“Biết mình, biết ta, trăm trận trăm thắng” là một trong những phương châm hoạt động của Việt Nam, chính vì vậy xác định nhận định của người dân về chất lượng cuộc sống và môi trường thàn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG KHOA MÔI TRƯỜNG & BẢO HỘ LAO ĐỘNG
- - NGÀNH KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÁC TIÊU CHÍ
ĐÁNH GIÁ SỰ THỎA MÃN CỦA NGƯỜI DÂN
VỀ MÔI TRƯỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÁC TIÊU CHÍ
ĐÁNH GIÁ SỰ THỎA MÃN CỦA NGƯỜI DÂN
VỀ MÔI TRƯỜNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
SVTH: Nguyễn Tùng Sơn
MSSV: 610129B
LỚP: 06MT1M
Ngày giao nhiệm vụ luận văn : 16 – 10 – 2006
Ngày hoàn thành luận văn: GVHD ghi - - 200
TP.HCM, Ngày tháng năm Giảng viên hướng dẫn
( Ký tên ghi rõ họ tên)
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong qu trình học tập tại trường Đại Học Tôn Đức Thắng, các thầy cô và các
bạn đ hết sức quan tm gip đỡ tôi trong qúa trình học tập lẫn tinh thần Xin chn thnh
gửi lời cảm ơn tới các thầy cô và nhất là các thầy cô trong khoa Môi Trường - Bảo Hộ
Lao Động đ hết lịng gip đỡ và dạy bảo em trong thời gian qua để em có thể có được
những thành công trong cuộc sống như ngày hôm nay
Hơn hết, em xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ - cô Nguyễn Thy Lan Chi, đ hướng
dẫn và giúp đỡ em rất nhiều trong qu trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Trong qu trình thực hiện bo co ny khơng trnh khỏi những thiếu sĩt v hạn chế, rất
mong nhận đựơc sự nhận sét và góp ý của cc anh chị, cc thầy cơ v cc bạn sinh vin để
tôi có thể hoàn hiện luận văn ny v kiến thức của mình hơn nữa
Rất mong nhận được sự quan tâm của các anh chị, thầy cô và các bạn
Xin chân thành cảm ơn
Nguyễn Tùng Sơn
Trang 4Lời nhận xét của giáo viên hướng dẫn
Trang 6
Lời cảm ơn
Lời nhận xét của giáo viên hướng dẫn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Chương 1
Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề :
1.2 Mục tiêu :
1.3 Nội dung thực hiện :
1.4 Phương pháp thực hiện
1.4.1 Phương pháp xác định tiêu chí
1.4.2 Phương pháp điều tra xã hội học
1.4.3 Phương pháp phân tích, đánh giá điểm tiêu chí
1.4.4 Phương pháp chuyên gia
Chương 2 Cơ sở lý luận để thực hiện luận văn 2.1 Tính pháp lý
2.2 Luận cứ
2.3 Bài học kinh nghiệm của một số nước trên Thế giới
2.3.1 Mỹ
2.3.2 Trung Quốc
2.3.3 Inđônêsia
2.4 Kết luận
Chương 3 Khái quát chung thành phố Hồ Chí Minh 3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
3.1.2 Địa hình
3.1.3 Điều kiện khí hậu
3.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội
3.2.1 Dân số và tổ chức hành chính
3.2.2 Hoạt động phát triển kinh tế - xã hội
3.2.3 Giáo dục – Y tế
3.3 Hiện trạng chất lượng môi trường thành phố Hồ Chí Minh
3.3.1 Hiện trạng chất lượng môi trường không khí
3.3.2 Hiện trạng chất lượng môi trường nước
Trang 73.3.2.1 Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt
3.3.2.2 Hiện trạng chất lượng môi trường nước ngầm (nước dưới đất)
3.3.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn
3.3.4 Hiện trạng mảng xanh thành phố
3.3.5 Hiện trạng một số các hoạt động bảo vệ môi trường
Chương 4 Nghiên cứu xây dựng hệ thống đánh giá sự thỏa mãn của người dân về môi trường thành phố Hồ Chí Minh 4.1 Mục tiêu
4.2 Cơ sở lựa chọn
4.3 Xây dựng phiếu điều tra
4.4 Kết quả khảo sát
4.5 Nhận xét – đánh giá
Chương 5 Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường 5.1 Bảo vệ môi trường bằng công cụ pháp lý
5.2 Bảo vệ môi trường bằng công cụ kinh tế
5.2.1 Các công cụ kinh tế
5.2.1.1 Các lệ phí ô nhiễm
5.2.1.1.1 Các lệ phí thải nước và thải khí
5.2.1.1.2 Phí không tuân thủ
5.2.1.1.3 Các phí đối với người dùng
5.2.1.1.4 Lệ phí sản phẩm
5.2.1.1.5 Các lệ phí hành chánh
5.2.1.2 Tăng giảm thuế
5.2.1.3 Các khoản trợ cấp
5.2.1.4 Ký quỹ - hoàn trả
5.2.1.5 Các khuyến khích cưỡng chế thực thi
5.2.1.6 Đền bù thiệt hại
5.2.1.7 Tạo ra thị trường mua bán " quyền " xả thải ô nhiễm
5.2.2 Phương pháp quản lí hỗn hợp
5.2.3 Tổng kết
5.3 Các biện pháp bảo vệ môi trường bằng văn hóa
5.3.1 Xây dựng website phổ biến thông tin
5.3.2 Xây dựng sân chơi Thanh niên
5.3.3 Các hình thức tuyên truyền chính nên được sử dụng
5.3.4 Thành lập đội "Thanh niên tình nguyện vì môi trường xanh"
5.3.5 Bộ tem "Bảo vệ môi trường"
Trang 85.3.6 Xếp hạng Doanh nghiệp xanh - địa phương xanh
5.3.7 Giao trách nhiệm cho từng doanh ngiệp, địa phương
5.3.8 Cuộc thi sáng tác các tác phẩm tuyên truyền bảo vệ môi trường
5.3.9 Mỗi em bé là một cái cây, "Cây chứng sinh"
5.3.10 Đội vệ sinh cơ động
Chương 6 Kết luận – kiến nghị 6.1 Kết luận
6.2 Dự báo
6.3 Kiến nghị Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 9Danh mục các bảng
Bảng 3.1 : Cơ cấu dân số thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 3.2 : Chỉ số chất lượng môi trường không khí (AQI) tại thành phố Hồ Chí Minh (từ ngày 29 – 11 – 2006 đến 05 – 12 – 2006)
Bảng 3.3 : Một số thông số đặc trưng chất lượng nước sông Sài Gòn – Đồng Nai tại một số trạm quan trắc (Ngày 15 và 22 – 11 – 2006)
Bảng 3.4 : Số liệu ước tính mức xả nước thải theo ngành
Bảng 4.1 : Phân bổ địa điểm và số lượng tham vấn cộng đồng
Bảng 4.2 : Thành phần và đối tượng tiếp xúc
Bảng 4.3 : Thời gian và địa điểm sing sống
Bảng 4.4 : Nguồn nước hiện đang sử dụng
Bảng 4.5 : Bảng tổng hợp sự thỏa mãn của người dân về môi trường thành phố Bảng 5.1 : Nội dung chuẩn bị cho một đội “Thanh niên tình nguyện vì môi trường xanh”
Biểu đồ 3.1 : Biểu đồ chỉ số chất lượng môi trường không khí thành phố Hồ Chí Minh (29/11 – 5/12/2006)
Biểu đồ 3.2 Diễn biến nồng độ Fe nước ngầm ở Tp.HCM kỳ quan trắc đợt 1 năm
Biểu đồ 4.1 : Phân bổ địa điểm và số lượng tham vấn cộng đồng
Biểu đồ 4.2 : Loại hình nước sử dụng
Biểu đồ 4.3 : Cảm nhận vấn đề môi trường chính của thành phố Hồ Chí Minh 2006 Biểu đồ 4.4 : Cảm nhận môi trường không khí thành phố Hồ Chí Minh 2006
Biểu đồ 4.5 : Cảm nhận chất lượng nước mặt – nước sinh hoạt 2006
Biểu đồ 4.6 : Cảm nhận hệ thống thu gom rác thành phố Hồ Chí Minh 2006
Biểu đồ 4.7 : Cảm nhận mảng xanh thành phố Hồ Chí Minh 2006
Danh mục các hình
Hình 2.1 : Chi phí và lợi ích của việc giảm ô nhiễm
Hình 2.2 : Mô hình quản lý bảo vệ môi trường theo kiểu 'Tam giác'
Trang 10Danh mục chữ viết tắt
BCH Ban chấp hành - Ban chỉ huy
BOD Lượng oxy cần thiết cho vi sinh vật tiêu thụ
BVMT Bảo vệ môi trường
TSS Tổng hàm lượng các chất rắn lơ lửng trong nước
UBND Ủy ban nhân dân
UBMT Ủy ban mặt trận
VH Văn hóa
Trang 11Chương 1
Mở đầu
Trang 12Chương 1
Mở đầu 1.1 Đặt vấn đề
Trong xu thế hội nhập quốc tế ngày một mạnh mẽ, Việt Nam và các nước Đông Nam Á đã và đang có những bước tiến mạnh mẽ ra các nước Châu Âu Thách thức sẽ tạo ra những cơ hội cho sự phát triển mạnh mẽ, tận dụng được cơ hội sẽ tạo ra thế và lực mới để vượt qua và đẩy lùi thách thức, tạo ra cơ hội lớn hơn Ngựơc lại, nếu không tận dụng được cơ hội thì thách thức sẽ lấn át, cơ hội sẽ mất đi, thách thức từ đó sẽ chuyển thành những khó khăn dài hạn rất khó khắc phục Sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại Thế Giới – WTO vào ngày 07 tháng 11 năm 2006 đã chấm dứt một chặng đường dài gian khổ sau hơn 11 năm Với tinh thần tự lực tự cường của toàn dân tộc, chúng ta hoàn toàn có quyền tin tưởng rằng Việt Nam sẽ vượt qua thách thức
Phát triển bền vững là một trong những tiêu chí được ưu tiên hàng đầu trong các hoạt động Kinh tế, Văn hóa, Chính trị, mà các vấn đề trọng tâm là bảo vệ môi trường - phát triển kinh tế - ổn định xã hội “Biết mình, biết ta, trăm trận trăm thắng” là một trong những phương châm hoạt động của Việt Nam, chính vì vậy xác định nhận định của người dân về chất lượng cuộc sống và môi trường thành phố là một trong những nội dung quan trọng và cần thiết đối với không chỉ các nhà quản lý mà là toàn thể cộng đồng
1.2 Mục tiêu
- Thu thập và hệ thống thông tin về chất lượng môi trường thành phố Hồ Chí Minh
