Do đó tôi chọn đề tài: “ Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái tại Huyện Cần Giờ” với mong muốn đóng góp một số ý kiến quan điểm đã nghiên cứu được nhằm giúp DLST Cần Giờ
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Xác định cơ sở khoa học để đưa ra giải pháp phát triển DLST Cần Giờ, nhằm phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao nhận thức của người dân
+ Khái quát hóa các khái niệm, lí luận về DLST
+ Đánh giá các tiềm năng để phát triển DLST
+ Đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển DLST theo mô hình du lịch sinh thái.
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi đã tiến hành điền dã tại địa bàn huyện Cần Giờ Trong đợt điền dã trên, tôi đã thực hiện các phương pháp như quan sát - tham dự, so sánh đối chiếu, phương pháp thu thập và xử lý thông tin bằng hình ảnh, tư liệu Phương pháp so sánh đối chiếu được thực hiện cùng với việc thực hiện phương pháp quan sát - tham dự ở các điểm du lịch khác nhau tại Cần Giờ, nhằm so sánh đối chiếu những ưu và khuyết điểm ở các điểm du lịch sinh thái trên, để có cái nhìn khái quát và đưa ra những định hướng phát triển
Ngoài ra, tôi còn thực hiện các phương pháp như thống kê, phân tích… nhằm thống kê, phân tích các văn bản thư tịch thu thập được trong quá trình thực hiện điền dã và nghiên cứu tài liệu tại thư viện.
Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài mong muốn góp thêm nguồn tư liệu điền dã về du lịch sinh thái tại huyện Cần Giờ, giúp người đọc có thể tra cứu, hiểu biết thêm về con người, phong tục, tập quán…ở vùng đất này Qua đó, tôi cũng mong muốn nội dung của đề tài này sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các chuyên đề nghiên cứu về du lịch sinh thái ở huyện Cần Giờ
- Ý nghĩa thực tiễn: Với kết quả nghiên cứu được của đề tài, và những phương hướng vạch ra cho sự phát triển, tôi cũng hy vọng sẽ đóng góp phần nào vào quá trình hoạch định chính sách về phát triển du lịch nói chung và phát triển du lịch sinh thái nói riêng của huyện Cần Giờ trong thời gian tới.
Bố cục luận văn
Tổng quan về DLST
Khái niệm “Du lịch sinh thái” là một khái niệm tương đối mới và được nhiều người quan tâm trong những năm gần đây Có nhiều khái niệm khác nhau, tùy theo từng quan điểm nghiên cứu
DLST thường gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau và hiểu cùng một khái niệm như vậy Ví dụ như : DLST có thể gọi là du lịch thiên nhiên hay du lịch dựa vào thiên nhiên Nhưng thực tế, không phải hoạt động du lịch nào dựa vào thiên nhiên ( trượt tuyết, leo vách đá…) đều là DLST Các hoạt động này có thể diễn ra ngoài thiên nhiên hay gần gũi với thiên nhiên, nhưng có thể có hoặc không thuộc loại có trách nhiệm đối với môi trường thiên nhiên hay làm lợi cho người dân địa phương
Do đó, khái niệm DLST chỉ nên được sử dụng để mô tả những hoạt động du lịch trong môi trường thiên nhiên với đặc điểm đi kèm là loại hình thực sự khuyến khích bảo vệ thiên nhiên và giúp xã hội phát triển bền vững
