Cùng với quá trình gia tăng dân số, nước thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất, sinh hoạt, làng nghề, khu công nghiệp, nuôi trồng thủy sản cũng gia tăng nhưng hiện không được thu gom
TỔNG QUAN
Tính c ấp thiết của đề tài
Bến Tre là một trong 13 tỉnh của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), hợp thành bởi ba cù lao (An Hóa, Bảo và Minh) trên bốn nhánh sông lớn (sông Tiền, Hàm Luông, Ba Lai và Cổ Chiên).
Cùng với quá trình gia tăng dân số, nước thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất, sinh hoạt, làng nghề, khu công nghiệp, nuôi trồng thủy sản cũng gia tăng nhưng hiện không được thu gom và xử lý triệt để mà xả thải trực tiếp ra hệ thống sông rạch của tỉnh, gây ô nhiễm cục bộ, ảnh hưởng đến chất lượng nước (CLN) tại các nhánh kênh rạch nội đồng trong khu vực
Trong công tác quản lý môi trư ờng tỉnh Bến Tre, việc thiết lập hệ thống quan trắc CLN đã được bắt đầu từnăm 2005 và liên tục thực hiện, bổ sung cho đến nay Tuy nhiên, quá trình vận hành hệ thống vẫn còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong việc xác định tần suất quan trắc, kỹ thuật và phân tích mẫu, điều này góp phần ảnh hưởng đến việc theo dõi diễn biến CLN trên toàn tỉnh Đề tài “Đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống quan trắc chất lượng nước mặt tại tỉnh Bến Tre và đề xuất giải pháp cải thiện” được thực hiện nhằm xem xét lại quá trình xây dựng hệ thống quan trắc trên địa bàn tỉnh Từ đó đưa ra những giải pháp đề xuất để cải thiện, phản ánh kịp thời và chính xác hiện trạng chất lượng nước Bên cạnh đó góp phần hiệu quả cho công tác quản lý tài nguyên nư ớc mặt tại
Bến Tre nói riêng và Việt Nam nói chung.
M ục tiêu và nội dung nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống quan trắc chất lượng nước mặt, đề xuất các giải pháp cải thiện công tác quan trắc, góp phần quản lý tốt hơn chất lượng nước mặt tại tỉnh Bến Tre
Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Tìm hiểu vềđiều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu
- Tìm hiểu về quan trắc môi trường và hệ thống quan trắc chất lượng nước
- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước và hiện trạng họat động của hệ thống quan trắc chất lượng nước mặt tại tỉnh Bến Tre
- Đề xuất giải pháp cải thiện phù hợp và hiệu quảhơn.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát thực địa: khảo sát hiện trạng chất lượng nước mặt, thực địa tại các trạm quan trắc CLN mặt tại tỉnh Bến Tre Tham gia thu mẫu CLN tại các trạm quan trắc
- Phương pháp thu thập thông tin: thu thập các thông tin có liên quan đến chất lượng nước, công tác quan trắc nước mặt, kênh sông tại tỉnh Bến Tre, các số liệu quan trắc từnăm 2008 – 2011 Các thông tin tổng quan vềđiều kiện kinh tế - xã hội tại Bến Tre
- Phương pháp phân tích xử lý số liệu: sau khi thu thập tài liệu và số liệu cần thiết, tiến hành phân tích và tổng hợp lại, chọn ra những thông tin thật sự có giá trị và cần thiết
- Phương pháp kế thừa: kế thừa lại những thông tin, số liệu đã có trước đây, so sánh với hiện tại và rút ra nhận xét
- Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: tham khảo từ các giảng viên, chuyên viên và chuyên gia trong lĩnh vực quan trắc, quản lý tài nguyên nước.
Ph ạm vi nghiên cứu
Hệ thống quan trắc chất lượng nước mặt tại tỉnh Bến Tre
Ý ngh ĩa khoa học và thực tiễn
Việc đánh giá lại công tác hoạt động của các trạm quan trắc này góp phần cải thiện hiệu quả nhằm mang lại lợi ích cao nhất từ công tác quan trắc chất lượng nước để quản lý nguồn nước mặt tốt hơn.
Góp phần hoàn thiện hệ thống quan trắc chất lượng nước mặt tại tỉnh Bến Tre, để có được những cơ sở dữ liệu chính xác phục vụ cho các công tác tham khảo hay nghiên cứu khoa học sau này.