- Nhận định và đánh giá thực trạng môi trường thành phố
- Tìm hiểu cảm nhận và đánh giá chung của người dân về môi trường thành phố
1.3 Nội dung thực hiện
Lập kế hoạch thực hiện luận văn trong 12 tuần, từ 16 tháng 10 năm 2006 đến
08 tháng 01năm 2007
Tuần 1 và 2 tháng 10 : tìm kiếm tài liệu, thu thập các thông tin cần thiết có liên quan đến nội dung luận văn, hòan tất đại cương nội dung luận văn
Tuần 3 và 4 : Xác định tiêu chí và một số giấy tờ, phiếu tham vấn Liên hệ các
cơ quan ban ngành xin số liệu thực tế về hiện trạng môi trường thành phố Báo cáo và xin ý kiến giáo viên hướng dẫn
Tuần 5 đến 8 : tiến hành khảo sát, lấy ý kiến tham vấn cộng đồng về môi trường thành phố Tổng kết ý kiến cộng đồng về môi trường thành phố
Tuần 9 đến 11 : Đánh máy luận văn, hoàn chỉnh nội dung luận văn, trình giáo viên hướng dẫn
Tuần 12 : Chỉnh sửa, bổ xung nội dung theo hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn Hoàn tất luận văn, nộp hoàn tất
1.4 Phương pháp thực hiện
1.4.1 Phương pháp xác định tiêu chí
Phương pháp này dựa trên luận điểm về việc xác định các nội dung trọng tâm, lựa chọn luận điểm, luận cứ, các dấu hiệu nổi bật để xây dựng các tiêu chí xác
Trang 13định Các tiêu chí tham vấn cộng đồng được tổng hợp và phân tích dựa trên cơ sở các cuộc tham vấn, điều tra, xác minh do Thành Đòan thành phố Hồ Chí Minh và Chi Cục bảo vệ môi trường thành phố Hồ Chí Minh thực hiện là chính yếu, những đợt thực hiện này sinh viên đều có dịp tham gia thực hiện Dựa trên các nội dung, căn cứ thông tin cần thiết cho luận văn, lựa chọn và đánh giá các tiêu chí, nội dung cần thiết
1.4.2 Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp điều tra xã hội học dựa trên biện pháp đi khảo sát thực tế là chủ yếu, kết quả là sự tổng quan dựa trên các thông tin thu thập từ xã hội
Trong phạm vi luận văn này, đối tượng tham vấn cộng đồng tập trung vào các đối tượng cụ thể :
- Người dân sống trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thuộc địa bàn các quận huyện nội và ngoại thành thành phố (24 quận huyện)
- Học sinh - Sinh viên thuộc các trường : ĐH Tôn Đức Thắng, ĐH DL Kỹ Thuật công nghệ, ĐH Văn Hiến
1.4.3 Phương pháp phân tích, đánh giá điểm tiêu chí
Phương pháp này thực hiện dựa trên nguyên tắc đánh giá có chọn lọc các tiêu chí, các nội dung đề cập trong luận văn Dựa trên các nội dung tiêu chí đó lựa chọn các tiêu chí có vai trò quyết định nhất, có thể tin cậy được, lựa chọn và đánh giá các tiêu chí nội dung đó
1.4.4 Phương pháp chuyên gia
Tham vấn ý kiến về cách thức thực hiện, biện pháp tổ chức, tiêu chí đánh giá của một số các chuyên gia đầu ngành Tham khảo các tài liệu báo cáo nghiên cứu khoa học cấp thành phố, luận văn tốt nghiệp Đại học, luận văn Thạc sĩ – tiến sĩ các chuyên ngành có liên quan
Kế thừa các kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, phân loại và lựa chọn các kết qủa cần thiết phục vụ nội dung luận văn
Trang 14Chương 2
Cơ sở lý luận
thực hiện luận văn
Trang 15Chương 2
Cơ sở lý luận thực hiện luận văn 2.1 Tính pháp lý
Như đã trình bày ở lời mở đầu, BVMT là một trong những việc làm cần thiết
và không chỉ cuả riêng ai, riêng một quốc gia tổ chức nào, mà đây là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi con người chúng ta Trong lời tuyên ngôn độc lập của Pháp và
là một phần chủ tịch Hồ Chí Minh đã lấy và đưa vào tuyên ngôn độc lập , tuyên
ngôn độc lập của nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đó là "… từ khi sinh
ra, ai cũng có quyền bình đẳng, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…" [4]
Tại Việt Nam
Phổ biến thông tin môi trường cho cộng đồng là một chủ trương của Đảng và
đã được thể hiện rõ nét trong chỉ thị số 36-CT ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị
về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước Trong chỉ thị này, bên cạnh việc nhận thức được rõ rằng "Việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho toàn Đảng
và toàn dân, toàn quân chưa được quan tâm đúng mức, chưa phát huy được vai trò của các đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội, các hội quần chúng, các phong trào quần chúng về bảo vệ môi trường", Đảng ta cũng đã có chủ trương coi "Tạo điều kiện và khuyến khích để người dân thường xuyên nhận được các thông tin về môi trường như một biện pháp cơ bản bảo vệ môi trường"
Về mặt pháp lý, công tác phổ biến thông tin môi trường cho cộng đồng đã có những cơ sở khá vững chắc để có thể triển khai thực thi ở Việt Nam Đó là:
Điều 69, Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam đã quy định cụ thể "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có
quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật" [4]
Điều 10, Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam "Các cơ quan nhà nước, trong
phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tổ chức điều tra, nghiên cứu, đánh giá hiện trạng môi trường, định kỳ báo cáo với quốc hội về tình hình môi trường, xác định khu vực bị ô nhiễm và thông báo cho nhân dân biết, có kế hoạch phòng, chống suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự
Thực tế phát triển của một số nước đang phát triển trong những thập niên cuối của thế kỷ trước cho đến nay đã cho thấy học thuyết này ít có ý nghĩa thực tiễn,
Trang 16hay có thể nói là không hề đúng trong trường hợp phát triển của một số quốc gia đông dân đang phát triển ở châu Á như Trung Quốc, Malaixia, Inđônêxia, Thái Lan và Việt Nam hay các quốc gia ở châu Mỹ La Tinh như Braxin, Mêhicô, v.v
Ví dụ như ở Trung Quốc chẳng hạn, nếu theo học thuyết Kuznets thì với tình hình phát triển như trong giai đoạn vài thập niên cuối thế kỷ 20, chắc chắn một nước nghèo và đông dân như Trung Quốc sẽ có mức ô nhiễm tăng rất nhanh Song may mắn thay, các số liệu trong năm 2000 cho thấy rằng chất lượng không khí trung bình ở các khu đô thị của Trung Quốc không thay đổi mấy hoặc là được cải thiện hơn so với thời kỳ giữa thập kỷ 80 của thế kỷ trước
Tính toán chi phí lợi ích cho việc đưa ra các quyết định kiểm soát ô nhiễm của các cơ quan quản lý bảo vệ môi trường
Những hiểu biết và kinh nghiệm thông thường, như học thuyết Kuznets chẳng hạn thường cho rằng không thể giải quyết được tình trạng ô nhiễm ở các nước đang phát triển cho đến tận khi các nước này cũng đạt được mức độ giàu có như các nước phát triển hiện nay Thực tế mở rộng thương mại toàn cầu và mở cửa biên giới, một xu thế khuyến khích các ngành công nghiệp gây ô nhiễm chuyển
từ các nước phát triển giàu có sang các nước nghèo đang trong giai đoạn vươn lên với hy vọng phát triển một cách nhanh chóng dựa vào công nghiệp hoá đất nước, dường như phần nào khẳng định quan điểm 'bi quan' này Nhưng may mắn thay, trong những thập niên gần đây, cùng với sự biến chuyển sâu sắc về nhận thức, các nước nghèo đang phát triển cũng đã phần nào thấy rõ rằng chi phí cho việc 'giảm thiểu ô nhiễm' cũng có khả năng đem lại những lợi ích to lớn hơn nhiều so với chi phí đã bỏ ra Ở nhiều quốc gia đang phát triển khác nhau, các nhà quản lý môi trường đã không ngừng thử nghiệm những phương pháp mới và tìm những đồng minh mới trên mặt trận 'phòng chống ô nhiễm' và bảo vệ môi trường Một trong những xu thế mới đó là việc áp dụng các phương pháp quản lý truyền thống nhưng có tính đến các yếu tố về chi phí - lợi ích để khuyến khích các cơ sở gây ô nhiễm thay đổi hành vi [19]
Hình 2.1 : Chi phí và lợi ích của việc giảm ô nhiễm
Hình 2.2 mô tả mối quan hệ giữa chi phí giảm thiểu ô nhiễm và những lợi ích
mà xã hội có thể thu được từ việc đầu tư cho giảm thiểu ô nhiễm dựa trên tính toán những thiệt hại về mặt xã hội có thể tránh được khi áp dụng những biện pháp đầu tư giảm thiểu ô nhiễm đó Đường kẻ xiên từ dưới lên (một nét đậm và
Phí ô nhiễm tối ưu
Ô nhiễm tối ưu
Thiệt hại biên xã hội (MSD)
Ô nhiễm
Chi phí ($)
Chi phí biên giảm ô nhiễm (MAC)