Nhưng nói như vậy, người ta cũng hay gọi DLST là du lịch bền vững, cũng có chứa hai đặc điểm trên Ngày nay, tất cả mọi hoạt động cần trở nên được bền vững và du lịch cũng không phải là một ngoại lệ Du lịch bền vững bao gồm tất cả các loại hình du lịch, dù là loại hình dựa trên các nguồn tài nguyên thiên nhiên hay tài nguyên do con người tạo ra Vì vậy, DLST chỉ nên được hiểu là một phạm trù của du lịch bền vững
Một số nhà tổ chức đã cố gắng làm rõ những sự nhầm lẫn này bằng cách sử dụng khái niệm “Du lịch sinh thái” như một công cụ thực hiện bảo tồn và phát triển bền vững:
- Khái niệm của Hiệp hội DLST đã phổ biến rộng rãi: “DLST là du lịch có trách nhiệm tại các điểm tự nhiên, kết hợp với bảo vệ môi trường và cải thiện phúc lợi của người dân địa phương”
- Một khái niệm khác có liên kết với yếu tố văn hoá và môi trường một cách cụ thể hơn là khái niệm do tổ chức bảo vệ thiên nhiên thế giới (IUCN) đưa ra Khái niệm này cho rằng: “DLST là du lịch tham quan có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá, để thưởng thức thiên nhiên và các điểm văn hoá qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra và tạo ra lợi ích cho người dân địa phương tham gia tích cực”
Bên cạnh đó, một số nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu về DLST và cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau:
- Theo Hector Ceballos – Lascurain (1987): “ DLST là du lịch đến những khu vực thiên nhiên còn ít bị ít bị thay đổi với những mục đích đặc biệt: Nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hoá được khám phá” Có thể xem đây là khái niệm đầu tiên và tương đối hoàn chỉnh về DLST
- Theo Wood (1991): “DLST là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hoá mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái Đồng thời tạo ra những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lợi ích cho nhân dân địa phương”
- Theo tổ chức du lịch thế giới OMT (2001): “DLST loại hình du lịch thiên nhiên được thực hiện ở những nơi thiên nhiên còn tương đối nguyên vẹn với mục đích chính là chiêm ngưỡng và làm phong phú hơn kiến thức - sự hiểu biết DLST còn bao hàm trách nhiệm hướng đến nơi đến tổ chức điều hành du lịch (TO) và du khách để lại cho nền kinh tế địa phương, cuối cùng là giảm thiểu và tránh những tác động tiêu cực đến khu vực thăm viếng”
- Ngoài ra, mỗi quốc gia lại có những khái niệm riêng của mình về DLST, tùy thuộc vào những đặc thù và mục tiêu phát triển của quốc gia đó Các khái niệm này vẫn chưa được thống nhất và chắc chắn sẽ được hoàn thiện dần cùng với quá trình phát triển của nhận thức Tuy nhiên, trong các khái niệm về DLST đã có sự thay đổi từ chỗ đơn thuần xem hoạt động DLST là hoạt động du lịch ít tác động đến môi trường tự nhiên sang cách nhìn tích cực hơn là loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường, có tính giáo dục và diễn giải cao về tự nhiên, có đóng góp cho hoạt động bảo tồn và đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương Ở Việt Nam, để được sự thống nhất về khái niệm làm cơ sở cho công tác nghiên cứu và hoạt động thực tiễn phát triển DLST, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã phối hợp với nhiều tổ chức quốc tế như ESCAP, WWF, IUCN… có sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học quốc tế và Việt Nam về DLST và các lĩnh vực có liên quan, tổ chức, tổ chức hội thảo quốc gia về “ xây dựng chiến lược phát triển DLSL ở Việt Nam ” Một trong những kết quả của hội thảo là lần đầu tiên đưa ra một định nghĩa DLST ở Việt Nam: “ DLST là lo ạ i hình du l ị ch d ự a vào thiên nhiên và v ă n hoá b ả n đị a g ắ n v ớ i giáo d ụ c môi tr ườ ng, có đ óng góp cho n ỗ l ự c b ả o t ồ n và phát tri ể n b ề n v ữ ng, v ớ i s ự tham gia tích c ự c c ủ a c ộ ng độ ng đị a ph ươ ng ”
Khái niệm này đưa ra được coi là sự mở đầu thuận lợi cho các bước tiếp theo trong quá trình phát triển của DLST ở Việt Nam Và cũng là khái niệm được sử dụng xuyên suốt đề tài, bởi tính ứng dụng thiết thực, dễ hiểu và được sử dụng nhiều cho các hoạt động có liên quan đến DLST
1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái
DLST là một dạng của hoạt động du lịch, vì vậy DLST mang tất cả những đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung và đặc trưng riêng của DLST
Tính đa ngành hoạt động DLST có tác dụng giáo dục con người bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, qua đó hình thành ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như các hoạt động bảo tồn khác, đảm bảo sự phát triển bền vững
Tính đa thành phần biểu hiện sự đa dạng trong thành phần du khách, những người phục vụ du lịch, cộng đồng địa phương, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, các tổ chức tư nhân tham gia vào hoạt động du lịch
TIỀM NĂNG DU LỊCH SINH THÁI HUYỆN CẦN GIỜ
Tổng quan về Huyện Cần Giờ
2.1.1 Sơ lược về vùng đất Cần Giờ
Cần Giờ toạ lạc trên tọa độ 10 o 22’14”-10 o 37’39” vĩ độ Bắc và 107 o 46’12”-
107 o 00’59” kinh độ Đông, là một huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh và cũng là cửa ngõ ra biển quan trọng của thành phố Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai và
Bà Rịa - Vũng Tàu, phía Tây giáp Long An và Tiền Giang, phía Nam giáp với Biển Đông và phía Bắc giáp với huyện Nhà Bè trực thuộc thành phố Hồ Chí Minh với cầu nối là bến phà Bình Khánh
Toàn huyện Cần Giờ được hình thành trên khu rừng ngập mặn đầm lầy từ xưa Nền đất nơi đây chủ yếu do phù sa sông Đồng Nai và Sài Gòn lắng đọng tạo nên Tuy đây là nền đất phù sa nhưng lại bị nhiễm mặn nên khó trồng lúa và các loại cây lương thực, cây ăn trái Đất đai ở đây chủ yếu được sử dụng để nuôi tôm, làm muối, một số nơi có đất thích hợp thì trồng các loại cây ăn trái như: xoài, mãng cầu, nhãn, táo… Nhìn chung, đất ở Cần Giờ có 5 dạng:
- Đất bán ngập triều : ngập một lần trong ngày
- Đất ngập triều : ngập liên tục
- Đất gò : rất ít ngập
- Đất ít ngập : một năm ngập vài lần
- Đất ngập theo mùa trăng: mỗi tháng ngập một vài lần Địa bàn của huyện Cần Giờ trước đây được các tài liệu cổ miêu tả như sau: Huyện Cần Giờ nằm ở trung tâm tam giác châu do hệ thống của hai sông Đồng Nai và Sài Gòn tạo nên Khoa địa chất lịch sử học cho biết: địa bàn huyện Cần Giờ mới nổi lên mặt biển chưa quá 3.500 năm Còn khoa Khảo cổ học thì chưa xác định là trên địa bàn huyện Cần Giờ đã có người ở từ khi nào, và cư dân đó thuộc chủng tộc nào Nói chung, ta chưa biết nhiều về địa bàn huyện Cần Giờ dưới thời tiền sử