TỔNG QUAN
T ổng quan về tỉnh Bến Tre
2.1.1.1 V ị trí địa lý và địa hình
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 2.360,2 km 2
Về tọa độđịa lý tỉnh Bến Tre nằm trong giới hạn từ 9
, chiếm 5,84% diện tích vùng ĐBSCL với đường bờ biển kéo dài trên 65km, chia thành 9 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm một thành phố và 8 huyện (Châu Thành, Bình Đ ại, Giồng Trôm, Chợ Lách, Thạnh Phú, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc và Ba Tri) o48’ đến 11 o 20’ vĩ độ Bắc và
Về ranh giới địa lý:
- Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, có ranh giới chung là sông Tiền
- Phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Trà Vinh, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh
Vĩnh Long; có ranh giới chung là sông Cổ Chiên
- Phía Đông giáp biển (Hình 2.1)
Hình 2.1: Hình vị trí địa lý tỉnh Bến Tre Địa hình của tỉnh Bến Tre tương đối bằng phẳng và có khuynh hướng thấp dần từ hướng Tây Bắc xuống Đông Nam Nhìn chung, địa hình tỉnh thích hợp cho việc sản xuất nông nghiệp trên qui mô lớn Tuy nhiên, địa hình bị sông rạch chia cắt mạnh, có nhiều vùng trũng, nền đất yếu và khảnăng chịu lực kém
Nền nhiệt độ trung bình tương đối cao và ổn định, không có sự phân hóa mạnh theo không gian Nhiệt độ bình quân hàng năm là 27 o C; tháng I, II và XII có nhiệt độ trung bình thấp nhất là 24,1 o C và cao nhất là 29 o
Lượng mưa phân hóa thành 2 mùa rõ r ệt, cụ thể là mùa mưa từ tháng V đến tháng
XI và mùa nắng từ tháng XII đến tháng IV năm sau Lượng mưa trung bình trong năm thấp và giảm dần vềhướng Đông, vào khoảng 1.317 mm/năm, trong đó lượng mưa vào mùa khô chỉ chiếm từ 2 - 6% tổng lượng mưa cả năm Độ ẩm không khí trung bình nhìn chung tương đ ối cao, từ khoảng 79 - 87%, không có sự phân hóa mạnh theo mùa với chênh lệch độẩm giữa tháng ẩm nhất và tháng khô nhất là 8%
C vào tháng IV Tổng số giờ nắng trung bình trong năm là 2.018 gi ờ Mùa khô có lượng nắng trung bình 6 - 8 giờ/ngày còn mùa mưa là 4 - 5 giờ/ngày Địa bàn chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính là gió mùa Tây - Tây Nam thường xuất hiện trong mùa mưa, tốc độ trung bình 1,0 – 1,2 m/s, tốc độ tối đa 10 - 18 m/s và gió Đông - Đông Bắc (gió chướng) thổi theo hướng từ biển vào mùa khô có tác dụng làm dâng mực nước triều, đẩy mặn xâm nhập sâu vào đất liền, tốc độ trung bình dư ới 3m/s
2.1.1.3 Địa chất Đặc tính thổ nhưỡng chia làm 5 nhóm chính là đất cát giồng, đất mặn, đất phèn, đất phù sa và đất tác nhân Ngoài nhóm đất tác nhân (đất lập líp) chiếm gần 40% diện tích tự nhiên, còn lại nhóm đất phù sa và nhóm đất mặn chiếm qui mô lớn nhất và bao gồm nhiều loại hình đất do đặc điểm hình thành đất ở vùng này, nhóm đất phèn và đất cát chỉ chiếm qui mô nhỏ và phân bố cục bộở một số khu vực đặc trưng.
Bến Tre có mạng lưới sông ngòi chằng chịt với tổng chiều dài xấp xỉ 4.600 km Ngoài 4 con sông lớn là sông Tiền, sông Cổ Chiên, sông Hàm Luông, sông Ba Lai thì trên địa bàn tỉnh còn có nhiều con sông, kênh, rạch lớn nhỏ khác.
Vùng biển có chế độ bán nhật triều không đều và có biên độ triều khá lớn, vào kỳ triều cường độ lớn từ 3 - 4m, triều kém độ lớn từ 0,5 - 1m Vào kỳ nước cường, dòng chảy ở vùng cửa sông đạt giá trị khá lớn, tại khu vực trước cửa sông tốc độ của nó có thểđạt tới 5-7m/s, càng sâu vào trong tốc độ càng giảm và chỉ đạt từ 1,5–2,5m/s
Dòng chảy mùa khô có xu hướng đi từ Nam lên Bắc, tuy nhiên do ảnh hưởng của đường bờ biển và địa hình đáy biển mà từng nơi có các hướng chảy riêng biệt Dòng chảy mùa mưa có hướng từ Bắc xuống Nam Khu vực ngoài khơi có dòng chảy ổn định hơn so với khu vực gần bờ Khu vực gần các cửa sông lớn do ảnh hưởng của các dòng sông và các khu vực có địa hình biến đổi phức tạp nên diễn biến phức tạp hơn
