Từ chỗ chỉ xuất khẩu sản phẩm thô gỗ tròn, gỗ xẻ nhờ áp dụng khoa học kĩ thuật hiện đại, các doanh nghiệp đã sản xuất ra nhiều sản phẩm tinh xảo, đáp ứng cả về chất lượng cũng như tính t
TỔNG QUAN
T ổng quan về ngành gỗ nội -ngo ại thất
Ngày nay, Việt Nam được thế giới biết đến như là một quốc gia sản xuất đồ gỗ nội-ngoại thất có chất lượng cao, mẫu mã đẹp và giá thành cạnh tranh Đặc biệt từ khi ra nhập WTO, nhiều tập đoàn phân phối lớn đã và đang tìm kiếm cơ hội đầu tư tại Việt
Nam như CANFORD (Canada); WALLMART, COSCO, HOMEDEPOR (Hoa Kì)
Với sự chuyển dịch mạnh nguồn đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, số doanh nghiệp đã tăng lên khoảng 2000, với gần 1 triệu nhân công, thu nhập ước tính khoảng
1,1 triệu đồng/người/tháng Các doanh nghiệp tập trung chủ yếu tại các tỉnh, thành phố lớn như: thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bình Định,…Trong đó một số các doanh nghiệp lớn hàng đầu có kim ngạch xuất khẩu (KNXK) cao năm 2006 như công ty Scancom tại Bình Dương (20 triệu USD/năm), công ty xuất nhập khẩu
Savimex tại TP.HCM (18 triệu USD/năm), công ty Trách nhiệm Hữu hạn Tuấn Lộc tại Đồng Nai (5 triệu USD /năm).
Sản phẩm gỗ nội-ngoại thất của Việt Nam đã có mặt trên 120 nước, và đang từng bước được củng cố vững chắc tại ba thị trường chính là Mỹ, Cộng đồng Châu Âu,
Nhật Bản Trong ba thị trường đó, thị trường Nhật Bản có chính sách thông thoáng hơn khi không đánh thuế nhập khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam, Thị trường Mỹ và
Cộng đồng Châu Âu khó tính đòi hỏi chất lượng cao, rất cầu kì và luôn thay đổi theo sở thích, tuy nhiên việc áp đặt luật chống bán phá giá của Mỹ đối với đồ gỗ Trung
Quốc và kể từ khi Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ có hiệu lực thì cơ hội cho đồ gỗ
Việt Nam mở rộng tại thị trường lớn này Việt Nam đứng thứ năm trong số mười nước xuất khẩu gỗ lớn nhất vào thị trường Mỹ sau Trung Quốc, Canada, Mexico và Ý
Ngành gỗ nội-ngoại thất có xu hướng mở rộng ra các thị trường tiềm năng như
Canada, Nga và các nước Đông Âu Trong tương lai, các đối tác từ Canada, Nga sẽ vừa là nguồn cung cấp nguyên liệu vừa là đầu mối phân phối sản phẩm cho thị trường
Qua thống kê của Bộ Thương Mại, KNXK của ngành gỗ nội-ngoại thất tăng khá nhanh, đứng thứ năm sau dầu thô, dệt may, giày dép và thuỷ sản KNXK năm
2006 đạt tới 1,93 tỷ USD tăng gấp gần bốn lần so với năm 2003 (560 triệu USD)
Thị trường gỗ Việt Nam hiện chiếm khoảng 0,78% tổng thị phần đồ gỗ trên thế giới, trở thành một trong hai nước xuất khẩu gỗ lớn nhất trong khu vực Đông Nam Á
Mỗi năm Cộng đồng Châu Âu tiêu thụ 0,96 tỷ USD hàng gỗ nội-ngoại thất của Việt
Nam, trong đó có tới 26,4% là đồ gỗ nội thất
Hình 2.1 Thống kê kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ nội-ngoại thất của Việt Nam từ năm 2003 – 2006
(Nguồn: Phòng kinh doanh Công ty Cổ phần Phát triển Sài Gòn)
Quy trình công ngh ệ, vật liệu, thiết bị trong sản xuất gỗ nội - ngo ại thất
Nguyên liệu gỗ rất đa dạng bao gồm các loại như: gỗ Cao su, gỗ Thông, gỗ
Ander…, một số gỗ vườn như: mít, bạch đàn, sà cừ, phượng, bàng…, gỗ nhập khẩu như: sồi trắng, sồi đỏ, sồi rừng, hắc đào, gỗ dương, gỗ liệu…hay các loại ván MDF, HF…
Với những loại gỗ tốt, cây lớn thì được trực tiếp mang đi cưa xẻ, gia công để sản xuất sản phẩm Với các loại gỗ tạp hay đồ gỗ không còn sử dụng có kích thước nhỏ thì được mang đi nghiền để sản xuất gỗ nhân tạo là ván gỗ.