Dưới thời vương quốc Phù Nam và sau này là Chân Lạp, khoảng từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ XVII, cũng chưa có tài liệu nói về địa bàn huyện Cần Giờ Đến năm 1296, Châu Nạt Ban một tên viên soái bộ Trung Quốc sang thăm kinh đô Angkor khi về nước đã mô tả về Cần Giờ trong tác phẩm “ Chân Lạp Phong Thổ Lý” có những câu sau: “Nước Chân Lạp cũng gọi là Chiêm Lạp Tên bổn xứ là Cam Bội Trí ( Kampuchia )… Rời bến Ôn Châu ở Triết Giang và thẳng hướng định vị
( nam - tây nam ), chúng tôi đi qua hải cảng của các châu Phước Kiến tỉnh Quảng Đông và hải ngoại Chúng tôi vượt biển Thất Châu Dương ( nơi có 7 đảo làm ranh giới giữa Trung Quốc với Việt Nam ), đi ngang biển Giao Chỉ Dương và đến xứ Chiêm Thành Ở đấy, nhờ thuận gió, trong vòng mười lăm ngày chúng tôi có thể đến trấn Chân Bồ ( vùng Vũng Tàu ), đó là biên giới xứ Chân Lạp Từ Chân Bồ theo hướng khôn thân (tây nam-1/6 nam), chúng tôi đi ngang qua biển Côn Lôn và vào cửa sông Sông này có chục ngả, nhưng ta chỉ có thể vào được cửa thứ tư, các ngả khác có nhiều bãi cát thuyền lớn không đi được Nhìn lên bờ chúng tôi thấy toàn là cây mây cao vút, cổ thụ, cát vàng, lau sậy trắng, thoáng qua không dễ gì biết được lối vào, thế nên các thủy thủ cho rằng rất khó mà tìm đúng cửa sông”
Thị trấn Chân Bồ có lẽ chỉ là ngôi làng đánh cá tương đối trù phú ở chân núi Vũng Tàu Từ núi Vũng Tàu vào tới Mũi Cà Mau, bờ biển rất thấp và có đến mười cửa sông Châu Đạt Quan đã lấy Chân Bồ tức núi Vũng Tàu làm điểm tựa để tính đường đi là rất đúng Tính từ Chân Bồ đến cửa thứ tư, chúng ta có: cửa Cần Giờ, cửa Soài Rạp, cửa Tiểu và cửa Đại
Sự thật, cửa Cần Giờ là cửa sông Sài Gòn, còn cửa Soài Rạp là cửa sông Đồng Nai Cửa Tiểu và cửa Đại là hai trong nhiều cửa của sông Đồng Nai Cửa Tiểu có nhiều bãi cát nổi ở giữa dòng sông, thuyền bè khó qua lại Cửa Đại là cửa tốt nhất để sứ bộ mà Châu Đạt Quan tháp tùng có thể đi qua Mỹ Tho, lên Nam Vang và tới Biển Hồ
Châu Đạt Quan không đi sâu vào địa bàn huyện Cần Giờ nhưng khi tả vùng bờ biển thì khá chi tiết: “Nhìn lên bờ chúng tôi thấy toàn là cây mây cao vút, cổ thụ, cát vàng, lau sậy trắng”
Sau này, trong PHỦ BIÊN TẠP LỤC viết xong năm 1776, Lê Quý Đôn cũng nói: “Đất Đồng Nai thuộc phủ Gia Định, từ các cửa biển lớn và nhỏ cửa Cần Giờ, cửa Soài Rạp đi vào (tức địa bàn huyện Cần Giờ ngày nay) toàn là những đám rừng hoang vu cỏ rậm, mỗi đám rừng có thể rộng hơn nghìn dặm” Địa danh Soài Rạp và Cần Giờ đã là những cửa biển quen thuộc mà truyện kể sau có nhắc tới: “Thời chúa Hiền (năm 1697) có nhóm người Hoa là Dương Ngạn Địch, nguyên Tổng binh trấn thủ ở Long Môn thuộc Quảng Châu và Trần Thắng Tài nguyên Tổng binh trấn thủ các Châu Cao – Lôi - Liêm, đem binh biền và gia quyến trên ba ngàn người, chiến thuyền hơn năm mươi chiếc nhập cửa biển Tư Dung và cửa Đà Nẵng gần kinh đô Quan địa phương tâu lên: có