Xã hội được lợi ít hơn
từ việc đầu tư cho kiểm
soát ô nhiễm
(MAC>MSD)
Xã hội được lợi nhiều hơn từ việc đầu tư cho kiểm soát ô nhiễm (MAC<MSD)
Trang 17một nét nhạt) cho thấy là cứ mỗi một đơn vị ô nhiễm tăng lên sẽ tạo nên mức độ thiệt hại lớn hơn so với đơn vị ô nhiễm trước đó gây ra Đường kẻ xiên từ trên xuống (nét đơn) cho thấy là đòi hỏi giảm thiểu ô nhiễm càng cao tương đương với mức chi phí càng cao hơn Dựa vào đồ thị này, các nhà quản lý có thể đưa ra những quyết định hợp lý nhằm lựa chọn các phương án quản lý tối ưu nhất Theo
đó thì, tại điểm giao nhau của hai đường sẽ là phương án lựa chọn tối ưu nhất (nghĩa là ô nhiễm có thể tăng hay giảm chút ít trong khuôn khổ cho phép thì vẫn không ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội chung) Nếu các nhà quản lý nhằm mục tiêu kiểm soát ô nhiễm vào điểm đánh dấu bằng ô vuông thứ ba (từ trái qua phải) khi mà mức chi phí giảm ô nhiễm thấp hơn rất nhiều so với mức thiệt hại biên thì
có nghĩa là chi phí cho việc kiểm soát ô nhiễm nhằm kiểm soát các mức thiệt hại
xã hội có thể sẽ có lợi hơn nhiều hơn so với việc chi phí để khắc phục hậu quả ô nhiễm Hay nói cách khác là xã hội sẽ được hưởng lợi nhiều hơn do áp dụng lựa chọn quản lý này Hiện nay, cơ quan quản lý môi trường của nhiều nước đã có những nghiên cứu nhằm tiến hành tính toán chi phí - lợi ích để giúp đưa ra những quyết định quản lý đúng đắn và có căn cứ khoa học
Lý thuyết về mô hình 'tam giác' (delta) trong quản lý môi trường - cơ sở cho việc huy động cộng đồng tham gia quản lý môi trường thông qua phổ biến thông tin môi trường
Ngày nay, cùng với việc phát triển ngày càng mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), công tác quản lý bảo vệ môi trường cũng đang dần chuyển từ mô hình quản lý truyền thống theo kiểu 'quả đấm' với việc kết hợp các biện pháp kiểm soát bằng mệnh lệnh (các quy chế, luật định) với các biện pháp kinh tế (như các hình thức phạt, lệ phí) sang mô hình quản lý mới theo kiểu 'tam giác' (delta) với việc áp dụng mạnh mẽ các tiến bộ của ICT trong quản lý bảo vệ môi trường Trong mô hình quản lý môi trường mới này, như được mô tả ở Hình 2.2, cả 3 thành phần cơ bản là (1) các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, (2) thị trường và (3) cộng đồng đều được huy động để tham gia một cách tích cực và hiệu quả trong các hoạt động bảo vệ môi trường
Trong đó
Các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm : xây dựng và ban hành các văn bản pháp lý và các tiêu chuẩn nhằm điều tiết ô nhiễm và quản lý bảo vệ môi trường, đưa ra các quyết định quản lý dựa vào việc áp dụng các biện pháp kinh tế,
và củng cố các hoạt động nhằm thực thi hiệu quả hệ thống các văn bản pháp luật liên quan;
Thị trường với chức năng tạo nên những cơ chế hoạt động kinh doanh, tiếp thị
sẽ giúp tạo những ảnh hưởng tích cực nhằm làm thay đổi hành vi của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, các dự án xây dựng, v.v hay những thành phần kinh tế khác gây ô nhiễm thông qua tất cả các hoạt động như sản xuất, tiêu dùng và đầu tư;
Các cộng đồng có vai trò tích cực trong việc cùng tham gia và hợp tác trong quản lý bảo vệ môi trường như giám sát thực thi luật và các hành vi gây ô nhiễm
Và một điều đặc biệt quan trọng là, mô hình này chỉ có thể vận hành được và hoạt động có hiệu quả nếu như 'thông tin về môi trường' được chia sẻ và trao đổi một cách thông suốt giữa 3 thành phần chủ chốt nêu trên
Trong mô hình quản lý mới này, một mối quan hệ tương hỗ có tác động qua lại được hình thành giữa 3 thành phần cơ bản: các cơ quan quản lý của Chính
Trang 18phủ, thị trường và cộng đồng thông qua việc trao đổi và giao lưu thông tin Đối với các nhà quản lý môi trường, thông tin thực sự cần thiết để họ có thể thu nhận
và hiểu được những tác động của các cơ chế quản lý mà họ áp dụng Thông tin chính xác và phong phú thật sự là yếu tố cần thiết và hữu dụng đối với các cơ quan quản lý để họ có thể đưa ra các quyết định chính sách một cách hợp lý, chính xác và có căn cứ khoa học Thông tin cũng thực sự cần thiết đối với thị trường để có thể điều tiết hiệu quả hành vi của các nhà sản xuất và tiêu dùng về mặt môi trường Hơn thế nữa, thông tin cũng còn là biện pháp hiệu quả giúp người tiêu dùng có thể xác định và giám sát các hành vi của các đối tượng liên quan nhằm gây áp lực bắt họ phải áp dụng các biện pháp cải thiện môi trường
Hình 2.2 : Mô hình quản lý bảo vệ môi trường theo kiểu 'Tam giác'
Nếu đứng trên phương diện quản lý thì mô hình 'tam giác' này thực sự là sự kết hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa các biện pháp quản lý khác nhau mà đã được trình bày ở trên, đó là :
- Kiểm soát và mệnh lệnh thông qua hệ thống các văn bản pháp luật của Chính phủ
- Áp dụng các biện pháp kinh tế thông qua thị trường
- Phổ biến thông tin cho cộng đồng để thu hút sự tham gia của họ trong các hoạt động bảo vệ môi trường
Mục đích chung
Đẩy mạnh sự tham gia và hoạt động có ý thức về BVMT của cộng đồng dân
cư và nhất là của học sinh - sinh viên - Đoàn viên - Thanh niên (sau đây sẽ gọi chung là thanh niên) trong các phong trào hành động bảo vệ môi trường
Nâng cao chất lượng công tác quản lý giám sát môi trường địa bàn dân cư Giảm chi phí một cách tổng quan về các hoạt động bảo vệ môi trường trên toàn địa bàn, nếu tính chi tiết về các chi phí phải trả cho việc thu gom, vận chuyển, lưu trữ, xử lý, … thì các biện pháp nâng cao nhận thức cộng đồng sẽ mang lại những lợi ích về lâu dài và tốn ít chi phí hơn so với các biện pháp cùng thực hiện
2.3 Bài học kinh nghiệm của các nước trên Thế Giới
Trong những năm gần đây, một làn sóng áp dụng cách tiếp cận mới là sử dụng phương tiện thông tin để thu hút sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản
lý môi trường nói chung và đặc biệt là trong công tác kiểm soát ô nhiễm công
Trang 19nghiệp đã xuất hiện ở nhiều nước như Pháp, Hà Lan, Canađa, Mỹ, Côlômbia, Braxin, Inđônêxia, Philippin, Thái Lan, Trung Quốc Ở những nước này, các cơ quan quản lý môi trường đang áp dụng nhiều chương trình cải cách và đổi mới trong công tác quản lý môi trường và cưỡng chế tuân thủ luật pháp về bảo vệ môi trường theo hướng sử dụng 'phổ biến cho cộng đồng thông tin về hành vi môi trường' của các cơ sở sản xuất, kinh doanh hay các đối tượng mà hoạt động của chúng có khả năng gây ảnh hưởng đến môi trường như một công cụ hữu hiệu nhằm giám sát thực thi hệ thống luật pháp về bảo vệ môi trường và tạo áp lực bắt các cơ sở phải tự điều chỉnh hành vi để đảm bảo tuân thủ luật
Nhìn chung cách thức áp dụng và triển khai các chương trình phổ biến thông tin môi trường cho cộng đồng ở các nước khác nhau cũng có những điểm khác nhau, song đều tập trung vào một mục tiêu chung là 'huy động sự tham gia tích cực và hiệu quả của cộng đồng trong các hoạt động bảo vệ môi trường'
2.3.1 Mỹ
Các nhà khoa học và các tổ chức phi chính phủ ở Mỹ đã sử dụng các phương tiện truyền thông như Internet để thông tin cho cộng đồng về những rủi ro tương đối của các hoá chất khác nhau và cung cấp cho các cộng đồng những kiến thức
cơ bản nhằm giúp họ có khả năng nhận dạng các chất gây ô nhiễm chính và tự đánh giá các vấn đề ô nhiễm chung gây bởi các hoá chất này Quỹ Bảo vệ Môi trường, với sự hỗ trợ của Cơ quan bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA) đã duy trì thường xuyên một trang web hoàn chỉnh (http:// www.scorecard.org) để thu hút
