sinh hoạt trên địa bàn, đặc biệt là vùng nông thôn hẻo lánh của các xã thuộc địa bàn huyện
Xuyên Mộc, Tân Thành, Đất Đỏ và Châu Đức Các vùng nôn thôn hiện nay rác thải sinh hoạt do người dân tự xử lý tại nơi cư trú Tuy nhiên theo đánh giá lượng rác thải đô thị được phát sinh được thu gom hằng ngày đạt khoảng 70 – 75% b Kh ố i l ượ ng CTR:
Theo kết quả điều tra, khảo sát thực tế và làm việc trực tiếp với các CtyCTĐT, các huyện, thị xã, thành phố, tổng khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh hằng ngày hiện nay khoảng 720 tấn/ngày Trong đó, khối lượng rác thải được thu gom hằng ngày là 533 tấn/ngày, chiếm 74% lượng rác thải phát sinh, còn lại khoảng 187 tấn/ngày chưa được thu gom Cụ thể khối lượng rác phát sinh trên các địa bàn hiện nay như sau:
Bảng 4-2: Khối lượng rác thải đô thị phát sinh hằng ngày trên địa bàn tỉnh BRVT
Tổng khối lượng phát sinh (tấn/ngày)
Khối lượng được thu gom (tấn/ngày)
Khối lượng chưa được thu gom (tấn/ngày)
Nguồn: Báo cáo tổng kết quản lý CTR năm 2005 - Dự án SEMLA
Vấn đề đặt ra là tỉnh vẫn chưa tìm được giải pháp xử lý triệt để toàn bộ lượng rác sinh ra Ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do nước rỉ rác, mùi hôi do rác tồn đọng là vấn đề đáng quan tâm, đồng thời tại các bãi chôn lấp cũng chưa đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước rỉ rác c Thành ph ầ n vô c ơ và h ữ u c ơ :
Theo dữ liệu khảo sát thành phần rác sinh hoạt của tỉnh BRVT do Nhà máy xử lý chất thải Tân Thành thực hiện vào tháng 02 năm 2005, thành phần rác sinh hoạt của các địa phương thuộc tỉnh BRVT được trình bày chi tiết như sau.
Bảng 4-3: Thành phần rác thải của các địa phương tỉnh BRVT
STT Thành phần % Địa điểm
Vũng Tàu Bà Rịa Tân
Nguồn: Nhà máy xử lý rác Tân Thành- BRVT 4.2.1.2 Công tác thu gom và v ậ n chuy ể n CTR sinh ho ạ t: a Thu gom:
Khu v ự c thành ph ố V ũ ng Tàu:
Việc thu gom rác thải từ các hộ dân và các cơ quan, nhà hàng, khách sạn trên địa bàn thành phố được thực hiện do cấp phường quản lý theo mô hình xã hội hóa UBND phường đề cử một số người—thường là những người có thu nhập thấp và cần được giúp đỡ việc làm—thu gom rác từ các hộ dân, bình quân mỗi người phụ trách khoảng 70–80 hộ dân trên địa bàn và vận chuyển tới Trạm Trung chuyển CTR của thành phố bằng các xe 4 bánh có động cơ.
