Quy trình hoạt động của khu liên hiệp này là khi rác đi qua nhà máy phân loại, được tách lọc những vật liệu có thể tái chế như nhựa, bao nilon, kim loại, giấy… Khu liên hiệp xử lý chất t
M Ở ĐẦU
TÍNH C ẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay bảo vệ môi trường trở thành một vấn đề vô cùng bức bách và trọng yếu của mọi quốc gia vì nócó liên quan đến vấn đề sống còn của toàn nhân loại Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, động cơ làm giàu một cách vị kỉ, nhiều quốc gia, nhiều công ty, nhiều tập đoàn xuyên quốc gia đã tàn phá môi trường- cái nôi nuôi dưỡng chính họ Sau những suy thoái rõ rệt của nền sinh thái, con người đã bước đầu nhận thức được nguy cơ sống còn này. Ở Việt Nam tuy dân số đô thị chỉ mới chiếm hơn 20% dân số cả nước nhưng do cở sở hạ tầng kỹ thuật quá yếu kém, lại ít được chăm sóc nên tình trạng vệ sinh môi trường ngày càng sa sút nghiêm trọng Tìn h trạng ứ đọng rác thải do thiếu các trang thiết bị cần thiết và hiệu quả quản lý môi trường kém đang gây trở ngại cho sự phát triển kinh tế trong nước và chính sách mở của kinh tế với nước ngoài.
Khối lượng chất thải rắn trong các đô thị ngày càng tăng do tác động của sự tăng dân số, sự phát triển kinh tế xã hội và sự phát triển về trình độ, tính chất tiêu dùng trong các đô thị Lượng chất thải rắn nếu không được quản lý và xử lý tốt sẽ dẫn đến hàng loạt hậu quả tiêu cực đối với môi trường sống Tác động của việc quản lý và xử lý chất thải đô thị không hợp lý được minh họa ở hình 1.1
Hình 1.1: Tác động của việc quản lý và xử lý không hợp lý chất thải đô thị
Làm hại sức khỏe con người
Hạn chế hiệu quả kinh doanh sản xuất
Quản lý và xử lý chất thải không hợp lý
Làm xuống cấp môi trường
Tạo môi trường dịch bệnh
Tạo nếp sống kém văn minh
Gây ùn tắc giao thông
Làm mất vẻ đẹp đô thị Tác động xấu đến du lịch và văn hóa
Trong nhiều năm qua, tỉnh Bình Dương đã có những bước phát triển đáng kể về kinh tế, chính trị, xã hội, dân số đô thị tăng nhanh, tốc độ xây dựng đô thị và phát triển cơ sở hạ tầng được đẩy mạnh Các ngành nghề, dịch vụ, thương mại ngày càng tăng, chiếm tỉ trọng cao trong tổng thu nhập quốc dân.
Bình Dương cũng được xem như một thành phố trẻ, các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các dịch vụ vui chơi giải trí phát triển ngày càng nhanh cùng với tốc độ gia tăng dân số Tuy nhiên, với sự phát triển ấy, tỉnh Bình Dương đang phải đối đầu với những thách thức vô cùng to lớn về vấn đề ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và môi trường Một trong những nguyên nhân chính là từ chất thải rắn do các hoạt động sinh hoạt đô thị gây ra.
Với hiện trạng trên, nguy cơ ô nhiễm môi trường và lây lan bệnh tật, nhất là các bệnh truyền nhiễm, gây tác hại lớn đến sức khỏe cộng đồng là điều không thể tránh khỏi trong tương lai Nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu quản lý và xử lý chất thải rắn tại địa phương, việc thực hiện đề tài :”Khảo sát, đánh giá tình hình quản lý và xử lý chất thải rắn tại Xí Nghiệp xử lý chất thải – Tổng Cty cấp nước Bình Dương.Đề xuất các giải pháp cải thiện” được coi là có tính cấp thiết, nhằm phát hiện những nhân tố ảnh hưởng tích cức và tiêu cực lên công tác quản lý và xử lý chất thải rắn, từ đó có những kiến nghị, đề xuất giải pháp, nhằm góp phần hoàn thiện hơn công tác quản lý và xử lý chất thải rắn tại địa phương.
SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
Những nước đang phát triển trong khu vực đã quan tâm từ rất sớm việc xử lý chất thải rắn Singapore là một ví dụ điển hình Là một nước nhỏ, Singapore không có nhiều đất đai để chôn lấp rác như ở những quốc gia khác nên đã kết hợp xử lý rác bằng phương pháp đốt và chôn lấp Cả nước Singapore có 3 nhà máy đốt rác (Hình 1.2 và Hình 1.3) Những thành phần chất thải rắn không cháy được chôn lấp ngoài biển
Bãi chôn lấp rác Semakau được xây dựng bằng cách đắp đê ngăn nước biển ở một đảo nhỏ ngoài khơi Singapore (Hình 1.3) Rác từ các nguồn khác nhau được đưa đến trung tâm phân loại rác Ở đây rác được phân loại ra những thành phần cháy được và không cháy được Những chất cháy được được chuyển đến nhà máy đốt rác, còn những chất không cháy được được chuyển đến những cảng trung chuyển (Hình 1.4), đổ lên xà lan để chở ra khu chôn lấp Ở đây rác thải lại một lần nữa chuyển lên xe tải để đưa đi chôn lấp (Hình 1.5)
Hình 1.2 Cở sở hạ tầng xử lý rác ở Singapore Hình 1.3 Bãi chôn lấp rác ở Semakau
Hình1.4 Cảng trung chuyển ở Tuas South Hình1.5: Chôn lấp chất thải rắn ở Semakau
Tổ chức xử lý rác của Singapore sẽ tiết kiệm được đất đai xây dựng bãi chôn lấp rác Tuy nhiên, các giải pháp này rất tốn kém, đòi hỏi đầu tư ban đầu rất lớn Các công đoạn của hệ thống quản lý rác phải hoạt động hết sức nhịp nhàng và ăn khớp với nhau từ khâu thu gom, phân loại, vận chuyển đến tận khi xử lý bằng đốt hay chôn lấp
Xử lý khí thải từ các lò đốt rác cần phải thực hiện một cách triệt để theo qui trình nghiêm ngặt để tránh sự chuyển dịch ô nhiễm từ dạng rắn sang dạng khí Xây dựng bãi chôn lấp chất thải rắn trên biển sẽ tiết kiệm được đất đai trong đất liền và mở rộng thêm đất đai khi đóng bãi Tuy nhiên để xây dựng được bãi chôn lấp rác như vậy, cần phải có sự đầu tư khổng lồ để đảm bảo sự an toàn trong quá trình vận hành bãi cũng như việc xử lý môi trường.
Thái Lan Ở Thái Lan sự phân loại rác được thực hiện ngay tại nguồn Người ta chia ra 3 loại rác và bỏ vào 3 thùng riêng: những chất có thể tái sinh, thực thẩm và những chất độc hại Các loại rác này được thu gom và chở bằng các xe ép rác có màu sơn khác nhau
Rác tái sinh sau khi được phân loại sơ bộ ở nguồn phát sinh được chuyển đến nhà máy phân loại rác để tách ra các loại vật liệu khác nhau sử dụng trong quá trình tái sản xuất Chất thải thực phẩm được chuyển đến nhà máy chế biến phân vi sinh Những chất còn lại sau khi tái sinh hay chế biến phân vi sinh được xử lý bằng chôn lấp Chất thải độc hại được xử lý bằng phương pháp đốt.
Một trung tâm xử lý rác hoàn thiện của Thái Lan bao gồm tất cả các đơn vị nói trên (chẳng hạn trung tâm xử lý rác On - Nuch ở Bangkọk) Ngoài ra, Thái Lan còn kết hợp các quá trình xử lý rác trên đây với phương pháp đốt Chẳng hạn lò đốt rác ở Phukhet có công suất trên 250 tấn rác/ngày hoạt động kèm theo bãi chôn lấp nhỏ để chôn lấp tro và các chất không cháy được.
