TÓM TẮT LUẬN VĂN Đề tài “Đề xuất các biện pháp cải thiện hệ thống thu gom, xử lý và quản lý chất thải rắn của huyện An Lão tỉnh Bình Định“ do Nguyễn Thị Vân Anh thực hiện tại trường Đ
Giới thiệu sơ lược
Huyện An Lão là huyện miền núi của tỉnh Bình Định, nằm ở phía Đông của dãy trường sơn, phía Bắc giáp với tỉnh Quãng Ngãi, Tây giáp với tỉnh Gia Lai, Kon Tum, phía Nam giáp với huyện Hoài ân và Vĩnh Thạnh, huyện có tổng số dân là 25.623 nhân khẩu với diện tích 69.035ha, diện tích rừng lớn nên tạo nên vành đai xanh mạnh mẽ của huyện, đem lại cho huyện một bầu khí hậu trong lành, tuy nhiên có rất nhiều hành vi làm hại môi trường như: chặt phá rừng làm nương ray, phân bón thuốc trừ sâu, vứt rác bừa bãi chưa có một vị trí đổ rác cụ thể…
Sự cần thiết của đề tài
Chất thải rắn phát sinh hầu hết ở khắp mọi nơi, nó không những là mầm mống của các loại dịch bệnh mà chúng còn ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sinh thái bởi các dạng ô nhiễm do chất thải rắn phát sinh Huyện An Lão – Bình Định phần lớn chất thải là chất thải rắn sinh hoạt thải ra từ các khu dân cư và các tụ điểm buôn bán như chợ, sân vận động, quán xá… Lượng rác ngày càng gia tăng theo nhu cầu của người dân nhưng ngược lại không được thu gom đúng lúc, hợp lý và ý thức người dân chưa cao về BVMT bảo vệ cuộc sống của chính mình.Vì vậy, để ngăn chặn các hậu quả này và bảo vệ môi trường, chúng ta phải làm sao để giảm thiểu lượng chất thải rắn đang tồn đọng và quản lý chúng tốt hơn trong tương lai
Nhằm mục đích hiểu rõ hơn về chất thải rắn và giảm thiểu các ảnh hưởng của chúng, bài báo cáo này đề xuất các giải pháp cải thiện hệ thống xử lý chất thải rắn của huyện
Đề tài "Đề xuất các biện pháp cải thiện hệ thống thu gom, xử lý và quản lý chất thải rắn của huyện An Lão, tỉnh Bình Định" xây dựng lộ trình thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả thu gom, xử lý và quản lý chất thải rắn tại địa phương Các biện pháp được đề xuất sẽ góp phần giảm thiểu ô nhiễm CTR và cải thiện môi trường huyện An Lão, Bình Định, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực.
Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng thu gom, xử lý và quản lý CTR của huyện An Lão; Đề xuất các giải pháp cải thiện hệ thống thu gom, xử lý và quản ly CTR của huyện An Lão.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Trên cơ sở các phương pháp đánh giá hiện trạng chất thải rắn của huyện và môi trường xung quanh kết hợp các phương pháp so sánh, phương pháp thống kê,phương pháp phân tích lợi hại….từ đó có thể đề xuất các biện pháp cải thiện hệ thống xử lý chất thải rắn của huyện An Lão – Bình Định.
Lý thuyết và thực tiễn
Điều tra, thu thập số liệu về thu gom, xử lý và quản lý CTR của huyện An Lão
Khảo sát tình hình thực tế tại các điểm tập trung chất thải rắn: bãi rác, điểm tập kết rác, thu gom rác trên địa bàn huyện;
Xử lý số liệu và phân tích Đánh giá hiện trạng CTR dựa trên các số liệu thu thập được; Đề xuất một số giải pháp cải thiện hệ thống xử lý chất thải rắn của huyện An Lão.
Nội dung nghiên cứu
Thu thập thông tin, dữ liệu
Điều tra,thu thập tổng hợp các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
Dân số,mật độ dân số
Diện tích, nhiệt độ bình quân,độ ẩm, lượng mưa
Thành phần kinh tế, mức sống của người dân
Thu thập các số liệu về hiện trạng môi trường của huyện để có cái nhìn sâu hơn về môi trường :
- Đặc biệt là hiểu về CTR
Khảo sát thực địa
Khảo sát tình hình chất thải rắn trên địa bàn huyện An Lão- tỉnh Bình Định:
- Lượng rác thải trung bình ngày,phần lớn rác thải thuộc tính chất nào
- Ngày giờ thu gom của hệ thống thu gom rác
- Số lượng bị thấp thoát không qua thu gom
- Vị trí của bãi rác, môi trường xung quanh bãi rác.
Phân tích và xử lý số liệu
- Tổng khối lượng chất thải rắn thải ra trong ngày, thành phần và tính chất
- Dân số và mức sống của người dân
Từ đó phân tích hiện trạng môi trường, xây dựng biện pháp xử lý và quản lý chất thải rắn phù hợp.
Viết báo cáo
Đánh giá hiện trạng thu gom, xử lý và quản lý chất thải rắn của huyện An Lão cho thấy còn tồn tại sự phân tán trong hệ thống thu gom, chất thải rắn chưa được phân loại tại nguồn và quá trình xử lý chưa đồng bộ giữa các địa bàn Các hạn chế về nguồn lực, cơ sở hạ tầng và quản lý dữ liệu làm giảm hiệu quả thu gom và xử lý chất thải rắn ở cấp huyện Để cải thiện hệ thống này, cần tăng cường đầu tư hạ tầng thu gom và xử lý, triển khai phân loại rác tại nguồn, nâng cao năng lực quản lý và giám sát, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền và sự tham gia của cộng đồng Các biện pháp đề xuất bao gồm mô hình thu gom phân loại tại nguồn ở khu dân cư và khu công nghiệp, nâng cấp hoặc hợp nhất công nghệ xử lý, quản lý rác nguy hại và rác thải sinh hoạt, và áp dụng hệ thống quản lý dữ liệu chất thải để đánh giá hiệu quả theo chuẩn môi trường địa phương.