Trước khi đưa vào sản xuất, sản phẩm gỗ phải mang đi bảo quản hoá chất, tuỳ theo mục đích mà sử dụng các loại hoá chất khác nhau, sau đó mang đi sấy Nguyên liệu được cưa, xẻ, khoan, ghép, bào, chà nhám,…sau đó lắp ráp các chi tiết với nhau.
Cuối cùng để tăng thính thẩm mỹ, và bảo vệ sản phẩm, lớp sơn phủ sẽ được phun bên ngoài Hiện nay, rất ít nhà máy sản xuất chế biến gỗ nội-ngoại thất thực hiện hết các công đoạn, mà chỉ thực hiện một vài công đoạn, những công đoạn nào không có khả năng thực hiện thì liên kết với cơ sở khác Công nghệ sản xuất gỗ nội-ngoại thất hiện nay tại Việt Nam nhìn chung gồm các công đoạn được tóm tắt như (hình 2.2.)
Các ch ất sử dụng trong ngành công nghi ệp sản xuất gỗ nội - ngo ại thất
Hình 2.2 Sơ đồ tóm tắt quy trình sản xuất gỗ nội-ngoại thất tại Việt Nam
2.3 Các chất sử dụng trong ngành công nghiệp chế biến gỗ nội-ngoại thất
2.3.1 Các loại thuốc bảo quản gỗ
Thành phần của dầu crezote để bảo quản gỗ thường có 3 loại: nhóm hydrocacbon, nhóm acid resin và nhóm bazơ nhựa.
- Nhóm hydrocacbon là thành phần chủ yếu của dầu cr eozote bao gồm các chất benzen, toluen, xylen naphtalin, asenaph, phenantren, phlyoren Nhóm hydrocacbon có độ độc cao đối với sâu và nấm.
- Nhóm bazơ nhựa bao gồm các chất pyridin, quinolin, acridin, phần lớn chúng đều là các chất độc hại.
- Acid resin hàm lượng không nhiều khoảng 5%, trong đó thường gặp là phenol, crezon, xylenon, naphton, là những chất có tác dụng độc đối với nấm mốc và côn trùng
2.3.1.2 Các lo ại thuốc muối
Hiện nay, các loại thuốc muối được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới
Bao gồm các loại sau:
Bào cưa mùn cưa gỗ vụn
Bào cưa mùn cưa gỗ vụn
Ngâm tẩm thuốc bảo quản
Trong cấu tạo các phần tử Clo liên kết chặt chẽ với phân tử benzen do vậy có độ bền cao Sản phẩm thuốc này có trên 83 – 84% pentachlorophenol Loại thuốc này được sản xuất dưới dạng hạt màu xám có mùi khó chịu, độ độc cao đối với người vì vậy khi sử dụng phải được bảo hộ cẩn thận.
- Thuốc NaF và hỗn hợp có NaF:
Flunatri (NaF) là thu ốc muối trung tính pH =7, ít độc đối với người và gia súc.
Hỗn hợp có NaF như: donalit FN, dolalitu, ULL, UA,UALL, UAP, UD Các loại thuốc này có tính độc cao vì có chứa gốc Cr2O 7
Thuốc bảo quản boron là hỗn hợp của borax (B(OCH3) 3 ) (54,35%), acid boric
(H 3 BO 3 Độ độc của thuốc phụ thuộc vào hàm lượng acid boric trong hỗn hợp, hàm lượng càng cao thì độ độc càng lớn.