Việc thu gom rác ở Thái Lan được tổ chức rất chặc chẽ Ngoài những phương tiện cơ giới lớn như: xe ép rác được sử dụng trên các đường phố lớn, các loại xe thô sơ cũng được dùng để vận chuyển rác đến điểm tập kết, rác trên sông, rạch được vớt bằng các thuyền nhỏ của cơ quan quản lý môi trường
Rác thải được thu gom và vận chuyển đến trung tâm xử lý rác hằng ngày từ 18h00 tối hôm trước đến 3h00 sáng hôm sau Các địa điểm xử lý rác của Thái Lan đều cách xa trung tâm thành phố ít nhất 30 Km.
Sáng ngày 16/7/2005, tại huyện Bình Chánh, TpHCM, dự án khu liên hiệp xử lý chất thải rắn Đa Phước, do công ty Califonia Waste Solution (Mỹ) đầu tư với tổng vốn lên đến hơn 400 triệu USD, đã chính thức làm lễ động thổ.
Khu liên hiệp xử lý chất thải rắn Đa Phước sẽ gồm một nhà máy phân loại rác, một nhà máy sản xuất phân vi sinh và bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh Các nhà máy sẽ hoạt động đồng bộ nhằm giảm thiểu khối lượng rác thải phải chôn lấp Quy trình hoạt động của khu liên hiệp này là khi rác đi qua nhà máy phân loại, được tách lọc những vật liệu có thể tái chế như nhựa, bao nilon, kim loại, giấy…
Khu liên hiệp xử lý chất thải rắn Đa Phước sẽ gồm một nhà máy phân loại rác, một nhà máy sản xuất phân vi sinh và bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh Các nhà máy sẽ hoạt động đồng bộ nhằm giảm thiểu khối lượng rác thải phải chôn lấp Quy trình hoạt động của khu liên hiệp này là khi rác đi qua nhà máy phân loại, được tách lọc những vật liệu có thể tái chế như nhựa, bao nilon, kim loại, giấy…
Nhà máy phân loại có công suất tối thiểu là 500 tấn/ngày và nhà máy compost có khả năng chế biến đến 1000 tấn nguyên liệu rác mỗi ngày thành khoảng 600 tấn phân hữu cơ, vừa phục vụ cho sản xuất nông nghiệp trong nước vừa xuất khẩu Đặc biệt, bãi chôn lấp được thiết kế theo công nghê tiên tiến của Mỹ, nhằm đáp ứng tối đa tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường.
M ỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm khảo sát, đánh giá công tác quản lý và xử lý CTR tại Xí nghiệp xử lý chất thải – Tổng Cty cấp nước Bình Dương Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp cải tiến thích hợp giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý và xử lý CTR tại công ty.
1.3.2 Nội dung Để thực hiện mục tiêu như đã nêu trên, nội dung nghiên cứu của luận văn sẽ bao gồm các phần chính như sau:
- Tìm hiểu hoạt động của XN xử lý CT- Tổng cty cấp nước Bình Dương.
- Khảo sát, đánh giá tình hình quản lý và xử lý CTR tại xí nghiệp.
- Đánh giá các vấn đề tồn tại trong công tác quản lý và xử lý hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp cải thiện.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nội dung nghiên cứu được tiến hành dựa trên các phương pháp như:
- Thu thập, chọn lọc và tổng hợp tài liệu liên quan đến nội dung đề tài từ các nguồn tài liệu tham khảo, báo cáo chuyên ngành, dự án đã được thực hiện…
- Điều tra khảo sát tại 1 số khu dân cư, bãi rác tập trung, ghi nhận các yếu tố tác động đến môi trường,hiện trạng quản lý và xử lý CTR tại địa phương thông qua hình thức quan sát trực tiếp, phỏng vấn các nhà quản lý…
- Tìm hiểu và phân tích các yếu tố có liên quan và chi phối hoạt động quản lý, xử lý CTR tại địa phương, tạo cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp mang tính hoàn thiện và hiệu quả hơn trong tương lai.
T ỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN
2.1.1 Định nghĩa chất thải rắn (CTR): Theo quan niệm chung thì CTR là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động KT-XH của mình
Theo quan niệm mới: CTR đô thị (gọi chung là rác thải đô thị) là vật chất mà người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu vực đô thị mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ Thêm vào đó, chất thải được coi là chất thải rắn đô thị nếu chúng được xã hội nhìn nhận như một thứ mà thành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu huỷ.
