TÓM T ẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN Đề tài “Đề xuất các giải pháp quản lý hồ chứa trong nội thành Thành phố Hồ Chí Minh” do Phan Thị Thu Hà thực hiện năm 2007 tại Trường Đại học Tôn Đức Thắng..
TỔNG QUAN
T ỔNG QUAN CÁC HỒ CHỨA TẠI VIỆT NAM
Cả nước hiện có hàng ngàn hồ chứa nước ở các quy mô khác nhau Cụ thể, có trên 650 đập và hồ chứa cỡ lớn và vừa, và trên 3.500 đập hồ chứa cỡ nhỏ Tổng dung tích của 10 hồ chứa lớn là khoảng 13 tỷ m3 nước, còn 445 hồ chứa vừa (mỗi hồ từ 5–10 triệu m3) có tổng dung tích khoảng 5 tỷ m3.
Hầu hết các hồ chứa nước này được xây dựng tại các vùng nông thôn và được sử dụng đa mục đích, chủ yếu phục vụ phát điện và chống lũ lụt Lớn nhất là đập Hòa Bình, được khởi công năm 1979 và bắt đầu vận hành năm 1989 Đập có dung tích chứa nước rất lớn, thể hiện quy mô và tầm ảnh hưởng của công trình đối với nguồn điện và quản lý nước ở khu vực.
Trong nhiều hồ, đầm và ao nhỏ chưa có điều kiện thống kê chi tiết và xác định khối lượng nước, mỗi hồ có dung tích riêng tuy nhỏ nhưng tổng lượng nước của cả hệ thống không nhỏ Những hồ nước này vừa là nơi tiêu thoát nước vào mùa mưa, vừa là nguồn nước sinh hoạt cho không ít dân cư ngoại thị và nông thôn.
9 m 3 nước, lượng trữ nước thường xuyên 5,6 x 10 9 m 3 , sản xuất điện 7,8 x 10 9
Các hồ chứa nhân tạo thường được ngăn dòng từ các con sông lớn, nên có các đặc tính thủy lực và hóa học khác biệt so với hồ tự nhiên bởi vẫn nhận nước từ nguồn đầu nguồn và có các thời điểm xả nước mạnh trong một thời gian dài Vì vậy, nhiều người không xếp hồ chứa vào loại thủy vực nước tĩnh chính thống; khi xem xét một vấn đề nghiên cứu, người ta có thể xếp hồ chứa vào một loại hình thủy vực riêng do những đặc tính thủy lý-hóa của chúng khác biệt so với hồ tự nhiên Năng lượng điện từ hồ chứa, được tính bằng kWh, cung cấp khoảng 40% tổng sản lượng điện cho cả nước và có thể giảm mức lũ ở Hà Nội năm 1971 từ 14,8 m xuống 13,3 m Các nhu cầu sử dụng khác về mùa khô như nước sinh hoạt, nước tưới, lưu thông thủy lợi, chống ô nhiễm và khống chế mặn rất đáng kể, nhưng chỉ là sản phẩm phụ.
Đây là phần tổng quan về 5 hồ chứa tiêu biểu đại diện cho ba khu vực đặc trưng của Việt Nam là miền Bắc, Tây Nguyên và miền Nam Danh sách các hồ chứa gồm Thác Bà, Hòa Bình và Núi Cốc ở miền Bắc, cùng Sông Hinh và Trị An ở miền Nam, cho thấy sự đa dạng về quy mô, chức năng và tầm quan trọng của hệ thống hồ chứa nước tại từng khu vực.
Vị trí các hồ chứa được mô tả tại các vùng sinh thái khác nhau và được thể hiện trong Hình 2.1, trong khi tọa độ của các hồ chứa được trình bày trong Bảng 2.1 Bảng này đồng thời cung cấp các thông tin địa lý như độ sâu tối đa (Zmax, m), chiều dài (l, m), chiều rộng (b, m), diện tích (A, ha) và dung tích (V, triệu m^3). -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Tăng thứ hạng SEO nội dung của bạn dễ dàng với [Pollinations.AI free text APIs](https://pollinations.ai/redirect/kofi) – giải pháp lý tưởng cho người tạo bài viết chuyên nghiệp!
Trong số các hồ chứa được khảo sát, hồ Hòa Bình là hồ sâu nhất với độ sâu 117 m, dài nhất với 280 m và cũng là hồ hẹp nhất với bề ngang chỉ 3 m Các hồ chứa còn lại có độ sâu trung bình từ 6–15 m và nông hơn hồ Hòa Bình rất nhiều, với độ sâu khoảng 45,4 m Ngoại trừ hồ Hòa Bình, tất cả các hồ chứa lớn đều có bề ngang lớn nhất khoảng 10–12 km, trong khi các hồ chứa cỡ vừa chỉ có 6 km (Bảng 2.1) Hồ chứa Thác Bà có 629 km chiều dài bờ, lớn gấp 15 lần chiều dài hồ Núi Cốc, 42 km.
), độ sâu trung bình (z, m), tỷ lệ giữa chiều dài hồ và bề ngang của hồ (l:b), và chiều dài bờ (km)
Hình 2.1 Vị trí các hồ chứa đặc trưng tại Việt Nam
1 – Thác Bà; 2 – Núi Cốc; 3 – Hòa Bình; 4 - Cấm Sơn; 5 - Kẻ Gỗ; 6 – Sông Hinh;
Bảng 2.1 Các đặc điểm địa hình của 5 hồ chứa tại các vùng sinh thái khác nhau
Các yếu tố Phía Bắc Tây Nguyên Phía Nam
Thác Bà Hòa Bình Núi Cốc Sông Hinh Trị An
Lưu vực sông Hồng Hồng Hồng Hinh Đồng Nai
Dung tích (triệu m 3 ) 3.395 9.450 175,5 320 2.765 Độ sâu trung bình (m) 14,5 45,4 6 - 9
Chiều dài đường bờ (km) 629 - 42 - -
(Nguồn: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, năm 2004)
2.1.2 Các y ếu tố thủy lý, hóa
Nhiệt độ nước bề mặt dao động từ 20°C đến 33°C, và sự khác biệt giữa các hồ được thể hiện trong Bảng 2.2 Hồ chứa Trị An, Núi Cốc và Sông Hinh có nhiệt độ cao nhất, trong khi nhiệt độ bình quân của hồ Hòa Bình và hồ Thác Bà ở mức khoảng 25°C.
Giữa các hồ có sự khác biệt về hàm lượng oxy hòa tan trong nước; Hồ Hòa Bình, Hồ Trị An và Hồ Núi Cốc có hàm lượng oxy hòa tan cao nhất, trong khi Hồ Sông Hinh có hàm lượng oxy hòa tan thấp nhất ở mức 5,8 mg/L Bên cạnh đó, hàm lượng oxy hòa tan tại các hồ chứa ở miền Bắc cao hơn so với các hồ ở miền Nam và khu vực Tây Nguyên.