) (38,22%) và chất phụ gia (7,34%) Thuốc này ít có tính độc đối với người và gia súc, nhưng có độ đ ộc cao đối với côn trùng, mối mọt phá hoại gỗ cao su, gỗ giác, gỗ tạp khác Giá thành thấp vì thế được sử dụng phổ biến trên thị trường hiện nay.
- Sunphat đồng và các hỗn hợp của sunphat đồng: Được sử dụng phổ biến trong quá trình bảo quản gỗ ngoại thất, các loại thuốc này có tính độc cao vì có chứa gốc Cr 2O 7 2- ,Cu 2+
Bảng 2.1 Một số thuốc bảo quản gỗ thông dụng có chứa sunphat đồng
Tác dụng chống hà và nấm mốc cao.Thành phần một số loại thuốc bảo quản gỗ thường sử dụng có chứa sunphat đồng được trình bày trong bảng sau (Bảng 2.1.)
Ký hiệu thuốc Thành phần Tỷ lệ %
2.3.2 Vật liệu sơn phủ bề mặt gỗ
2.3.2.1 Ch ất phủ tạo màng có nguồn gốc tự nhiên
Là một trong những loại vật liệu tạo màng trang sức bề mặt gỗ truyền thống, được chiết tách từ nhựa tiết ra do một loại côn trùng sống kí sinh trên một số loại cây, có màu vàng, đỏ, đỏ tía, đỏ sẫm
Thành phần của vernis cánh kiến:
- Abumin, đường, muối không tan trong nước: 2-6%
- Abumin, đường, muối tan trong nước: 1-4%
Hiện nay trên thế giới, vernis cánh kiến được sử dụng làm vật liệu trang sức bề mặt gỗ rất phổ biến ở nhiều quốc gia tiên tiến như Anh, Pháp, Trung Quốc, … nhu cầu sử dụng ngày càng gia tăng tại Việt Nam, đặc biệt đối với các sản phẩm cao cấp.
Vernis cánh kiến dùng làm chất phủ bề mặt có các dạng như sau:
Thành phần chính gồm vernis (100-800g), cồn 90 0
(alcol mêtylic) (1000ml) Việc lựa chọn nồng độ vernis phụ thuộc mục đích sử dụng và quy trình công nghệ Với loại vernis trên có thể cho thêm một số chất phụ gia khác như dung môi rượu butylic (5-10)% có điểm sôi trung bình, để khắc phục hiện tượng trắng màng sơn; chất dẻo, gia tăng khả năng chống uốn; dung dịch colofan (4-5)%, để tăng độ bóng cho sản phẩm.
Thành phần chính gồm vernis (100g), dầu hạt điều (100g), dung dịch formaldehyde
(40%), ure (6-8g) và dung môi (hỗn hợp của cồn và toluen với tỷ lệ 1:1).
Trong ba dạng trên, vernis chịu nhiệt có độc tính cao nhất vì trong thành phần có chứa toluen, formaldehyde và ure.
Dạng thô được chiết xuất từ hạt cây lanh, loại cây được trồng nhiều ở các nước Ấn Độ, Anh, Argentina, Mỹ, …Dầu có màu vàng nhạt, trong suốt, ở trạng thái tự nhiên có tính chậm khô và kháng nước kém Nguyên liệu sử dụng ở nhiệt độ cao, có bổ sung chất trợ khô sẽ cho tính kháng nước cao.
Dầu lanh được sử dụng nhiều trong công nghệ bôi trơn trước khi đánh bóng vernis; phối chế các loại dầu khác trong công thức tạo dầu bóng và vernis tổng hợp hiện đại; chế tạo chất tạo màng alkyl trong sơn sử dụng ngoài trời.
Thành phần và chỉ tiêu kĩ thuật của chất phủ tạo màng nguồn gốc tự nhiên, và của dầu bảo quản gỗ sử dụng ngoài trời, có chứa dầu lanh như sau (Bảng 2.2.,2.3.)