Như vậy CTR đô thị có các đặc trưng: bị vứt bỏ trong khu vực đô thị và thành phố có trách nhiệm thu dọn.
Hiện nay, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn đô thị đang là vấn đề nan giải đối với nhiều địa phương trong cả nước Với khối lượng phát sinh lớn nhưng tỷ lệ thu gom còn hạn chế, chất thải rắn sinh ra chưa được thu gom và xử lý triệt để là nguồn gây ô nhiễm môi trường: đất, nước và không khí Tại các bãi đổ rác, nước rò rỉ và khí bãi rác là mối đe dọa đối với nguồn nước mặt và nước ngầm trong khu vực
Khối lượng chất thải rắn của các khu đô thị ngày càng gia tăng nhanh chóng theo tốc độ gia tăng dân số và phát triển kinh tế xã hội Lượng chất thải rắn nếu không được xử lý tốt sẽ dẫn đến hàng loạt các hậu quả môi trường không thể lường trước được
Tổng lượng rác thải sinh hoạt thải ra hàng ngày ở các đô thị nước ta >10.000 m 3
2.1.2 Nguồn phát sinh chất thải rắn
, nhưng mới chỉ thu gom được < 50%
Các nguồn phát sinh chủ yếu CTR bao gồm:
• Các trung tâm thương mại.
• Các công sở, trường học,các công trình công cộng.
• Các dịch vụ đô thị, các sân bay.
• Các hoạt động công nghiệp.
• Các hoạt động xây dựng đô thị.
• Các trạm xử lý nước thải và từ các đường ống thoát nước của thành phố.
Mặc dù có nhiều cách phân loại nguồn phát sinh CTR khác nhau, việc phân loại
CTR theo các nguồn phát sinh sau đây là phổ biến nhất: (1) hộ gia đình; (2) khu thương mại (nhà hàng, khách sạn, siêu thị, chợ, …); (3) công sở (cơ quan, trường học, trung tâm và viện nghiên cứu, bệnh viện,….); (4) xây dựng; (5) khu công cộng (nhà ga, bến tàu, sân bay, công viên, khu vui chơi giải trí, đường phố, …); (6) trạm xử lý chất thải (trạm xử lý nước thải sinh hoạt, ….); (7) công nghiệp và (8) nông nghiệp
Trong những nguồn phát sinh CTR kể trên, CTR đô thị là tất cả các loại chất thải phát sinh từ khu đô thị ngoại trừ CTR từ sản xuất công nghiệp và nông nghiệp.
Loại chất thải phát sinh từ những nguồn khác nhau được trình bày tóm tắt trong
Bảng 2.1 Loại chất thải rắn theo các nguồn phát sinh khác nhau
Rác thực phẩm, giấy, carton, nhựa, túi nilon, vải, da, rác vườn, gỗ, thủy tinh, lon thiếc, nhôm, kim loại, tro, lá cây, chất thải đặc biệt như pin, dầu nhớt xe, lốp xe, ruột xe, sơn thừa,…
Giấy, carton, nhựa, túi nilon, gỗ, rác thực phẩm, thủy tinh, kim loại, chất thải đặc biệt như vật dụng gia đình hư hỏng (kệ sách, đèn, tủ,…), đồ điện tử hư hỏng (máy radio, tivi, …), tủ lạnh, máy giặt hỏng, pin, dầu nhớt xe, lốp xe, ruột xe, sơn thừa,…
Giấy, carton, nhựa, túi nilon, gỗ, rác thực phẩm, thủy tinh, kim loại, chất thải đặc biệt như kệ sách, đèn, tủ hỏng, pin, dầu nhớt xe, lốp xe, ruột xe, sơn thừa,…
Xây dựng Gỗ, thép, bêtông, đất cát,…
Khu công cộng Giấy, túi nilon, lá cây, …
Nguồn : Dự án bãi chôn lấp chất thải rắn NBD
2.1.3 Phân loại chất thải rắn
Tùy vào phương pháp và mục đích phân loại mà ta có các loại CTR khác nhau:
Theo vị trí hình thành: Người ta phân biệt CTR trong nhà, ngoài nhà, trên đường phố trong và ngoài chợ…
Theo thành phần hóa học và vật lý: người ta phân biệt theo các thành phần vô cơ, hữu cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại, da, dẻ vụn, cao su, chất dẻo…
Theo bản chất nguồn phát sinh:
Chất thải rắn sinh hoạt: là những chất thải liên quan đến những hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm: kim loại, sành sứ, thủy tinh,gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo, thực p[hẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, xác động vật, tre gỗ, lông gà, lông vịt, vải, giấy, rơm rạ, vở rau quả…
Chất thải rắn công nghiệp: là chất thải phát sinh từ các hoa5t động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Các nguồn phát sinh chất thải công nghiệp là:
• Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro xỉ trong các nhà máy nhiệt điện.