Giá trị pH dao động với độ sai khác lần lượt theo thứ tự như sau: Hòa Bình > Thác Bà
Trị An > Núi Cốc > Sông Hinh Độ dẫn điện chỉ được xác định tại hồ Hòa Bình, Thác Bà và Sông Hinh Điều dễ nhận thấy là độ dẫn điện tại các hồ chứa lớn cao hơn, dao động từ 184–195 µS/cm, so với hồ chứa cỡ vừa khoảng 42,4 µS/cm.
Hàm lượng các muối dinh dưỡng tại các hồ chứa ở mức rất thấp, đặc biệt là nitrate Sự khác biệt về giá trị trung bình nitrate giữa các hồ biến thiên theo thứ tự tăng dần Núi Cốc (0,35 mg/l) > Thác Bà (0,27 mg/l) > Hòa Bình (0,22 mg/l) > Trị An (0,19 mg/l) > Sông Hinh (0,07 mg/l) Các hồ chứa ở phía Bắc có nồng độ nitrate lớn hơn các hồ ở miền Nam và khu vực Tây Nguyên.
Hàm lượng phosphate trong nước hồ dao động từ 0,01 – 0,72 mg/l Đáng lưu ý, các hồ chứa lớn có hàm lượng phosphate thấp hơn rất nhiều, ở khoảng 0,02 – 0,04 mg/l, so với các hồ chứa cỡ trung bình có mức phosphate từ 0,03 – 0,07 mg/l.
Lượng Chlorophyll α thấp nhất và cao nhất lần lượt được ghi nhận tại hồ chứa Sông Hinh (3,16 mg/m 3 ) và hồ Trị An (9,58 mg/m 3 α
) Trong khi đó, tại các hồ chứa Hòa Bình, Thác Bà và Núi Cốc hàm lượng Chlorophyll dao động từ 4,6 – 6,56 mg m 3
Bảng 2.2: Các giá trị trung bình về thủy lý, thủy hóa đối với các thủy vực trên (na- không có dữ liệu)
Các yếu tố Hồ chứa lớn Hồ chứa cỡ vừa
Hòa Bình Thác Bà Trị An Núi Cốc Sông Hinh
Nhiệt độ ( 0 C) 25±0,27 25,6±0,32 30±0,1 28,1±0,26 27,5±0,2 Oxy hòa tan (mg l -1 ) 6,8±0,17 6,7±0,09 6,4±0,02 6,8±0,03 5,8±0,22 pH 7,9±0,05 7,8±0,03 7,2±0,02 7,2±0,05 7±0,1 Độ dẫn điện (às cm -1 ) 183,9±4,64 195,1±3,04 Na na 42,4±2,65 Nitrate (mg l -1 ) 0,22±0,01 0,27±0,03 0,19±0,01 0,35±0,02 0,07±0,01 Photphate (mg l -1 ) 0,02±0,001 0,04±0,004 0,01±0,001 0,72±0,02 0,03±0,002 Chlorophyll α (mg m -3 ) 6,16±0,52 4,6±0,39 9,58±0,41 6,56±0,16 3,16±0,11
(Nguồn: Viện Nghiên cứu và Nuôi trồng Thủy sản I, năm 2004)
2.1.3 Th ực vật phù du
Tại 3 hồ chứa Thác Bà, Trị An, và Hòa Bình, có 183 loài thực vật phù du được phát hiện, trong đó 110 loài tảo tại hồ Thác Bà; 81 loài tảo tại Hòa Bình và 34 loài tảo tại hồ chứa Trị An Bộ tảo Chlorophyta chiếm đa số tại tất cả các hồ chứa, chiếm khoảng
40 – 50% tổng số loài thực vật phù du trong hồ Trong 2 hồ chứa tại phía Bắc là Thác
Ở Bà và Hòa Bình, Cyanophyta là bộ tảo chiếm đa số thứ hai trong nhóm thực vật phù du Ngược lại, tại hồ Trị An ở phía Nam Việt Nam, bộ Bacillariophyta chiếm vị trí thứ ba về mức độ phổ biến Trong khi đó, bộ Xanthophyta và Chrysophyta chỉ chiếm khoảng 1–4% tổng số loài thực vật phù du có mặt ở các hồ chứa phía Nam Việt Nam.
Bắc và bộ Euglenophyta chiếm khoảng 3% cao hơn bộ Pyrrophyta
Hòa Bình Thác Bà Trị An
Cyanophyta Chlorophyta Bacillariophyta Pyrrophyta Euglenophyta Chrysophyta Xanthophyta
Hình 2.2: Tỷ lệ tương quan (%) về sự xuất hiện của các bộ tảo tại các hồ chứa (Nguồn: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, năm 2004 )
Tại hồ chứa Hòa Bình, Thác Bà và Trị An lần lượt có 31, 24, và 26 loài động vật phù du được ghi nhận
Hình sau đây cho thấy Rotifera là nhóm chiếm ưu thế tại các hồ chứa phía Nam (hồ
Rotifera chiếm từ 45–65% tổng số động vật phù du tại các hồ chứa, với 45% tại hồ chứa Thác Bà, 55% tại hồ chứa Hòa Bình và 65% tại hồ chứa Trị An.
T ỔNG QUAN CÁC HỒ CHỨA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ở khu vực nội thành Tp.HCM có nhiều hồ chứa nước nhỏ, nằm chủ yếu trong khuôn viên các công viên du lịch như Công viên Đầm Sen và Công viên Kỳ Hòa Những hồ này góp phần làm đẹp cảnh quan, cải thiện môi trường và phục vụ nhu cầu vui chơi, khám phá của người dân và du khách Nghiên cứu nhằm đề xuất các giải pháp quản lý hồ chứa trong khu vực nội thành Tp.HCM, nhằm tăng cường hiệu quả khai thác nguồn nước, đảm bảo an toàn cho người tham gia hoạt động và hướng tới phát triển bền vững hệ thống hồ đô thị.
2.2.1 Công viên văn hóa Đầm Sen
Công viên Đầm Sen nằm ở Quận 11 – TpHCM (Hình 2.5)
Hình 2.5: Bản đồ vị trí CV Văn hóa Đầm Sen
Trước năm 1975, mảnh đất thuộc Công Viên Văn Hóa Đầm Sen hiện nay là một khu đầm lầy hoang hóa.
Trong giai đoạn 1976–1978, theo lời kêu gọi của Thành ủy – Ủy ban Nhân dân TP.HCM, hàng chục ngàn lao động từ khắp các quận, huyện trong thành phố đã được huy động về đây để tham gia nạo vét và trồng cây tại khu vực này.