sự tham gia của các cộng đồng trong chương trình này Tại trang web này, người truy cập có thể khai thác thông tin về phát thải các loại hoá chất độc hại trong danh mục 350 hoá chất của chương trình TRI từ các nhà máy của Mỹ tại các địa điểm khác nhau trên toàn nước Mỹ Bên cạnh những báo cáo công bố những số liệu rất thô điều tra về phát thải 350 loại hoá chất trong khuôn khổ chương trình TRI, trang web cũng rất chú trọng tới việc phổ biến kiến thức liên quan để giúp cộng đồng có được những kỹ năng cơ bản nhất giúp họ tham gia tích cực và hiệu quả trong chương trình này thông qua việc trang bị cho họ các kỹ năng về nhận biết và đánh giá tình trạng ô nhiễm gây bởi các hoá chất độc hại tại nơi mình sinh sống và báo cáo với các đơn vị chức trách hoặc phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng về những tình trạng này Đây là một trong những cách mà chương trình TRI khai thác nhằm huy động sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động giám sát và tạo nên sức ép của cộng đồng để buộc các cơ sở gây ô nhiễm điều chỉnh các hành vi của mình Không chỉ gây ảnh hưởng với các cộng đồng, TRI còn có những tác động mạnh mẽ tới giới tài chính thông qua việc phổ biến thông tin điều tra về hoá chất của các cơ sở sản xuất, kinh doanh Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng giá cổ phiếu của các cơ sở thương mại đã tụt giảm nhanh chóng sau khi chương trình TRI công bố các số liệu về phát thải các chất ô nhiễm của các cơ sở này
Bài học rút ra đó là
Tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc triển khai chương trình phổ biến thông tin môi trường: Để chuẩn bị cho việc đầu tư tài chính cho công tác điều tra, thu thập, xây dựng và quản lý thông tin cũng như phổ biến thông tin cho cộng đồng, Quốc hội Mỹ đã thông qua 1 đạo luật quy định riêng về mục tiêu, nội dung, việc
tổ chức triển khai các hoạt động trong khuôn khổ chương trình cũng như việc huy động tài chính để thực thi chương trình Theo Đạo luật này, Cơ quan Bảo vệ Môi
Trang 20trường Mỹ (EPA) chịu trách nhiệm chủ trì và phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai chương trình
Trong triển khai các hoạt động phổ biến thông tin môi trường cho cộng đồng cần phải chú trọng đến việc diễn giải và trình bày thông tin một cách dễ hiểu và
dễ cảm nhận đối với công chúng để tránh những tác động không mong muốn ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất và phát triển chung
2.3.2 Trung Quốc
Xuất phát từ một nghiên cứu về "Kinh tế ô nhiễm công nghiệp ở Trung Quốc"
do Viện Quy hoạch môi trường thuộc Học viện Nghiên cứu khoa học môi trường của Trung Quốc thực hiện năm 1998, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Quốc gia của Trung Quốc (SEPA) đã xây dựng đề xuất dự án "Xây dựng hệ thống thông tin công nghiệp ở các thành phố và phổ biến thông tin môi trường cho cộng đồng ở Trung Quốc" để xin tài trợ của Ngân hàng Thế giới Tháng 10/1998, Ngân hàng Thế giới và SEPA đã ký thoả thuận hợp tác về việc triển khai thực hiện dự án nói trên ở Trung Quốc Trong khuôn khổ dự án này, hai hoạt động chính sau đây được đã thực hiện:
Tăng cường và thúc đẩy các công cụ quản lý thông tin môi trường cho các cơ quan quản lý thông qua việc xây dựng và phát triển chương trình mô hình hoá ô nhiễm công nghiệp ở các thành phố và hỗ trợ các cơ quan quản lý xây dựng các chiến lược kiểm soát môi trường dựa trên các phương pháp tính toán 'chi phí - lợi ích";
Lựa chọn một số thành phố tham gia triển khai thử nghiệm các chương trình phổ biến thông tin môi trường;
Để triển khai thực thi dự án, SEPA đã phối hợp rất chặt chẽ với các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học khác nhau và chính quyền địa phương ở các thành phố được lựa chọn làm địa điểm triển khai các chương trình thử nghiệm trong tất
cả các khâu liên quan như: đánh giá nhu cầu, thiết kế các chương trình giám sát
và tính toán ô nhiễm, triển khai các hoạt động điều tra, thu thập thông tin và phổ biến thông tin trên các phương tiện truyền thông và mạng internet
Các đối tượng được thử nghiệm trong dự án này là ô nhiễm môi trường không khí và nước gây bởi các hoạt động công nghiệp ở các thành phố Do vậy, hệ thống thông tin kiểm soát ô nhiễm công nghiệp đã được thiết kế bao gồm 5 hợp phần cơ bản sau:
Thông tin phục vụ quản lý cơ sở
Thông tin phục vụ phân tích các kịch bản ô nhiễm của cơ sở
Thông tin phục vụ mô hình hoá ô nhiễm không khí của cơ sở
Thông tin phục vụ mô hình hoá ô nhiễm nước của cơ sở
Trang 21 Nhóm các tiêu chí về tác động đối với môi trường: những đóng góp vào tình hình ô nhiễm của khu vực gây bởi các hoạt động của cơ sở
Nhóm các tiêu chí về quản lý môi trường: việc thực thi các quy định và tiêu chuẩn về môi trường của cơ sở
Nhóm các tiêu chí về sản xuất sạch hơn: việc áp dụng sản xuất sạch hơn và ISO14000 của cơ sở
Nhóm các tiêu chí về phân hạng cơ sở: đánh giá phân hạng cơ sở theo cách dễ hiểu để công bố cho công chúng
2.3.3 Inđônêsia
Chương trình tiên phong của Inđônêxia minh hoạ cho mô hình quản lý mới này bắt đầu từ những năm 1980 Chính phủ Inđônêxia đã giao trách nhiệm cho BAPEDAL - Cơ quan Kiểm soát ô nhiễm Quốc gia, cưỡng chế thi hành các tiêu chuẩn về phát thải của các nhà máy công nghiệp Song hoạt động cưỡng chế còn yếu kém do kinh phí quản lý hạn hẹp và nạn hối lộ gây cản trở cho tòa án Trong khi đó sản lượng công nghiệp hàng năm vẫn tăng hơn 10% Đến giữa những năm
1990, Chính phủ đã bắt đầu lo lắng đến nguy cơ thiệt hại nghiêm trọng do ô nhiễm
Đương đầu với tình hình khó khăn đó, BAPEDAL quyết định khởi xướng chương trình xếp hạng và công khai hoá kết quả hoạt động môi trường của các nhà máy ở Inđônêxia BAPEDAL hy vọng sức ép được tạo nên từ chương trình phổ biến thông tin này có thể mang lại một phương thức thúc đẩy tuân thủ các quy chế quản lý môi trường với chi phí thấp cũng như tạo ra các cơ chế khuyến khích mới để các nhà quản lý doanh nghiệp chấp nhận các công nghệ sạch hơn Chương trình này có tên là PROPER - Chương trình kiểm soát, đánh giá và xếp hạng ô nhiễm Trong khuôn khổ chương trình PROPER, BAPEDAL xếp hạng hoạt động môi trường của từng cơ sở gây ô nhiễm và biểu diễn hệ thống xếp hạng này theo màu sắc như sau :
Các nhà máy được xếp hạng 'màu đen' là các nhà máy không có bất kỳ cố gắng nào để kiểm soát ô nhiễm và gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về môi trường;
Các nhà máy được xếp hạng 'màu đỏ' là các nhà máy đã tổ chức một số hoạt động kiểm soát ô nhiễm song thiếu sự tuân thủ;
Các nhà máy được xếp hạng 'màu xanh da trời' là các nhà máy tuân thủ triệt
đẻ các tiêu chuẩn quốc gia và có qui trình kiểm soát phát thải;
Các nhà máy được xếp hạng 'màu xanh lá cây' là các nhà máy có qui trình sản xuất và quản lý chất thải vượt đáng kể các tiêu chuẩn quốc gia;
Các nhà máy được xếp hạng 'màu vàng' là các nhà máy thực hiện dược các tiêu chuẩn quốc tế
Trong giai đoạn thử nghiệm chương trình PROPER, được bắt đầu từ năm
1995, BAPEDAL đã đánh giá mức độ ô nhiễm ở 187 nhà máy (cơ quan này đã quyết định tập trung vào ô nhiễm nước trước tiên là vì họ đã có số liệu và kinh nghiệm trong lĩnh vực này) Nhóm các nhà máy được đưa vào chương tình thử nghiệm bao gồm các cơ sở gây ô nhiễm cỡ vừa và lớn, nằm ở một số các lưu vực sông trên đảo Sumatra, Kalimantan và Java Những đánh giá ban đầu cho thấy 2/3 các nhà máy không tuân thủ các quy chế quản lý môi trường của Inđônêxia Theo tiêu chuẩn phương tây thì kết quả nói trên thật đáng buồn, song vẫn có 1/3
Trang 22các nhà máy được đánh giá là có tuân thủ mặc dù BAPEDAL không có khả năng cưỡng chế thực thi các qui chế quản lý
Phổ biến thông tin cho cộng đồng là một hoạt động chính trị và là một sự kiện trên phương tiện truyền thông, vì thế lãnh đạo BAPEDAL đã cân nhắc kỹ lượng các chiến lược phổ biến các kết quả Tháng 6/1995, Phó tổng thống Inđônêxia đã chủ trì một buổi lễ công khai trước quần chúng để chúc mừng 'những gương tốt" -
đó là 5 nhà máy được xếp hạng màu xanh là thành tích vượt mức các yêu cầu chính thức Sau khi trao giải thưởng cho các cơ sở hoạt động tốt này, BAPEDAL