• Các phế thải từ nhiên liệu phục vụ cho sản xuất.
• Các phế thải trong quá trình công nghệ.
• Bao bì đóng gói sản phẩm.
Chất thải xây dựng: là vật liệu trong quá trình dỡ bở công trình xây dựng, đất đá do việc đào móng trong xây dựng, các vật liệu như kim loại chất dẻo…
Chất thải nông nghiệp: là những chất thải và mẫu thừa thải ra từ các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, các sản phẩm thải ra từ chế biến sữa, các lò giết mổ… Hiện tại việc việc quản lý và xả thải ra chất thải nông nghiệp không thuộc về trách nhiệm các công ty môi trường địa phương.
Theo mức độ nguy hại:
Chất thải nguy hại: là những loại chất thải có các đặc tính như: dễ cháy nổ, dễ gây phản ứng, dễ gây bệnh truyền nhiễm, các chất độc hại, các chất mang tính phóng xạ.
CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ
2.2.1 Phương pháp ổn định chất thải rắn bằng công nghệ Hydromex
Công nghệ Hydromex nhằm xử lý rác đô thị thành các sản phẩm phục vụ xây dựng, làm vật liệu năng lượng và sản phẩm nông nghiệp hữu ích.
Bản chất của công nghệ Hydromex là nghiền nhỏ rác sau đó polyme hóa và sử dụng áp lực lớn để ép nén,định hình các sản phẩm.
Quy trình công nghệ như sau:
Rác thải được thu gom chuyển về nhà máy, rác thải không cần phân loại được đưa vào máy cắt và nghiền nhỏ sau đó chuyển đến các thiết bị trộn bằng băng tải.
Chất thải lỏng được pha trộn trong bồn phản ứng, các phản ứng trung hòa và khử độc xảy ra trong bồn Sau đó từ bồn phản ứng chất thải lỏng được bơm vào các thiết bị trộn, chất lỏng và rác thải kết dính với nhau hơn sau khi thành phần polyme được cho thêm vào Sản phẩm ở dạng bột ướt chuyển đến một máy ép khuôn và cho ra một sản phẩm mới Các sản phẩm này an toàn về môi trường và không độc hại.Tuy nhiên đây là một công nghệ mới chưa được áp dụng rộng rãi trên thế giới.
Hình 2.2 Sơ đồ xử lý rác thải theo công nghệ Hydromex.
Công nghệ của Hydromex có những ưu nhược điểm sau:
- Công nghệ tương đối đơn giản, chi phí đầu tư không lớn.
- Xử lý được cả chất thải rắn và lỏng.
- Trạm xử lý có thể di chuyển hoặc cố định.
- Rác sau khi xử lý là bán thành phẩm hoặc là sản phẩm đem lại lợi ích kinh tế.
2.2.2 Xử lý CTR bằng phương pháp ủ sinh học
2.2.2.1 Khái niệm Ủ sinh học được xem như là quá trình ổn định sinh hóa các chất hữu cơ để thành các chất mùn, với thao tác sản xuất và kiểm soát một cách khoa học tạo môi trường tối ưu đối với quá trình.
Quá trình ủ được coi như một quá trình xử lý tốt hơn được hiểu và so sánh với quá trình lên men yếm khí bùn hoặc quá trình hoạt hóa bùn.
Chất thải rắn chưa phân loại Kiểm tra bằng mắt
Cắt xén hoặc nghiền tơi nhỏ
Trộn đều Ép hay đùn ra
Chất thải lỏng hỗn hợp
Quá trình ủ có thể tạo ra thu nhập gấp năm lần so với khi bán khí metan của bể metan với cùng một loại bùn và thời gian rút ngắn lại một nửa Sản phẩm thu được cuối cùng không có mùi, không chứa vi sinh vật gây bệnh và hạt cỏ.