Thu gom rác đường phố và đưa rác ra các điểm hẹn bằng xe đẩy tay do công nhân Cty CTĐT thực hiện Rác từ xe đẩy tay được chất lên xe tải bằng thủ công hoặc đổ vào các trạm trung chuyển
- Rác chợ được ban quản lý chợ thu gom và một bãi đất trống và công nhân Cty
CT ĐT tới xúc lên xe và vận chuyển tới nơi xử lý
- Một phần khối lượng rác thải được thu gom bằng thùng chứa rác và rác từ thùng chứa rác được chất lên xe tải có thiết bị nâng
Hiện tại, thành phố Vũng Tàu có 06 trạm trung chuyển rác tại các phường 2, phường 6, phường 9, phường 10, phường 11 và phường 12, trong đó có 3 trạm đã được trang bị máy ép rác và 3 trạm khác còn lại là bãi đất trống:
- Rác được chuyển tới các trạm trung chuyển có máy ép sẽ được đổ trực tiếp vào thùng chứa và được máy ép chặt trước khi vận chuyển tới nơi xử lý Trong quá trình ép rác toàn bộ nước rò rỉ rác được thu vào xe xitec và chuyển tới nơi xử lý
- Rác thải chuyển tới những trạm trung chuyển là bãi đất trống được đổ xuống đất sau đó công nhân của Cty CTĐT xúc rác lên xe ô tô chuyên dùng bằng thủ công để vận chuyển tới khu xử lý
Khu v ự c th ị xã Bà R ị a và các huy ệ n l ỵ c ủ a t ỉ nh
Ở thị xã Bà Rịa và các huyện, công nhân của các Cty CTĐT đảm nhận thu gom rác sinh hoạt phát sinh từ hộ dân, rác đường phố, rác chợ và rác từ các cơ quan, nhà hàng, bệnh viện và trạm y tế trên địa bàn hàng ngày Hiện tại, tại các địa phương này chưa triển khai mô hình xã hội hóa trong công tác thu gom rác, có nghĩa là chưa có sự tham gia của người dân vào hoạt động thu gom Toàn bộ công tác thu gom và vận chuyển rác đều được thực hiện bởi lực lượng công nhân của các Cty CTĐT Phương thức thu gom được tiến hành như sau:
- Công nhân Cty CTĐT thu gom rác từ nhà dân ra đường lớn hoặc bãi tập kết sau đó tới giờ quy định công nhân xúc rác lên xe vận chuyển và chở tới khu xử lý
- Công nhân Cty CT ĐT theo xe ô tô vận chuyển và thu gom trực tiếp rác từ các hộ dân, cơ quan, nhà hàng, khách sạn trên địa bàn
- Tại các hẻm, ngách nhỏ công nhân thu gom rác bằng xe đẩy tay và tập trung tại các đường lớn để xúc rác lên xe vận chuyển
- Rác chợ: Công nhân thu gom và các trạm trung chuyển hoặc các bô rác, khi đầy xe vận chuyển tới chở rác đến khu xử lý
Một số địa phương của tỉnh chưa có trạm trung chuyển rác hoặc các trạm trung chuyển là các bãi đất trống khiến rác sau khi thu gom đổ tràn ra mặt đất, gây mất mỹ quan đô thị và ô nhiễm môi trường Việc xúc rác lên xe bằng phương pháp thủ công với cường độ lao động nặng nhọc khiến người lao động chịu áp lực cao và dễ lây nhiễm, ảnh hưởng đến sức khỏe Cần đầu tư xây dựng trạm trung chuyển đầy đủ, áp dụng quy trình vận chuyển rác an toàn và hiệu quả để giảm thiểu tình trạng rác tràn ra ngoài và bảo đảm vệ sinh môi trường cũng như sức khỏe người lao động.
Tại các trạm trung chuyển và các điểm hẹn tập kết, rác thải được chuyển lên xe ôtô bằng thủ công hoặc bằng thiết bị nâng tự động của các xe cuốn ép rác và được chuyển tới bãi chôn lấp chất thải của thành phố
Nhìn chung xe ô tô vận chuyển rác của tỉnh BRVT đều là xe chuyên dụng, có công suất lớn đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật cũng như vệ sinh môi trường khi tham gia giao thông Tuy nhiên, nhiều địa phương của tỉnh, số đầu xe vận chuyển rác còn ít, cự ly vận chuyển rác thải lớn (cự ly vận chuyển rác trung bình trong toàn tỉnh là 40km từ nguồn phát sinh đến nơi xử lý) nên nhiều xe phải hoạt động quá công suất trong ngày