đã thông báo riêng cho các nhà máy khác về xếp hạng của họ, và cho các nhà máy không tuân thủ một thời hạn 6 tháng để làm sạch trước khi phổ biến toàn bộ thông tin cho cộng đồng Đã xảy ra việc tranh giành thứ hạng khi các nhà máy có các mức xếp hạng màu đỏ và màu đen xem xét các phương án của mình, và đến tháng 12/1995 đã có những thay đổi rõ nét Sau 6 tháng, số các nhà máy màu xanh da trời (số nhà máy tuân thủ) đã tăng thêm 18% Như vậy, ngay cả trước khi thông tin được phổ biến, PROPER đã thành công đáng kể
2.4 Kết luận
Hiện nay, không chỉ các nước phát triển mà ngay cả các nước ASEAN cũng đang ra sức chạy đua trong việc tìm tòi, nghiên cứu các vấn đề về môi trường, các chương trình thân thiện với môi trường, năng lượng xanh, năng xuất xanh, … như những minh chứng cụ thể ở trên đã cho thấy hiện nay Việt Nam đang theo sau các nước phát triển và các nứơc bạn ASEAN Chúng ta theo sau cũng có được một cái lợi đó là chúng ta không cần phải bỏ ra công sức và tiền bạc để phát triển khoa học, chúng ta học hỏi các nước bạn rất nhiều Tuy nhiên khi theo sau như vậy, chúng ta gặp phải những khó khăn như máy móc mua lại sẽ rất đắt so với khả năng của Việt Nam hiện nay Vấn đề vay vốn từ nguồn ODA là một giải pháp cấp thời nhưng về lâu dài những thế hệ tiếp theo sẽ phải đối mặt với những khoản nợ khổng lồ nếu thế hệ chúng ta không đầu tư một cách hiệu quả Nói một cách khác chúng ta đang vay nợ vốn của thế hệ con cháu của chúng ta
Trang 23Chương 3 Khái quát chung
thành phố
Hồ Chí Minh
Trang 24Chương 3 Khái quát chung thành phố Hồ Chí Minh 3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên [19]
3.1.1 Vị trí địa lý
Diện tích : 2.059,239 km2
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10 0 10’ – 10 0 38 vĩ
độ bắc và 106 0 22’ – 106 054 ’ kinh độ đông Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Thành phố Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ, nằm ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây, là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km đường chim bay
Vùng 3 : vùng có cao độ từ 05 đến 25 m Tập trung ở các huỵên Củ Chi và phía Bắc Quận Thủ Đức – Gò Vấp
3.1.3 Điều kiện khí hậu
Khí hậu hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa bình quân năm 1.979 mm Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm 27,55oC, không có mùa đông
Bức xạ : tổng lượng bức xạ mặt trời trung bình trong cả năm là 365,5 calo/cm2
Số giờ nắng : 7 đến 8 giờ/ngày
Độ ẩm : trung bình cả năm là 70 đến 80%
Lượng mưa : mùa mưa kéo dài từ tháng 05 đến hết tháng 10, chiếm 80 đến 85% tổng lượng mưa cả năm Mưa lớn tập trung vào tháng 06 và tháng 09, lượng mưa trung bình 250 đến 330 mm/tháng
Gió : thành phố có hai hướng gió chính là Đông – Đông Nam vào mùa khô và gió Tây – Tây Nam vào mùa mưa, điều này cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho mực nước đỉnh chiều lên vài cm
Trong năm 2006 này, Việt Nam cũng như Thế Giới đã hứng chịu một số lượng cơn bão nhiều nhất trong vòng 10 năm trở lại đây ví dụ như bão Utor, bão
số 9, làm thiệt hại to lớn về người và của Năm 2006, Việt Nam đã chi ra hơn 18.700 tỷ đồng nhằm dự báo, khắc phục và hạn chế các hậu quả sau những cơn bão Một trong những nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng này đó là do sự gia
Trang 25tăng khí nhà kính làm tan băng ở hai cực của trái đất dẫn tới mực nước biển tăng cao và biến đổi khí hậu trên toàn Thế Giới
3.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội [19]
Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và
là cửa ngõ quốc tế Với hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nước, cảng Sài Gòn với năng lực hoạt động 10 triệu tấn /năm Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7km
Sài Gòn cổ xưa được thành lập từ năm 1623, nhưng tới năm 1698, Chúa Nguyễn mới cử Thống soái Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất Phương Nam, khai sinh ra thành phố Sài Gòn Năm 1911, Sài Gòn là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh
vĩ đại ra đi tìm đường cứu nước, khi đất nước thống nhất, Quốc Hội khoá VI họp ngày 2.7.1976 đã chính thức đổi tên Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh
Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố trẻ, với hơn 300 năm hình thành và phát triển, thành phố có rất nhiều công trình kiến trúc cổ, nhiều di tích và hệ thống bảo tàng phong phú
Với vị trí địa lý thuận lợi, Sài Gòn – nơi một thời được mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông" đã là trung tâm thương mại và là nơi hội tụ của nhiều dân tộc anh em, mỗi dân tộc có tín ngưỡng, sắc thái văn hoá riêng góp phần tạo nên một nền văn hoá đa dạng Đặc trưng văn hoá của vùng đất này là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống dân tộc với những nét văn hoá phương Bắc, phương Tây, góp phần hình thành lối sống, tính cách con người Sài Gòn Đó là những con người thẳng thắn, bộc trực, phóng khoáng, có bản lĩnh, năng động, dám nghĩ, dám làm Năng động và sáng tạo, Thành phố Hồ Chí Minh luôn đi đầu cả nước trong các phong trào xã hội, nơi đầu tiên trong cả nước được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục trung học
Với vai trò đầu tàu trong đa giác chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá - du lịch, giáo dục - khoa học kỹ thuật - y tế lớn của cả nước
Trong tương lai, thành phố sẽ phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, có cơ cấu công nông nghiệp hiện đại, có văn hoá khoa học tiên tiến, một thành phố văn minh hiện đại có tầm cỡ ở khu vực Đông Nam Á
3.2.1 Dân số và tổ chức hành chính
Do vị trí chiến lược đặc biệt, thành phố Hồ Chí Minh là nơi hội tụ của nhiều luồng dân cư, dân tộc từ Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ đến định cư sinh sống trong nhiều thời điểm lịch sử khác nhau
Thành phố Hồ Chí Minh có đặc điểm là các cộng đồng dân cư khác nhau sống chung với người Việt trong một lịch sử gắn bó lâu đời Ðó là người Hoa, người Chăm, người Khơme, các dân tộc thiểu số như Tày, Mường Nùng Thái Mèo, Hán, Cao Lan, Sáu Dìu, Thổ, Mán … và các dân tộc vùng Trường Sa Tây Nguyên như Gia Rai, Ê đê, Bana, Xơ Đăng, Xtiêng, Vân Kiều, Churu , là các thành phần dân tộc ít người sinh sống cùng với người Việt, góp phần tạo nên những sắc thái kinh tế, văn hóa của thành phố
Trong tổng số hơn 6 triệu dân, ngoài dân tộc Kinh, có khoảng hơn 1 triệu đồng bào các dân tộc chung sống Thành phố là nơi người Hoa cư trú đông nhất, chiếm 50% số người Hoa trong cả nước, chiếm khoảng 12% dân số thành phố, tập trung ở Quận 5
Trang 26Dưới thời Mỹ - Ngụy một số lớn binh lính, công nhân viên chức người nước ngoài như Mỹ, Pháp, Canada, Úc, Philippin, Đài Loan, Thái Lan… đến Sài Gòn
Do đó cộng đồng dân cư ở Sài Gòn – Gia Định có rất nhiều thành phần khác nhau
về địa phương, dân tộc, tôn giáo…
Người Việt có gốc miền Bắc di cư vào khoảng 33.000 người (năm 1954) cư trú ở các vùng Sài Gòn – Gia Định và Chợ Lớn, trong đó 75% là người công giáo
di cư từ các vùng Bắc Ninh, Bùi Chu, Phát Diệm, Hải Phòng, Hà Nội, Hưng Hóa, Lạng Sơn, Thái Bình, Thanh Hóa, Vinh… Số người này tập trung đông nhất ở các quận vành đai Sài Gòn như Tân Bình (chiếm 40% dân số quận và tập trung trong 12 phường), Gò Vấp (10 phường), Phú Nhuận (5 phường), Bình Thạnh (phân bố đều trong các phường)…
Người Việt gốc miền Trung di cư vào thành phố từ những năm 1959, 1960 và nhất là từ năm 1963 khi tình hình chính trị, chiến sự trở nên gay gắt ở miền Trung lúc bấy giờ Người gốc Quảng Nam tập trung ở khu Bảy Hiền, người Bình Định, Thừa Thiên và các tỉnh khác tập trung ở các xóm lao động vùng Cô Giang, Khánh Hội, Bàn Cờ…
Người Việt gốc lục tỉnh Nam Bộ như Tây Ninh, Long An, Đồng Nai hay An Xuyên (Bạc Liêu), Ba Xuyên (Sóc Trăng), Long Xuyên… qua những biến động thời cuộc đã lên thành phố để làm ăn sinh sống
Thành phố Hồ Chí Minh có đủ các thành phần dân cư , tất cả đều đoàn kết gắn bó lẫn nhau với tình tương thân giai cấp, trong chính sách dân tộc của Ðảng
"Ðoàn kết, tương trợ, bình đẳng"
3.2.2 Hoạt động phát triển kinh tế - xã hội