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Kết quả báo cáo tổng kết hàng năm của tỉnh ghi nhận tốc độ phát triển kinh tế của năm sau luôn cao hơn năm trước, điển hình như tốc độtăng trưởng kinh tế trong các giai đoạn 2001 - 2005 và giai đoạn 2005 - 2007 tương ứng là 9% và 10,7%, chủ yếu là do ngành thủy sản, xây dựng và dịch vụ phát triển nhanh Các mặt hàng chế biến chủ lực của tỉnh tăng nhanh, nhất là các mặt hàng từ dừa và thủy sản
Sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn 2005 - 2010 đã có những bước chuyển rõ rệt, giúp khắc phục tình trạng đói nghèo, lạc hậu, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trong tỉnh Đồng thời tạo thêm việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao mức sống của người dân, củng cố an ninh quốc phòng
Sựgia tăng dân số tự nhiên tại tỉnh tuy có giảm nhưng vẫn ở tỷ lệ cao, tỷ lệtăng dân số tựnhiên năm 2005 là 9,73% và năm 2009 tăng là 8,42% (Hình 2.2)
Hình 2.2: Sơ đồ gia tăng dân số tỉnh Bến Tre (2000-2009) (Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường 5 năm tỉnh Bến Tre, 2010)
Dân số đô thị có khuynh hướng tăng do dân sốnông thôn đổ về đô thị làm kinh tế ngày càng nhiều, cơ cấu dân số nông thôn - thành thị tại tỉnh hiện nay là 90% - 10% và đang có khuynh hướng tăng tỷ lệ dân số thành thị Đồng thời, dân số hiện phân
Dân số Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bốkhông đều giữa các khu vực, chủ yếu tập trung tại các trung tâm thị trấn của các huyện vùng ngọt phía Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày Bắc và Mỏ Cày Nam với mật độ dân cư cao, các huyện vùng biển có mật độ dân cư thấp hơn (huyện Thạnh
Phú, Bình Đ ại và Ba Tri) Chính sự chênh lệch dân số này đã gây sức ép đến đất đai, khả năng cung cấp năng lượng, tài nguyên thiên nhiên, chất lượng môi trường tại các khu vực có mật độ dân sốđông
Hiện nay, vấn đề gia tăng dân và phân bốdân cư tại tỉnh Bến Tre tuy chưa gây ảnh hưởng nghiêm trọng nhưng cũng đã tạo ra những áp lực lớn đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường của tỉnh
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG HỆ THỐNG QUAN
H ệ thống quan trắc chất lượng nước mặt tại tỉnh Bến Tre
Hệ thống quan trắc CLN của tỉnh Bến Tre bao gồm 6 mạng lưới như sau:
- Mạng lưới quan trắc CLN trên sông rạch chính (18 vị trí)
- Mạng lưới quan trắc CLN chảy qua thị xã thị trấn (18 vị trí)
- Mạng lưới quan trắc CLN vùng cửa sông, cửa biển (4 vị trí)
- Mạng lưới quan trắc CLN vùng ven biển (3 vị trí)
- Mạng lưới quan trắc CLN kênh nội đồng (8 vị trí)
- Mạng lưới quan trắc CLN phục vụ nuôi trồng thủy sản (3 vị trí)
3.1.1 Thông tin về các mạng lưới quan trắc trong hệ thống
3.1.1.1 M ạng lưới quan trắc CLN trên sông rạch chính
Mạng lưới quan trắc nước trên sông rạch chính gồm 18 trạm với tọa độ và vị trí như sau: (Bảng 3.1)
Bảng 3.1: Các vị trí lấy mẫu trên sông rạch chính Stt Kí hiệu Tọa độ Địa điểm lấy mẫu Thị xã, Huyện
626086.22 Phà Tân Phú H Châu Thành
647605.08 Phà Hàm Luông TP Bến Tre
632430.99 Cầu Phú Long – xã Tân Phú
658175.18 Vàm An Hóa – xã Giao Hòa
657519.82 Ngã 3 An Hóa – xã An Hóa
Chợ Bang Tra – xã Nhuận
651212.40 Vàm Đồn – xã Hương Mỹ H Mỏ Cày Nam
Sông Hàm Luông – xã Phước Long
667957.60 Vàm Ông Hổ – xã Thới Lai
676980.29 Bến Cát – xã Định Trung
676564.11 Bến đò Rạch Gừa, xã Tân Mỹ H Ba Tri
667027.69 Bến Trại, xã An Thuận H Thạnh Phú
3.1.1.2 M ạng lưới quan trắc CLN chảy qua thị xã thị trấn
Mạng lưới quan trắc nước chảy qua thị xã thị trấn gồm 18 trạm với tọa độ và vị trí như sau: (Bảng 3.2)
Bảng 3.2: Các vị trí lấy mẫu ở sông chảy qua thị xã thị trấn
Stt Kí hiệu Tọa độ Địa điểm lấy mẫu Thị xã, Huyện
647960.10 Cầu Sân Bay, xã Sơn Đông
652788.69 Cầu Gò Đàng, xã Phú Hưng
7 NM – 25 1132874.51 Cầu Bà Mụ – phường Phú
Cầu Ba Lai – thị trấn Châu
622285.01 Kênh chợ Lách H Chợ Lách
645677.25 Sông thị trấn Mỏ Cày
664814.97 Sông thị trấn Giồng Trôm H Giồng Trôm
686204.73 Sông Bình Thắng H Bình Đại
674875.00 Sông thị trấn Ba Tri H Ba Tri
666815.29 Sông thị trấn Thạnh Phú H Thạnh Phú
3.1.1.3 M ạng lưới quan trắc CLN vùng cửa sông, cửa biển
Mạng lưới quan trắc chất lượng nước tại vùng cửa sông cửa biển gồm 4 trạm với tọa độ và vịtrí như sau: (Bảng 3.3)