Kết quả đạt được
Tập báo cáo đề tài
Góp phần cải thiện và nâng cao công tác BVMT ở huyện An Lão tỉnh Bình Định
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ VÀ XÃ HỘI HUYỆN AN LÃO TỈNH BÌNH ĐỊNH
Phát Triển Kinh Tế và Xã Hội
HUYỆN AN LÃO TỈNH BÌNH ĐỊNH
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
2.1.1 Vị trí hành chánh và Địa lý
Huyện An Lão là huyện miền núi của tỉnh Bịnh Định,nằm trong toạ độ địa lý
14 0 35 ’ 15 ’’ – 14 o 31 ’ 15 ’’ vĩ độ Bắc, nằm ở phía Đông của dãy trường sơn, phía Bắc giáp với tỉnh Quãng Ngãi, Tây giáp với tỉnh Gia Lai, Kon Tum, phía Nam giáp với huyện Hoài ân và Vĩnh Thạnh
Huyện An Lão có vị trí địa lý không mấy thuận lợi, nằm cách thủ đô Hà Nội khoảng 1.030 km, cách quốc lộ 1A khoảng 35 km, huyện cách biển Đông khoảng 40 km theo đường chim bay, bao quanh huyện toàn là núi bao phủ
2.1.2 Đặc điểm địa hình, địa chất và địa chất thuỷ văn
Huyện An Lão có địa hình đồi núi phức tạp Huyện có diện tích tự nhiên là 690,35 km 2 , trong đó diện tích đồng bằng là khoảng 143,23 km 2
Độ cao tuyệt đối lớn nhất 1002m
Độ cao tuyệt đối nhỏ nhất 800m
Độ dốc trung bình khoảng 21 độ cho thấy địa hình là yếu tố then chốt trong công tác vạch tuyến thu gom rác và xác định vị trí xây dựng bãi rác Địa hình của huyện nghiêng theo hướng Đông – Nam, do đó khi thiết kế tuyến thu gom cần chú ý và ưu tiên vạch tuyến theo hướng từ cao xuống thấp để tiết kiệm năng lượng và giảm rủi ro trong quá trình thu gom và vận chuyển rác.
Huyện có 1 con sông chính dọc theo chiều dài của huyện và làứ nơi đầu nguồn chính chảy dọc xuống các con sông của 3 huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn, Tam Quan
Ở vùng đồng bằng, nước ngầm tương đối ổn định và có thể khai thác ở độ sâu trung bình 7-10 m so với mặt đất; khi địa hình lên cao dần thì việc khai thác nước ngầm gặp nhiều khó khăn, ví dụ vùng Hưng Nhơn phải đào khoảng 15-20 m mới xuất hiện nước ngầm và vào mùa khô nước ngầm gần như cạn, vì vậy mực nước ngầm ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn vị trí bãi rác phù hợp để bảo đảm an toàn nguồn nước và giảm thiểu rủi ro ô nhiễm Đất của huyện chủ yếu là đất rừng, có hơn 538 ha đất có hàm lượng mùn rất cao và 224 ha đất không có rừng đang trên đà thoái hoá; các loại đất của huyện được phân bố như sau, cho thấy sự đa dạng về đất đai và tác động đến khả năng tích nước, thoát nước và quy hoạch bãi rác cũng như quản lý đất đai của huyện.
Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá mẹ Grannit thuộc nhóm Macma – Axit chiếm diện tích 269 ha chiếm 35.30% tổng diện tích toàn huyện
Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đất sét và biến chất đá mẹ Gnai có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, diện tích 375 ha chiếm 49.21%
Đất dốc tụ ven suối, chân đồi, là diện tích 118 ha chiếm 15.19% đất có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình
Huyện An Lão có khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chất cận xích đạo, với nhiệt độ cao và ổn định quanh năm, trung bình khoảng 25,5°C Do sự giao thoa của khí hậu hai vùng Tây Nguyên và Duyên Hải Miền Trung, huyện An Lão có ba mùa rõ rệt trong năm, mang lại sự đa dạng về điều kiện thời tiết và đặc trưng khí hậu cho địa phương.
Mùa khô nóng từ tháng 3 đến tháng 8: nóng nhất vào tháng 3-4 nhiệt độ có thể lên đến
39 0 C ,gió lào ảnh hưởng vào Miền Trung vừa khô vừa nóng
Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11:mưa lớn nhất vào khoảng độ giữa tháng 10, mưa rả rích cả ngày lẫn đêm kéo dài cả tháng trời Lượng mưa bình quân vào khoảng 2.825mm/năm, với lượng bốc hơi bình quân 1000mm
Mùa Xuân vào những ngày đầu năm thời tiết tương đối ấm áp vàđẹp, hơi có se se lạnh nhưng trong vòng 3 năm trở về đây thì thời tiết vào mùa xuân tương đối lạnh nhiệt độ thấp nhất khoảng 10 0 C
Huyện An Lão nằm ở khu vực khá phức tạp, chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai như lũ lụt, gió bão và hạn hán Hàng năm có thiệt hại về người và của do lũ lụt và bão gây ra, trong khi khí hậu trong lành và phong cảnh hữu tình làm nổi bật vẻ đẹp của vùng đất này.