Bảng 2.2 Thành phần và chỉ tiêu kĩ thuật của chất phủ tạo màng nguồn gốc tự nhiên
Thành phần chính Các chỉ tiêu kỹ thuật
- Nhựa gốc dầu thực vật
- Phụ gia tăng độ thấm sâu chống rửa trôi, chống vi sinh vật, nấm mốc
Bảng 2.3 Thành phần và chỉ tiêu kĩ thuật dầu bảo quản gỗ sử dụng ngoài trời
Thành phần chính Các chỉ tiêu kỹ thuật
- Chất phụ gia tăng thấm sâu, chống thấm nước.
- Dung môi hydrocacbon (không có vòng benzen)
Nhìn chung, thành phần các chất không có độ độc cao và dễ bị phân huỷ sinh học do có nguồn gốc từ các hydrocacbon triết xuất từ tự nhiên. Được chiết xuất từ dầu lửa, dầu creosote, và các sản phẩm nhiệt phân than đá
Thành phần chính các chỉ tiêu kĩ thuật của dầu vô cơ được sử dụng trong bảo quản gỗ được trình bày trong bảng sau: (Bảng 2.4 )
Bảng 2.4 Thành phần và chỉ tiêu dầu vô cơ sử dụng trong bảo quản gỗ
Thành phần chính Các chỉ tiêu kỹ thuật
- Dung môi hydrocacbon (không có vòng benzen) Hoạt chất hấp thụ tia tử ngoại.
- Dầu thực vật đã polymer hoá.
- Tác nhân chống vi sinh vật.
Mặc dù thành phần khá phức tạp, nhưng dung môi hydrocacbon (không có vòng benzen) nên ít gây độc hơn rất nhiều so với các loại dung môi pha sơn khác.
2.3.2.2 Ch ất phủ tạo màng tổng hợp
Là hỗn hợp của các chất hữu cơ, thành phần chủ yếu bao gồm:
- Dung môi (hoà tan chất tạo màng),
- Chất đóng rắn (phản ứng với nhựa làm cho màng sơn khô đóng rắn lại),
- Nhựa (tăng độ bóng và độ bám chắc của màng sơn),
- Chất hoá dẻo (tăng tính đàn hồi của màng sơn),
- Pigment (tạo màu sắc khác nhau cho sản phẩm),
- Chất pha loãng (điều chỉnh độ nhớt, giảm giá thành sơn),
- Các phụ gia khác (chống nấm mốc mọt, tăng độ cứng, bóng của sản phẩm).
Tính chất của chất phủ tạo màng tổng hợp phụ thuộc vào thành phần và tỷ lệ các chất chứa trong nó.
Sơn PU là loại sơn hai thành phần, được tạo ra từ chất dẻo tổng hợp Nguyên liệu để sản xuất là dung dịch nhựa polyeste hoặc những chất như polythers tan trong dung môi, và chất xúc tác isocynates có chứa nhóm (-NCO), được viết dưới dạng công thức chung: R-N=C=O, isocynates phản ứng với polyeste nhờ liên kết ngang để tạo thành polyurethane
Các gi ải pháp bảo vệ và cải thiện môi trường
2.5.1 Biện pháp quản lý của nhà nước Được sự quan tâm chỉ đạo của Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Tài nguyên - Môi trường, cùng với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, những thành tựu về giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp của thế giới đã được Việt Nam tiếp cận nhanh chóng và định hướng vào trong các chiến lược và chương trình bảo vệ môi trường quốc gia Các chính sách môi trường nói chung, cũng như các chính sách ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp nói riêng, đều thống nhất quan điểm căn bản trong Chỉ thị 360 – CT/TW của
Bộ Chính Trị ngày 25/6/1998 về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kì công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước”
Hiện nay, việc quản lý dung môi phế thải trong sản xuất công nghiệp đang được triển khai theo Quy chế 155/199/QĐ-TT về quản lý chất thải nguy hại Tuy nhiên, việc thực hiện còn nhiều vấn đề phải quan tâm.
2.5.2 Một số giải pháp điển hình đã được áp dụng để bảo vệ và cải thiện môi trường ngành gỗ nội-ngoại thất
2.5.2.1 T ận dụng nguyên liệu gỗ, mùn cưa
- Các loại bào, mùn, bụi gỗ được tận thu làm nguyên liệu trong sản xuất giấy, sản xuất gỗ nhân tạo hoặc tận dụng làm nguyên liệu trong nuôi trồng nấm rơm, nấm mèo.