bọn cựu thần nhà Minh thề cùng tận trung với nước… không chịu thần phục nhà Thanh, nên mới chạy sang nước ta xin làm thần dân Khi ấy đương có việc chiến với Bắc Hà, mà đoàn quân này từ xa đến chưa biết thực hư thế nào, huống chi họ lại ăn mặc khác, nói tiếng khác, khó sử dụng Nhưng họ trong lúc thế cùng, nên phải chạy sang, khẩn khoản bày tỏ tấm lòng thành, nên cũng không nên cự tuyệt Vả lại địa phương Giản Phố (biệt danh đất Gia Định ngày xưa) của nước Cao Miên, đất rộng béo tốt kể đến ngàn dặm, triều đình chưa rành kinh lý, chi bằng ngày nay lợi dụng sức lực của họ, giao cho khai phá đất đai để ở, cũng là một việc mà được ba điều tiện lợi… Nhận được lệnh trên, bọn họ Dương và họ Trần cùng đến kinh đô tạ ơn, rồi sau phụng chỉ tiến hành Tướng Long Môn và bọn họ Dương đem binh lính ghe thuyền chạy vào cửa biển Soài Rạp, cửa Tiểu, cửa Đại rồi lên đồn trú ở địa phương Bằng Lăng xứ Đồng Nai, khai phá đất hoang, lập phố chợ thương mãi, giao thông với người Tàu, người Nhật, Tây Phương, Đồ Bà, thuyền buôn tụ tập đông đảo
Sự thật, không phải bọn họ Dương và họ Trần là những di dân đầu tiên ở miền Nam, mà từ trước đã có nhiều lưu dân Việt Nam lác đác đó đây tới khẩn hoang lập ấp rồi Sách ĐỊA CHÍ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (tập I, Lịch sử) đã nói rõ điều ấy
- Địa bàn huyện Cần Giờ từ năm 1698 đến năm 1808
Mùa xuân năm Mậu Dần (1698), đời chúa Minh sai Thống suất Chưởng - cơ
Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, lấy đất Nông Nại đặt làm Gia Định phủ, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình dựng dinh Phiên Trấn… Đất đai mở rộng ngàn dặm, dân số hơn bốn vạn hộ, lại chiêu mộ những lưu dân từ châu Bố Chánh trở vô nam đến ở khắp nơi, đặt ra phường ấp xã thôn, chia cắt địa phận, mọi người phân chiếm ruộng đất, chuẩn bị thuế đinh điền và lập hộ tịch đinh điền
Như vậy, địa bàn huyện Cần Giờ khi ấy thuộc phủ Gia Định, dinh Phiên Trấn, huyện Tân Bình Buổi đầu, dân cư còn thưa thớt, chỉ có một số binh lính, viên chức thu thuế và một số ít dân cư sinh sống nên huyện chưa chia ra tổng Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, huyện Cần Giờ thuộc tổng Bình Dương và cũng chưa đặt ra phường ấp xã thôn hay chia cắt địa phận Vì địa bàn huyện còn rất hoang vu lầy lội, không thuận tiện để trồng lúa
Vào thế kỷ XVII, cửa biển Cần Giờ trở nên quan trọng nhất về mặt thương nghiệp lẫn quân sự của Chúa Nguyễn Thuyền buôn từ các miền trong nước hay từ Trung Hoa, Nhật Bản, Tây Dương, Đồ Bà…tới cù lao Phố ở Biên Hòa hay tới Sài Gòn- Bến Nghé (thủ phủ Gia Định) đều phải qua cửa biển Cần Giờ Về mặt quân sự, cửa biển Cần Giờ luôn được quân đội của Chúa Nguyễn phòng ngự một cách cẩn mật: hai bên bờ phía Vũng Tàu đều có đồn lũy đặt đại bác bắn chĩa xuống lòng sông, còn bên phía Vũng Tàu có 720 binh lính trấn giữ cửa biển Tuy nhiên, số phòng ngự này cũng chỉ đủ ngăn chặn trộm cướp hoặc hải tặc, còn khi xảy ra chinh chiến thì lực lượng ấy không thể thắng nổi Đơn cử như trận chiến: Tháng 3/1776, anh em nhà Tây Sơn đánh phá cửa Lạp (Soài Rạp) rồi đưa thuyền tấn công vào cửa biển Cần Giờ và nắm giữ được ba dinh: Phiên Trấn, Trấn Biên, và Long Hồ Suốt thời gian từ năm 1776 đến năm 1788, nghĩa quân Tây Sơn kéo quân vào thành phố Sài Gòn và miền Nam bốn lần Lần nào quân Tây Sơn cũng vào đánh khoảng tháng ba âm lịch cho thuận với gió mùa để tiến lên đánh chiếm Sài Gòn - Gia Định Và còn biết bao trận chiến khác nữa mà huyện Cần Giờ đã chứng kiến