Bảng 3.3: Các vị trí lấy mẫu ở sông chảy qua thị xã thị trấn
Stt Kí hiệu Tọa độ Địa điểm lấy mẫu Thị xã, Huyện
Cửa Ba Lai (đập Ba Lai)
Cửa Hàm Luông (cảng cá An
Cửa Đại (cảng cá Bình Thắng) H Bình Đại
Cửa Cổ Chiên (xã Thạnh Phong
3.1.1.4 M ạng lưới quan trắc CLN vùng ven biển
Mạng lưới quan trắc chất lượng tại vùng ven biển gồm 3 trạm với tọa độ và vị trí như sau: (Bảng 3.4)
Bảng 3.4: Các vị trí lấy mẫu ở sông chảy qua thị xã thị trấn
Stt Kí hiệu Tọa độ Địa điểm lấy mẫu Thị xã, Huyện
Biển Bình Đại (xã Thừa Đức)
Biển Ba Tri (xã An Thủy) H Ba Tri
Biển Thạnh Phú (xã Thạnh Hải)
3.1.1.5 M ạng lưới quan trắc CLN kênh nội đồng
Mạng lưới quan trắc chất lượng nước trên kênh nội đồng gồm 8 trạm với tọa độ và vịtrí như sau: (Bảng 3.5)
Bảng 3.5: Các vị trí lấy mẫu ở sông chảy qua thị xã thị trấn Stt Kí hiệu Tọa độ Địa điểm lấy mẫu Thị xã, Huyện
647057.23 Xã Bình Phú TP Bến Tre
651467.88 Xã Phú An Hòa H Châu Thành
633127.25 Xã Vĩnh Thành H Chợ Lách
641487.48 Xã Tân Thành Bình H Mỏ Cày Nam
661616.48 Xã Lương Quới H Giồng Trôm
679461.52 Xã Tân Thủy H Ba Tri
664874.76 Xã Châu Hưng H Bình Đại
662419.76 Xã Qưới Điền H Thạnh Phú
3.1.1.6 M ạng lưới quan trắc CLN phục vụ nuôi trồng thủy sản
Mạng lưới quan trắc chất lượng nước phục vụ nuôi trồng thủy sản gồm 3 trạm với tọa độ và vịtrí như sau: (Bảng 3.6)
Bảng 3.6: Các vị trí lấy mẫu ở sông chảy qua thị xã thị trấn Stt Kí hiệu Tọa độ Địa điểm lấy mẫu Thị xã, Huyện
Bãi Ngao cầu K2 – xã An Thủy H Ba Tri
Phà Cầu Ván – xã An Nhơn H Thạnh Phú
3.1.2 Thông số và tần suất lựa chọn
Các thông số và tần suất quan trắc được chọn thể hiện ở Bảng 3.7
Bảng 3.7: Thông số quan trắc tại từng khu vực
Stt Khu vực Thông số Ghi chú
10 thông số: pH, SS, độ mặn,
Mn: tùy thuộc theo từng năm
, Fe, Mn, BOD 5 , COD, Coliform
2 Sông chảy qua thị xã thị trấn
9 thông số: pH, SS, NH 4 + , NO 3 - Mn và độ mặn: tùy thuộc theo từng năm
Fe, Mn, BOD5, COD, Coliform
10 thông số: pH, SS, độ mặn,
NO 3 , Fe, Mn, BOD 5 , COD, Coliform, dầu mỡ khoáng
Mn: tùy thuộc theo từng năm : không có
10 thông số: pH, SS, độ mặn,
NO 3 , Fe, Mn, BOD5, COD, Coliform, dầu mỡ khoáng
5 Kênh nội đồng 9 thông số: pH, SS, NH 4 + , NO 3 - Mn: tùy thuộc theo từng năm
Fe, Mn, BOD5, COD, Coliform
10 thông số: pH, SS, độ mặn,
NO 3 , Fe, Mn, BOD5, COD, Coliform, dầu mỡ khoáng
Mn: tùy thuộc theo từng năm : không có
Tần suất thu mẫu: công tác này định kỳđược thực hiện từ năm 2005 với tần suất 2 lần/năm đối với mẫu nước mặt (một lần vào mùa khô - tháng 4, và một lần vào mùa mưa - tháng 11, và 1 lần/năm đối với mẫu không khí và đất Đến năm 2010, tần suất quan trắc chất lượng môi trường tại tỉnh tăng lên 2 lần/năm đối với tất cả các thành phần môi trường
3.1.3 Phương pháp thu và phân tích mẫu
Phương pháp thu mẫu thường dùng là lấy mẫu từ cầu, lấy mẫu từ thuyền, lội xuống lấy mẫu
Các phương pháp phân tích mẫu được thể hiện ở Bảng 3.8
Bảng 3.8: Các phương pháp phân tích mẫu
Stt Chỉ tiêu Phương pháp thử Đơn vị
2 Độ mặn Thiết bị chuyên dùng o
10 Dầu mỡ khoáng TCVN 5070:1995 mg/l
Hi ện trạng chất lượng nước mặt trên toàn tỉnh Bến Tre
3.2.1 Chất lượng nước trên các sông rạch chính
Biến thiên giá trịpH được thể hiện như sau: (Hình 3.1)
Hình 3.1: Biến thiên giá trị trung bình pH qua các năm
- Trong các năm 2008, 2009, 2011 chỉ số pH biến thiên tương ứng từ 6,8–7,4, 6,7–7,3 và 6,9–7,6 Sự biến thiên của trị số pH qua các năm cũng không có sựthay đổi đáng kể, dao động từ 6,7–7,6 Lưu ý, năm 2008 không có số liệu tại các trạm NM-3, 5, 8
- Trong năm 2008, sự dao động giữa các trạm là không nhiều, tại 2 trạm thượng nguồn thì nước có tính trung hòa, chỉ số cao nhất tại trạm NM-12 và thấp nhất tại trạm NM-14 Trong năm 2009, giữa các trạm có sự dao động nhẹ, tăng cao tại trạm NM-17 và giảm thấp nhất tại trạm NM-4 Trong năm
2011, giữa các trạm có sự tăng giảm nhẹ nhưng khá đồng đều Biểu đồ cho thấy, so với năm 2008, thì vào năm 2009 nước có tính axit hóa cao hơn và đã lấy lại mức trung bình vào năm 2011.