- Các loại gỗ vụn được dùng làm đồ thủ công mỹ nghệ, vật dụng (tấm chèn giấy, móc chìa khoá, …)
- Bụi gỗ thu được từ quá trình chà nhám tận dụng làm bả bột.
2.5.2.2 Thu h ồi hơi dung môi từ quá trình phun sơn bằng than hoạt tính
Trong quá trình sản xuất, hơi dung môi được ghi nhận nồng độ nhiều nhất tại khu vực chứa các sản phẩm đã được phun sơn, bằng các loại sơn có pha dung môi do sự bay hơi từ lớp sơn phủ bề mặt Thông thường, trước khi thải ra môi trường ngoài, không khí tại đây sẽ được hút qua một thiết bị có chứa than hoạt tính nhằm hấp phụ lại lượng dung môi này Than hoạt tính có chứa dung môi sau đó được đưa vào máy ngưng tụ hoá lỏng hỗn hợp nước và dung môi rồi chưng cất hỗn hợp này để cô lập và tái sử dụng.
2.5.2.3 Tái s ử dụng các loại dầu nhớt bôi trơn máy mó c, d ẻ lau có chứa dầu nhớt
Hiện nay có rất nhiều cơ sở thu mua các chất thải này để chưng cất, lọc, sau đó tái sử dụng
2.5.2.4 Thu h ồi tái sử dụng sơn
Trong quá trình sơn phủ sử dụng bột sơn, sản phẩm sau khi phun được chuyển đến lò nung để lớp sơn bột chảy ra và bám vào bề mặt gỗ Số bột thừa không bám vào
19 sản phẩm sẽ được vận chuyển đến hệ thống lọc thông qua bơm hút chân không Sau khi được lọc để loại bỏ các tạp chất, các mảnh kim loại và viên sơn bị vón, bột sơn sẽ được dẫn trở lại phễu cung cấp để tái sử dụng cho lần phun kế tiếp (Hình 2.3.)
1 Phễu cung cấp (bột sơn) 4 Băng chuyền.
2 Súng phun 5 Bơm chân không
Hình 2.3 Sơ đồ hệ thống thu hồi, tái sử dụng sơn 2.5.2.5 H ệ thống xử lý bụi gỗ
Hiện nay có rất nhiều phương pháp khác nhau xử lý bụi gỗ điển hình như hệ thống hút chân không cao áp Octopus, hệ thống Oplifow - hệ thống ống góp với áp suất hút chân không không đổi.
CHƯƠNG III ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP GIẢM
THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TẠI NHÀ MÁY
SẢN XUẤT GỖ NỘI - NGOẠI THẤT SDC
T ổng quan về Công ty Cổ phần Phát Triển Sài Gòn và nhà máy sản xuất gỗ nội
3.1.1 Giới thiệu về công ty cổ phần phát triển Sài Gòn
- Tên chính thức: Công ty Cổ phần Phát triển Sài Gòn.
- Tên giao dịch: Saigon Development Corporation.
- Lĩnh vực sản xuất: Xi măng, đồ gỗ nội-ngoại thất, tấm lợp.
- Trụ sở chính: Ấp Long Sơn, Phường Long Bình, Quận 9, TP.Hồ Chí Minh.
- Văn phòng đại diện: 143/7D Ung Văn Khiêm, Phường 25, Quận Bình Thạnh,
3.1.2 Giới thiệu về nhà máy sản xuất gỗ SDC
Nhà máy chế biến gỗ SDC, trực thuộc Công ty Cổ phần Phát triển Sài Gòn, đặt tại xã Long Sơn, phường Long Bình, quận 9, Tp.HCM Nhà máy hiện có 300 lao động, trong đó 220 công nhân tham gia lao động trực tiếp tại 10 tổ sản xuất, (Bảng 3.1)
Bảng 3.1 Cơ cấu phân công lao động làm việc trực tiếp tại xưởng gỗ
Tổ sản xuất Số lượng
Nhân Viên Tổ sản xuất Số lượng
Finger Joint 22 Lắp ráp bán thành phần
3.1.3 Quy trình sản xuất và nguồn phát thải tại nhà máy
Gồm các bước chính sau:
T ạo phôi : là giai đoạn đầu để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh trong gi ai đoạn tạo phôi có cắt chọn ,bào ghép ,ghép dọc ,giao nhận
T ạo dáng : Giao nhận, chuyển hàng từ tạo phôi qua tổ tạo dáng và xử lí tiếp Cắt gỗ với kích thước gần đúng như chi tiết sản phẩm, tiếp đến định hình dáng của những sản phẩm (tất cả các chi tiết của sản phẩm đều được hình thành ở giai đoạn này) giai đoạn này có thể nói là giai đoạn quyết định độ chính xác của sản phẩm, các chi tiếp phải được xử lí chính xác đúng theo bản vẽ kĩ thuật
Chà nhám: Đảm bảo cho sản phẩm nhẵn và bóng.