Bắt đầu từ đây, Công viên từng bước được cải tạo thành một hồ nước sạch hơn với cảnh quan thoáng mát góp phần tăng vẻ mỹ quan của Thành phố nói chung và Quận
Năm 1983, công trình bước đầu đưa vào sử dụng khoảng 30 ha, bao gồm mặt nước và thảm xanh Thành phố giao cho Quận 11 quản lý, và UBND Quận 11 giao cho 3 đơn vị: Công ty ăn uống Quận 11, Công ty văn hóa tổng hợp và Xí nghiệp nuôi trồng thủy ản khai thá
Vào năm 1989, công trình được bàn giao cho Công ty Dịch vụ Du lịch Phú Thọ để quản lý và đầu tư cho đến nay; đây là đơn vị vừa tách ra từ Công ty ăn uống Quận 11, chịu trách nhiệm vận hành và phát triển công trình qua nhiều năm.
2.2.1.3 Các giai đoạn phát triển Đầm Sen với diện tích 50 ha theo quy hoạch, gồm 20% là mặt hồ - trong đó hồ lớn của Đầm Sen chiếm 6.5 ha - và 60% là cây xanh và vườn hoa Hằng năm, CV Văn hóa Đầm Sen luôn được đầu tư những công trình mới, chương trình nội dung phong phú ở các sân khấu, duy trì và tôn tạo các công trình đã có nhằm đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí của du khách trong và ngoài Tp.HCM
Đầm Sen nổi bật với các loại hình giải trí đặc trưng như tàu lượn siêu tốc, băng đăng, nhạc nước, thạch thủy cầm, múa rối nước, xiếc thú và các vườn chim-thú-động vật, mang đến trải nghiệm đa dạng cho du khách tham quan Những hoạt động này luôn được chăm sóc và tôn tạo để bảo đảm an toàn và sự hấp dẫn, góp phần quảng bá hình ảnh Đầm Sen như điểm đến giải trí phù hợp cho gia đình và nhóm bạn.
CV Đầm Sen thường xuyên phối hợp với các ban ngành, đoàn thể của Quận và Thành phố để tổ chức các hoạt động nhân ngày kỷ niệm truyền thống và các lễ hội văn hóa Những sự kiện này giúp duy trì và tôn vinh giá trị văn hóa địa phương, đồng thời tăng cường sự tham gia của cộng đồng và du khách vào các hoạt động của thành phố.
Liên tục trong nhiều năm, Công viên được UBND Thành phố công nhận là đơn vị thực hiện tốt Môi trường xanh - sạch
Nhằm phục vụ và đáp ứng nhu cầu tham quan, vui chơi, giải trí ngày càng cao của du khách trong và ngoài thành phố, CV Đầm Sen đặt mục tiêu giữ vững và phát triển thành khu vui chơi giải trí phức hợp hiện đại bậc nhất tại Việt Nam Với khẩu hiệu Đầm Sen thế giới tuyệt vời, khu tổ hợp này hướng tới mang lại trải nghiệm giải trí đa dạng và đẳng cấp cho mọi người.
2.2.2 Công viên văn hóa Lê Thị Riêng
Công viên Lê Thị Riêng nằm ở Quận 10 – Tp.HCM (Hình 2.6)
Trước đây, CV Văn hóa Lê Thị Riêng chính là nghĩa địa Đô Thành Sau này, nghĩa địa Đô Thành được di dời sang nơi khác và thành phố đã cải tạo khu vực này thành công viên, biến một khu di tích lịch sử thành một không gian công cộng xanh, phục vụ người dân và du khách.
Hiện nay, CV Văn hóa Lê Thị Riêng do Trung tâm Văn hóa Thể dục Thể thao Quận
10 quản lý, tọa lạc tại 875 đường Cách Mạng Tháng 8, quận 10 Đây là một cảnh quan đẹp góp phần với Thành phố làm trong sạch hóa môi trường
2.2.2.2 Đôi nét về công viên Lê Thị Riêng Đến với CV Văn hóa Lê Thị Riêng, du khách sẽđược tẩn hưởng một không khí trong lành, có 80% mảng xanh trên tổng diện tích 8 ha với nhiều cỏ, cây cổ thụ, bồn hoa đan xen lối đi và một hồ nước xanh – đây là nơi dành cho du khách câu cá và thư giản, tất cả tạo nên một khung cảnh thiên nhiên hài hòa
Hình 2.7: Hồ nước trong CV
Có thể từ Nhà truyền thống Quận 10, du khách thưởng lãm cảnh quan xanh mát và ngắm nhìn những gam màu tự nhiên, đồng thời cảm nhận sự hào hùng của truyền thống dân tộc qua di vật, hình ảnh và bia tưởng niệm Nơi đây lưu giữ di vật và hình ảnh về cố Tổng Bí thư Trần Phú, liệt sĩ Lê Thị Riêng và liệt sĩ Trần, mở ra góc nhìn sâu sắc về lịch sử và tinh thần chiến đấu của các thế hệ đi trước.
Văn Kiều và các liệt sĩ vô danh khác
CV Văn hóa Lê Thị Riêng là điểm sáng văn hóa của quận, ngày càng thu hút du khách từ khắp nơi đến tham quan, vui chơi và giải trí Nơi đây đã nhận nhiều bằng khen và giấy khen của thành phố, khẳng định vị thế là một công sở văn minh, sạch đẹp của quận Với vai trò là điểm đến tin cậy về văn hóa, CV Văn hóa Lê Thị Riêng góp phần thúc đẩy du lịch, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa địa phương.
2.2.2.3 Các ho ạt động tại công viên
CV Văn hóa Lê Thị Riêng là công viên văn hóa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa và thể dục thể thao cho mọi lứa tuổi và mọi tầng lớp dân cư, với các hoạt động như luyện tập dưỡng sinh, đi bộ, sinh hoạt cầu lông, tennis, đá bóng; các câu lạc bộ hoa lan và chim cảnh; hồ bơi, trò chơi nước và nhiều trò chơi sinh động thu hút các em tại khu vực thiếu nhi Nơi đây cũng là địa điểm dã ngoại, cắm trại cho thanh thiếu niên và là cầu nối trao đổi kinh nghiệm giữa các nghệ nhân và những người yêu thích thiên nhiên khi đến với CV Văn hóa Lê Thị Riêng.
Hình 2.8: Một buổi sinh hoạt dã ngoại trong CV.
HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG CÁC HỒ CHỨA Ở THÀNH PHỐ
ĐẶC TÍNH MÔI TRƯỜNG NƯỚC CỦA HỒ CHỨA
3.1.1 Đặc tính lý học của môi trường nước hồ chứa
Như chúng ta đã biết, các yếu tố chủ yếu gây nên màu của môi trường nước gồm:
- Các chất hòa tan có màu: như màu vàng nâu đỏ của hợp chất sắt từ đất ngấm ra…
- Các chất vẩn cặn: cát, phù sa, keo đất… làm nước đục màu đất,
Các sinh vật phù du là thành phần chủ chốt của hệ sinh thái nước, chủ yếu gồm các tảo phù du như tảo lục và tảo khuê, khiến nước có màu xanh lục; tảo trần gây màu vàng nâu, còn tảo giáp làm nước màu nâu hoặc nâu đen.