Nhiệt độ không khí là một trong những yếu tố tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phân huỷ rác tại các bãi rác Lưu ý vào mùa nắng nóng các loại rác khô như giấy, carton, nhựa, cao su có khả năng bị cháy cao
Nhiệt độ trung bình năm ( tính cho cả năm ) 25.5 o C
Nhiệt độ cao nhất ( vào năm 2005 ) 39.0 o C
Nhiệt độ thấp nhất ( vào năm 2005) 10.0 o C
Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm 7-8 o C
Gió là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình phát tán và lan truyền các chất ô nhiễm trong không khí Khi vận tốc gió càng lớn, bụi và mùi từ các chất ô nhiễm có thể lan xa hơn và sự pha loãng với không khí sạch cũng đạt được mức cao hơn Do đó chế độ gió là một trong những yếu tố cần được cân nhắc khi chọn vị trí cho bãi rác, thường được bố trí ở cuối hướng gió để hạn chế mùi hôi thối lan ra khu dân cư.
Hướng gió chủ đạo là hướng Đông – Nam Vận tốc gió trung bình cao nhất là 4,5 m/s, vận tốc gió trung bình thấp nhất là 2,5 m/s
Khí hậu của huyện có 3 mùa rõ rệt Mùa mưa thường kéo dài và mưa rả rích cả ngày Mùa nắng nổi bật với nắng cháy da cháy thịt và gió lào thổi mạnh, làm không khí vừa khô vừa nóng Những đặc trưng này tạo nên sự phân hóa thời tiết theo từng mùa trong năm.
Chế độ mưa ảnh hưởng đến tỷ trọng rác, gây khó khăn trong công tác thu gom, quét dọn rác, ảnh hưởng đến môi trường đất và nước tại các bãi rác
Lượng mưa trung bình tại huyện khoảng 2.825 mm/năm (số liệu trạm khí tượng thuỷ văn năm 2005 ), lượng mưa lớn nhất trong năm là 3.470 mm Độ ẩ m Độ ẩm cũng như nhiệt độ không khí là một trong những yếu tố tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến các quá trình chuyển hoá và phát tán các chất ô nhiễm trong khí quyển, đến quá trình trao đổi nhiệt của cơ thể và sức khoẻ của người lao động Độ ẩm làm thay đổi tỷ trọng của rác, ảnh hưởng đến quá trình phân huỷ rác hữu cơ của vi sinh vật Độ ẩm bình quân của huyện dao động từ 85 – 90 %, độ ẩm cao nhất được ghi nhận vào các tháng mùa mưa >90 % do độ bay hơi không cao làm cho độ ẩm của không khí khá cao và độ ẩm thấp nhất vào các tháng mùa khô từ 65- 70 %
Nhìn chung, với điều kiện khí hậu trên, độ ẩm của rác sẽ thay đổi đáng kể giữa mùa khô và mùa mưa, thậm chí cả thời gian trong ngày khi có mưa và không có mưa Vào mùa mưa độ ẩm, của rác có thể lên đến 70 – 80%
2.1.4 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG CỦA HUYỆN
Hiện trạng hệ thống kỉ thuật
Rác thực phẩm: đó là những chất thải từ nguồn thực phẩm, nông phẩm hoa quả trong quá trình sản xuất, thu hoạch chế biến, bảo quản bị hư bị thải loại
Rác tạp từ công sở, nhà ở và khu chợ được phân loại thành hai nhóm chính: rác đốt được và rác không cháy Rác đốt được gồm giấy, bìa, plastic, vải, cao su, da, gỗ và lá cây; rác không cháy gồm thuỷ tinh, đồ nhôm và kim loại.
Xà bần, bùn cống: chất thải của quá trình xây dựng bao gồm buị, đá, mãnh vờ, bê tông, gỗ, gạch ngói , những vật liệu thừa của trang bị nội thất
Tro: tro bếp và tro trong công nghệ sấy đốt bằng tro trấu thành phần chủ yếu là carbon và kali
Chất thải là sản phẩm thừa nông nghiệp: thành phần chủ yếu là rơm rạ, dây khoai, cành lá cây trồng, rau bỏ Khôí lượng phụ thuộc vào mùa vụ
Chất thải độc hại: phóng xạ, thuốc nổ, các chất gây ung thư,
Thải từ thực vật: lá cây và các nhành lá đốn bỏ hoặc gẫy đổ
Biết rõ thành phần chất thải và phân loại chúng cùng với nguồn gốc của chúng sẽ giúp cho quản lý chất thải được tốt hơn
3.1.2 Các nguồn phát sinh chất thải rắn
Chất thải rắn phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau trong hoạt động cá nhân cũng như hoạt động xã hội Hàng ngày rác ở huyện An Lão được sinh ra từ các nguồn sau:
- Rác nông nghiệp: bao gồm các loại nông phẩm hư hỏng ( lúa, bắp, khoai sùng thối ), chất thải cây trồng, vỏ trấu, rơm rạ, thải vật từ thực vật Rác nông nghiệp không đồng nhất
- Rác công nghiệp: tuỳ vào loại hình sản xuất, hoặc dây chuyền công nghệ sẽ tạo ra các loại chất thải khác nhau
- Rác thải từ các cơ quan, trường tiểu học, trung học,
- Rác thải từ các khu thương mại, chợ: bao gồm các loại rác, thực phẩm dư thừa, ôi thiu rau cỏ loại bỏ, đồ vứt bỏ trong khi làm thịt cá