Bả bột: được thực hiện trên phôi gỗ, nhằm lấp đầy các mạch gỗ, vế nứt , kẽ hở tạo màu nền cho chi tiết
Sơn: phủ một lớp chất dẻo có pha dung môi nên bề mặt nhằm bảo vệ và tăng tính thẩm mỹ cho sản phẩm.
Lắp ráp: các chi tiết được lắp ráp với nhau thành sản phẩm hoàn chỉnh Đóng gói: sản phẩm được đóng gói vào hộp giấy.
Quy trình sản xuất và nguồn phát thải của nhà máy được trình bày trong (hình 3.1.)
Hình 3.1 Sơ đồ quy trình sản xuất và nguồn phát thải tại nhà máy SDC
Ván, Gỗ tấm Nguyên liệu
Ch ất thải nguy h ại
Ch ất thải r ắn (gỗ vụn mùn cưa, bụi gỗ)
Lắp ráp bán Thành phẩm
Ch ất thải rắn (bao linong, bìa)
Hi ện trạng môi trường và các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm tại nhà máy sản xuất
3.2 Hiện trạng môi trường và các giải pháp giảm thiểu ô nhiễn tại nhà máy sản xuất gỗ nội-ngoại thất SDC
3.2.1 Nước thải trong quá trình sản xuất
Nước thải trong quá trình sản xuất chủ yếu là nước hấp thụ hơi sơn, hơi dung môi, nước vệ sinh buồng phun sơn màng nước
Buồng phun sơn màng nước là công nghệ mới, được rất ít nhà máy tại Việt
Nam sử dụng Nước thải của buồng phun sơn màng nước thực chất là nước thải của quá trình xử lý hơi sơn (hấp thụ bằng nước) Theo số liệu đo đạc, lượng nước xả thải từ buồng phun sơn màng nước là không đáng kể, và hiện chưa có tài liệu nào nghiên cứu về loại nước thải hấp thụ hơi sơn Đối với nước rửa dụng cụ, chỉ một số ít tài liệu tham khảo có đề cập đến phương pháp định tính và định lượng thành phần của một số chất như chất làm dẻo, bột màu
Với công nghệ phun sơn hiện đại, sử dụng các thiết bị súng phun, thay cho chổi quét sơn, việc vệ sinh thiết bị không phải thường xuyên và lượng nước thải là không đáng kể Ngoài ra, trong quá trình sử dụng nước cho buồng phun sơn màng nước, nước được hoàn lưu liên tục nên lưu lượng nước xả thải tương đối thấp, chỉ khoảng 4 m 3
Nước thải từ buồng phun sơn màng nước được tiến hành thu mẫu 2 lần vào ngày 25/11/2007, (1) sau khi chứa 3 ngày, (2) sau khi chứa 5 ngày
/ngày/đêm, chính vì thế các nguồn thải này hiện nay đều được thải trực tiếp vào nguồn xả của nước thải sinh hoạt và đổ ra hệ thống nước thải chung của khu vực.
Kết phân tích số liệu từ hai mẫu nước ngoài đánh giá mức độ ô nhiễm còn đưa ra những quy luật, thông số đặc trưng của nước thải từ buồng phun sơn màng nước, từ đó đưa ra quy trình công nghệ xử lý nước thải một cách hợp lý.