- Các chất mùn bã hữu cơ: thường gây cho nước có màu đen và mùi hôi thối
Tùy theo mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trên mà tạo nên màu nước khác nhau
Nước có nhiều phù sa, cặn hữu cơ và tảo phù du là nguồn dinh dưỡng phong phú cho hệ sinh thái hồ cá Tuy nhiên, khi xuất hiện màng hoặc váng mỏng trên mặt nước, chúng không tốt cho sự phát triển của cá và cần được loại bỏ ngay Cách xử lý hiệu quả là thay nước sạch và vớt bỏ toàn bộ lớp màng khỏi mặt hồ Để duy trì môi trường tốt cho cá, nên quản lý chất hữu cơ và dinh dưỡng bằng cách thực hiện thay nước định kỳ và giảm tích tụ cặn bẩn.
Hiện nay nước hồ có màu xanh lục đậm cho thấy lượng chất dinh dưỡng đang tăng lên và tạo điều kiện cho tảo phát triển mạnh Mặc dù hồ mang lại nhiều lợi ích về vật chất và tinh thần cho người dân, hồ vẫn chưa được quan tâm và đầu tư đầy đủ Ban quản lý hồ chưa xây dựng kế hoạch cải tạo hồ một cách cụ thể, dẫn tới tích tụ dinh dưỡng và nước hồ ngày càng xanh lục Để khắc phục, cần có chiến lược quản lý nước hồ và nguồn lực đầu tư phù hợp nhằm kiểm soát chất dinh dưỡng, hạn chế sự gia tăng của tảo và bảo vệ chất lượng nước.
3.1.1.2 Độ trong Đối với những hồ nuôi cá thường có mật độ tảo phù du khá lớn (trên 2 triệu cá thể/ L) do đó độ trong thường thấp (10-40cm) Điều này cũng không thể tránh khỏi đối với hồ nuôi cá trong CV
Nguồn nhiệt cho thủy vực hầu hết đến từ ánh sáng mặt trời, vì vậy nhiệt độ nước biến động theo chu kỳ ngày đêm và theo mùa một cách rõ rệt Sự biến động này phụ thuộc vào cường độ ánh sáng, điều kiện thời tiết và vị trí địa lý, tạo nên nhịp sinh thái nước có sự thay đổi nhiệt độ giữa ngày và đêm cũng như giữa các mùa.
Nhờ đặc tính lưu giữ nhiệt lớn nên dao động nhiệt độ của môi trường nước bao giờ ít hơn của không khí trong cùng điều kiện
Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của hầu hết thủy sinh vật tại Việt Nam nằm trong khoảng 20–30°C Thay đổi nhiệt độ đột ngột trong thời gian ngắn có thể gây sốc cho vật nuôi và đôi khi dẫn tới chết do sốc nhiệt Dụng cụ đo nhiệt độ phổ biến nhất là nhiệt kế thủy ngân hoặc nhiệt kế rượu, với thang đo từ 0–100°C hoặc 0–50°C.
Do hồ được xây dựng tại miền Nam, và cụ thể hơn là tại Tp.HCM nên nhiệt độ luôn trong khoảng từ 25-33
3.1.2 Đặc tính hóa học của môi trường nước trong hồ
C, nhiệt độ này rất thích hợp cho sự phát triển của cá trong hồ Thêm nửa, tại Tp.HCM nhiệt độ thường không biến động một cách đột ngột nên ít xảy ra tình trạng cá chết do sốc nhiệt
Chúng ta đã quen với vị chua của chanh và dấm, là biểu hiện của các chất có tính acid, trong khi vị nồng của vôi cho thấy tính bazơ hay kiềm Việc nắm rõ khái niệm axit và bazơ giúp nhận biết cách chúng tác động đến môi trường và dung dịch, cũng như các ứng dụng thực tiễn của chúng trong đời sống hàng ngày và trong công nghiệp, đặc biệt liên quan đến mức độ pH và tính chất hóa học của chất tan.
Tính acid và tính kiềm là 2 thuộc tính trái ngược nhau, khử tác dụng của nhau Acid mạnh hay kiềm mạnh đều gây nguy hiểm cho cơ thể sống
Trong môi trường nước, sự hòa tan của nhiều axit làm tăng tính axit, trong khi sự hòa tan của nhiều kiềm làm tăng tính kiềm; nếu không có axit hoặc kiềm hoặc chúng gặp nhau và vô hiệu hóa nhau thì môi trường sẽ trung tính Để mô tả mức độ diễn biến của tính axit và kiềm của nước người ta dùng đại lượng pH Độ pH của các dung dịch nước biến thiên từ 1 đến 14 và được phân loại như sau: pH dưới 7 cho thấy axit, pH bằng 7 cho thấy trung tính, còn pH trên 7 cho thấy kiềm; độ lệch xa 7 càng lớn thì tính axit hoặc kiềm càng mạnh.
Axit mạnh, axit yếu, kiềm yếu và kiềm mạnh thể hiện sự khác biệt về độ pH và tính chất hóa học của nước Để đánh giá độ pH trong nước một cách chính xác, ta phải dùng các phương pháp phân tích hóa học; mọi đánh giá dựa trên cảm quan đều không đáng tin Có 3 phương pháp chủ yếu để xác định pH nước, đảm bảo kết quả khách quan và đáng tin cậy cho quản lý chất lượng nước và các ứng dụng công nghiệp.
- Dùng cá giấy chỉ thi đo pH,
- So màu với dung dịch chỉ thi pH,
Có 2 nguồn bổ sung oxy vào môi trường nước:
Mặt thoáng của nước càng lớn thì lượng oxy từ không khí hòa tan vào nước càng nhiều, giúp tăng mức oxy hòa tan và cải thiện chất lượng nước Ngược lại, khi mặt nước bị che khuất hoặc bị bèo phủ kín, quá trình trao đổi khí bị cản trở khiến vùng nước bị thiếu oxy, ảnh hưởng đến sinh vật và hệ sinh thái thủy sinh.