- Tại tất cả các trạm trong từng năm và sự biến thiên nồng độ qua các năm, nhìn chung đ ều thuộc giới hạn cho phép của QCVN 08:2008 (loại A2) Tại các trạm qua các năm cũng chưa thấy có sự thay đổi bất thường
3.2.1.2 Hàm lượng chất rắn lơ lửng (SS) (mg/l)
Biến thiên hàm lượng chất rắn lơ lửng được thể hiện như sau: (Hình 3.2)
Hình 3.2: Biến thiên hàm lượng SS (mg/l) trung bình qua các năm
- Trong các năm 2008, 2009, 2011 hàm lượng SS biến thiên tương ứng từ 46– 280mg/l, 26–230mg/l và 62–204mg/l Biểu đồ cho thấy, tại các trạm thượng nguồn, do không chịu ảnh hưởng của các nguồn tác động như khu dân cư,
CN hay nuôi trồng thủy sản nên hàm lượng SS trong nước thấp, tuy nhiên càng về phía hạlưu thì hàm lượng SS tăng dần
- Trong năm 2008, hàm lượng chất lơ lửng trong nước tương đối thấp và ổn định tại các trạm thượng nguồn đến trạm NM-12, từ đó trở đi hàm lượng SS tăng dần, đỉnh điểm là tại trạm NM-15 (Bến Cát, xã Đ ịnh Trung) với hàm lượng lên tới 280mg/l Trong năm 2009, hàm lượng SS có sự biến thiên liên tục giữa các trạm, đặc biệt cao tại trạm NM-15 (230 mg/l) và giảm mạnh ở trạm NM-17 (29 mg/l) Năm 2011, có sự biến đổi tương đối đồng đều từ trạm NM-1–13, tuy nhiên tăng đột ngột ở trạm NM-15 và lại giảm ở trạm
NM-17, do tại đó là cống đập Ba Lai có tác dụng ngăn mặn tạo nguồn ngọt, đồng thời là nguồn cấp nước cho nông nghiệp nên hàm lượng SS tại đó không cao
- Biểu đồ cho thấy, qua các năm có sự thay đổi hàm lượng SS tại các trạm, có trạm cao vào năm 2008 nhưng lại thấp vào năm 2011, và ngược lại, một số trạm có giá trị thấp năm 2008 lại cao khi tới năm 2011 Đặc biệt trạm NM-15 tại xã Đ ịnh Trung có hàm lượng SS cao qua các năm do nơi đây người dân chặt dừa đào ao nuôi tôm, một lượng lớn nước thải được thải thẳng ra sông mà không qua bất kỳ công đọan xử lý nào Nhìn chung, hàm lư ợng SS qua các năm đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 6,8 – 9,3 lần QCVN 08:2008, còn lại một số trạm vẫn thuộc giới hạn cho phép
Biến thiên hàm lượng Fe được thể hiện như sau: (Hình 3.3)
Hình 3.3: Biến thiên hàm lượng Fe (mg/l) trung bình qua các năm
- Trong các năm 2008, 2009, 2011 hàm lượng Fe biến thiên tương ứng từ 1– 5,8 mg/l, 0,7 –2,8 mg/l và 0,5–3,5 mg/l Lưu ý, năm 2008, không có s ố liệu tại các trạm NM-3, 5, 8
- Biểu đồ cho thấy, giữa các trạm trong năm 2008 có sự biến thiên liên tục, tăng đột ngột tại trạm NM-13 với giá trị 5,8 mg/l sau đó thì giảm dần Năm
2009 hàm lượng Fe có sựdao động mạnh giữa các trạm, đặc biệt kể từ trạm NM-9 trở đi, hàm lượng Fe ngày càng tăng đến mức cao nhất là 2,8 mg/l
(trạm NM-15), sau đó giảm xuống dần tại trạm NM-17 Năm 2011, có sự dao động mạnh mẽ giữa các trạm, thể hiện qua nồng độ Fe tăng dần từ thượng nguồn trở vềsau, đạt mức cao nhất tại trạm NM-8 (3,5mg/l) rồi sau đó giảm xuống thấp nhất tại trạm NM-10 (0,5 mg/l)
- Nhìn chung, tại những trạm có hàm lượng Fe nhỏ nhất thì nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 08:2008, còn lại các trạm thì thuờng vượt tiêu chuẩn không nhiều, từ 2,8–5,8 lần Ngoài ra, ta cũng thấy rằng, hàm lượng Fe có xu hướng giảm dần từnăm 2008 đến năm 2011
Biến thiên nồng độ NH 4 + được thể hiện như sau: (Hình 3.4)
Hình 3.4: Biến thiên nồng độ NH 4 +