Kết quả phân tích cho thấy nước thải sản xuất của nhà máy hiện nay không đạt tiêu chuẩn xả thải loại B cho nguồn thải công nghiệp (TCVN 5945:2005) (bảng3.2.).
Giá trị SS và pH đạt tiêu chuẩn thải của nguồn loại B (TCVN 5945:2005), hai thông số này trong các mẫu khảo sát là khá ổn định, và không phụ thuộc nhiều vào thời gian hoàn lưu nước.
- Hàm lượng COD và BOD5 có thể gấp khoảng 10,59 lần so với giới hạn cho phép (TCVN 5945: 2005)
Bảng 3.2 Kết quả phân tích mẫu nước thải buồng phun sơn màng nước tại nhà máy
Chỉ tiêu Mẫu 1: Nước thải sau khi chứa 3 ngày
Mẫu 2: Nước thải sau khi chứa 5 ngày
Qua quan sát nước thải tại nhà máy, khi nguồn nước thải ở trạng thái tĩnh
(buồng phun sơn màng nước không hoạt động), có sự phân lớp, xuất hiện váng và các mảng sơn chứa bọt khí nổi lên màu nâu đỏ, dưới đáy có nhiều cặn màu trắng (màu mủ cao su), khi đổ ra hệ thống nước thải chung một thời gian sẽ xuất hiện những cục dẻo trắng, đó chính là sự đóng rắn của chất dẻo
Có hiện tượng phân lớp và nổi váng, đóng rắn của sơn chứng tỏ dung môi hoà tan không phải là nước Hơi sơn có mùi dễ chịu giống mùi trái cây là mùi acetone, xăng thơm Sơn nhà máy đang sử dụng không phải là sơn an toàn, thân thiện với môi trường Bởi sơn an toàn là sơn sử dụng dung môi là nước
- Mẫu nước hoàn lưu 3 ngày thì tỷ lệ: COD/BOD5
- Mẫu nước hoàn lưu 5 ngày thì tỷ lệ : COD/BOD
Mẫu nước hoàn lưu 3 ngày có tỷ lệ COD/BOD
5 lớn hơn mẫu nước hoàn lưu 5 ngày có thể được giải thích như sau: Trong quá trình lưu giữ nước thải trong một thời gian, do hiện tượng bay hơi dung môi xảy ra liên tục, làm lượng dung môi trong nước thải giảm, mà dung môi hữu cơ là các chất khó phân huỷ sinh học nên COD giảm dẫn đến tỷ lệ COD/BOD
Nước thải nhà máy hiện chỉ số các thông số COD, BOD
Dung môi bốc hơi từ mặt chất lỏng (hình 3.2.) rất dao động, bởi nước thải được xả từ nhiều buồng sơn màng nước khác nhau (mỗi buồng sơn coi như một nguồn thải nhỏ) Thời gian xả thải, thời gian hoàn lưu nước thải dao động Nên khó kiểm soát các thông số chính xác Nước thải do bị hoàn lưu trong vài ngày, sẽ xảy ra hiện tượng bay hơi dung môi Chất thải chuyển từ thể lỏng sang thể khí gây ô nhiễm không khí
- Bốc hơi từ mặt thoáng của bể chứa nước.
- Bốc hơi từ bề mặt thoáng ngay khi xả nước hoàn lưu hấp thụ dung môi (nước xả chảy từ trên xuống sẽ xảy ra cả hai quá trình vừa hấp thụ dung môi phun ra từ hoạt động sản xuất, vừa bay hơi dung môi theo quy luật vật lý).
Hình 3.2 Sơ đồ nguồn bốc hơi dung môi
Từ kết quả hai mẫu nước đo được, dùng phương pháp nội suy theo chỉ số COD
(kết quả chỉ cho xấp xỉ), thì nước thải nếu hoàn lưu trong một ngày sẽ có các thông số khoảng :
Nguyên nhân nước thải ô nhiễm cao là do hoàn lưu lâu Khi nội suy ra kết quả chất lượng nước một ngày thì không ô nhiễm nhiều Vậy nếu doanh nghiệp chỉ hoàn lưu nước nửa ngày hay ít hơn thì nước thải có khả năng không gây ô nhiễm Nhưng tổng lượng chất thải ra hệ thống chung không giảm Chi phí cho một hệ thống xử lý nước thải caohơn việc tăng lượng nước sử dụng do rút ngắn thời gian hoàn lưu nước.