- Nhiệt độ tăng thì sự hòa tan của oxy vào nước bị giảm và ngược lại nhiệt độ giảm thì oxy hòa tan sẽ tăng lên
2 Do sự quang hợp của tảo ngay trong vùng nước
Sự quang hợp của tảo và thực vật thủy sinh trong môi trường nước đóng vai trò rất to lớn, vừa chuyển hóa khí độc CO 2 thành O 2
CO vừa chuyển hóa năng lượng của ánh sáng mặt trời thành các dạng năng lượng dự trữ của vật chất hữu cơ, tạo sinh khối cho vùng nước
2 + H 2 O Chất hữu cơ của tảo + O 2
Quang hợp của tảo là yếu tố chính gây ra chu kỳ biến động ngày đêm của oxy trong vùng nước Nồng độ oxy dao động và thấp nhất vào sáng sớm (khoảng 4–5 giờ) và cao nhất vào khoảng 2 giờ chiều (14:00), khi quang hợp đạt công suất tối đa và oxy được tạo ra nhiều nhất.
Chăm bón để duy trì mật độ tảo phù du từ 2-5 triệu cá thể/lít không chỉ bổ sung dinh dưỡng cho hồ nuôi mà còn kích hoạt cơ chế sản xuất oxy ngay trong vùng nước, làm tăng oxy hòa tan và cải thiện chất lượng nước Nhờ mật độ tảo phù du hợp lý, hồ nuôi có nguồn thức ăn tự nhiên cho cá và hỗ trợ cá phát triển khỏe mạnh, mang lại tăng trưởng ổn định và hệ sinh thái hồ bền vững.
Những yếu tố sau gây nên tiêu hao oxy trong vùng nước:
Sự hô hấp của thủy sinh phụ thuộc vào lượng oxy hòa tan đủ cho các hoạt động sống của chúng, vì vậy cần đảm bảo nước có oxy và lưu thông tốt Đồng thời giới hạn mật độ nuôi ở mức phù hợp là yếu tố then chốt để giảm cạnh tranh oxy, giảm căng thẳng và ngừa bệnh, từ đó duy trì điều kiện sống tối ưu và nâng cao hiệu suất nuôi trồng.
- Quá trình phân hủy các chất mùn bã hữu cơ, các thức ăn dư thừa, các xã động thực vật thối rửa…cũng gây tiêu thụ oxy rất lớn
Để đảm bảo sức khỏe và hiệu quả nuôi trồng, chế độ bón phân và cho ăn nên được kiểm soát dựa trên chỉ số oxy trong nước và được theo dõi thường xuyên Việc kiểm tra oxy cả ban ngày lẫn ban đêm giúp nhận diện sớm hiện tượng thiếu oxy, từ đó phòng ngừa cá bị thiếu oxy và nổi đầu vào ban đêm hoặc sáng sớm Nhờ theo dõi oxy liên tục, người nuôi có thể điều chỉnh lượng thức ăn và phân bón sao cho cân bằng, hạn chế ô nhiễm hữu cơ và hiện tượng suy giảm oxy trong ao, từ đó tăng hiệu quả nuôi và đảm bảo an toàn cho đàn cá.
HI ỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG CÁC HỒ CHỨA
3.2.1 Hi ện trạng môi trường tại các hồ chứa
Hình 3.1: Du khách đang cho cá chép ăn bắp nổ Điều này rất có hại đến chất lượng nước hồ, nguyên nhân là do:
- Nuôi cá chép rất có hại cho nước hồ,
- Bắp nổ thừado cá ăn không hết sẽ làm tăng hàm lượng chất hữu cơ trong hồ.
Hiện tượng phú dưỡng nước tại hồ ĐS bắt nguồn từ sự tăng trưởng mạnh của tảo lam, khiến nước hồ có màu xanh đặc trưng Chính sự phát triển của tảo lam là nguyên nhân chủ đạo của hiện tượng này.
Mật độ tảo trung bình trong mẫu nước thu được:
(tế bào tảo/ml mẫu)
Kết quả phân tích cho thấy nước hồ ĐS đang ở trạng thái phú dưỡng hóa Nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng này là hồ đã tiếp nhận một lượng lớn chất dinh dưỡng từ nguồn thải nước sinh hoạt, làm tăng nồng độ chất dinh dưỡng trong nước và ảnh hưởng đến chất lượng nước cũng như hệ sinh thái hồ.
Sự phát triển nhanh của tảo làm nước hồ bị biến màu, gây ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan du lịch và trải nghiệm tham quan tại các điểm đến hồ nước Hiện tượng này làm giảm thẩm mỹ của hồ, ảnh hưởng đến hình ảnh và sức hút du lịch của khu vực Bên cạnh đó, nước hồ biến màu còn tác động đến sinh trưởng và phát triển của các loài thủy sinh khác trong hồ, làm giảm đa dạng sinh học và làm gián đoạn chu trình dinh dưỡng của hệ sinh thái hồ.
Tảo phát triển trên bề mặt nước cản trở ánh sáng chiếu sâu vào nước và làm giảm lượng oxy hòa tan, gây bất lợi cho cá và các sinh vật thủy sinh khác và khiến chúng không thể sống và phát triển bình thường.
3.2.1.2 Công viên Lê Th ị Riêng
Như đã nêu ở trên, CV Lê Thị Riêng giữ hai chức năng chính: vừa là nơi thu hút người dân đến vui chơi, giải trí và tập thể dục, vừa là môi trường học tập lý tưởng cho các hoạt động giáo dục và trao đổi tri thức Với sự kết hợp này, công viên trở thành điểm đến đa năng của cộng đồng, nơi mọi người có thể thư giãn, rèn luyện sức khỏe và tham gia các hoạt động học hỏi, giao lưu văn hóa Sự đa dạng của tiện ích và không gian xanh tại CV Lê Thị Riêng giúp tối ưu trải nghiệm người dùng, nâng cao chất lượng cuộc sống và thắt chặt kết nối giữa các thành viên địa phương.
Hồ câu CV đã được ban quản lý cải tạo và đưa vào sử dụng với mục đích chính là câu cá, phục vụ cộng đồng những người yêu thích hoạt động giải trí ngoài trời Tại hồ nuôi các loại cá như cá tra, cá lóc và cá mè, mang lại môi trường phong phú cho trải nghiệm câu cá và thư giãn.
Nhìn chung, mức độ ô nhiễm nước hồ chưa ở mức đáng báo động, nhưng cần các biện pháp quản lý chặt chẽ để phòng ngừa và tránh những hậu quả về sau Nguồn gây ô nhiễm chính là rác thải do người dân vứt bừa bãi xuống hồ Khu cuối hồ là nơi ô nhiễm tập trung nhiều nhất và nơi đây không nuôi cá, như một ao tù nước đọng Ban quản lý hồ chỉ tiến hành vớt rác ở khu vực này khi phát hiện rác đã đầy Các loại rác phổ biến tại đây bao gồm ly nước nhựa, túi nylon, lá cây khô và thức ăn thừa của du khách tham quan.