Quá trình ủ áp dụng với chất hữu cơ không độc hại lúc đầu khử nước sau thì xử lý cho tới khi nó thành xốp và ẩm Độ ẩm và nhiệt độ luôn được kiểm tra để giữ cho vật liệu luôn ở trạng thái hiếu khí trong thời gian ủ Quá trình tạo ra nhiệt riêng nhờ quá trình oxy hóa sinh hóa các chất thối rữa Sản phẩm cuối cùng quá trình phân hủy là
2.2.2.2 Công nghệ ủ sinh học theo các đống
, nước và các hợp chất hữu cơ bền vững như: ligin, xenlulo, sợi.
Thực chất là một quá trình phân giải phức tạp gluxit, lipit, và protein với sự tham gia của sinh vật hiếu khí và kị khí Các điều kiện pH, độ ẩm, thoáng khí (đối với vi khuẩn hiếu khí) càng tối ưu, vi sinh vật càng hoạt động mạnh và quá trình ủ phân càng kết thúc nhanh.
2.2.2.3 Công nghệ ủ sinh học theo quy mô công nghiệp
Rác tươi được chuyển về nhà máy, sau đó được chuyển vào bộ phận nạp rác và được phân loại trên hệ thống băng tải (tách các chất hữu cơ dễ phân hủy, chất vô cơ, chất tái sử dụng), phần còn lại được phân hủy qua máy nghiền rác và được băng tải chuyển qua khu vực trộn để giữ độ ẩm Máy xúc đưa vật liệu này vào các ngăn ủ, quá trình lên men làm tăng nhiệt độ lên 65 – 70oC sẽ tiêu diệt các mầm bệnh và làm cho rác bị hoại mục Quá trình này được thúc đẩy nhờ quạt gió cưỡng bức Thời gian ủ là
21 ngày, rác được đưa vào ủ chín trong thời gian 28 ngày Sau đó sàng để lấy phần lọt qua sàng mà trong đó các chất trơ phải lấy ra nhờ bộ phận tỷ trọng Cuối cùng ta thu được phân hữu cơ tinh có thể bán ngay hoặc phối trộn thêm với các thành phần cần thiết và đóng bao.
2.2.3 Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp đốt Đốt rác là giai đoạn xử lý cuối cùng được áp dụng cho một số loại rác nhất định không thể xử lý bằng các biện pháp khác Đây là giai đoạn oxy hóa nhiệt độ cao với sự có mặt của oxy trong không khí, trong đó các chất độc hại được chuyển hóa thành khí và các chất rắn không cháy.
Xử lý rác bằng phương pháp đốt có ý nghĩa là làm giảm tới mức nhỏ nhất chất thải cho khâu xử lý cuối cùng, nếu xử dụng công nghệ tiên tiến còn có ý nghĩa bảo vệ môi trường Đây là phương pháp xử lý rất tốn kém, so với phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh thì chi phí đốt 1 tấn rác gấp mười lần.
Hình 2.3 Quy trình công ngh ệ ủ sinh học quy mô công nghiệp
Năng lượng phát sinh của quá trình đốt có thể tận dụng cho lò hơi, lò sưởi hoặc các công nghiệp cần nhiệt hoặc phát điện Mỗi lò đốt phải được trang bị một hệ thống xử lý khí thải rất tốn kém nhằm khống chế ô nhiễm không khí do quá trình đốt có thể gây ra. Ưu điểm:
+ Xử lý triệt để các chỉ tiêu ô nhiễm của chất thải đô thị.
Rác tươi Phân hầm cầu
Băng phân loại Tái chế Bể chứa
Kiểm soát tự động Lên men
Thổi khí cưỡng bức Ủ chín
Công nhân nhặt thủ công
+ Công nghệ này cho phép xử lý được toàn bộ chất thải đô thị mà không cần nhiều diện tích đất sử dụng làm bãi chôn lấp.
+ Giảm đáng kể lượng chất thải cần chôn lấp.