Thông qua những nhận định ở trên để thấy vấn đề cần phải giải quyết không còn là điều thuộc về doanh nghiệp nữa mà còn có một phần trách nhiệm của chính quyền TCVN vẫn chưa thực sự đi sát vào thực tế, không cần phải xử lý nước thải mà vẫn đạt tiêu chuẩn thải bằng (phương pháp pha loãng) nhưng thực tế lượng thải chất ô nhiễm vẫn vậy Vấn đề này đã được một số nước phát triển trên thế giới như Mỹ khắc phục Hệ thống tiêu chuẩn của Mỹ rất linh động cho từng ngành công nghiệp và cho riêng nhà máy, xí nghiệp, Có những nơi nhà máy bắt buộc phải xử lý đến một chỉ tiêu nào đó không theo một khuôn khổ cứng nhắc mà qua nghiên cứu và điều tra của các nhà chức trách khi xem xét công nghệ sản xu ất của nhà máy Có những chỉ tiêu đưa ra cho các nhà máy lại dựa vào khả năng làm sạch của nguồn tiếp nhận Sự linh động trong hệ thống tiêu chuẩn đảm bảo giảm thiểu tối đa ô nhiễm môi trường
Tiếng ồn tại nhà máy phát sinh từ hai nguồn chính: (1) nguồn gây ồn trong xưởng sản xuất, do sự vận hành của máy móc và hệ thống quạt thổi công nghiệp.; (2)
Nước chảy từ trên xuống
Dung môi bốc hơi từ bề mặt thoáng của dàn phun nước
Dung môi bốc hơi từ bề mặt của bể chứa nước
T ạo dáng s ản ph ẩm
C ửa nguồn gây ồn ngoài xưởng, do sự hoạt động của hệ thống hút bụi và sự vận chuyển của các xe chở hàng.
Qua khảo sát vị trí bố trí các tổ làm việc trong xưởng (hình 3.3.) có thể nhận thấy:
- Tất cả các tổ đều làm việc chung trong một không gian của xưởng, trừ tổ sơn có phòng ngăn cách riêng
- Hệ thống cửa thông gió gồm 5 cửa chính và không có cửa sổ
- Tường được chát vữa bằng phẳng, khả năng tiêu âm kém Kết cấu công trình nhà xưởng không có hệ thống chống rung.
- Xung quanh nhà máy, đặc biệt khu vực nhà xưởng không có cây xanh, mặc dù đất rất rộng.
Chú thích:Tường xây bằng vật liệu bê tông
Tường xây dựng bằng kính một lớp
Hình 3.3 Sơ đồ bố trí các tổ trong xưởng
Theo TCVN 3985:1999, mức độ cho phép ồn tại các vị trí sản xuất trực tiếp không quá 85 dBA – đối với thời gian quy định làm việc 8 giờ/ngày Kết quả đo tiếng ồn tại ba vị trí tiêu biểu trong xưởng sản xuất (bảng 3.3) cho thấy khu vực cuối xưởng sản xuất có độ ồn vượt quá tiêu chuẩn cho phép Tại các vị trí còn lại, mức ồn đều nằm trong tiêu chuẩn cho phép Tuy nhiên trên thực tế, kết quả này cần được xem xét lại vì công nhân trong các tổ sản xuất đều phải làm việc tăng ca từ 11,5 – 15,5 giờ/ngày và suốt 7 ngày/tuần, do đó khả năng ô nhiễm tiếng ồn là điều có thể xảy ra.
Bảng 3.3 Kết quả đo ồn tại xưởng sản xuất của nhà máy ngày 28 tháng 11 năm 2007
Vị trí đo Đo lần 1
(dBA) Đo lần 2 (dBA) Đầu xưởng 76,2 76,7
Hiện tại nhà máy áp dụng hai phương pháp giảm ồn:
- Sắp xếp các máy gây ồn nằm riêng tại một vị trí cuối xưởng, gần cửa ra vào, làm cho sóng âm chuyển từ vùng kín sang vùng hở nhanh nhất.