Hình 3.2: Rác tại khu vực không nuôi cá
Hình 3.3: Khu vực không nuôi cá
Trong khu vực nuôi cá, hai bên bờ kè tập trung lượng lớn ốc gạo bị rêu bám dày đặc, tạo điều kiện ô nhiễm và làm gia tăng chất hữu cơ trong nước Tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến cá nuôi trong hồ và chất lượng nước hồ, gây stress cho cá, giảm sức khỏe và hiệu quả nuôi.
Hình 3.4: Ốc gạo bị rêu bám ở mép bờ kè
Hình 3.5: Hình những con ốc gạo bị rêu bám
3.2.2 Hi ện trạng chất lượng nước
Chuẩn bị 6 bình nước suối sạch có thể tích 1,5 L (lấy 3 bình cho mỗi hồ chứa nghiên cứu).
Đi qua cầu để tới giữa hồ chính của CV ĐS và hồ tại CV Lê Thị Riêng; sau đó đưa chai xuống nước ở độ sâu khoảng 1,5 mét để làm đầy chai.
Sau khi lấy mẫu xong đưa ngay mẫu nước đến nơi phân tích trong vòng 24h để đảm bảo chất lượng mẫu nước
Bảng 3.1: Phương pháp phân tích mẫu nước
STT Thông số Phương pháp phân tích
2 BOD Dựa trên kinh nghiệm phân tích đã được tiến hành tại nhiều phòng thí nghiệm chuẩn
3.2.2.3 K ết quả phân tích mẫu nước
Công viên Văn Hóa Đầm Sen
Bảng 3.2: Kết quả phân tích mẫu nước tại CV Đầm Sen
Chỉ tiêu Đơn vị Kết quả Tiêu chuẩn nước mặt loại A (TCVN-5942-1995) pH 8,62 6 – 8,5
(Nguồn: Sở Khoa Học Công Nghệ TpHCM-Viện Nghiên Cứu Công Nghệ MT&BHLĐ)
Công viên Văn hóa Lê Thị Riêng
Bảng 3.3: Kết quả phân tích mẫu nước tại CV Lê Thị Riêng
Chỉ tiêu Đơn vị Kết quả Tiêu chuẩn nước mặt loại A (TCVN-5942-1995) pH 5,56 6 – 8,5
(Nguồn: Sở Khoa Học Công Nghệ TpHCM-Viện Nghiên Cứu Công Nghệ MT&BHLĐ)
Trong năm 2007, giá trị pH đo được tại hồ Đầm Sen là 8,62 và tại hồ trong công viên Lê Thị Riêng là 5,56 Hai mức pH này không đạt chuẩn chất lượng nước loại A cho mục đích cấp nước sinh hoạt (TCVN 5942 – 1995, pH 6 – 8,5) Tuy nhiên, chúng đáp ứng chuẩn chất lượng nước loại B (TCVN 5942 – 1995, pH 5,5 – 9,0) - chất lượng nước phục vụ mục đích khác, ngoại trừ chất lượng nước phục vụ cấp nước sản xuất nông nghiệp và bảo vệ đời sống thủy sinh.
Giá trị pH đo ở hồ Đầm Sen có tính kiềm, trong khi kết quả phân tích pH ở hồ trong công viên Lê Thị Riêng mang tính acid
Chất rắn lơ lửng (SS)
Hàm lượng chất rắn lửng tại hồ Đầm Sen và hồ CV Lê Thị Riêng lần lượt là 26 mg/L và 29 mg/L; cả hai hồ đều vượt tiêu chuẩn chất lượng nước loại TCVN 5942-1995 (SS – chất rắn lửng), cho thấy cần có biện pháp quản lý và cải thiện chất lượng nước.
20 mg/L) Nhưng so với tiêu chuẩn chất lượng nước loại B (TCVN 5942 – 1995, SS:
80 mg/L) thì 2 giá trị này lại thỏa tiêu chuẩn. Ô nhiễm hữu cơ (DO, BOD 5
Theo báo cáo kết quả p hân tích thì hồ Đầm Sen có hàm lượng các chất hữu cơ đều không đạt tiêu chuẩn chất lượng nước loại A (TCVN 5942 – 1995, BOD
< 4, COD > ), nhưng đạt tiêu chuẩn ất lượng nước loại B
BOD 5 < 25, COD > 35, DO 2) Còn t≥ ại hồ ở CV Lê Thị Riêng thì các thông số về hữu cơ đều đạt tiêu chuẩn chất lượng nước loại A (TCVN 5942 – 1995)
Hàm lượng dinh dưỡng (NO 3 -
Hàm lượng chất dinh dưỡng đo ở hồ ĐS năm 2007 đạt tiêu chuẩn chất lượng nước loại
Trong đánh giá chất lượng nước, hàm lượng dinh dưỡng của hồ CV LTR được ghi nhận ở mức dưới 10 mg/L (3 - < 10 mg/L) và NO2- dưới 0,01 mg/L Tuy nhiên, hàm lượng dinh dưỡng ở hồ CV LTR không đạt tiêu chuẩn chất lượng nước loại A, mà lại đạt tiêu chuẩn chất lượng nước loại B theo TCVN 5942 – 1995 Đánh giá chung cho thấy nước hồ CV LTR đáp ứng được tiêu chuẩn loại B nhưng còn thiếu so với loại A.
Kết quả phân tích nồng độ các chất ô nhiễm tại hồ ĐS và hồ tại CV LTR năm 2007 cho thấy chất lượng nước tại hai hồ có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ, cho thấy cần theo dõi chặt chẽ mức độ ô nhiễm và triển khai các biện pháp cải thiện chất lượng nước hồ.
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HỒ CHỨA TRONG NỘI THÀNH THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH
GI ẢI PHÁP QUẢN LÝ
Hiện nay, các hồ trong nội thành Tp.HCM có quá nhiều các cấp, ngành quản lý, gồm:
Do có quá nhiều đơn vị quản lý như Sở Giao thông Công chính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Du lịch, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Quy hoạch Kiến trúc và UBND các cấp khác, dẫn tới tình trạng chồng chéo trong quản lý hồ chứa và không phát huy hiệu quả thoát nước, cải thiện môi trường và điều hòa khí hậu trong vùng Việc nhiều cơ quan chủ quản cùng khai thác hồ khiến các mục tiêu như du lịch, nuôi cá chi phối, gây khó khăn cho công tác thoát nước và làm ô nhiễm môi trường Thêm vào đó, nuôi thả cá trong hồ đòi hỏi mực nước cao, ảnh hưởng đến thoát nước khi mưa xuống và hồ điều hòa ở mức cao có thể gây ngập lụt Để khắc phục, cần quy về một cơ quan quản lý cụ thể, không để xảy ra tình trạng tranh công, đùn đẩy trách nhiệm Mỗi cơ quan chuyên trách nên được phân công quản lý một số hồ cụ thể và có toàn quyền quyết định cũng như chịu trách nhiệm với những hồ đó; không nên để 2–3 cơ quan quản lý cùng một hồ và phân chia khu vực quản lý, như vậy dễ dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm.