- Rác thải từ các từ các xưởng thủ công vừa và nhỏ: xưởng mộc, xưởng chế biến hạt điều, xưởng làm tăm
Rác thải y tế phát sinh từ bệnh viện huyện và 9 trạm y tế xã, cùng với rác thải sinh hoạt và giường chiếu đã qua sử dụng, bông băng đã dùng và các dụng cụ y tế không còn sử dụng đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản lý và xử lý an toàn để ngăn ngừa ô nhiễm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
- Rác thải từ các công trình xây dựng, cải tạo và nâng cấp
Một cách tổng quát, chất thải rắn đưôc phân loại theo nguồn phát sinh như sau:
- Chất thải rắn sinh hoạt và thương nghiệp bao gồm các chất thải từ các hoạt động vệ sinh ăn uống, mua bán, dịch vụ
- Chất thải rắn văn phòng bao gồm như các chất thải văn phòng phẩm, các hoạt động văn phòng
- Chất thải rắn xây dựng bao gồm đất, đá, phế phẩm vật liệu xây dựng
- Chất thải rắn sản xuất bao gồm các chất thải đặc trưng của quá trình sản xuất nông, công nghiệp
- Chất thải rắn độc hại bao gồm rác của bệnh viện, pin thuỷ ngân, các hoá chất độc hại
Bảng3.1 Nguồn và khối lượng phát sinh chất thải
Nguồn phát sinh Số lượng Khối lượng rác(Tấn/ngày)
Trường học và thư viện
Doanh trại QĐ, CA, LLVT
Cơ sở sản xuất, trại, xưởng
Các quán ăn, uống dịch vụ
( nguồn: phòng TN & MT của huyện An Lão))
3.1.3 Khối lượng và thành phần chất thải rắn
Việc xác định khối lượng và thành phần chất thải rắn là 2 yếu tố quan trọng phục vụ cho công tác quy hoạch hệ thống quản lý chất thải rắn
Thành phần chất thải có ý nghĩa rất lớn đối với hệ thống kỉ thuật quản lý rác Sự khủng hoảng tiềm năng đất đai để chôn lấp rác và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên đã dẫn đến sự phát triển kĩ thuật tái sử dụng và tái chế chất thải rắn từ các quốc gia phát triển đến các nước đang phát triển Gia tăng khả năng tái chế chất thải, giảm lượng chất thải đi vào bãi rác trong các năm tới là chiến lược tối ưu hiện nay trên thế giới
Thành phần riêng biệt: thay đổi theo vị trí địa lý, vùng dân cư, mức sống, thời gian trong ngày, trong mùa, trong năm gồm hơn 14 chủng loại mà ở đó giấy là nhiều nhất
Kết quả nghiên cứu vừa qua cho thấy thành phần chất thải rắn của huyện An Lão được trình bày trong Bảng 3.2
Bảng 3.2 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt của huyện An Lão
STT Thành phần Khối lượng
Thực phẩm Giấy Carton Vải Túi nylon Nhựa cứng
Gỗ Cao su Lon đồ hợp Kim loại màu Sắt Thuỷ tinh
( Nguồn: Sở TN & MT đối vớiỷ tỉnh Bình Định năm 2004)
Kết quả phân tích cho thấy rác thải hữu cơ chiếm tỷ lệ cao từ 65% đến 95%, trong đó phần lớn là lá cây và rau quả Độ ẩm của rác dao động từ 85% đến 90%, và hàm lượng hữu cơ lớn ảnh hưởng đến quá trình phân hủy, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cho huyện Việc rác có độ ẩm cao còn làm giảm hiệu quả xử lý và gia tăng mùi khó chịu, đòi hỏi các biện pháp quản lý rác thải hữu cơ phù hợp và hiệu quả hơn.
Cũng thay đổi theo từng loại thành phần và theo mùa
Bảng 3.3 :Độ ẩm chung của rác sinh hoạt của tỉnh Bình Định
STT Thành phần Khối lượng ( %)
Khoảng dao động Giá trị trung bình
( Nguồn: Sở TN & MT đối với tỉnh Bình Định năm 2004)
Thành phần Nhiệt lượng ( Btu/lb)
( Nguồn: Sở TN & MT đối với tỉnh Bình Định năm 2004)
Cũng thay đổi phụ thuộc vào vị trí địa lý, trình độ kinh tế, thường tronh khoảng 20 –
Thành phần hóa học của rác bao gồm những chất dễ bay hơi khi đốt ở nhiệt độ 920 0 C, thành phần tro sau khi đốt và dễ nóng chảy Tại điểm nóng chảy, thể tích của rác giảm
Bảng 3.5: Thành phần hóa học của rác sinh hoạt
STT Thành phần Tính theo % trọng lượng khô
Carbon Hydro Oxy Nitơ Lưu huỳnh
( Nguồn: Sở TN & MT đối với tỉnh Bình Định năm 2004)
Các thành phần khó phân huỷ sinh học có giá trị tái chế cao là các loại kim loại, carton, nhựa cứng, nhựa mềm, vải
Có thể nói thành phần rác hộ dân ít phụ thuộc theo mùa, nhưng trong suốt mùa mưa, lượng nước trong rác chiếm một tỷ lệ tương đối cao; thực tế tại bãi rác cho thấy thành phần rác thay đổi khá lớn theo thời gian, theo khu vực và theo cách thu gom.