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi hoạt động kinh tế năng động nhất, đi đầu trong
cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế Nếu như năm 2001 tốc độ tăng GDP của thành phố là 7,4 % thì đến năm 2005 tăng lên 12,2% Phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao đã tạo ra mức đóng góp GDP lớn cho cả nước Tỷ trọng GDP của thành phố chiếm 1/3 GDP của cả nước
Có thể nói thành phố là hạt nhân trong vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN) và trung tâm đối với vùng Nam Bộ Với mức đóng góp GDP là 66,1% trong vùng(KTTĐPN) và đạt mức 30% trong tổng GDP của cả khu vực Nam Bộ
Kinh tế thành phố có sự chuyển dịch mạnh mẽ Năm 2005, năng suất lao động bình quân toàn nền kinh tế thành phố đạt 63,63 triệu đ/người/năm, năng suất lao động công nghiệp-xây dựng đạt 67,05 triệu đồng (bằng 105,4% năng suất lao động bình quân toàn nền kinh tế), năng suất lao động dịch vụ đạt 66,12 triệu đ (bằng 103,12%), năng suất lao động nông nghiệp đạt 13,66 triệu đồng (bằng 21,5%)
Thành phố là nơi thu hút vốn đầu tư nước ngoài mạnh nhất cả nước, kể từ khi Luật đầu tư được ban hành Số dự án đầu tư vào thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng số dự án đầu tư nước ngoài trên cả nước Năm 2005, đầu tư trực tiếp của nước ngoài tăng khá so với năm 2004, 258 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép với tổng vốn 577 triệu USD, tăng 4,5% về số dự án và 43,7% về vốn đầu tư
Có 145 dự án tăng vốn với số vốn điều chỉnh tăng 330 triệu USD Tính chung tổng vốn đầu tư kể cả tăng vốn là 907 triệu USD, tăng 7,7% Bên cạnh đó, có 5
dự án đầu tư ra nước ngoài có tổng vốn là 29,1 triệu USD
Trang 27Thành phố luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu ngân sách của nhà nước, mặc dù gặp nhiều khó khăn song thu ngân sách của thành phố vẫn không ngừng tăng Năm 2005, tổng thu ngân sách trên địa bàn 58.850,32 tỷ đồng, tăng 22,21% so với năm 2004, đạt 108,27% dự toán cả năm
Về thương mại, dịch vụ, thành phố là trung tâm xuất nhập khẩu lớn nhất nước Kim ngạch xuất nhập khẩu của thành phố ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn đạt 12,4 tỷ USD, tăng 26,1% so với năm 2004 (nếu không tính dầu thô, kim ngạch xuất khẩu tăng 17%) Trong đó, khu vực kinh tế trong nước tăng 28,5%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 23,5% Tổng mức hàng hóa bán lẻ tăng 21,1%, nếu loại trừ yếu tố biến động giá, tăng 11,4% Cơ sở vật chất ngành thương mại được tăng cường với khoảng 400 chợ bán lẻ, 81 siêu thị, 18 trung tâm thương mại, 3 chợ đầu mối Khu vực dịch vụ tăng trưởng vượt
kế hoạch, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất - kinh doanh và phục vụ đời sống dân cư Giá trị gia tăng các ngành dịch vụ tăng 12,2% so với năm 2004 Năng suất lao động của các ngành dịch vụ nói chung là 66,12 triệu đồng/người/năm (giá trị gia tăng) trong đó năng suất lao động của Thương mại là 51,6 triệu đồng/người/năm (bằng 78% năng suất lao động ngành dịch vụ)
Trang 283.3.1 Hiện trạng chất lượng môi trường không khí
Bảng 3.2 : Chỉ số chất lượng môi trường không khí (AQI) tại thành phố Hồ Chí Minh
Biểu đồ 3.1 : Biểu đồ chỉ số chất lượng môi trường không khí thành phố Hồ Chí Minh
Nếu chỉ số này có điểm từ 0-50: chất lượng không khí tốt; từ 51-100: trung bình-người dân nên hạn chế thời gian hoạt động trong khu vực này; 101-200: kém-người dân cũng nên hạn chế thời gian ở khu vực này; 201-300: xấu-tránh ra ngoài; trên 300: nguy hại-mọi người nên ở nhà
Nhận xét : Chất lượng môi trường không khí thành phố đã và đang ở mức
báo động, cảnh báo các cơ quan quản lý và Nhà Nước cần phải có những biện pháp hạn chế, khắc phục và cải thiện môi trường không khí trước khi các thảm hoại xấu có thể xảy ra
3.3.2 Hiện trạng chất lượng môi trường nước
Trang 293.3.2.1 Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt
Bảng 3.3 : Một số thông số đặc trưng chất lượng nước sông Sài Gòn – Đồng Nai tại
một số trạm quan trắc (Ngày 15 và 22 – 11 – 2006)
Thông số
Trạm
Phú Cường
Lý Nhơn
TCVN
5942 –
1995 mức A
TCVN
5942 –
1995 mức B
Bảng 3.4 : Số liệu ước tính mức xả nước thải theo ngành [21]
STT NGÀNH CÔNG NGHIỆP LƯỢNG NƯỚC THẢI (m 3 /ngày)
cơ sở chăn nuôi gia súc; các dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật thải ra
từ 1,8 triệu ha đất nông nghiệp trên lưu vực Ngoài ra, còn phải kể đến lượng chất thải nhiễm dầu của hàng chục bến cảng, hàng nghìn ghe tàu các loại cũng như các
sự cố tràn dầu ở khu vực hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai
Trang 30Hiện nay mới chỉ có 78/109 bệnh viện và trung tâm y tế đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải, 31 bệnh viện chưa có hệ thống xử lý nước thải, 10 bệnh viện đã có hệ thống xử lý nước thải nhưng không xử lý hết lượng nước thải được thải ra, 16 bệnh viện có hệ thống nhưng không đạt yêu cầu Và, trong số bệnh viện, trung tâm y tế có hệ thống xử lý nước thải thì… hầu hết hệ thống này do chưa được đầu tư đúng mức, việc bảo trì không được quan tâm đầy đủ nên đã xuống cấp, thậm chí đã hư hỏng và tạm ngưng hoạt động trong thời gian dài
3.3.2.2 Hiện trạng chất lượng môi trường nước ngầm (nước dưới đất)
Hiện trạng chất lượng nước ngầm
Kì I - 2006
Yếu tố thủy văn
Vì đang giữa muà khô, mực nước ngầm tầng nông của hầu hết các trạm ở khu vực Tp.HCM qua kết quả quan trắc kỳ 1/2006 đều thấp hơn so với lần quan trắc trước (tháng 11/2005) Tuy nhiên, so với độ sâu mực nước tĩnh ở đợt quan trắc cùng kỳ năm 2005 lại không có sự chênh lệch lớn
Nhiệt độ
Nhiệt độ nước ghi nhận ở các giếng qua kỳ quan trắc 1/2006 dao động trong khoảng từ 28,8 - 32,6oC Khoảng nhiệt độ này phù hợp điều kiện tự nhiên của khu vực khảo sát và có sự thay đổi theo mùa và thời gian trong ngày
Phèn sắt
Nồng độ sắt tổng đo được ở các trạm quan trắc nước ngầm trong kỳ quan trắc này dao động rất lớn trong khoảng từ 0,3 - 107 mg/l Ngoại trừ trạm Gò Cát (GMS2), Phú Nhuận (GMS7), Bàu Cát (GMS8), Phú Thọ (GMS9) đạt tiêu chuẩn cho phép đối với nước ngầm (TCVN 5944 - 1995 Fe: 1-5mg/l), các trạm còn lại vượt tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt là các trạm GMS1, GMS5, GMS4, vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,7 - 21,4 lần Bên cạnh đó, nếu so sánh nồng độ sắt tổng với kết quả quan trắc cùng kỳ năm 2005 cho thấy phần lớn các trạm đều có giá trị cao hơn (Biểu đồ 3.2) Điều này chứng tỏ mức độ ảnh hưởng của phèn tiềm tàng trong đất đến chất lượng nước ngầm ngày càng cao
Trang 31Biểu đồ 3.2 Diễn biến nồng độ Fe nước ngầm ở Tp.HCM kỳ quan trắc đợt 1 năm 2005 và 2006
Mức độ nhiễm mặn
Kết quả phân tích tổng chất rắn hồ tan (TDS) ở các giếng trên địa bàn thành phố qua kỳ quan trắc này dao động từ 104 - 2.641 mg/l Ngoại trừ trạm ở Tân Tạo (GMS10) cĩ nồng độ TDS khá cao và đã xác định bị nhiễm mặn qua các lần quan trắc trước, các giếng cịn lại đều đạt tiêu chuẩn cho phép (TCVN 5944 -
1995 TDS 750-1500 mg/l) Ở các kỳ quan trắc trước cho thấy khu vực bãi rác Đơng Thạnh (GMS1) đã cĩ xu hướng bị nhiễm mặn, trong đợt quan trắc cuả kỳ 1 năm nay mặc dù nồng độ TDS đo được ở trạm GMS1 khơng vượt tiêu chuẩn cho phép nhưng vẫn ở mức cao (Biểu đồ 3.3)
Diễn biến nồng độ sắt
Trang 32Biểu đồ 3.3 : Diễn biến nồng độ TDS nước ngầm ở Tp.HCM
kỳ quan trắc đợt 1 năm 2005 và 2006
Hàm lượng dinh dưỡng (NO3 - , NH4 + , P)
Nồng độ các chất dinh dưỡng như NO3-, NH4+, ?P đo được ở các giếng trong đợt quan trắc này đều đạt tiêu chuẩn cho phép đối với nước ngầm (TCVN 5944 - 1995) Một số trạm ở Phú Nhuận (GMS7), Phú Thọ (GMS9) tuy cĩ nồng độ NO3- NH4+ đạt tiêu chuẩn cho phép nhưng vẫn ở mức cao (NO3-: 16,7 - 40,1 mg/l)
Tổng Cacbon hữu cơ (TOC)