- UBND các quận quản lý về mặt nhà nước các hồ trên địa bàn;
- Các hồ trong CV giao cho Sở GTCC quản lý;
Ở địa bàn TP.HCM, toàn bộ các hồ nước được giao cho Công ty thoát nước TP.HCM quản lý mực nước nhằm tối ưu chức năng điều hòa nước và ngăn ngập úng khi xảy ra mưa lớn.
- Đối với việc nuôi thả cá trong hồ phải có quy định rõ ràng để hồ không bị ô nhiễm, không nên đặt lợi ích kinh tế lên trên;
Việc cải tạo các hồ lớn sẽ do Sở GTCC thực hiện, còn các hồ nhỏ sẽ do quận đảm nhận Sau khi hoàn tất công trình, các hồ sẽ được bàn giao cho chính quyền địa phương quản lý và vận hành.
4.1.2 Nâng cao nhận thức cộng đồng
Trong cộng đồng, nhận thức rõ ràng rằng không chỉ người dân bình thường mà còn các lãnh đạo, những người ban hành luật và cấp quản lý cần có suy nghĩ và nhận định đúng đắn để đề xuất các giải pháp phù hợp Khi các nhà ban hành luật và quản lý thể hiện ý thức chấp hành luật pháp và các quy định, quá trình thi hành sẽ được thực hiện hiệu quả và không gặp nhiều trở ngại.
Chúng ta cần giáo dục thế hệ trẻ một cách nghiêm túc và đúng đắn ngay từ bây giờ, nhằm trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng cho tương lai Mặc dù ý thức của người dân Việt Nam còn kém so với những nước đang phát triển, điều đó không có nghĩa là chúng ta luôn thua kém họ; các cấp ban ngành cần triển khai các hình thức cải cách giáo dục để thế hệ tương lai có thể sánh vai cùng với các cường quốc năm châu Cụ thể các biện pháp và chương trình cải cách sẽ được nêu rõ ở phần tiếp theo.
Để nâng cao nhận thức và tinh thần trách nhiệm của học sinh, đề xuất Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa môn Môi trường vào chương trình giảng dạy từ lớp 4 để học sinh đã tham gia Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh có thể phát huy vai trò và ý thức của đội viên Chương trình giáo dục môi trường nên tập trung vào hình ảnh và thực hành, tăng giờ học ngoài trời, hạn chế lý thuyết và tăng cường hoạt động thực tiễn nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường và ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trước những thách thức hiện nay.
- Phát động rộng rãi và thường xuyên hơn những phong trào về môi trường như
“Ngày chủ nhật xanh, sạch”, “Tuần lễ vệ sinh môi trường”…tại những khu vực công cộng mà cụ thể là tại những CV trong thành phố.
Phát tờ tuyên truyền và tờ rơi nên nêu rõ những số liệu về môi trường một cách cụ thể để người dân nhận thức rõ họ đang sống và làm việc trong môi trường như thế nào Nội dung có dữ liệu định lượng giúp tăng tính thuyết phục và tác động tới tâm lý người dân, từ đó khuyến khích họ sống có trách nhiệm hơn với môi trường, xã hội và chính bản thân mình Để hiệu quả và dễ hiểu, thông điệp cần trình bày bằng ngôn ngữ gần gũi, kèm ví dụ về ảnh hưởng của hành động cá nhân đến chất lượng không khí, nước sạch và quản lý rác thải Mục tiêu là thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động bảo vệ môi trường tại địa phương, từ phân loại rác đến các sáng kiến xanh, nhằm lan tỏa ý thức và trách nhiệm xã hội.
Ở các điểm công cộng như công viên, thảo cầm viên và các khu du lịch, nên thay thế những thùng rác cổ điển bằng những thùng rác hiện đại có thiết kế thân thiện và bắt mắt Những thùng rác này không chỉ thu hút người dân mà còn khuyến khích việc bỏ rác đúng nơi quy định, từ đó góp phần giữ gìn vệ sinh môi trường và nâng cao vẻ đẹp cảnh quan của khu vực.
Hình 4.1: Những thùng rác bắt mắt trên đường phố Singapore
Hình 4.2: Những thùng rác hình con thú
Hình 4.3: Những thùng rác với thiết kế lạ mắt
4.1.3 H ạn chế ảnh hưởng của việc bón phân đến chất lượng nước hồ
Hầu hết các hồ chứa nước ở nội thành TP Hồ Chí Minh nằm trong các công viên hoặc khu du lịch, nơi có thảm xanh và cỏ được chăm sóc bằng phân bón Các khu vực này duy trì vẻ xanh mướt và mang lại sự dễ chịu cho người dân cũng như du khách khi ghé thăm.
Khi bón phân cho thảm xanh cần lưu ý những điểm sau:
- Đối với những thảm cỏ rộng ở xung quanh hồ thì không nên bón phân trong khu vực gần hồ, cách xa mép hồ ít nhất là 5 m
- Đối với những thảm cỏ hẹp hơn ở xung quanh hồ thì trong bán kính 1 m kể từ mép hồ không được bón phân
- Đối với những hồ có thảm cỏ lớn, nhưng xung quanh có rãnh nước thì cho phép bón phân cách rãnh 1 m
- Vào thời điểm mùa mưa, cần hạn chế bón phân để tránh nước mưa chảy tràn xuống hồ gây ảnh hưởng đến chất lượng nước hồ
Hình 4.4: Một thảm xanh trong CV
Hình 4.5: Khoảng cách từ mép hồ đến bãi cỏ
4.1.4 H ạn chế những hoạt động giải trí trên bề mặt hồ
Cần hạn chế các hoạt động giải trí trên mặt nước như đạp vịt và cho cá ăn bắp nổ để bảo vệ môi trường và hệ sinh thái hồ chứa Kiểu du lịch dạo mát, ngắm cảnh và chụp hình là phù hợp nhất đối với các hồ chứa, đặc biệt là CV Đầm Sen Một hình thức có thể áp dụng cho các hồ chứa hiện nay là biến chúng thành điểm nghiên cứu về hồ học (limnology) – Limnology là khoa học nghiên cứu về sông ven biển và các vùng đất ngập nước khác – và các mối tương tác qua lại với các loài sinh vật sống trong nó.
Hình 4.6: Cho cá ăn bắp nổ
GI ẢI PHÁP KỸ THUẬT
4.2.1 Nuôi tr ồng một số loài thực vật
Bèo lục bình (Eichhornia crassipes) là một loại thủy sinh có khả năng hấp thụ mạnh chất dinh dưỡng và phân hủy, đồng hóa các chất ô nhiễm trong môi trường nước nhờ vi sinh vật bám trên thân và rễ của chúng Quá trình này giúp làm sạch nước và cải thiện chất lượng nước ở hồ, đầm lầy và các khu vực ô nhiễm Đây được xem là một giải pháp sinh học được nhắc đến nhiều trong chiến lược xử lý nước nhờ sự cộng sinh giữa bèo và vi sinh vật.