3.1.4 Hệ thống thu gom và vận chuyển
Hệ thống thu gom và vận chuyển của huyện được giao cho các hệ thống thu gom dân lập, và các tổ thu gom cá nhân này vừa thu gom rác vừa tái sử dụng để phục vụ cho mục đích cá nhân của chính mình
Hàng ngày rác được thu gom bằng:
- Xe tải nhỏ ở xã An Hoà, An Tân
- Dùng xe đẩy tay ở các xã còn lại
Hiện trạng hệ thống hành chính
Hiện nay hệ thống quản lý của huyện là phòng tài nguyên và môi trường, hằng năm báo cáo về tình hình đất đai và khai thác tài nguyên thiên nhiên, tốc độ sói lỡ của đất, hiên trạng cây rừng, tình hình nguồn nước và chất thải rắn nhưng còn nhiều sơ sài chưa khái quát được hết
Phòng Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm quản lý các tổ thu gom rác bằng cách thiết lập khung quản lý tải lượng rác theo khu vực và theo dõi khối lượng rác thu gom hàng ngày, hàng tháng để đánh giá hiệu quả hoạt động; các tổ thu gom rác thực hiện thu phí thu gom hàng tháng và được quản lý giá theo cơ chế định giá công khai, nhằm đảm bảo chi phí vận hành hợp lý và cung cấp dịch vụ ổn định cho người dân; mục tiêu là duy trì mức phí thu gom cố định cho dân, đồng thời tăng cường giám sát chất lượng thu gom, tuân thủ quy định và công khai mức phí trên các kênh thông tin liên quan; Phòng phối hợp với UBND và các bên liên quan để điều chỉnh tải lượng rác và giá phí khi lưu lượng thay đổi, đảm bảo sự bền vững của dịch vụ và an toàn môi trường.
ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN HỆ THỐNG THU GOM, XỬ LÝ VÀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN CỦA HUYỆN AN LÃO TỈNH BÌNH ĐỊNH
Các biện pháp quản lý
4.1.1 Giáo dục đào tạo và nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường
Một trong những biện pháp không thể thiếu được trong công cuộc bảo vệ môi trường đó là giáo dục, đào tạo và nâng cao nhận thức cộng đồng đã được Luật Bảo vệ môi trường quy định trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì vấn đề này đã được đưa lên đầu tiên: ”Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường”
4.1.1.1 Giáo dục nâng cao nhận thức cho cộng đồng
- Tổ chức các chiến dịch tuyên truyền thông có ấn tượng mạnh nhằm phát động phong trào toàn dân thực hiện Luật Bảo vệ môi trường
- Tổ chức các hoạt động tuyên truyền qua các đội ngũ những người tình nguyện đến từng gia đình và vận động toàn dân thực hiện Luật Bảo vệ môi trường
- Tổ chức giáo dục thường xuyên cho các tổ chức quấn chúng cơ sở, đông đảo càn bộ nhân viên nhà nước và cáctổ chức đoàn thể xã hội nhằm hình thành nếp sống mới trong khu dân cư
- Tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, các phương tiện nghe nhìn như báo, đài, tạp chí, ấn phẩm, phát thanh, truyền hình của các tổ chức quần chúng như: Đoàn thanh niên, Hôị phụ nữ
- Phối hợp vơí các ngành có liên quan và các chuyên gia để phổ biến sâu rộng các tài liệu hướng dẫn bảo vệ môi trường nói chung, quản lý chất thải rắn nói riêng, cho phù hợp với từng đối tượng, từng địa phương
4.1.1.2 Giáo dục môi trường ở các cấp học
- Giáo dục môi trường ở bậc mầm non:
Việc tạo ra những phản xạ, thói quen đâù tiên về baỏ vệ môi trường sống của mỗi cá thể để từ đó xây dựng nên những quan niệm, kiến thức về bảo vệ môi trường trong các cấp học sau này là nội dung của giáo dục ở cấp mầm non, như các thầy cô giáo lồng vào những hình ảnh con vật, câu chuyện, cây cỏ hoa lá mà trẻ em thích đồng thời nói về lợi ích của chúng với tính đơn giản dễ hiểu để chúng bắt đầu có phản xạ là yêu môi trường sống xung quanh Tuy nhiên phần lớn giáo viên mầm non chưa được học về giáo dục môi trường, chỉ một số rất ít là được nghe giới thiệu về vấn đề môi trường, chính vì vậy giáo viên cần phải tìm hiểu về môi trường để có kiến thức về môi trường từ đó tìm ra cách dạy tốt nhất cho thế hệ mầm non nhỏ bé.Việc đào tạo giáo viên mầm non có thêm kiến thức về môi trường được tiếp tục hoàn thiện từng bước để đưa việc giáo dục môi trường trở thành môn học cần thiết trong các trường mẫu giáo , mầm non nhằm tạo cơ sở vững chắc ban đầu về nhận thức môi trường cho các thế hệ tương lai
- Giáo dục môi trường ở các bậc phổ thông : Đây là một bộ phận cấu thành không thể thiếu được của ”kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững” Đây là nhu cầu rất lớn để giúp cho học sinh tiếp cận dần với môi trường một cách có hiệu quả trong một hệ chương trình học nhiều như hiện nay, vấn đề môi trường đang được xây dựng hoặc tích hợp dần một cách có hệ thống qua các môn học Cần phải làm cho học sinh tự mình chiếm lĩnh được tri thức, kỹ năng và tự học xác định thái độ phải đôí xử như thế nào với môi trường thiên nhiên như bảo vệ chính bản thân mình Hiện nay trong chương trình học của học sinh cũng đã có lồng vào các vấn đề về môi trường tuy nhiên còn rất ít chính vì vậy cần có môn môi trường và sức khỏe cộng đồng, đồng thời giáo viên cần kết hợp với đi thực tế để cho học sinh có cái nhìn thực sự về môi trường sống của mình Phòng TN & MT của huyện cần phát động hằng năm ngày BVMT của địa phương và cũng như của môi trường chung như: phong trào quét dọn nhổ cỏ ở những nơi rậm rạp, nhặt lon chai nhựa đóng góp phong trào
Giáo dục môi trường ở cấp đại học và sau đại học là một lĩnh vực rộng, phức tạp và đầy thách thức Trước những vấn đề môi trường cấp bách hiện nay, để đảm đương hiệu quả bộ máy quản lý môi trường cần đào tạo một đội ngũ cán bộ chuyên sâu, giỏi và vững vàng để đảm nhận hệ thống quản lý môi trường một cách hiệu quả Trong giáo dục đại học hiện nay, môn đại cương "Môi trường và con người" giúp sinh viên nhận thức sâu sắc về mối quan hệ giữa con người và môi trường Đồng thời, nhà trường cần thúc đẩy các phong trào nghiên cứu khoa học nhằm cải thiện và làm cho môi trường ngày càng trong sạch hơn.