(mg/l) trung bình qua các năm
- Nồng độ NH 4 + trong các năm 2008, 2009, 2011 biến thiên tương ứng từ 0,07–0,35 mg/l, 0,06–0,34 mg/l và 0,02–0,4mg/l
- Biểu đồ cho thấy, trong năm 2008, chỉ một số trạm có nồng độ NH 4 + cao, như trạm NM-9 với 0,4mg/l, sau đó thì giảm dần Năm 2009, có sự biến đổi liên tục giữa các trạm, đa số đều thấp, chỉ cao tại các trạm NM-11,16 và 17 chứng tỏ nguồn nước tại đây đã bị ô nhiễm do trạm NM-16 là tại bến đò, rác thường được xả ven bờ rất nhiều Năm 2011, có sự biến thiên mạnh mẽ giữa các trạm, tăng đột biến tại trạm NM-11 với 0,4 mg/l, sau đó thì giảm dần
- Trong các năm từ 2008 – 2011 thì nồng độ NH 4 + không có sựthay đổi nhiều, dao động ít qua các năm và đa số đều thuộc giới hạn cho phép của QCVN 08:2008, chỉ một số trạm có sựđột biến, sau đó thì giảm dần
Biến thiên nồng độ NO 3 - được thể hiện như sau: (Hình 3.5)
Hình 3.5: Biến thiên nồng độ NO 3 -
(mg/l) trung bình qua các năm
- Nồng độ NO 3 - trong các năm 2008, 2009, 2011 biến thiên chỉ từ 0,085–1,1 mg/l, lưu ý tại các trạm NM-3, 5, 8 không có số liệu
- Biểu đồ cho thấy, trong năm 2008 và 2011, giữa các trạm có sựdao động rất thấp và tương đối ổn định giữa các trạm Riêng năm 2009 có sự dao động nhiều hơn, tuy nhiên cũng chỉở mức thấp, từ 0,2–1 mg/l
Đánh giá hiện trạng hoạt động của hệ thống quan trắc chất lượng nước
Các thông số và vị trí quan trắc chất lượng nước trên sông rạch chính được thống kê như sau: (Bảng 3.9)
Bảng 3.9: Thông số và vị trí quan trắc trên sông rạch chính
Năm Thông số (10) Vị trí (18) Ghi chú
2008 pH, SS, độ mặn, NH4 +
NO 3 - , Fe, Mn, BOD 5 , COD, Coliform
2009 pH, SS, độ mặn, NH 4 + ,
NO 3 - , Fe, Mn, BOD 5 , COD, Coliform
18 vị trí (từ 1 – 18) Cả2 đợt
2010 pH, SS, độ mặn, NH 4 + ,
15 vị trí (thiếu vị trí 3,
5, 8) chỉ có số liệu đợt 1, không có thông số
(mùa khô) pH, SS, độ mặn, NH4 +
, Fe, Mn, BOD5, COD, Coliform
(mùa mưa) pH, SS, độ mặn, NH4 +
18 vị trí (từ 1 – 18) Không có thông số
Các vị trí lấy mẫu cũng chưa liên tục, như vậy sẽ gây khó khăn cho việc theo dõi diễn biến của số liệu theo không gian Ngoài ra, có một số vị trí như NM-6, NM-8 không nằm trên dòng chính mà thuộc địa phận của huyện Về sốlượng trạm thì khá đầy đủđểđánh giá toàn cảnh chất lượng nước trên sông rạch chính
Thông số: Mn chưa được quan trắc liên tục, do đó sẽ ảnh hưởng đến tính liên tục của số liệu, gây khó khăn cho công tác tra cứu hay nội suy số liệu sau này khi cần dữ liệu của nhiều năm Đây cũng là thông s ố không có trong QCVN 08:2008 về
Chất lượng nước mặt, không có mức giới hạn nên không có cơ sởso sánh đánh giá
Tần suất: Theo Bảng 2.4 thì tần suất thu mẫu là quá ít, khó có thể đánh giá chính xác diễn biến của các chất có trong nước sông theo mùa được
Mục tiêu quan trắc của trạm tuy được phân rõ theo yêu cầu mục đích (sông rạch chính, sông chảy qua thị xã thị trấn, kênh nội đồng, ) nhưng chưa theo sát đặc điểm chức năng (trạm cơ sở, trạm tác động, trạm xu hướng), do đó khi chọn thông số còn nhiều trùng lặp và chưa mang tính đặc trưng cho khu vực
Thiết bị lấy mẫu: bao gồm các loại máy đo hiện trường, các dụng cụ lấy mẫu (xô, dây thừng, gàu múc nước) và bình chứa mẫu bằng nhựa 2l, đối với mẫu vi sinh, dùng bình nhựa cứng 100ml Trên thân chai có nhãn ghi vị trí lấy mẫu, ngày lấy mẫu; có sổ nhật ký ghi lại ngày, giờ, vị trí và chỉ sốđo tại hiện trường: nhiệt độ, EC, TDS, độ mặn, DO