Để bảo đảm cảnh quan hồ và chất lượng nước, không nên nuôi bèo lục bình tràn lan mà cần có quy hoạch rõ ràng Nên thiết kế các ô chứa bèo giữa hồ, mỗi ô có hoa văn đặc trưng nhằm tăng tính thẩm mỹ và đồng thời giúp xử lý mùi hôi do tác dụng của bèo, từ đó tạo sự thông thoáng cho mặt hồ.
Hình 4.7: Các ô chứa bèo lục bình
Sen thuộc họ sen, với thân rễ hình trụ mọc trong bùn (ngó sen) Lá mọc lên khỏi mặt nước trên cuống dài, cuống có gai nhỏ; phiến lá hình khiên, đường kính tương đối lớn.
Độ cao 60–70 cm, có gân tỏa tròn Hoa to màu trắng hoặc đỏ hồng, lưỡng tính với nhiều nhị; nhị có phấn phụ (gạo sen) và có hương thơm dùng để ướp chè Hoa sen có nhiều tâm bì rời, đựng trong đề hoa loe thành gương sen Hạt sen chứa một hạt (liên nhục), không nội nhũ, có hai lá mầm dày, một chồi mầm (tâm sen – liên tâm) gồm bốn lá non gập vào bên trong.
Hình 4.8: Trồng sen trong hồ
Sen được trồng chủ yếu bằng mầm ngó sen, hiếm khi trồng bằng hạt Người ta trồng vào giữa mùa xuân, khi tiết trời ấm áp và nước trong ruộng phải ngập khoảng hai phần ba thân cây Cây ra hoa vào mùa hè, tàn vào mùa đông và lại mọc lên vào mùa xuân.
Sen được tận dụng để trồng trên các mặt nước nông, làm cầu nối giữa ruộng nước và ao nuôi cá Để tái sử dụng nguồn dinh dưỡng có sẵn trong hồ và bảo vệ môi trường xung quanh, ta có thể áp dụng luân canh hoặc xen canh giữa nuôi cá và trồng sen Mô hình này mang lại lợi ích kép: sen bổ sung nguồn thực vật cho hệ sinh thái, cải thiện chất lượng nước và giảm ô nhiễm, trong khi nuôi cá tận dụng tối đa dinh dưỡng từ nước hồ, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất và thúc đẩy nông nghiệp bền vững.
Các loại cá thường được nuôi là cá trắm cỏ, mè trắng, mè hoa, trắm đen và cá trôi,… ữ đượ ọ ợ ớ ậ ướ đặ ă ầ
Không nên nuôi cá chép trong các hồ chứa này vì chúng phá hoại môi trường nước rất nghiêm trọng Cá chép được xếp vào danh sách 100 loài ngoại lai xâm hại lớn nhất trên thế giới, có khả năng cạnh tranh nguồn thức ăn và vật trú với các loài cá bản địa, làm đục nước và làm mất cân bằng hệ sinh thái.
Cá trắm cỏ là một loài cá thuộc họ cá chép Cá lớn có thể dài 1,5 m và nặng tới 45 kg và sống tới 21 năm
Trắm cỏ có thân thon dài, hình trụ, bụng tròn và thót lại ở phần đuôi Chiều dài của cá gấp khoảng 3,6–4,3 lần chiều cao thân và 3,8–4,4 lần chiều dài đầu; đuôi dài hơn chiều rộng của nó Đầu trung bình, miệng rộng hình cung; hàm trên dài rộng hơn hàm dưới; không có xúc tu Các nếp mang ngắn và thưa Vảy lớn, hình tròn Hậu môn nằm gần vây hậu môn; hông vàng lục nhạt, lưng nâu sẫm và bụng trắng xám nhạt.
Cá trắm cỏ sống trong môi trường nước ngọt, ở độ sâu từ 0–30 mét trong các sông, ao hồ và ao nuôi nhân tạo Chúng chủ yếu sống ở tầng nước giữa và tầng nước thấp, và ưa nước sạch.
Cá trắm cỏ ăn chủ yếu các loại cỏ và rong biển, kết hợp với các động vật phù du như tôm, tép và ấu trùng cá Trong điều kiện nuôi nhốt và chăn nuôi nhân tạo, cá trắm cỏ có thể ăn các loại thức ăn nhân tạo, gồm sản phẩm phụ của chế biến ngũ cốc như cám và thức ăn viên.
Cá mè hoa là loại cá nước ngọt thuộc họ cá chép, có thân dẹt hai bên và đầu to; nắp mang rộng cùng lược mang dày là các cơ quan lọc thức ăn của cá Thân sau thu nhỏ, màu lưng xám đen và bụng xám trắng, toàn thân có những đốm đen như hoa, giúp chúng dễ nhận diện trong môi trường nước.
Cá mè hoa thường sống ở tầng giữa và tầng mặt của nước, có tính ôn hòa và ít nhảy khi bị kích động so với cá mè trắng Thức ăn chủ yếu của cá mè hoa là các động vật cỡ nhỏ, từ zooplankton đến giáp xác nhỏ.
Cá mè trắng là loài cá nước ngọt thuộc phân họ cá mè Thân dẹt, phủ vây trắng bạc, lưng xám xanh Đầu không lớn lắm, mắt ở thấp, mõm tù và miệng hơi hướng lên trên Lược mang phát triển, là cơ quan lọc nước giúp lấy thức ăn cho cá.
Cá mè trắng sống ở tầng mặt nước và ăn thực vật nổi trên mặt nước Nó thường bơi nhanh vào sáng sớm và chiều tối, nhờ dòng nước đi qua miệng để lọc lấy thức ăn Với thói quen ăn uống như vậy, cá mè trắng thường không cắn câu khi câu cá.
Hình 4.10: Cá mè trắng 4.2.2.3 Cá tr ắm đen
Cá trắm đen có hình dáng mảnh tròn thuôn, đầu nhỏ và mõm hơi tù, mũi nhọn; chiều dài toàn thân tương đương khoảng 3,6–4,3 lần chiều cao thân Các vây không có gai cứng; trên hàm có răng hầu, mỗi bên có một hàng 4–5 cái, kèm theo một phiến sừng cứng giúp cá nghiền vỡ các thức ăn cứng như ốc và các sinh vật mềm khác Thân màu đen, phần lưng và các vây thẫm hơn, vảy tròn to Cá trắm đen sống ở tầng giữa và tầng đáy của nước.
Thức ăn: ăn thân mềm (chủ yếu là ốc), tôm, các ấu trùng, côn trùng