- Huấn luyện, đào tạo phục vụ công tác quản lý chất thải rắn:
Các lớp đào tạo, huấn luyện nhằm tạo cơ sở cho các khaí niệm của công tác quản lý hành chính về chất thải rắn, luật pháp, thể chế, chính sách, về môi trường phát triển và lập kế hoạch cho sự phát triển bền vững
4.1.2 Quản lý việc giảm thiểu tại nguồn
Giảm thiểu chất thải rắn tại nguồn có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp, trong đó ủ phân compost tại hộ gia đình nông nghiệp nổi lên như một giải pháp hiệu quả nhờ tỷ lệ hữu cơ cao và các điều kiện thuận lợi như diện tích rộng và nguồn nguyên liệu dồi dào Sản phẩm của quá trình ủ phân được ứng dụng trực tiếp cho hoạt động nông nghiệp và hộ gia đình, bao gồm phân bón và biogas Việc tận dụng nguồn nguyên liệu hữu cơ để sản xuất phân compost không những giúp giảm lượng chất thải mà còn giảm chi phí đầu vào và tăng cường vòng tuần hoàn dinh dưỡng cho đất đai Nhờ đó, mô hình ủ phân tại nguồn góp phần phát triển bền vững và nâng cao sự ổn định của hệ sinh thái nông thôn.
Việc giảm thiểu phát sinh chất thải rắn tại nguồn phụ thuộc nhiều vào trình độ công nghệ và nhận thức của người dân, cũng như sự quản lý của phòng tài nguyên và môi trường Việc giảm thiểu tại nguồn mang lại những lợi ích rất rõ rệt cho môi trường và đời sống cộng đồng, gồm giảm khối lượng chất thải phát sinh, giảm chi phí xử lý và nâng cao hiệu quả quản lý nguồn lực, từ đó thúc đẩy phát triển bền vững.
- Tiết kiệm năng lượng và các nguồn năng lượng gốc:
- Giảm sự khai thác, xử lý, sử dụng các nguồn gây tác động xấu tới môi trường
- Tăng cường sức khỏe công nhân thu gom và sự an toàn bởi việc giảm thiểu sự xuất hiện của các vật liệu có tính độc hay nguy hiểm
- Giảm chi phí khống chế ô nhiễm và quản lý chất thải( chi phí này đang tăng nhanh hơn cả tỷ lệ tăng sản phẩm và khả năng mắc phải trong tương lai đối với chất thải độc hại và nguy hiểm Đồng thời ngay tại các hộ gia đình nên diễn ra dễ dàng hơn, và phù hợp với từng hộ gia đình
Phòng Tài Nguyên và môi trường cần hổ trợ giá tiền rác hằng tháng để khuyến khích người dân thu gom rác ở tất cả các hộ dân, và giảm thiểu rác tại nguồn
4.1.3 Phân loại rác tại nguồn Ý tưởng phân loại rác tại nguồn xuất phát từ sự cần thiết cuả tái chế, tái sử dụng cũng như giảm thiểu khôí lượng rác Khối lượng rác thải luôn luôn ngày càng tăng và hầu hết được thu gom và đổ ra bãi rác Điều này gây lãng phí và tăng thêm gánh nặng cho công tác quản lý cũng như xử lý các vấn đề môi trường
Trong khí đó thì trong thành phần rác thải sinh hoạt thì chất hữu cơ chiếm tỷ trọng chủ yếu vơí rác chợ, quán cafe, quán ăn Còn rác ở những cơ quan , trường học có tỷ lệ các chất vô cơ có thể tái sử dụng cao
Thu gom và vận chuyển
Thu gom chất thải và vận chuyển chất thải của huyện đang diễn hằng ngày còn nhiều hạn chế chính vì vậy cần có những biện pháp cải thiện nhằm nâng cao hiệu quả thu gom và vận chuyển ngày càng tốt hơn làm cho công tác BVMT của huyện ngày càng đi lên
- Thu gom vào những giờ cố định, tốt nhất thu gom nên vào 17 – 18 h mỗi ngày Vì vào thời gian này là người dân thu gom hết lượng rác trong ngày sau khi chuẩn bị cho bữa cơm tối và đồng thời những người đi làm đều hầu như đã về nhà vì thế tiện cho việc thu gom đầy đủ ở tất cả các hộ dân
- Rác được đưa ra ngoài ở các khoảng thời gian nhất định trước khi đổ tốt nhất là trước
30 phút để tránh sự banh rác của gà, chó và tìm kiếm của những người thu mua ve chai
- Huy động hết rác trong dân ở mỗi khu vực, địa bàn khác nhau
- Cần nâng cấp tu chỉnh xe phù hợp vơí lượng rác thu gom tốt nhất là dùng xe tải 5 tấn như hiện nay của huyện đã có và đồng thời có dụng cụ che đậy lại tránh rơi vãi và mùi hôi
- Trong quá trình thu gom công nhân cần có đồ BHLĐ để đảm bảo an toàn vệ sinh lao động và sức khoẻ cuả công nhân
- Cần trang bị thùng rác ở những nơi công cộng, có thể dùng thùng cố định như thùng nhựa có vặn vít dưới đáy để tránh trường hợp ăn cắp thùng rác
- Vận chuyển rác cần trang bị dụng cụ che đậy lại tránh rơi vãi ra và tránh bay mùi hôi hám
Những thách thức của việc quản lý chất thải rắn trong tương lai
Thay đổi thói quen tiêu thụ trong xã hội:
Sự tiêu thụ sản phẩm là một hoạt động tự nhiên, xã hội thay đổi sẽ làm cho mức sống thay đổi bằng cách thay đổi số lượng và chất lượng sản phẩm tiêu thụ Thói quen tiêu thụ sẽ được thay đổi nhiều nếu số lượng rác thải từ các hoạt động tiêu thụ thay đổi Giảm lượng rác thải tại nguồn:
Những nổ lực cần phải tiến hành để giảm số lượng các vật liệu sử dụng trong các hàng hóa đóng gói và chế biến tái chế tại nhà, cơ quan Như vậy với phương pháp này lượng rác thải vứt bỏ sẽ giảm trong cộng đồng Giảm tại nguồn là một lựa chọn để bảo tồn tài nguyên và khả năng kinh tế
Phát triển công nghệ mới
Xử lý rác
4.3.1 Xử lý tại chỗ bằng phương pháp ủ sinh học tại chỗ Ủ là chất rác thành đống, trong đó dưới tác dụng cuả oxy và sự hoạt động vi sinh vật mà qúa trình sinh hóa diễn ra phân huỷ chất hữu cơ thành mùn Ủ rác thực chất là quá trình phân giải phức tạp gluxit, lipit và prôtêin vơí sự tham gia cuả vi sinh vật hiếu khí Lúc đầu là quá trình khử nước, sau là xử lý cho tới khi nó thành xốp và ẩm Quá trình tự tạo ra nhiệt riêng nhờ quá trình oxy hóa sinh hóa các chất thối rữa Sản phẩm cuối cùng của quá trình phân hủy là CO2, H2O và các hợp chất hữu cơ bền vững như lignin, xenlulô, sợi Trong quá trình ủ, oxy sẽ được hấp thụ hàng trăm lần
Hình 4.3 Bể ủ phân compost xem hình khổ giấy A3
Các chất hữu cơ trong rác thải là các thành phần của thực vật, động vật bị loại bỏ do đó chúng cũng chứa các thành phần như trong cơ thể sinh vật, trong đó quan trọng nhất là: hydratcacbon, protein, lipit quá trình này áp dụng đối với các chất hứũ cơ không gây độc hại Ở nông thôn nước ta, chất thải chủ yếu là sản phẩm trong sản xuất, chăn nuôi và sinh hoạt, đó là nguồn nguyên liệu phong phú và đa dạng: phân người, gia súc, rơm rạ, thân cây sau thu hoạch, các sản phẩm bị hư hỏng
4.3.1.2 Ưu điểm của phương pháp ủ rác sinh học tại chỗ Đây là phương pháp phổ biến để xử lý rác, tạo điều kiện cho rác được phân hủy thành biến thành mùn, có thể dùng làm phân bón phục vụ cho trồng trọt, phương pháp xử lý rác bằng vi sinh vật tiến hành rẻ tiền Trong các đống ủ rác, do kết quả của quá trình sinh hoá, nhiệt độ có thể đạt tới 65 – 70 0 C và có thể hơn nữa Với nhiệt độ đó và các yếu tố khác, các vi khuẩn đường ruột không tạo nha bào ( thương hàn, tiêu chảy, lị…) và trừng giun sẽ bị tiêu diệt
Để tối ưu chi phí và bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bài viết tập trung giảm chi phí vận chuyển rác và chi phí trả cho nhân công, đồng thời hạn chế ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân xung quanh khu vực xử lý Đồng thời, sử dụng phân bón thay thế các loại phân bón khác giúp giảm sự phụ thuộc vào phân hoá học và không ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường.
4.3.1.3 Nhược điểm của phương pháp ủ sinh học tại chỗ
Nhược điểm chính của phương pháp này là thời gian xử lý lâu, các chất vô cơ thường xử lý không triệt để Việc thu gom và phân loại chất thải ban đầu không tốt, rác thải hỗn độn bao gồm các chất hữu cơ, chất dẻo, thủy tinh, gạch ngói nên quá trình lên men khó khăn do vậy cần có sự phân loại phù hợp
Trong rác thải luôn có vô vàn vi sinh vật có khả năng phân huỷ rác và các loại vi sinh vật gây bệnh khác Các vi sinh vật có khả năng phân giải chất hữu cơ và xenluloza mạnh:
Vi khuẩn: Achromobacter, Vibrio, Bacillus
Niêm vi khuẩn: Cytophaga, Angiococus, Polyangium…
Nấm mốc: Aspergillus, Penicillium, Rhizopus…
Nấm sợi thuộc chỉ Aspergillus Xạ khuẩn loài Microbispora nose
Hình 4.2 ảnh vi sinh vật phân huỷ rác
4.3.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng
Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình ủ bao gồm: nhiệt độ, độ ẩm, pH, hợp phần nguyên liệu… t = 65 – 70 0 C , pH = 5 – 6
Thỉnh thoảng xáo trộn nhẹ nhàng hoặc thỉnh thoảng xáo trộn để đề phòng hiện tượng đóng bánh hoặc tạo những kênh không khí Không khí phải được lọt tới tất cả mọi nơi của vật liệu ủ, hoặc ít nhất phải đảm bảo 50% oxy có trong đó Đây là sơ đồ bể ủ rác đơn giản: một bể gồm 2 ngăn, 2 cửa đổ rác vào, có 1 hố thu nước, phía dưới có ống dẫn khí vào bể
Một hộ gia đình trung bình 4 người thải ra khoảng 1460 kg rác mỗi năm, gây áp lực lên môi trường và hệ thống xử lý chất thải Tuy nhiên, phân bón từ bể ủ rác có thể phục vụ cho 3 mùa vụ chính của người dân địa phương, giúp cải thiện đất đai và giảm lượng rác thải cần xử lý.