Phương thức lấy mẫu: đối với lấy mẫu trên sông chính, do sông rộng và dài, chủ yếu là đi lấy mẫu bằng thuyền Nhân viên thu mẫu sẽ quăng xô xuống sông, múc lên, bình chứa được tráng sơ qua bằng chính nguồn nước sông vừa lấy lên, đổ nước tráng đi, nạp mẫu đầy bình chứa 2l và đậy nút sao cho không có không khí ở trên mẫu Đối với mẫu vi sinh, nhúng lọ vào xô lấy khoảng 1/3 bình, chừa khoảng không khí sau khi nút cho vi sinh vật hô hấp, đậy nắp thật chặt Mẫu được bảo quản trong thùng lạnh và vận chuyển về Tp.HCM để tiến hành phân tích mẫu Nhìn chung, kỹ thuật thao tác của nhân viên được thực hiện tốt và đúng theo TCVN 5992:1995 về Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu
3.3.2 Sông chảy qua thị xã, thị trấn
Các thông số và vị trí quan trắc chất lượng nước chảy qua thị xã thị trấn được thống kê như sau: (Bảng 3.10)
Bảng 3.10: Thông số và vị trí quan trắc chất lượng nước chảy qua thị xã thị trấn
Năm Thông số (9) Vị trí (18) Ghi chú
13 vị trí (thiếu vị trí 20, 29, 30,
Cả 2 đợt, không có độ mặn
18 vị trí (từ 19 – 36) Cả 2 đợt, không có độ mặn
13 vị trí (thiếu vị trí 20, 29, 30,
31, 32) chỉ có số liệu đợt 1, không có Mn và độ mặn 2011–đợt 1 pH, SS, độ mặn, NH 4 + ,
, Fe, Mn, BOD5, COD, Coliform
18 vị trí (từ 19 - 36) Có độ mặn
2011-đợt 2 pH, SS, độ mặn, NH 4 + ,
18 vị trí (từ 19 – 36) Không có thông số
Mn, có thông số độ mặn
Các vị trí lấy mẫu vào năm 2008 không liên tục so với năm 2009 và 2011, thiếu 5 vị trí, năm 2010 chỉ lấy mẫu đợt 1 vào mùa khô như vậy sẽgây khó khăn cho việc theo dõi diễn biến chất lượng nước theo không gian và thời gian Số lượng trạm tuy nhiều nhưng nếu so với từng khu vực huyện thì số lượng trạm phân bố chưa đồng đều Chẳng hạn như với thị xã Bến Tre thì mật độ trạm quan trắc dày, phân bốđều, nhưng với huyện Ba Tri và Bình Đ ại thì quá thưa khi ch ỉ có 2 trạm, các huyện còn lại thì mật độ phân bố trung bình
Thông số: thông số Mn và độ mặn không được quan trắc liên tục, mà có sự ngắt quãng từđợt 1 năm 2010 đến đợt 2 năm 2011, điều đó gây ảnh hưởng đến việc theo dõi diễn biến chất lượng nước theo thời gian, không thể làm cơ sở dữ liệu nền cho những sự theo dõi lâu dài
Tần suất: theo Bảng 2.4 thì tần suất lấy mẫu ở kênh sông thị xã thị trấn còn ít, có thể còn thiếu sót khi trong khu vực có những sự kiện bất thường như lễ hội, dịch bệnh, sự cốmôi trường hay tai biến thiên nhiên, …
Mục tiêu quan trắc của trạm chưa được xác định rõ ràng do đó các v ị trí lấy mẫu chưa được phân bố đều, mật độ trạm còn quá thưa th ớt nên kết quả chưa thể đại diện cho toàn khu vực Bên cạnh đó, vẫn còn thiếu 2 thông số khá quan trọng đó là
DO và chất hoạt động bề mặt
Thiết bị tự lấy mẫu: tương như đã phân tích ở trên
Phương thức lấy mẫu: thường áp dụng phương thức lấy mẫu từ cầu Nhân viên thu mẫu đứng giữa cầu, canh chiều dòng nư ớc chảy, dùng dây thừng đã buộc sẵn vào xô, quăng xuống hướng dòng nước chảy tới, xô chìm cách mặt nước khoảng 20 – 30 cm, rồi kéo xô lên Sau đó tiến hành đo các thông số tại hiện trường và nạp mẫu vào chai chứa mẫu Kỹ thuật và thao tác lấy mẫu của nhân viên thu mẫu đúng như trong qui định của TCVN 5992:1995 vềHướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu
Qui trình thu mẫu được minh họa như sau: (Hình 3.49), (Hình 3.50)
Hình 3.49: Thu mẫu từ cầu và đo mẫu hiện trường
Hình 3.50: Qui trình nạp mẫu vào dụng cụ
3.3.3 Tại vùng cửa sông, cửa biển
Các thông số và vị trí quan trắc chất lượng nước tại vùng cửa sông cửa biển được thống kê như sau: (Bảng 3.11)
Bảng 3.11: Bảng thống kê thông số và vị trí quan trắc tại vùng cửa sông cửa biển
Năm Thông số (10) Vị trí (4) Ghi chú
2009 pH, SS, độ mặn, NH 4 + ,
Fe, Mn, BOD5, COD, Coliform, dầu mỡ khoáng
4 vị trí (từ 37 - 40) Cả 2 đợt, không có thông số NO3 -
2011–đợt 1 pH, SS, độ mặn, NH4 +
Fe, Mn, BOD 5 , COD, Coliform, dầu mỡ khoáng
4 vị trí (từ 37 - 40) Không có thông số
2011-đợt 2 pH, SS, độ mặn, NH4 +
Fe, BOD5, COD, Coliform, dầu mỡ khoáng
4 vị trí (từ 37 - 40) Không có thông số
Việc lấy mẫu tại vùng cửa sông cửa biển không được tiến hành đều đặn, số liệu không liên tục, gây khó khăn cho việc đánh giá diễn biến tại vùng này Đa số vị trí các trạm được chọn khá phù hợp, chỉ có trạm 37 là cần xem xét lại, do trạn này nằm cách cống đập Ba Lai 3km về phía biển Ba Tri, nên những tác động từ cống đập có thểảnh hưởng đến kết quả tại đây
Thông số: thông số Mn được quan trắc liên tục trong năm 2009, bị ngắt quãng ở năm 2010, đến năm 2011 thì lại không đều
Tần suất: tần suất quan trắc còn thưa
Mục tiêu quan trắc của trạm là đánh giá chất lượng nước tại vùng cửa sông, cửa biển
Thiết bị tự lấy mẫu: tương như đã phân tích ở trên
Phương thức lấy mẫu: thường áp dụng cách lấy mẫu từ thuyền Khi tới vị trí lấy mẫu, nhân viên thu mẫu sẽ dùng xô đã được buộc dây thừng, quăng xuống dòng nước sao cho xô chìm khoảng 30 – 40cm, sau đó kéo xô lên, tiến hành nạp nước vào chai đựng mẫu như đã phân tích ở trên Đối với khu vực cửa sông cửa biển, do có điều kiện đi thuyền lấy mẫu, nên mẫu được lấy giữa dòng, sẽ đại diện hơn nếu lấy mẫu ở rìa hai bên sông Do đây là vùng c ửa sông nên chịu tác động của thủy triều, nên mẫu cần được lấy 2 lần, 1 lần lúc nước ròng và 1 lần lúc nước lớn Nhưng mẫu chỉđược lấy 1 lần vào lúc nước ròng
3.3.4 Tại vùng biển và ven biển
Các thông số và vị trí quan trắc chất lượng nước tại vùng biển và ven biển được thống kê như sau: (Bảng 3.12)
Bảng 3.12: Thông số và vị trí quan trắc chất lượng nước ven biển
Năm Thông số (10) Vị trí (3) Ghi chú
2009 pH, SS, độ mặn, NH4 +
Fe, Mn, BOD5, COD, Coliform, dầu mỡ khoáng
3 vị trí (từ 41 - 43) Cả 2 đợt, không có
2011–đợt 1 pH, SS, độ mặn, NH4 +
Fe, Mn, BOD5, COD, Coliform, dầu mỡ khoáng
3 vị trí (từ 41 - 43) không có NO3 -
2011-đợt 2 pH, SS, độ mặn, NH4 +
Fe, Mn, BOD 5 , COD, Coliform, dầu mỡ khoáng
3 vị trí (từ 41 - 43) không có NO3 -
Các vị trí lấy mẫu được giám sát đầy đủ, đều đặn và thống nhất, tuy vậy số liệu quan trắc không liên tục
Thông sốđược quan trắc thống nhất ngay từđầu và cũng không có sựthay đổi nào, tuy nhiên cần xem xét lại các thông số nào thật sự cần thiết để tránh lãng phí nhân lực và kinh phí
Tần suất quan trắc còn ít, tuy nhiên cần thêm số lần quan trắc để dự phòng những khi có sự cố hay xâm nhập của những lòai sinh vật lạ