+ Vận hành dây chuyền phức tạp, đòi hỏi năng lực kỹ thuật và tay nghề cao. + Chi phí đầu tư và vận hành cao; kỹ thuật vận hành phức tạp, khó kiểm soát nên phát sinh nhiều vấn đề môi trường do khói thải: dioxin…
+ Chỉ phù hợp đối với rác thải độc hại, rác thải y tế (Chi phí xử lý rác thải y tế gần 5 triệu đồng/tấn).
+ Đối với rác thải sinh hoạt chi phí sẽ cao hơn vì độ ẩm cao.
• Cơ chế quá trình đốt Đốt tại buồng sơ cấp: rác được nạp vào lò đốt qua cửa dưới ở phía trước buồng đốt sơ cấp, sau đó gia nhiệt, quá trình bay hơi diễn ra Sự bay hơi có thể diễn ra tại nguồn Tốc độ bay hơi phụ thuộc vào nhiệt độ.
Buồng đốt sơ cấp bố trí sao cho hơi từ đầu đốt, khí thoát ra do hiện tượng bay hơi, do thay đổi nhiệt độ và do chuyển động xoáy ngang kết hợp vào với nhau tạo ra nhiệt và khí cung cấp ổn định cho buồng đốt và nhờ vậy điều khiển tốc độ cháy của lò đốt. Đốt tại buồng thứ cấp: Buồng đốt thứ cấp bao gồm hai buồng (buồng trộn và buồng đốt cuối cùng) Trong buồng đốt sơ cấp chủ yếu là quá trình đốt cháy hoàn toàn luồng khí tạo thành từ buồng đốt sơ cấp Luồng khí này ở dưới dạng các hạt mỏng chứa tỷ lệ phần trăm cacbon cao Những hạt này có diện tích bề mặt lớn nếu tập trung thành đám Lượng cacbon chứa trong hạt được đốt cháy hoàn toàn khi đi vào buồng trộn Sau đó khí thoát khỏi buồng trộn, qua cửa có màng chắn và vào buồng đốt cuối cùng Vận tốc đốt này thấp đảm bảo đủ thời gian để đốt cháy hoàn toàn các thành phần Ưu điểm tuyệt đối của phương pháp xử lý CTR bằng việc sử dụng lò đốt rác là sau khi đốt thì thể tích của CTR giảm chỉ còn 10-20% thể tích so với ban đầu Việc sử dụng lò thiêu đốt CTR có những ưu điểm sau:
X ử lý CTR bằng phương pháp chôn lấp
TỔNG QUAN VỀ KHU NAM BÌNH DƯƠNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, XỬ
LÝ CTR CỦA XÍ NGHIỆP XỬ LÝ CHẤT THẢI – TỔNG CÔNG TY CẤP
3.1 KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM KHU NAM BÌNH DƯƠNG
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên khu Nam Bình Dương
Bình Dương là 1 tỉnh được tách ra từ tỉnh Sông Bé cũ nằm ở khu vực trung du miền Đông Nam Bộ.Phạm vi khu Nam Bình Dương tạm thời được xác định bao gồm toàn bộ diện tích thị xã Thủ Dầu Một, huyện Thuận An, huyện Dĩ An và 1 số xã thuộc
2 huyện Tân Uyên và Bến Cát nằm kề cận với 2 huyện thị trên Diện tích khoảng 677,16km 2
Vị trí khu Nam Bình Dương có thể nhận diện như sau:
, chiếm 25,1% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Đây là khu vực phát triển kinh tế trọng điểm của tỉnh hiện nay và trong tương lai.
• Phía Bắc giáp với các xã còn lại của 2 huyện Bến Cát và Tân Uyên.
• Phía Nam giáp với Quận Thủ Đức, Thành Phố Hồ Chí Minh.
• Phía Đông và tây được phân cách với Đồng nai và thành Phố Hồ Chí Minh bởi
2 con sông lớn là sông Đồng Nai và sông Sài Gòn.
Tọa dộ địa lý: Vĩ độ Bắc:10 o 51’16”-11 o 24’33”; Kinh độ Đông: 106 o 28’27”-106 o 51’6”
Hình 3.1 Vị trí khu Nam Bình Dương trong quan hệ với các miền lận cận