Khối lượng bể ủ rác phải ủ một là: m =1.460/ 3 = 487 kg)
Trọng lượng riêng cuả rác ( tính cho khu vực miền trung )
D = 420 kg/m 3 ( thống kê của sở tài nguyên và môi trường năm 2004)
Chi phí xây dựng bể ủ rác:
- Chi phí vật liệu khoảng : 1.000.000 VND
- Chi phí nhân công : 250.000 VND
Kinh phí xây dựng cho bể ước lượng theo giá thị trường hiện nay khoảng 1.350.000 (ngàn)
4.3.2.7 Đánh giá phương pháp ủ rác tại hộ gia đình
Sau quá trình tìm hiểu về hiện trạng chất thải rắn của huyện thì đề tài đề xuất các biện pháp cải thiện hệ thống thu gom, xử lý và quản lý chất thaỉ rắn, đã lựa chọn phương pháp ủ rác tại hộ gia đình với quy mô nhỏ là phương pháp tối ưu nhất cho biện pháp kỹ thuật để xử lý chất thải hữu cơ giảm thiểu chất hữu cơ cho quá trình vận chuyển vào bãi rác, theo tìm hiểu và tính toán sơ bộ thì:
Thì khối lượng chất thải từ các hộ gia đình là: m = 25,600 Tấn/ngày
Rác thải hữu cơ chiếm từ 65 – 90 % m hữu cơ
80 Tan ngay Tan nam m huuco
Nếu như ta dùng toàn bộ rác thải hữu cơ trong hộ gia đình để ủ phân bón tại hô gia đình với qui mô nhỏ thì
Hiệu suất cuả quá trình giảm thiểu chất thải rắn là:
Trong đó m = 20.805 ( Tấn/ năm của toàn huyện)
Vậy biện pháp xử lý giảm được 36% lượng chất thải hữu cơ trong toàn huyện
Hằng năm tiết kiệm được 1.495 chuyến ( xe tải 5 tấn)
Chi phí cho một chuyến xe vận chuyển là: 120.000 VND
(trong đó bao gồm:nhiên liệu, nhân công và các chi phí bao gồm khác )
Chi phí vận chuyển tiết kiệm được là:
Trung bình theo kinh phí bỏ ra để sản xuất phân thì hầu như chỉ tốn kém quá trình xây dựng bể ban đầu, ta có chi phí bỏ ra 1 năm là 1.350.000 VNĐ
Vậy ta có được chi phí tạo ra 1kg phân là: 1.350.000/1.460 = 925đồng/kg
Bên cạnh tiết kiệm được chi phí vận chuyển , sản phẩm mà phương pháp tạo ra là phân bón hưũ cơ dùng làm phân bón trong quá trình sản xuất nông , lâm nghiệp mang lại hiệu quả giá trị kinh tế cao & giảm được phân bón hóa học làm ảnh hưởng đến môi trường đất , nước và sức khoẻ của con người xung quanh khu vực
4.3.2 Xây dựng bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh
Chôn lấp chất thải là phương pháp lưu giữ chất thải phổ biến và đơn giản nhất, được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới Đây là quá trình chôn rác vào bãi rác và phủ đất lên trên để kiểm soát sự phân hủy của chất thải rắn Chôn lấp hợp vệ sinh đặc biệt ở chỗ nó nén và phủ kín bề mặt chất thải nhằm điều tiết quá trình phân hủy sinh học bên trong, giúp chất thải rắn phân hủy và tạo ra các sản phẩm cuối cùng giàu dinh dưỡng như axit hữu cơ, nitơ, các hợp chất amoni và các khí CO2, CH4.
Theo quy định của TCVN 6690 – 2000, bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh phải đảm bảo những điều kiện vệ sinh không làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh
Chất thải rắn được chấp nhận chôn lấp tại bãi chôn lấp hợp vệ sinh là tất cả các loại chất thải không nguy hại, có khả năng phân hủy tự nhiên theo thời gian, bao gồm:
- Giấy, bìa, cành cây nhỏ và lá cây
- Tro, củi gỗ mục, vải, đồ da
- Rác thải từ văn phòng, nhà hàng, quán ăn uống
- Phế thải từ các ngành sản xuất không độc hại như chế biến lương thực, thực phẩm
4.3.2.2 Các yếu tố cần xem xét khi lựa chọn bãi chôn lấp hợp vệ sinh
- Vị trí của bãi rác kho cây Dúi hiện nay xây dựng bãi chôn lấp rác là rất hợp lý
- Vị trí cách khu dân cư 5-7 km
- Bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh có vùng đệm tương đối lớn 70 m vì nó nằm ngay khu phía dưới chân núi
- Bãi chôn lấp cách xa nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt
- Vị trí dễ vận chuyển rác vào bãi chôn lấp
- Khu đất trống vắng và có diện tích lớn
Lựa chọn bãi chôn lấp hợp vệ sinh phù hợp
Đây là loại bãi rác chuyên dùng cho việc chôn lấp rác của đô thị Do cấu tạo địa hình và điều kiện kinh tế đặc thù, khu vực này lựa chọn bãi chôn lấp nổi như một giải pháp quản lý chất thải đô thị phù hợp với thực tế địa phương Việc chọn phương án này giúp tối ưu chi phí vận chuyển và quản lý môi trường, đồng thời đáp ứng nhu cầu xử lý rác thải của thành phố một cách hiệu quả.