Kết quả phân tích nồng độ TOC ở các trạm quan trắc nước ngầm kỳ 1/2006 dao động trong khoảng từ 2,1 - 89,8 mg/l Theo tài liệu Đánh giá chất lượng nước cuả Deborah Chapman (1995), nồng độ TOC trong nước ngầm thường < 2mg/l, điều này cho thấy nước ngầm ở Tp.HCM đã cĩ biểu hiện cuả ơ nhiễm hữu cơ, đặc biệt là các trạm khu vực Bãi rác Đơng Thạnh - GMS1 (63,6 - 71,9 mg/l), Đơng Hưng Thuận - GMS2 (2.4 - 89,8 mg/l)
Diễn biến nồng độ TDS
Trang 33Biểu đồ 3.4 : Diễn biến nồng độ TOC nước ngầm ở Tp.HCM
Như vậy, qua kết quả phân tích chất lượng nước ngầm những tháng đầu năm
2006 cho thấy nước ngầm tầng nơng ở hầu hết các vị trí quan trắc trên địa bàn Tp.HCM tiếp tục bị ơ nhiễm hữu cơ, hàm lượng sắt tổng cao và nhiễm mặn ở một
số khu vực
Ngồi ra, Thành phố hiện cĩ trên 120.000 giếng khoan khai thác nước ngầm với mật độ bình quân khoảng 50 giếng/km2 Trong đĩ quận Phú Nhuận là khu vực tập trung nhiều giếng khoan nhất với 872 giếng/km2 Ngồi ra, cịn cĩ nhiều giếng khoan cĩ qui mơ khai thác từ vài chục ngàn m3 khối đến 100.000, 200.000
m3/ngày đêm như: Nhà máy nước ngầm Hĩc Mơn (cơng suất 120.000 m3/ngày đêm), các cơng ty sản xuất nước giải khát, rượu bia, nước tinh khiết ở các quận
12, Gị Vấp, Thủ Đức đưa tổng luợng nước ngầm đang khai thác trên tồn địa bàn Thành phố lên khỏang 530.000 m3/ngày đêm, chiếm trên 30% nhu cầu sử dụng nước của cả TP.HCM
Tuy nhiên, qua nhiều đợt kiểm tra của các cơ quan chức năng đối với trên 500
cơ sở đang hành nghề chuyên khoan giếng khai thác nuớc ngầm (trong đĩ cĩ khoảng 300 cơ sở cĩ giấy phép) cho thấy, phần lớn các cơ sở này đều cĩ kiến thức rất hạn chế về các tầng nước ngầm của Thành phố, khoan giếng khơng theo quy trình, quy hoạch mà chỉ nhằm đáp ứng theo yêu cầu của khách hàng
Mật độ giếng khoan tập trung quá dày ở nhiều khu vực nội và ngoại thành đã tạo thành các phễu nước dày đặc, khai thác nước quá mức, gây mất cân đối trong việc bổ sung trữ luợng nước ngầm, làm hạ thấp mực nước ngầm và nhất là gây ra
Nồng độ TOC
Trang 34tình trạng các tầng nuớc ngầm bị thấm và nhiễm bẩn, nhiễm mặn ngày càng nhanh hơn Cụ thể như hàm luợng hợp chất ô nhiễm nitơ, clo, hữu cơ đang tăng lên ở nhiều khu vực ngoại thành, nhất là gần các bãi rác lớn của Thành phố như bãi rác Đông Thạnh
Bên cạnh đó việc quản lý các đơn vị khoan giếng và các đối tượng khai thác của Thành phố chưa chặt chẽ nên việc khai thác nước ngầm đang diễn ra tràn lan
và khối luợng nước ngầm bị khai thác quá lớn dẫn đến tình trạng mực nước ngầm của TP.HCM bị tụt xuống gần 1 mét mỗi năm, cụ thể như huyện Củ Chi ở khá xa các nhà máy khai thác nước ngầm lớn của Thành phố, nhưng mực nước ngầm cũng bị tụt xuống từ 0.4 đến 0,74 mét/năm Và, trữ luợng nước ngầm của Thành phố ngày càng bị cạn kiệt nhanh chóng (mỗi ngày Thành phố khai thác khỏang 530.000 m3 nuớc ngầm, trong khi khả năng tự bổ sung chỉ khỏang 200.000
m3/ngày)
Chính điều này đã dẫn tới một kết quả tất yếu đó là sự thụt giảm nghiêm trọng trữ lượng nước dưới đất của thành phố, làm cho một số địa phương trên địa bàn thành phố đã bị lún cục bộ 5 – 20 cm, càng làm cho vấn đề ngập lụt vào mùa mưa của thành phố trở nên nghiêm trọng hơn
3.3.3 Hiện trạng quản lý chất thải rắn
Lượng rác và nước thải ngày một gia tăng nhanh chóng từ các thành phố đang đặt ra những mối đe doạ đối với sức khoẻ con người và môi trường Mỗi ngày thành phố Hồ Chí Minh thải ra hơn 6.000 tấn rác các loại Hàng năm có tới 5.2 triệu người, bao gồm 4 triệu trẻ em bị chết bởi các bệnh tật gây ra do việc thải bỏ không đúng đắn nước thải và chất thải rắn Chất thải đô thị làm ô nhiễm không khí, đất và nước trên một bình diện rộng lớn
Ở các nước đang phát triển, có dưới 10% chất thải đô thị là được xử lý, và chỉ
có một tỷ lệ nhỏ bé trong số được xử lý đó là đáp ứng tiêu chuẩn đề ra Vào cuối thế kỷ này, sẽ có tới trên 2 tỷ người thiếu các điều kiện vệ sinh cơ bản, và khoảng một nửa dân số đô thị ở các nước đang phát triển sẽ không có điều kiện để thải bỏ chất thải một cách thoả đáng
Mỗi năm TPHCM phải chi tới 140 - 150 tỷ tiền quét dọn vệ sinh đường phố, vỉa hè và khu công cộng; 4 - 5 tỷ đồng chi phí vớt chất thải rắn trên sông, kênh, rạch; 300 - 350 tỷ đồng tiền trung chuyển và vận chuyển chất thải rắn từ các nguồn phát sinh về bãi chôn lấp; 130 - 160 tỷ đồng tiền chôn lấp chất thải rắn và
xử lý môi trường; 150 - 200 tỷ đồng tiền xây các bãi chôn lấp và công trình phụ trợ đi cùng Tốc độ gia tăng các phí tổn trên ước khoảng 10% - 12%/năm Một thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường đã tìm ra câu trả lời cho vấn đề này
Đó là, phần lớn tiền thu được từ các hộ dân đều rơi vào tay các đầu nậu thu gom rác Tại TPHCM hiện nay có hai hai lực lượng thu gom rác chính: lực lượng rác dân lập và các công ty công ích các quận, huyện Các công ty công ích các quận, huyện chủ yếu thu gom rác ở các đường phố chính, còn ở các hẻm, các khu dân
cư là “địa bàn” của lực lượng rác dân lập Các hộ dân nằm ở các đường phố chính không nhiều và vì vậy các khoản thu về thu gom rác chủ yếu ở các hộ dân đều do lực lượng rác dân lập hưởng Một tính toán sơ bộ của ngành chức năng cho thấy,
“thị phần” của lực lượng rác dân lập lên đến hơn 60% và trung bình mỗi năm
lực lượng này thu được đến 120 - 140 tỷ đồng tiền rác mà nhà nước hoàn toàn
không thể quản lý được Hiện nay các khoản chủ yếu mà nhà nước có thể thu về
được cho ngân sách (hoặc dùng để nuôi lực lượng công ích) là tiền dịch vụ thu
Trang 35gom rác cho các doanh nghiệp do các công ty công ích thực hiện Công ty Môi trường đô thị TPHCM đang thực hiện thu gom rác và phế thải cho khoảng 300 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thành phố Công ty Dịch vụ công ích quận 4 đang thu gom rác của các công ty, xí nghiệp và các doanh nghiệp cảng trên địa bàn…
Ở ngoại thành, tỷ lệ này cao hơn nhiều, ước đến 30%, bởi dân cư nơi đây còn thưa thớt, lực lượng để xử lý hành vi ném rác bừa bãi gần như chưa có nên không
ít người dân cứ “vô tư” ném rác ra đường mà chẳng chịu nộp tiền thu gom rác Không phải chỉ có người dân mới có hành vi trốn nộp chi phí thu gom rác, không
ít doanh nghiệp cũng làm điều ấy Hiện nay, thành phố đặt khá nhiều bô rác suốt dọc nhiều tuyến đường để khách vãng lai bỏ rác Lợi dụng điều này, một số doanh nghiệp đã lén lút mang rác đến bỏ vào đấy “Chúng tôi đã từng thấy một xí nghiệp in chở cả xe tải nhỏ giấy phế liệu đến bỏ ở thùng rác trên đường Nguyễn Thị Minh Khai nhưng chẳng làm gì được họ”, theo lời một cán bộ của Công ty Môi trường đô thị kể [21]
Theo Chi cục Bảo vệ Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả quan trắc nước ngầm tầng nông khu vực TP.HCM gần đây cho thấy chất lượng nước ngầm
ở khu vực ngoại thành đang diễn biến ngày càng xấu Cụ thể nuớc ngầm ở trạm Đông Thạnh (huyện Hóc Môn) bị ô nhiễm Amoni (68,73 mg/lít, cao gấp 1,9 lần
so với năm 2005) và có hàm luợng nhôm cao, độ mặn tăng và mức độ ô nhiễm hữu cơ cũng tăng nhanh trong thời gian gần đây; nồng độ sắt ở trong nước ngầm của một số khu vực ngoại thành khác như Linh Trung, Trường Thọ (Thủ Đức), Tân Tạo (Bình Chánh) cũng khá cao (11,76 đến 27,83 mg/lít) vuợt tiêu chuẩn cho phép
Như vậy, hiện trạng của hệ thống quản lý chất thải rắn đã và đang là một trong những vấn đề nhức nhối của thành phố Sự không đồng bộ và thống nhất đã dẫn tới sự chống đối tiêu cực của một phần người dân thành phố, chúng ta cần có những giải pháp khả quan và cấp bách nhằm ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực có thể diễn ra trong một tương lai không xa
Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ tái chế chất thải còn rất hạn chế, chủ yếu
là tự phát do các có sở tư nhân và hộ kinh doanh ở các làng nghề thực hiện Việc thu gom, xử lý chất thải nguy hại chưa có được quy hoạch, đầu tư của nhà nước Một số công ty tư nhân nhận xử lý chất thải nguy hại nhưng năng lực hạn chế, công nghệ lạc hậu, chưa đáp ứng được các yêu cầu về bảo vệ môi trường
3.3.4 Hiện trạng mảng xanh thành phố