- Địa bàn huyện Cần Giờ từ năm 1808 đến năm 1832
Năm 1808, sử ghi: “Vì địa thế Gia Định rộng lớn, bèn đổi Gia Định trấn làm Gia Định thành” Ở giai đoạn này, địa bàn huyện Cần Giờ thuộc huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, trấn Phiên An, thành Gia Định (chưa xác định thuộc tổng nào)
Năm 1819, Trịnh Hoài Đức viết xong bộ GIA ĐỊNH THÀNH THÔNG CHÍ giúp ta biết thêm về địa bàn huyện Cần Giờ:
Cần Giờ thuộc tổng Dương Hòa “Tổng Dương Hòa có 74 xã thôn phường ấp
Đánh giá tiềm năng DLST Cần Giờ
TIỀM NĂNG DLST Ở HUYỆN CẦN GIỜ
2.1 Tổng quan về Huyện Cần Giờ
2.1.1 Sơ lược về vùng đất Cần Giờ
Cần Giờ toạ lạc trên tọa độ 10 o 22’14”-10 o 37’39” vĩ độ Bắc và 107 o 46’12”-
107 o 00’59” kinh độ Đông, là một huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh và cũng là cửa ngõ ra biển quan trọng của thành phố Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai và
Bà Rịa - Vũng Tàu, phía Tây giáp Long An và Tiền Giang, phía Nam giáp với Biển Đông và phía Bắc giáp với huyện Nhà Bè trực thuộc thành phố Hồ Chí Minh với cầu nối là bến phà Bình Khánh
Toàn huyện Cần Giờ được hình thành trên khu rừng ngập mặn đầm lầy từ xưa Nền đất nơi đây chủ yếu do phù sa sông Đồng Nai và Sài Gòn lắng đọng tạo nên Tuy đây là nền đất phù sa nhưng lại bị nhiễm mặn nên khó trồng lúa và các loại cây lương thực, cây ăn trái Đất đai ở đây chủ yếu được sử dụng để nuôi tôm, làm muối, một số nơi có đất thích hợp thì trồng các loại cây ăn trái như: xoài, mãng cầu, nhãn, táo… Nhìn chung, đất ở Cần Giờ có 5 dạng:
- Đất bán ngập triều : ngập một lần trong ngày
- Đất ngập triều : ngập liên tục
- Đất gò : rất ít ngập
- Đất ít ngập : một năm ngập vài lần
- Đất ngập theo mùa trăng: mỗi tháng ngập một vài lần Địa bàn của huyện Cần Giờ trước đây được các tài liệu cổ miêu tả như sau: Huyện Cần Giờ nằm ở trung tâm tam giác châu do hệ thống của hai sông Đồng Nai và Sài Gòn tạo nên Khoa địa chất lịch sử học cho biết: địa bàn huyện Cần Giờ mới nổi lên mặt biển chưa quá 3.500 năm Còn khoa Khảo cổ học thì chưa xác định là trên địa bàn huyện Cần Giờ đã có người ở từ khi nào, và cư dân đó thuộc chủng tộc nào Nói chung, ta chưa biết nhiều về địa bàn huyện Cần Giờ dưới thời tiền sử
Dưới thời vương quốc Phù Nam và sau này là Chân Lạp, khoảng từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ XVII, cũng chưa có tài liệu nói về địa bàn huyện Cần Giờ Đến năm 1296, Châu Nạt Ban một tên viên soái bộ Trung Quốc sang thăm kinh đô Angkor khi về nước đã mô tả về Cần Giờ trong tác phẩm “ Chân Lạp Phong Thổ Lý” có những câu sau: “Nước Chân Lạp cũng gọi là Chiêm Lạp Tên bổn xứ là Cam Bội Trí ( Kampuchia )… Rời bến Ôn Châu ở Triết Giang và thẳng hướng định vị