Hiện nay trong khu vực nội thành có khoảng 5.482.214 m2 cây xanh các loại, bao gồm 2.077.914 m2 cây xanh công viên, hơn 2.000.000 m2 cây xanh đường phố và 1.404.300 m2 cây xanh phân tán trong vườn của các cơ quan, hộ gia đình,
Trang 36Biểu đồ 3.5 : Phân bổ diện tích cây xanh nội thành thành phố Hồ Chí Minh 2006
Biểu đồ phân bổ diện tích cây xanh nội thành
Tỉ lệ che phủ cây xanh ở nội thành là 3,9% diện tích tự nhiên, trong đó cây xanh công viên chiếm 1,48%, cây xanh đường phố chiếm 1,42%, cây xanh phân tán chiếm 1%
Tỉ số cây xanh bình quân theo đầu người trong nội thành là 1,95 m2/người, trong đó tỉ số cây xanh công viên là 0,74 m2/người, tỉ số cây xanh đường phố là 0,71 m2/người, tỉ số cây xanh phân tán là 0,5 m2/người Sự phân bố cây xanh trong khu vực nội thành là không đồng đều
Trong khi đó ở khu vực ngoại thành các con số này là 535.153.272 m2 cây xanh, trong đó 315.153.272 m2 rừng tập trung và cây lâu năm, 220.000.000 m2
cây xanh phân tán, diện tích cây xanh công viên là 3.890.000 m2
Phân bổ cây xanh trong thành phố : trong toàn thành phố có khoảng 540.635.486 m2, trong đó nội thành chiếm 5.482.214 m2 (chiếm 1%), và ngoại thành có 535.153.272 m2 (chiếm 99%)
Tỉ lệ che phủ toàn thành phố là 26,3%, nội thành là 3,9% - ngoại thành là 27,9% Tỉ lệ cây xanh bình quân đầu người toàn thành phố là 13,74 m2/người, nội thành là 1,95 m2/người, ngoại thành là 473,6 m2/người
Biểu đồ 3.6 : Tỷ lệ che phủ cây xanh thành phố Hồ Chí Minh 2006
Tỉ lệ che phủ cây xanh 2006
3.9
27.9
0 5 10 15 20 25 30
Trang 37Như vậy sự phân bố cây xanh trong nội và ngoại thành là rất không đồng đều, chúng ta cần áp dụng các biện pháp ngăn chặn và đẩy lùi hậu quả trong tương lai Ngày nay, các căn hộ mọc lên san sát, những cơ sở hạ tầng khác cũng được củng
cố và xây dựng mới nhiều làm diện tích cây xanh trong nội thành không những không tăng mà còn có nguy cơ bị thụt giảm nghiêm trọng Lá phổi của thành phố đang bị cắt xén từng ngày để xây dựng nhà cửa, nhà hàng, khách sạn, đường xá,
3.3.5 Hiện trạng một số các hoạt động bảo vệ môi trường
Trong năm 2006, các Sở ban ngành như Sở tài nguyên – môi trường, Sở kế hoạch và đầu tư, Chi Cục bảo vệ môi trường, Viện kinh tế thành phố, Thành Đoàn thành phố, Sở Giao thông công chính, đã có rất nhiều các hoạt động nhằm cải thiện chất lượng môi trường và nâng cao nhận thức cộng đồng trong bảo vệ môi trường hay cải cách về hành chính Nhìn chung những việc làm này đã phần
nào huy động được sức dân, thực hiện tốt chủ trương “Dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra”
Tuy nhiên cũng cần phải nhìn nhận rằng những cố gắng này vẫn còn chưa đủ, hiệu quả lâu dài còn thấp
Ví dụ : hoạt động “Ngày chủ nhật xanh”, “Mùa hè xanh” do Thành Đoàn
phát động hàng năm chỉ đem lại những kết quả rất đáng ghi nhận Trong chiến dịch tình nguyện mùa hè xanh năm 2006, có thực hiện công trình cấp thành phố, được sự phối hợp chỉ đạo thực hiện giữa ba cơ quan là Thành Đoàn – Sở giao thông công chính – Sở tài nguyên môi trường thành phố, vận động sự tham gia của hơn 2.600 học sinh – sinh viên và người dân tham gia cải thiện môi trường kênh Tân Hóa – Lò Gốm Công trình mang lại hiệu quả to lớn đó là trong suốt quá trình thực hiện công trình "Cải thiện môi trường kênh Tân Hóa-Lò Gốm", cùng với các chiến sĩ mùa hè xanh đang tiến hành công trình ở hai bên bờ kênh, một số các chiến sĩ khác cũng tiến hành tuyên truyền ý thức bảo vệ môi trường kênh đến từng hộ dân Tại một số nơi như quận 11, Tân Phú đã vận động được sự tham gia cùng thực hiện của mình Đây là một yếu tố quyết định vì sau khi chiến dịch kết thúc, những người dân này sẽ là người chịu trách nhiệm duy trì và bảo vệ con kênh
Kết thúc chiến dịch, tổ chức Đoàn đã thực hiện được những kết quả cụ thể sau:
Phối hợp cùng chính quyền các địa phương tổ chức 72 phiên họp tổ dân phố với hơn 2.800 hộ dân sinh sống dọc theo tuyến kênh tham gia, tuyên truyền vận động ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường, vận động các gia đình không xả rác xuống lòng kênh
Vận động được hơn 200 người dân cùng tham gia cải thiện môi trường kênh Tân Hóa - Lò Gốm
Tổ chức hàng trăm lựơt phát thanh tuyên truyền ý thức bảo vệ môi trường trong thời gian thực hiện công trình
Phát hành 100.000 tờ rơi, 5.000 áp phích và 10 băng rôn tuyên truyền
Phối hợp cơ quan báo chí thông tin giới thiệu về công trình, thực hiện các nội dung, hình thức tuyên truyền
Tổ chức các đội Văn nghệ truyền thông lưu động đến từng khu dân cư ven tuyến kênh
Trang 38 Tổ chức tuyên truyền vận động các đơn vị sản xuất kinh doanh dọc tuyến kênh không xả nước thải ô nhiễm ra kênh, tiến hành rà soát lại các trường hợp phải di dời sản xuất ra khỏi khu vực dân cư
Nạo vét khơi thông dòng chảy kênh với chiều dài hơn 5.000 m
Tuy nhiên thực tế cho thấy sau khi chiến dịch kết thúc, Ban chỉ đạo công trình
đã bàn giao công trình với chính quyền địa phương nhưng sau 3 đến 4 tháng thì tình hình gần như trở lại hiện trạng ban đầu, duy chỉ một số đoạn – tuyến đường quận 6 là còn giữ lại được vẻ sạch đẹp của công trình
Một ví dụ khác đó là chương trình phân loại rác tại nguồn do Sở Tài nguyên – môi trường tổ chức Tuy mục tiêu thí điểm đạt được là nâng cao ý thức người dân trong việc phân loại rác, nhưng sự thiếu đồng bộ trong quy trình từ địa phương đến TP đã đặt chương trình trong tình thế không chóng thì chày sẽ phá sản Thực
tế còn tồn tại những khó khăn như, về phía người dân là thói quen cũ còn nặng, thực hiện lấy lệ, chưa tự giác, chỉ làm khi được nhắc nhở
Tuy nhiên, phức tạp nhất là hiện tượng phân loại rồi đổ chung Qua kiểm tra cho thấy, những người đi nhặt ve chai đã bới tung và trộn lẫn các rác được người dân phân loại khi họ để trước nhà chờ xe lấy rác Một số đơn vị thu gom rác dân lập sử dụng xe thô sơ (ba gác đạp, ba gác máy, xe lam), chưa đầu tư xe rác cải tiến với thiết kế hai ngăn riêng biệt nên cũng dẫn đến tình trạng rác được phân loại bị trộn lẫn trong quá trình vận chuyển
Chưa hết, hiện mỗi ngày lượng rác trên toàn địa bàn quận 6 khoảng 330 tấn, song địa phương chỉ có trạm trung chuyển rác Bà Lài với công suất 60 tấn/ngày
và công nghệ không đáp ứng được nhu cầu phân loại rác Tiếp đó từ trạm rác lại chở lên bãi rác Gò Cát để chôn lấp chứ không phải được xử lý Trao đổi về việc này, nhiều người dân tỏ ra bức xúc khác nào chương trình đang sử dụng công nghệ “phân loại rồi đổ chung”, khiến công sức của các hộ gia đình đem đổ sông, đổ biển!
Như vậy các hoạt động bảo vệ môi trường đang được triển khai mạnh mẽ nhưng hiệu quả của các công trình này cần phải được chú trọng việc duy trì chất lượng công trình hơn nữa
Trang 39Chương 4
Nghiên cứu đánh giá sự thỏa mãn
của người dân
về môi trường thành phố
Hồ Chí Minh
Trang 40Chương 4 Nghiên cứu xây dựng hệ thống đánh giá sự thỏa mãn của người dân
về môi trường thành phố Hồ Chí Minh 4.1 Mục tiêu
Mục tiêu của bản khảo sát tham vấn ý kiến người dân thành phố về môi trường thành phố Hồ Chí Minh đó là thu thập một cách khách quan ý kiến của người dân địa phương về hiện trạng môi trường và hiện trạng hệ thống quản lý môi trường thành phố
Thu thập ý kiến kiến và đánh giá chủ quan dựa trên nhận thức và trình độ hiểu biết của người dân thành phố về môi trường thành phố
Thống kê, phân loại và đánh giá các số liệu thu thập được Biểu diễn các số liệu thu thập được dưới dạng bảng biểu, biểu đồ,
4.2 Cơ sở lựa chọn
Các thông tin thu thập được cần phản ánh chính xác và khách quan các nội dung về tên, tuổi, địa chỉ, thời gian lưu trú tại địa chỉ trên, trình độ học vấn, tình trạng sức khỏe hiện tại, cảm nhận và đánh giá chủ quan của bản thân về các vấn
đề ô nhiễm môi trường chính của thành phố, kèm theo đó là các ý kiến và giải pháp đề xuất
Các cơ sở thông tin đề xuất thu thập dựa trên kinh nghiệm thực tế bản thân và tham khảo các phiếu điều tra, tham vấn do Chi Cục bảo vệ môi trường, Thành Đoàn thành phố thực hiện
4.3 Xây dựng phiếu điều tra